Thông tin chung: _Tên đề tài: “nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định gian lận trong học tập của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội” _Sinh viên thực hiện: đào tạo _Người hướng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan bài nghiên cứu khoa học này là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Những kết quả và số liệu trong bài nghiên cứu này là trung thực, không sao chép của bất kỳ nguồn nào khác Chúng tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Nhóm tác giả
Trang 2MỤC LỤC
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 6
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 6
1.4.3 Phương pháp chọn mẫu 6
1.5 Ý nghĩa thực tiễn 6
1.6 Kết cấu bài nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 Giới thiệu 9
2.2 Các khái niệm có liên quan 9
2.2.1 Gian lận và gian lận trong học tập 9
2.2.2 Tác hại của gian lận 10
2.3 Tổng quan nghiên cứu: 13
2.3.1 Công trình nghiên cứu trong nước: 13
2.3.2 Công trình nghiên cứu nước ngoài 14
2.4 Các mô hình lý thuyết 15
2.4.1 Thuyết nhận thức - hành vi 15
Trang 32.4.2 Mô hình hành vi người tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng 17
2.4.3 Thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of reasoned action) 19
2.4.4 Thuyết hành vi dự định TPB ( Theory Planned Behavior) 21
2.4.5 Lý thuyết diễn dịch hành vi dự định (The decomposed theory of planned behavior) 23
2.4.6 Lý thuyết chung về tội phạm (A General Theory of Crime) 23
2.5 Mô hình nghiên cứu chính thức: 25
2.6.Hệ thống các câu hỏi định lượng sử dụng thang đo Likert được dùng trong bảng hỏi: 28
2.7 Tổng kết chương: 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Giới thiệu 31
3.2 Thiết kế nghiên cứu 31
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.2 Quy trình nghiên cứu 32
3.2.3 Nghiên cứu định tính 32
3.2.4 Nghiên cứu định lượng 33
3.3 Xây dựng thang đo 33
3.3.1 Thang đo ý định gian lận 34
3.3.2 Thang đo gia đình 34
3.3.3 Thang đo môn học 37
3.3.4 Thang đo nhà trường 40
3.3.5 Thang đo môi trường xung quanh 43
3.3.6 Thang đo bản thân 46
3.4 Mẫu nghiên cứu định lượng chính thức và phương pháp thu thập thông tin 49 3.4.1 Kích thước mẫu 50
3.5 Tổng kết chương 50
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
Trang 44.1.Giới thiệu chung 51
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo 51
4.3 Thống kê mô tả biến định tính 51
4.4 Phân tích độ tin cậy 56
4.5 Đánh giá và kiểm định sự phù hợp của mô hình 60
4.6 Hồi quy tuyến tính 61
4.7 Kiểm định ANOVA cho các biến định tính 63
4.8 Tổng kết chương 69
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 71
5.1 Giới thiệu 71
5.2 Đề xuất giải pháp 71
5.2.1 Sự cần thiết của việc hạn chế gian lận trong học tập 71
5.2.2 Giải pháp đối với từng nhân tố 72
CHƯƠNG 6: HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN 76
6.1 Những hạn chế của nghiên cứu 76
6.2 Kết luận 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 79
Trang 5THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
_Tên đề tài: “nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định gian lận trong học
tập của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội”
_Sinh viên thực hiện:
đào tạo
_Người hướng dẫn: Th.S Lê Đức Anh
2 Mục tiêu đề tài:
Mục tiêu chung của nghiên cứu này là xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến hành
vi gian lận của sinh viên đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua kiểm định tính đúng đắn của mô hình nghiên cứu khoa học khi áp dụng tại Việt Nam
3 Tính mới và sáng tạo:
Kết quả định lượng bằng phần mềm SPSS
Các kiến nghị nhóm đưa ra dựa trên các kiến thức tổng hợp và tính sáng tạo riêng
4 Kết quả nghiên cứu:
Đánh giá độ tin cậy cho Cronbach’s Alpha cho các thang đo định lượng
Đưa ra mô hình tổng quát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi gian lận trong học tập của sinh viên
Đánh giá thực trạng hành vi gian lận trong học tập của sinh viên trên địa bàn
Trang 65 Đóng góp về mặt Kinh tế-Xã hội, Giáo dục-Đào tạo, An ninh-Quốc phòng
và khả năng áp dụng của đề tài:
Đóng góp về mặt khoa học
Thứ nhất phát triển được mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định gian lận tronghọc tập của sinh viên và tìm ra được mối liên hệ giữa chúng Kiểm định tính đúngđắn của mô hình bằng cuộc khảo sát thực tế và phân tích dữ liệu bằng phần mềmSPSS từ đó khẳng định được nhân tố nào có ảnh hưởng tới ý định gian lận Đây làmột đề tài nghiên cứu khá mới ở Việt Nam
Thứ hai đề tài cung cấp tổng quan nghiên cứu tương đối đầy đủ với việc tổng hợptài liệu nước ngoài, các cuộc phỏng vấn chuyên sâu và các bài hội thảo trong nước.Làm cơ sở cho những nghiên cứu có liên quan sau này
Đóng góp về mặt thực tiễn
Đầu tiên đề tài đã đưa ra cho chúng ta thấy thực trạng gian lận của sinh viên hiệnnay như thế nào thông qua các mẫu khảo sát và các cuộc phỏng vấn trao đổi vớisinh viên
Trên cơ sở xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến ý định hành vi gian lận củasinh viên, đề tài đưa ra những căn cứ cho bộ giáo dục và đặt biệt là các trường đạihọc tìm ra các biện pháp hạn chế tình trạng này và nâng cao chất lượng giáo dụchiện nay Đưa nền giáo dục nước nhà đi lên và theo kịp được với các nước trongkhu vực và trên thế giới
Ngoài ra đề tài cũng giúp bản thân mỗi sinh viên tự ý thức được việc học của mìnhnhằm phát huy tinh thần tích cực chủ động trong học tập Đề cao học thật thi thậttrau dồi kiến thức để phục vụ cho nước nhà, cùng nhau đưa nước ta phát triển đilên một tầm cao mới
Ngày 20 tháng 05 năm 2016
Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài
Nguyễn Sao Linh
Trang 7Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện
đề tài
Ngày 20 tháng 05 năm 2016
Người hướng dẫn
Trang 8HỌC VIỆN NGÂN HÀNG THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Sao Linh
Sinh ngày: 20 tháng 5 năm 1995
Nơi sinh: Thái Nguyên
Lớp: K16QTDNB Khóa: 16
Khoa: Quản trị kinh doanh
Địa chỉ liên hệ: Tân Mai, Hoàng Mai
Điện thoại:0906134666 Email: saolinh.nsl@gmail.com
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên đà phát triển, trong quá trình giao lưu và hội nhập với nềnkinh tế thế giới, thì nhu cầu tìm hiểu tri thức nhân loại ngày càng được mở rộng vànâng cao Học nhiều nhưng không thừa, càng học lượng kiến thức thu được càngrộng, càng sâu, hiểu biết càng nhiều càng giúp chúng ta giải quyết công việc đượctốt hơn, càng trau dồi kiến thức tâm chúng ta càng sáng hơn như câu nói “ngọc bấttrác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý” Việc học như viên ngọc sáng mài giũanhiều càng sáng Như Hồ Chí Minh đã nói “học đi đôi với hành”, Người luôn quantâm đến việc học đi cùng với thực hành lý luận phải đi đôi với thực tiễn nói phải điđôi với làm “Lý luận mà không có thực tiễn là lý thuyết suông, thực tiễn mà không
có lý luận thì trở thành thực tiễn mù quáng” Người có kiến thức mà không có kinhnghiệm cũng không làm được gì, ngược lại người có kinh nghiệm mà không cókiến thức cũng rất khó để thành công Mỗi người chúng ta cần phải tự ý thức đượcviệc học cho bản thân, để mà cố gắng để mà phấn đấu Lê Nin cũng đã từng nói
“Học, học nữa, học mãi” học không bao giờ ngừng học một rồi học lên hai, học hairồi lại lên ba, học đến suốt đời Việc học không nhất thiết cứ phải lên lớp nghegiảng bài thì mới là học, mà việc học được tổ chức ở mọi lúc mọi nơi mọi thờiđiểm, chúng ta có thể học khi đang làm, học khi vui chơi Học không kén chọn ai,
ai cũng có thể học, học nhiều hơn nữa Việc học không có nghĩa là lúc nào cũngcần người hướng dẫn mà có thể tự tổ chức việc học cho mình Vai trò tự học rấtquan trọng người học mà không có tính tự học thì học không đến nơi không giỏi,còn người học mà có tính tự học thì học nhiều hơn dự tính của minh Chính vì vậyviệc học tập đã trở nên không thể thiếu đối với mỗi con người, đặc biệt là đối vớisinh viên, thế hệ tương lai của đất nước Năng lực của sinh viên được đánh giá dựatrên kết quả học tập, tuy nhiên trên thực tế việc đánh giá này còn gặp phải nhiềuvấn đề như đánh giá chưa công bằng, bệnh thành tích… Trong khi xã hội quá coitrọng bằng cấp, gia đình kỳ vọng quá cao về con em mình mà năng lực của mỗisinh viên có phần hạn chế Điều này đã tác động đến ý định thực hiện hành vi gianlận trong học tập Do vậy, bên cạnh những sinh viên đạt kết quả cao trong học tập
Trang 10bằng chính năng lực của mình thì cũng tồn tại không ít số lượng sinh viên đã gianlận trong học tập để có kết quả tốt
Gian lận trong học tập đang là một vấn nạn tại Việt Nam và hầu hết các nước trênthế giới Gian lận trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục ở mỗi quốc gia trênthế giới Theo nghiên cứu của Viện khoa học giáo dục Việt Nam, trong thập kỷvừa qua ở khắp nơi trên thế giới từ châu Á, châu Âu cho đến châu Mĩ đâu đâungười ta cũng có thể chứng kiến tình trạng gian lận trên học đường và tỷ lệ gian lậnnày ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt Năm 2012, trường đại học danh tiếngHarvard đã tiến hành điều tra về thực trạng gian lận trong thi cử của trường này.Kết quả của nhóm nghiên cứu điều tra của trường đại học Harvard ở Mỹ mới đây
đã phát hiện dấu hiệu gian lận của khoảng một nửa trong tổng số 250 bài thi ỞTrung Quốc trên trang web của bộ giáo dục và đào tạo nước này đã điều tra thựctrạng quy chế thi và sửa đổi quy định phòng thi để ngăn chặn gian lận Năm 2011,cảnh sát Nhật vào cuộc điều tra việc đề thi vào đại học Tokyo bị đăng lên mạngtrong khi cuộc thi đang diễn ra Tỷ lệ hối lộ giáo viên ở Hàn Quốc cũng hết sứcnóng bỏng Vốn ban đầu chỉ là hộp bánh thông thường thì nay đã biến thành mộtphương thức hối lộ, thường là một phong bì đơn giản đựng tiền Theo kết quả điềutra của chính quyền Hàn Quốc, trên cả nước cứ 5 phụ huynh được hỏi thì có mộtngười cho biết họ đã đưa phong bì cho giáo viên (theo bài nghiên cứu của TSPhạm Ngọc Trúc tháng 11 năm 2008- Viện khoa học giáo dục Việt Nam) Ở ViệtNam tình trạng này cũng diễn ra một cách hết sức phổ biến Trong giáo dục phổthông không khó để có thể dẫn ra hàng loạt các vụ việc tiêu cực trong thi cử trongthời gian qua: Năm 2012 gian lận nghiêm trọng xảy ra ở kì thi tốt nghiệp THPT ởtrường THPT Đồi Ngô, Bắc Giang Năm 2013 cũng trong kì thi tốt nghiệp tạitrường THPT Quang Trung, Hà Nội thí sinh có thể thoải mái trao đổi bài, chép bàigiám thị làm ngơ hoặc ra ngoài nói chuyện, Năm 2015 trong kì thi THPT quốc gia
có gần 700 thí sinh bị đình chỉ thi do có hành vi gian lận…Trong giáo dục đại họctình trạng này diễn ra phổ biến hơn đặc biệt từ sau khi các thiết bị công nghệ cao rađời Việt Nam cũng như các nước khác luôn coi chất lượng là một trong những yếu
tố quan trọng trong hầu hết các bậc giáo dục đặc biệt là giáo dục ở bậc đại học.Hầu hết các trường đại học trong hệ thống giáo dục Việt Nam đang cố gắng tựhoàn thiện mình để nâng cao chất lượng giáo dục Đánh giá kết quả học tập củasinh viên là một khâu vô cùng quan trọng trong công tác đào tạo Nếu công tácđánh giá không được thực hiện một cách đúng đắn, công bằng sẽ ảnh hưởng rất lớn
Trang 11đến kết quả học tập cũng như vốn kiến thức mà sinh viên được trang bị trong quátrình học tập Theo nhóm nghiên cứu, một trong những lý do quan trọng dẫn đếnviệc đánh giá kết quả học tập không chính xác là việc tiêu cực trong học tập haynói cách khác là hiện tượng gian lận của sinh viện Hiện tương gian lận đã đượcbáo chí đề cập đến Chẳng hạn như trên trang web http://giaoduc.net.vn ngày 24tháng 10 năm 2011 có bài “Một kì thi lạ: Thoải mái quay cóp chép bài bạn.” đã nêulên hiện tượng quay cóp của sinh viên trong kì thi liên thông đại học Sinh viênthoải mái sử dụng tài liệu, chép bài bạn hay thậm chí là tụm lại thành từng nhóm
để trao đổi bàn bạc bài Bài viết của tác giả Nguyễn Minh Hà năm 2010 trên trangweb http://vietbao.vn với tựa đề “Xã hội chưa xây dựng lòng tự trọng cho họcsinh” đã cho rằng nguyên nhân chính của hiện tượng quay cóp trở nên phổ biếnnhư hiện nay là giáo dục của chúng ta chưa chú trọng đến việc xây dựng lòng tựtrọng cho học sinh sinh viên Nếu hiện tượng quay cóp của HSSV được xem là
“bình thường” thì xã hội chưa có nhiều hi vọng vào thế hệ mai sau Ngay thời giangần đây vấn đề này cũng được đề cập rất nhiều trên các bài báo Vào ngày 23 tháng
7 năm 2012 trên web http://tuoitre.vn ở mục tin giáo dục có đưa tin bài viết vớitiêu đề “Hơn 400/500 thí sinh nói có gian lận thi cử” nội dung nói về các cách thức
và tỷ lệ gian lận trong kì thi của sinh viên Bài viết trên báohttp://m.nguoiduatin.vn số ra ngày 21 tháng 12 năm 2014 ở chuyên mục thời sự xãhội bài báo “Học Viện Ngân Hàng và kỳ tích một ngày lọt cửa 3 ca thi gian lận” đãcho thấy công tác thanh tra kiểm tra ở các trường đại học chưa thực sự chặt chẽ.Như vậy chúng ta có thể thấy thực trạng gian lận trong học tập thi cử trong thờigian vừa qua đang ở mức báo động và đáng lo ngại Sinh viên những người sẽ làchủ nhân, là những nhà kinh tế, nhà nghiên cứu tương lai của đất nước mà lạichiếm một tỉ lệ lớn gian lận trong học tập Sở dĩ tỷ lệ này chiếm phần lớn ở sinhviên là do bệnh thành tích trong học tập cũng như họ sợ sau khi ra trường không cótấm bằng, điểm số đẹp thì họ sẽ không có được một công việc tốt do đó mà họ luônphải đặt ra cho mình một mục tiêu và bằng mọi cách để đạt được nó Mỗi người cónhững lý do khác nhau cho hành vi gian lận của mình, có người thì cố gắng chămchỉ học tập nhưng vẫn không đạt mục tiêu đề ra nên phải gian lận, có người thìthực sự lười nhác chỉ chăm lo chơi bời nên gian lận, có người thì ỷ lại vào điềukiện gia đình để gian lận Đâu mới là nguyên nhân thực sự gây ra tình trạng gianlận tong học tập? Một câu hỏi đã được đặt ra từ lâu nhưng chưa có bất cứ một đáp
án chính xác nào Để hạn chế cũng như giảm thiểu tình trạng này thì trước tiênchúng ta phải có một đáp án thực sự tin cậy cho câu hỏi trên
Trang 12Gian lận không phải là một chủ đề nghiên cứu quá mới, Ở nước ngoài nghiên cứu
“Ảnh hưởng của sự lười suy nghĩ và sự tự tin lên sự gian lận của sinh viên khốingành kinh tế” tác giả Rafix Z Elias (năm 2008) “Nói dối và gian lận: Sự bào chữacho gian lận và đạo văn” của Roig Miguel, Caso, Marissa (năm 2008) “Đặc điểm
và tình trạng gian lận của sinh viên đại học tại các trường đại học nhỏ” của nhómnghiên cứu Dawkins, Russell L (năm 2008) hay nghiên cứu của KristinVoelklFinn, Frone, Michael R về “Hiệu suất học tập và vấn đề gian lận kiểm duyệt vai tròcủa nhà trường và khả năng tự tin” (năm2005)… Ở trong nước cũng đã có một vàicông trình nghiên cứu về vấn đề này như “Nghiên cứu thái độ sinh viên khối ngànhkinh tế lên gian lận” của nhóm tác giả trường đại học kinh tế quốc dân hay côngtrình nghiên cứu “Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng quay cóp của sinh viêntrong thi học kì (nghiên cứu tại trường cao đẳng y tế Khánh Hoà)” của sinh viêntrường đại học quốc gia Hà Nội Nắm bắt được điều đó nhóm chúng tôi quyết định
chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định hành vi gian lận trong học tập của sinh viên trên địa bàn Hà Nội” Lý do
chúng tôi chọn Hà Nội làm phạm vi nghiên cứu là vì thành phố Hà Nội là nơi tậptrung nhiều trường đại học, cao đẳng nhất cả nước với khoảng gần 100 trường, đàotạo nhiều ngành nghề và lĩnh vực khác nhau sẽ rất thuận tiện cho việc nghiên cứu
và kết quả nghiên cứu cũng khả quan hơn Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu xong đềtài này chúng tôi sẽ nắm bắt được nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến tìnhtrạng gian lận trong học tập của sinh viên từ đó đưa ra các giải pháp các khuyếnnghị hợp lý nhằm hạn chế và giảm thiểu tình trạng này
Đề tài sẽ được giải quyết qua các câu hỏi lớn như sau:
Gian lận trong học tập là gì? Tác hại của việc gian lận trong học tập?
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định gian lận của sinh viên trên địa bànthành phố Hà Nội?
Thực trạng về ý định gian lận của sinh viên tại thành phố Hà Nội như thếnào?
Hướng hạn chế tình trạng gian lận trong học tập?
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 131.2.1 Mục tiêu chung
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi gian lận trong học tập của sinhviên trên địa bàn thành phố Hà Nội từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm hạn chế tìnhtrạng gian lận trong học tập
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi gian lận trong học tập của sinhviên trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là sinh viên đang theo học tại các trườngđại học tại thành phố Hà Nội thuộc các ngành học xã hội, Y- Dược, Kinh tế,Công nghệ - Kĩ thuật…
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khoa học và khả thi, đề tài này sử dụng kết hợp phương phápnghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng và nghiên cứu tại bàn bằngphương pháp định tính, đi sâu vào phản ánh đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệntượng gian lận của sinh viên trong học tập
Trang 141.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu tại bàn thông qua các bài báo, các công trình nghiên cứu khoa học, cáctạp chí khoa học trong và ngoài nước (chủ yếu là tài liệu nước ngoài) Nghiên cứuthông qua một vài cuộc phỏng vấn sâu một số sinh viên, giảng viên, cán bộ nhàtrường Trên cơ sở đó từng bước xây dựng và phát triển mô hình giả định các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định gian lận trong học tập của sinh viên
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Tiến hành thu thập tài liệu về gian lận trong học tập ở những năm gần đây Tiếnhành phát phiếu điều tra khảo sát bảng hỏi đối với đối tượng là sinh viên đang theohọc tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội nhằm mục đích kiểm định lại môhình lý thuyết và các giả thuyết trong mô hình
Trong nghiên cứu, chúng tôi thực hiện việc xử lý và phân tích các kết quả nghiêncứu bằng phần mềm SPSS và Excel 2010
1.4.3 Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu: Dựa theo nghiên cứu của Hair, Anderson, Tatham vàBlack (năm 1998) cho tham khảo về kích thước mẫu dự kiến Theo đó kích thướcmẫu tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát Bài nghiên cứu của nhóm gồm 34biến quan sát theo đó mẫu tối thiểu là 34*5= 170 mẫu khảo sát
- Đối với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996)
Do vậy cỡ mẫu tối thiểu sẽ là 50 + 8*5= 90 mẫu
- Nghiên cứu về cỡ mẫu do Roger thực hiện (2006) cho thấy cỡ mẫu tối thiểu áp dụng được trong các nghiên cứu thực hành là từ 150-200
Căn cứ vào số mẫu tối thiểu nhóm dự kiến lấy 600 mẫu
1.5 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định gian lận trong học tập của sinhviên trên địa bàn Hà Nội nhằm đưa ra kết quả kiểm định mô hình các yếu tố ảnhhưởng giúp cho Nhà nước, Bộ GD và ĐT và các trường đại học có thêm cơ sởkhoa học để đưa ra những quyết định đúng đắn Đề tài cũng phản ánh lên thựctrạng gian lận trong học tập của sinh viên hiên nay và đưa ra các đề xuất kiến nghị,giải pháp mới sáng tạo hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng gian lận của sinh viên
Trang 15Điều đó có ý nghĩa lớn lao thôi thúc mạnh mẽ nhóm sinh viên chúng tôi thực hiện
đề tài này
Đối với xã hội: Trong một xã hội mà con người ai cũng tốt, ai cũng có năng lực thì
sẽ thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tích cực hơn Đề tài được thực hiện vớimong muốn sẽ hướng tới một môi trường học tập bình đẳng, đánh giá kết quả họctập một cách công bằng, khách quan nhất
Đối với ngành giáo dục: Đưa ra các chính sách đúng đắn và hợp lý để giảm thiểutình trạng này một cách hiệu quả nhất, giúp cho ngành giáo dục trong sạch, tạođược uy tín của ngành
Đối với nhà trường: Giúp nhà trường đưa ra các biện pháp ngăn chặn sự ảnh hưởngcủa những yếu tố này và có các phương pháp giảng dạy mới tích cực hơn, thúc đẩytinh thần tự giác học tập Đưa ra các biện pháp đánh giá kết quả học tập một cáchcông bằng, khách quan
Đối với sinh viên: Nắm được những tác hại của việc gian lận từ đó tự ý thức đượcvai trò của việc học đối với bản thân mình cũng như nâng cao trách nhiệm và tinhthần học tập
1.6 Kết cấu bài nghiên cứu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.5 Ý nghĩa thực tiễn
1.6 Kết cấu bài nghiên cứu
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Giới thiệu
2.2 Các khái niệm có liên quan
2.3 Tổng quan nghiên cứu
2.4 Các mô hình lý thuyết
2.5 Mô hình nghiên cứu chính thức
2.6 Tổng kết chương
Trang 16CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu
3.2 Thiết kế nghiên cứu
3.3 Xây dựng thang đo
3.4 Mẫu nghiên cứu định
3.5 Tổng kết chương
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Giới thiệu chung
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo
4.3 Thống kê mô tả biến định tính
4.4 Phân tích độ tin cậy
4.5 Đánh giá và kiểm định sự phù hợp của mô hình
4.6 Hồi quy tuyến tính
4.7 Kiểm định ANOVA cho các biến định tính
4.8 Tổng kết chương
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
5.1 Giới thiệu
5.2 Đề xuất giải pháp
CHƯƠNG 6: HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN
6.1 Những hạn chế của nghiên cứu
6.2 Kết luận
Trang 17CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Giới thiệu
Chương 1: Nhóm nghiên cứu đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương
2 chúng tôi sẽ trình bày các lý thuyết về ý định gian lận trong học tập và mô hìnhcác yếu tố ảnh hưởng đến ý định gian lận trong học tập của sinh viên trên địa bànthành phố Hà Nội Đồng thời chương 2 cũng đưa ra các đặc điểm của mô hình đãđược đề cập nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu Chương 2 gồm cácphần chính sau:
Các khái niệm liên quan đến đề tài, lý thuyết về ý định gian lận
Các mô hình nghiên cứu ý định gian lận
Đánh giá mô hình và đưa ra các giả thuyết
2.2 Các khái niệm có liên quan
2.2.1 Gian lận và gian lận trong học tập
Hiệu trưởng trường đại học LS&A Joint Faculty cho rằng gian lận là gian lậntrên một hồ sơ, báo cáo, giấy, chuyển nhượng máy tính, xét nghiệm hoặc các côngviệc khác hoặc yêu cầu chứng chỉ khóa học
Các ý kiến của một số giáo sư tại trường đại học AARHUS cho thấy gian lận
là bạn sử dụng văn bản hoặc các ý tưởng sản xuất của người khác mà không tự tạothành nó nhưng không ghi chú tên tác giả làm giám khảo tưởng rằng bạn chính làtác giả của những bài viết đó
Quan điểm của giáo sư Jimmy Gimmie (University of California San Diego)gian lận là khi:
- Bạn giả vờ công việc của người khác là của mình để đạt được lợi ích chobản thân
- Bạn làm sai lệch dữ liệu
Trang 18- Bạn nói dối để kéo dài thêm thời hạn hoặc để có thêm một số quyền lợi đặcbiệt giúp người khác làm bất cứ điều gì.
Một số giáo sư tại trường đại học kinh tế Norwegian chỉ ra rằng gian lận tronghọc tập là:
- Sao chép câu trả lời từ các bạn cùng phòng thi hoặc sử dụng đáp án từnhững người bạn đã vượt qua kì thi đó
- Vi phạm các qui tắc ứng xử trong phòng thi
- Sao chép câu trả lời từ internet
- Sử dụng các trích dẫn từ sách giáo khoa hoặc các tác phẩm của người khác
mà không cung cấp tài liệu tham khảo và chỉ dẫn rõ ràng rằng các văn bản được sửdụng là một trích dẫn
Nhóm nghiên cứu đã dựa vào định nghĩa của giáo sư Jimmy Gimmie(University of California San Diego) và một số giáo sư trường đại học kinh tếNorwegian để đưa ra định nghĩa của gian lận trong học tập như sau:
Gian lận trong học tập là hành vi lừa dối và phá vỡ các quy tắc trong học tập baogồm:
- Sao chép bài tập, câu trả lời từ sinh viên khác
- Chạy điểm, mua điểm trong quá trình học tập
- Đạo văn khi thực hiện các bài tập nhóm, bài tập lớn
- Vi phạm các quy định trong phòng thi (chép bài của sinh viên khác, sử dụng điệnthoại, internet…)
2.2.2 Tác hại của gian lận.
Gian lận có thể mang lại cho sinh viên lợi ích trong trước mắt, tuy nhiên về lâu dàilại để lại hậu quả vô cùng lớn Trong một nghiên cứu của Bjorklund and Wenestam(1999) đã chỉ ra rằng sinh viên không còn hành xử theo quy tắc đạo đức được cho
là đúng khi thực hiện các hành vi gian lận Từ thói quen khi gian lận trong trường
Trang 19đại học dẫn đến khi ra trường ở ngoài xã hội họ vẫn tiếp tục lừa dối sử dụng mọicách dù tốt hay không tốt để đạt được mục đích Trong thời gian trên giảng đường
có thể hành vi sinh viên làm chỉ là vi phạm về mặt đạo đức quy định, nhưng ở bênngoài nó có thể dẫn tới các hành vi liên quan đến pháp luật và ảnh hưởng khôngnhỏ tới tương lai và cuộc sống của sinh viên Hơn nữa, người thường xuyên thựchiện hành vi gian lận có thể trở thành một tù nhân bị lệ thuộc vào những kiến thức
ảo Tâm lí dựa dẫm một cách lén lút khiến sinh viên luôn ở thế bị động trong cuộcchiến và rất khó khăn để thoát ra được Sinh viên làm bài phụ thuộc vào sách vở,vào kiến thức của người khác, vì thế kết quả sẽ không thật và không tốt Ngoài ra,gian lận sẽ tạo điều kiện cho sinh viên mắc vào nhiều thói xấu khác đó là lườinhác, ỷ lại và lừa dối Nếu gian lận một lần mà trót lọt sẽ khiến sinh viên có ý địnhtái phạm thêm một, hai và có thể nhiều lần nữa Sinh viên chỉ nghĩ đến cái lợi trướcmắt (có điểm số cao) mà quên không nghĩ tới tác hại vô cùng lớn của thái độ thiếutrung thực Tự sinh viên đã tha hoá bản thân, biến mình thành con người khôngtrung thực, mất đi đức tính cao quý ngàn đời của cha ông và cả dân tộc Việt Nam.Nếu bị phát hiện gian lận, có thể sinh viên sẽ mất hết lòng tin yêu của mọi người,
bị đánh giá và nhìn nhận theo một cách khác Hơn thế sinh viên sẽ bị khiển tráchtrước hội đồng kỉ luật, bị nêu gương xấu trước toàn trường Song thiếu trung thựctrong học tập để lại tác hại lớn nhất là không có kiến thức Khi sinh viên gian lận,sinh viên đã tự tạo cho mình một lỗ hổng rất lớn trong kho tri thức Càng gian lậnnhiều thì lỗ hổng ấy càng lớn và kiến thức càng vơi bớt Giả dụ khi sinh viên làmbài sai hay không làm được bài, sinh viên sẽ được thầy cô chỉ bảo, chữa lỗi để thậtnhớ và tăng thêm vốn kiến thức cho mình Nhưng sinh viên gian lận thì tất cả chỉ làcơn gió thoáng qua và không có được chút kiến thức nào Cứ như thế, đáng lo ngạithay khi sinh viên bước ra xã hội với một kho kiến thức ảo Vì vậy, tiến sĩ giấy,bằng giả không còn là điều xa lạ trong hiện thực cuộc sống Những tấm bằng nàyquyết định một phần quan trọng trong quá trình sinh viên xin việc làm, do đó sinh
Trang 20viên dựa vào đây để tiếp tục hành vi gian lận Hậu quả là giảm sút năng suất, hiệuquả công việc, kinh tế tụt hậu…bởi không có kiến thức thì không thể làm việcđược Mỗi học sinh, sinh viên đều là những thế hệ tương lai của đất nước, vậy màvới một cái đầu trống rỗng thì liệu đất nước có phát triển được không? Câu hỏi nàycần được xoáy sâu vào nhận thức của mỗi người.
Gian lận chính là nguyên nhân gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dụcnước ta Những trường đại học đào tạo ra sinh viên có tấm bằng đẹp tuy nhiênkhông biết sử dụng những kiến thức đã học trong thực tế sẽ bị giảm uy tín Từ đótấm bằng của những trường đại học này sẽ không còn giá trị với những nhà tuyểndụng Bên cạnh đó chúng ta cũng có một lực lượng lao động thiếu kiến thức vàkinh nghiệm Theo một nghiên cứu mới đây do ILO (Tổ chức Lao động Quốc tếILO đưa ra tại diễn đàn chính sách về những tác động của Cộng đồng Kinh tếASEAN (AEC) đến thị trường lao động Việt Nam, diễn ra tại Hà Nội ngày4/9/2014) thực hiện với hơn 200 doanh nghiệp trong ngành du lịch ở miền TrungViệt Nam cũng cho thấy thực trạng tương tự Toàn bộ chủ doanh nghiệp cho biếtsinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề không đáp ứng yêu cầu công việc ở đơn
vị của họ Hệ quả của thực trạng này là năng suất lao động của người Việt Nam rơivào mức thấp nhất châu Á - Thái Bình Dương (Tổ chức Lao động Quốc tế ILO đưa
ra tại diễn đàn chính sách về những tác động của Cộng đồng Kinh tế ASEAN(AEC) đến thị trường lao động Việt Nam, diễn ra tại Hà Nội ngày 4/9/2014) Mộtnghiên cứu khác của ILO tính toán năng suất lao động của người Singapore năm
2013 cao gấp 15 lần năng suất lao động của người Việt Nam Thậm chí, năng suấtlao động của người Việt Nam cũng chỉ bằng 1/5 so với Malaysia và 2/5 so với TháiLan - hai quốc gia thu nhập trung bình khác thuộc khối ASEAN (khảo sát của ILOnăm 2014) Không những thế gian lận còn gây ra sự mất công bằng trong đánh giá,những người học thật bị đánh đồng với những người gian lận thậm chí học cònđược đánh giá kết quả cao hơn Như vậy, vô tình đã tạo ra sự mất công bằng trong
Trang 21việc đánh giá sự cố gắng và nỗ lực giữa những người có trình độ khác nhau.
Cuối cùng, từ ảnh hưởng của gian lận trong học tập sẽ dẫn tới một xã hội gian lận.Học sinh gian lận điểm, người đi làm gian lận công việc, mọi người gian dối vớinhau Đó sẽ là một xã hội mất sự công bằng khi làm thật hay không cũng giốngnhau Kinh tế, giáo dục của đất nước sẽ trì trệ, khó có thể phát triển
2.3 Tổng quan nghiên cứu:
2.3.1 Công trình nghiên cứu trong nước:
Trong một nghiên cứu của nhóm sinh viên Hoàng Thu Hà, Phạm Tuấn Anh, Nguyễn Hữu Vương dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Phan Thị Thục Anh trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội đã tìm hiểu được tình hình gian lận của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội và các lý do tác động đến việc gian lận trong học tập của họ Mô hình nghiên cứu chính thức của nhóm:
Trang 22Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự đề xuất
H1: Sinh viên có ý thức học tập thấp thường hay gian lận
H2: Sinh viên không làm chủ được kiến thức thường hay gian lận
H3: Sinh viên cảm nhận áp lực học tập càng cao càng hay gian lận
H4: Sinh viên muốn có bảng điểm đẹp thường hay gian lận
H5: Sinh viên càng coi trọng giá trị của việc học và sự công bằng trong họctập thì càng ít gian lận
2.3.2 Công trình nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu “Cheating on examinations and its predictors among
undergraduate students at Hawassa University College of Medicine and Health Science, Hawassa, Ethiopia” của Anteneh Assefa Desalegn và Asres
Berhan được công bố vào năm 2014 đã chỉ ra rằng gian lận trong các kì thi là mộtvấn đề mang tính toàn cầu Việc gian lận trong học tập xảy ra ở các trường đại học
về Y-Dược đem lại những hệ quả nghiêm trọng tới cuộc sống con người, giá trị xãhội và nền kinh tế Nghiên cứu này được tiến hành để xác định sự phổ biến củahành vi gian lận và xác định những nhân tố ảnh hưởng tới hành vi gian lận của sinhviên trường “Hawassa University College of medicine and health science” Nhữngkết quả của nghiên cứu đã chỉ ra được sự quan trọng của sự phát triển chính sách
về vấn đề gian lận trong các trường học Sự mở rộng của nghiên cứu này đã tácđộng đến các chính sách của các trường Trung học phổ thông Sự tăng lên của mức
độ giám sát trong quá trình kiểm tra đầu vào, mức độ tham gia các buổi học trênlớp, và giảm thiểu các yếu đố hình thành xu hướng gian lận Giữa các yếu tố nhưnền tảng của mỗi người, mức độ giáo dục của cha mẹ, điểm trung bình tích lũy và
sự yêu thích trong học tập không có sự liên kết nào đáng kể
Trang 23 Nghiên cứu “Cheating among college and university students: a North
American perspective” của Donald L McCabe đã chỉ ra sự thật thà trong học tập
là một vấn đề nổi cộm của các tổ chức học thuật và nó đạt được sự quan tâm từ cáchọc giả trong một vài thập kỉ gần đây Bài báo này trình bày về các dữ liệu đạtđược trong ba năm gần đây trên 80000 sinh viên và 12000 giảng viên ở Mỹ vàCanada Trong quá trình nghiên cứu, sự gian lận trong các kì thi, bài kiểm tra vàviệc đạo văn là những vấn đề đáng quan tâm trong các học viện và trường đại học.Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đưa ra những đề xuất khả thi cho chiến lược nângcao mức độ thật thà trong học tập của sinh viên
Nghiên cứu của Alarape, A.I và Onakoya, A.Y năm 2003 “Correlates of
examination cheating behavior among university student” nói rằng, gian lận
trong học tập ngày càng trở thành vấn đề học thuật hàng đầu Trong nghiên cứunày, ông tìm ra các mối tương quan vật lý về các hành vi gian lận trong học tập củasinh viên tại Nigeria Dữ liệu được lấy trên 250 cá nhân trong độ tuổi 23 Kết quảchỉ ra độ tuổi và lòng tự trọng có mối tương quan tích cực với hành vi gian lận,trong khi sự tự chủ và nhu cầu về thành tích có mỗi tương quan tiêu cực với hành
vi này Những yếu tố này được thảo luận một cách cụ thể trên mỗi cá nhân cácnhau để đưa ra nguyên nhân của việc sinh viên gian lận trong học tập Bốn giả thiếtđược đưa vào khảo sát trong nghiên cứu này là:
Có mối tương quan tích cực giữa độ tuổi và hành vi gian lận trong học tập
Có mối tương quan tích cực giữa lòng tự trọng và hành vi gian lận trong họctập
Có mối tương quan tích cực giữa sự tự chủ và hành vi gian lận trong học tập
Có mối tương quan tích cực giữa nhu cầu về thành tích và hành vi gian lậntrong học tập
2.4 Các mô hình lý thuyết
2.4.1 Thuyết nhận thức - hành vi
Sự ra đời của thuyết hành vi dựa trên cơ sở tâm – sinh lí học mà xuất phát điểm lànhững nghiên cứu về phản xạ của R.Descarte ở Pháp (năm 1650), những nghiêncứu về hoạt động của hệ thần kinh cấp cao của I.M Xetsenov, I.P Pavlov, V.M.Becherev, P.A Anokhin … ở Nga Những nghiên cứu này đã có ảnh hưởng rất rõ
Trang 24đến Tâm lí học Động vật của E.L Thorndike (1874-1949) và tiếp đó, đến sự ra đờicủa Hành vi luận của J Watson (năm 1913) – được coi là người sáng lập ra ngànhTâm lí học Hành vi [2] Sau đó nhằm khắc phục những khuyết điểm của Tâm líhọc Hành vi cổ điển của ông, nhiều nhà nghiên cứu tâm lí học Mĩ đã phát triểnTâm lí học Hành vi thành nhiều nhánh khác Đó là Tâm lí học Hành vi mới vớithuyết Hành vi nhận thức của E.C Tolman (năm 1948) và thuyết Hành vi diễn dịchgiả thuyết của K.L Hull (năm 1943); đó là Tâm lí học Hành vi khoa học hành vicon người với thuyết Hành vi tạo tác nổi tiếng của B.F Skinner (năm 1953); và đó
là Tâm lí học Hành vi xã hội với thuyết Hành vi xã hội của J Mid, thuyết Nhậnthức xã hội của A Bandura (năm 1977) và thuyết Học tập xã hội của D Rotter(năm 19963) … Tuy ở nhiều nhánh khác nhau, với những tên gọi khác nhau, songtất cả đều có một điểm chung là cùng nghiên cứu hành vi của con người với mụcđích sử dụng vào việc phục vụ các hoạt động của xã hội, trước hết là giáo dục, dạyhọc, và trị liệu tâm lí, đồng thời đều có chung một cơ sở phương pháp luận vànhững luận điểm cốt lõi nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất của học thuyết về hành
vi
Bản chất của Thuyết nhận thức - hành vi
- Sơ lược về Thuyết hành vi của E.C.Tolman (1948)
Mô hình S -> R -> B
Trong đó: S là tác nhân kích thích, R là phản ứng, B là hành vi
Thuyết cho rằng con người có phản ứng do có sự thay đổi của môi trường đểthích nghi Như vậy, khi có 1 S sẽ xuất hiện nhiều R của con người, nhưng dần dần
sẽ có 1 R có xu hướng lặp đi lặp lại do chúng ta được học hay được củng cố khi kếtquả của phản ứng đó mang lại điều gì chúng ta mong đợi Như vậy theo thuyết nàythì hành vi con người là do chúng ta tự học mà có và môi trường là yếu tố quyếtđịnh hành vi (Do trời mưa, do tắc đường nên nghỉ học…) Các mô hình trị liệuhành vi vì thế mà nhiều khi được sử dụng một cách sai lầm như phương phápthưởng phạt Phương pháp này gây cho đối tượng cảm giác bị áp đặt
Thuyết nhận thức-hành vi:
- Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức(behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc làtrị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội
- Nội dung của thuyết: thuyết này cho rằng chính tư duy quyết định phản ứngchứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vihay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để
Trang 25làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suynghĩ không thích nghi.
Ví dụ: tâm lý của học viên khi có thông báo thanh tra xuống kiểm tra, người thì
lo lắng không biết mình có bị phát hiện đi học hộ, người thì trách móc trước sựkhắt khe của thanh tra, người thì nghĩ mình may mắn khi không nghỉ quá buổi học,người thì thấy đúng và ủng hộ => xuất phát từ nhận thức về tác nhân kích thíchthanh tra
- Quan điểm về nhận thức và hành vi: 2 quan điểm
+ Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành
vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ
tương tác với môi trường bên ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết
về tư duy méo mó) Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ởtrong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đốithoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của mộtcái tôi thất bại.(ví dụ, đứa trẻ suy nghĩ và chắc mẩm rằng mẹ mình không yêuthương mình bằng em mình, từ đó đứa trẻ xa lánh mẹ và tỏ thái độ khó chịu với
mẹ, không gần gũi…)
+ Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đềubắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể họctập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽsản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức
=> Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con ngườikhông phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề.Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ vàquan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm
2.4.2 Mô hình hành vi người tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng
Theo hiệp hội Marketing Mỹ - AMA, hành vi người tiêu dùng là sự tương tác
không ngừng biến đổi giữa sự cảm nhận và nhận thức, hành vi và các yếu tố môitrường thông qua con người thực hiện hành vi trao đổi
Theo Solomon Micheal năm 1992, hành vi người tiêu dùng là một tiến trình chophép một cá nhân hay một nhóm người lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ
Trang 26một sản phẩm/dịch vụ, những suy nghĩ đã có, kinh nghiệm hay tích lũy nhằm thỏa
mãn nhu cầu hay ước muốn của họ
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng được xem là quan trọng nhất trong nghiên
cứu Marketing Theo Philip Kotler “mỗi ngày người tiêu dùng lại đưa ra rất nhiều
các quyết định, mua hàng chính là tâm điểm của những nỗ lực của các nhà làm tiếp
thị Họ cần nghiên cứu xem người tiêu dùng muốn gì, họ mua ở đâu, họ mua thế
nào và tiêu bao nhiêu tiền, họ mua khi nào và tại sao họ lại mua” Để giải thích một
phần cho vấn đề này ông đã đưa ra mô hình hành vi người tiêu dùng để những nhà
làm Marketing có thể nắm bắt và đưa ra các chiến lược cho riêng mình
Mô hình hành vi người tiêu dùng
Để biết được cách thức mà kích thích được chuyển hóa thành phản ứng trong hộp
đen của người tiêu dùng thì Philip Kotler đã đưa ra các yếu tố thuộc nhiều cấp độ
ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của chúng ta, từ các yếu tố văn hóa – xã hội theo
nghĩa rộng cho đến những động lực, niềm tin và quan điểm ẩn sâu bên trong mỗi
người Việc mua hàng hay tiêu dùng sản phẩm nào đó của người tiêu dùng chịu
ảnh hưởng mạnh mẽ của các đặc điểm về văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý
Hộp đen người mua Đặc điểm người mua
Quy trình quyết định của người mua
Phản ứng của người mua
Quan điểm và sở thích mua hàng Hành vi mua gì, khi nào, ở đâu, bao nhiêu.
Quan điểm về mối liên hệ giữa thương hiệu và công ty
Chiêu thị Văn hóa
Chúng ta có thể xác định các yếu tố cái gì, khi nào, ở đâu, của hành vi mua hàng Nhưng rất khó để nhìn vào bên trong trí não của người tiêu dùng, và chỉ ra lý do tại sao lại có hành vi mua hàng đó (chính vì thế nó được gọi là “hộp đen”) Những người làm tiếp thị giành rất nhiều thời gian và tiền bạc để tìm ra cái khiến người tiêu dùng quyết định như vậy
Trang 27Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng
2.4.3 Thuyết hành động hợp lý (TRA – Theory of reasoned action)
Lý thuyết hành động hợp lý được Fishbein và Ajen phát triển vào năm 1967, môhình lý thuyết hành động hợp lý TRA được áp dụng cho các nghiên cứu thái độ vàhành vi, mô hình này cho thấy được ý định hành vi là yếu tố tốt nhất để xác địnhhành vi của con người
Theo Ajen (1975), ý định hành vi được xem là khía cạnh đặc trưng của niềm tin,chủ thể của ý định hành vi luôn là con người và được tượng trưng, thể hiện bằnghành động của con người Cường độ của ý định được xác định bởi khả năng chủquan khi con người thực hiện hành vi Nói cách khác, ý định được đo lường bởiquá trình mà tại đó chủ thể khả năng xảy ra mối liên hệ giữa họ và hành động sắp
Tâm lý
Động lực
Nhận thức Học hỏi
Niềm tin và quan điểm
Cá nhân
Tuổi và giai đoạn trong vòng đời Nghề nghiệp Tình hình kinh tế Phong cách sống Tính cách và nhận thức về bản thân
Xã hội
Các nhóm tham khảo Gia đình Vai trò và vị thế
Quyết định mua hàng của chúng ta chịu tác động của một loạt những sự kết hợp đến khó tin giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài
Quyết định mua hàng của mọi người phản ánh và chịu tác động của phong cách sống – cách mà họ hành động và tương tác với thế giới trong cuộc sống hàng ngày.
Hiện nay nhiều thương hiệu đang tập
trung vào các nền tiểu văn hóa riêng biệt,
với các chương trình marketing được
thiết kế riêng biệt để đáp ứng nhu cầu và
sở thích của mỗi cộng đồng
Trang 28xảy ra Ý định gồm bốn yếu tố khác nhau: hành vi, đối tượng mục tiêu, tình huống
mà hành vi sẽ xảy ra và thời điểm diễn ra hành động Theo Fishbein (1975) ý địnhhành vi được xác định bởi hai yếu tố khác nhau: cá nhân hay còn gọi là yếu tố thái
độ cá nhân và xã hội hay còn gọi là ảnh hưởng xã hội
B~I=(An) w1 + (SN) w2
Phương trình xác định ý định hành vi – Nguồn: Fishbein, M & Ajen, I(1975).Belief, Attidule, Intention, and Behavior: An Introduction to Theory and ResearchTrong đó: B có nghĩa là hành vi, I là ý định thể hiện hành vi B; An là thái độ đốivới sự thực hiện hành vi B; SN là ảnh hưởng xã hội
Thái độ đối với sự thực hiện hành vi được xác định bởi nhận thức hậu quả của cáchành vi và sự đánh giá cá nhân đối với hậu quả đó
An=∑n
i=1biei
Phương trình xác định thái độ thực hiện – Nguồn: Fishbein, M & Ajen, I(1975).Belief, Attidule, Intention, and Behavior: An Introduction to Theory and ResearchTrong đó: b là niềm tin mà sự thực hiện hành vi B dẫn đến kết quả I; e là sự đánhgiá cá nhân I; và n là số niềm tin mà con người có được về sự thực hiện hành vi B
SN thuộc về sự ảnh hưởng của xã hội lên hành vi Sự ảnh hưởng của xã hội là nhậnthức của con người rằng hầu hết những người quan trọng với họ sẽ nghĩ họ nên haykhông nên thực hiện hành vi Theo như lý thuyết, ảnh hưởng của xã hội được xácđịnh bởi sự kì vọng nhận thấy được sự tham khảo cụ thể
SN=∑n
i=1bim
Phương trình xác định ảnh hưởng của xã hội – Nguồn: Fishbein, M & Ajen,I(1975) Belief, Attidule, Intention, and Behavior: An Introduction to Theory andResearch
Tại đó, b là niềm tin chuẩn mực (niềm tin đối với sự tham khảo của tổ chức hay cánhân rằng anh ta nên hay không nên thực hiện hành vi); m là động cơ thúc đẩy với
sự tham khảo I và n là số lượng của tham khảo
Trang 29Cũng theo Fishbein (1967), ý định của con người nhằm thực hiện hành vi được xácđịnh bởi thái độ đối với việc thực hiện hành vi (An) và ảnh hưởng xã hội (SN) Lýthuyết cũng cho rằng các yếu tố ngoại vi có thể ảnh hưởng gián tiếp đến ý địnhthông qua hai yếu tố trên.
Tóm lại theo TRA, hành vi được quyết định bởi hai nhân tố là thái độ của cá nhân
và ảnh hưởng của xã hội (Davis et al., 1989) Mặt khác TRA còn đề xuất rằng ýđịnh là nhân tố chính của hành vi các nhân, mà ý định để hành động được quyếtđịnh bởi ảnh hưởng của xã hội và thái độ cá nhân dẫn đến sử dụng và cảm nhậnviệc tiêu dùng
Hinh 2.3 Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA
2.4.4 Thuyết hành vi dự định TPB ( Theory Planned Behavior)
Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành
động hợp lý (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thểđược dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó Các
xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đếnhành vi, và được định nghĩa như là mức độ nổ lực mà mọi người cố gắng để thựchiện hành vi đó (Ajzen, 1991)
Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố Thứ nhất, các thái độ được kháiniệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện Nhân tố thứ hai làảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay
không thực hiện hành vi đó Cuối cùng, thuyết hành vi dự định TPB (Theory of
Planned Behaviour) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểmsoát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận
Thái độ
Niềm tin về kết
quả của hành vi
Hành độngthực sự
Ý định sửdụng
Ảnh hưởng của
xã hộiNiềm tin về kết quả
hành vi
Trang 30phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào
sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi Ajzen đề nghị rằngnhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, vànếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểmsoát hành vi còn dự báo cả hành vi
Ưu điểm: Mô hình TPB được xem như tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự
đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàncảnh nghiên cứu Bởi vì mô hình TPB khắc phục được nhược điểm của mô hìnhTRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận
Nhược điểm: Mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi
(Werner, 2004) Các hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết định ý định không giới hạnthái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen 1991) Có thể có cácyếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu cho thấyrằng chỉ có 40% sự biến động của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng
Thái độ
Hành vi thựcsự
Xu hướng hành
viChuẩn chủ quan
Kiểm soát hành
vi cảm nhận
Trang 31TPB (Ajzen năm 1991; Werner 2004) Hạn chế thứ hai là có thể có một khoảngcách đáng kể thời gian giữa các đánh giá về ý định hành vi và hành vi thực tế đượcđánh giá (Werner 2004) Trong khoảng thời gian, các ý định của một cá nhân cóthể thay đổi Hạn chế thứ ba là TPB là mô hình tiên đoán rằng dự đoán hành độngcủa một cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định Tuy nhiên, cá nhân không luônluôn hành xử như dự đoán bởi những tiêu chí (Werner 2004).
2.4.5 Lý thuyết diễn dịch hành vi dự định (The decomposed theory of planned behavior)
Mô hình D.TPB được Taylor và Todd (1995) đề ra, là một phiên bản thay thế của
mô hình TPB với những cấu trúc quan điểm phân tích (decomposed beliefsstructures) Trong mô hình này, những yếu tố Thái độ, Tiêu chuẩn chủ quan, và Sựkiểm soát được phân tích vào các thành tố thứ nguyên
Thái độ được diễn dịch thành sự gian lận dễ dàng (perceived ease of use), Ích lợicủa việc gian lận (perceived usefulness) và sự tương thích (compatibility) TheoAjzen và Fishbein (1980), Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm 2 yếu tố niềm tin: ảnhhưởng của gia đình (family influences) và ảnh hưởng của môi trường xung quanh(mass media influences) Sự kiểm soát được phân tích thành 3 yếu tố: sự tự chủ(Self- efficacy), sự kiểm soát của nhà trường (Resource facilitating condition), sựphát triển của khoa học kĩ thuật (technology facilitating condition) Lý thuyết nàyđược ủng hộ bởi nhiều nhà nghiên cứu (Jaruwachirathanakul & Fink, 2005; và Ok
& Shon, 2006…)
Trang 322.4.6 Lý thuyết chung về tội phạm (A General Theory of Crime)
Trong một khoảng thời gian ngắn kể từ khi công bố, thuyết “A General Theory ofCrime” (1990) dường như đã thu hút đáng kể sự quan tâm từ các nhà tội phạm học.Travis Hirschi đã cộng tác cùng với Micheal Gottfredson để phát triển thuyết quanđiểm về liên kết xã hội của sự kiểm soát cổ điển và phát triển nó thành thuyết
“General Theory Crime” (1990) Trong thuyết quan điểm về liên kết xã hội sơ khaicủa Hirschi (1969) ông đã chỉ ra được tầm quan trọng của “sự kiểm soát gián tiếp”cho phép bộ mẹ có một cái nhìn về mặt tâm lý trong khi họ giám sát con cái Ngoài
ra, thuyết này có 4 yếu tố của sự kiểm soát: sự giám sát, sự cam kết, sự tương quan
và niềm tin Tuy nhiên, Gottfredson và Hirschi chỉ ra “sự kiểm soát trực tiếp” làmột công cụ hiệu quả nhất trong việc làm cha, làm mẹ Vì lý do này, họ đề xuấtmột lý luận về tội phạm dựa trên duy nhất một loại kiểm soát bản thân Họ đề xuất
lý luận về sự kiểm soát bản thân nên được xem như là lý thuyết tổng quát để giảithích tất cả sự khác nhau giữa các cá nhân trong xu hướng có hoặc không các hành
vi phạm tội Họ chỉ ra tất cả những hành vi phạm tội và sai trái ở mọi lứa tuổi vàtình huống (Akers và Sellers, 2014: 122) Gottfredson và Hirschi bắt đầu với việcquan sát: Dưới con mắt của Chúa Trời mọi thứ đều có thể giải thích được vớithuyết “General Theory of Crime”
Trang 33Sự khác nhau giữa các cá nhân trong xu hướng thực hiện các hành vi tội phạm vẫn
bị ảnh hưởng bởi địa vị xã hội và sự thay đổi về nhận thức của họ trong hệ thốngcác chuẩn mực Đây là một vấn đề về sự kiểm soát bản thân, các xu hướng khácnhau của con người để tránh các hành vi phạm tội trong mọi tình huống để họ cóthể tìm ra chính bản thân họ Từ khi sự khác nhau giữa những con người này thuhút được nhiều tên tuổi lớn, họ đã chỉ ra những khái niệm về sự tự kiểm soát bảnthân (1990:87)
+
2.5 Mô hình nghiên cứu chính thức:
Trong một nghiên cứu của Smith, Ryan và Diggins (1971) cho biết lòng tự trọng
có ảnh hưởng đáng kể đến tần suất gian lận ở cả nam và nữ Smith et al (1971)cũng cho biết mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và hành vi gian lận được biểuhiện rõ nét hơn ở nam giới so với nữ giới Tại Đức, trong một khảo sát 700 họcsinh, sinh viên của Rost và Wild (1990) cho thấy mối quan hệ giữa hình thức kiểmtra và hành vi gian lận trong trường học của sinh viên Một số sinh viên gượng ép
Băng nhóm Thời gian rảnh rỗi Chất kích thích Mục tiêu phù hợp
Bố mẹ có hành vi phạm tội
Thiếu sự giám sát Cái tôi lớn
Sự phạm pháp Hút thuốc Uống rượu Tình dục Tội phạm
Sự suy giảm của các ràng buộc
xã hội
Sự liên quan Cam kết Niềm tin
Trang 34thực hiện hành vi gian lận vì các lý do như để đạt được sự hài lòng của cha mẹ haychạy theo thành tích về điểm số, bằng cấp (Aplarape và Onakoya, 2003).
Ngoài ra, Schwartz, Feldman, Brown và Heigartner (1969) việc gian lận có thểlàm cho con người trở nên thụ động hơn, hơn nữa ông cũng nhấn mạnh là nhữngngười có động lực lớn cho việc học thì có xu hướng ít gian lận hơn những ngườikhông có động lực hoặc động lực học không đủ lớn Theo nghiên cứu của Barnett
và Dlton (1981) chỉ ra có sự đồng biến tương quan giữa trí thông minh của đứa trẻ
và hành vi gian lận của chúng Năm 1964, Crowne and Marlow nghiên cứu chothấy những sinh viên cần đạt được sự công nhận thường gian lận nhiều hơn vì họnhận thức được hậu quả của việc không đạt được sự công nhận ấy (điều này cũngđược viết bởi Jacobson năm 1970)
Trong một bài viết “Truth, Consequences and Culture: A ComparativeExamination of Cheating and Attitudes about Cheating among U.S and U.K.Students” của Stephen B Salter, Daryl M Guffey và Jeffrey J McMillan có đưa racâu hỏi “tại sao học sinh lại gian lận” Theo ông, xu hướng giân lận được giải thíchbởi ba cách sau:
Sự chấp nhận hành vi gian lận
Sự không tin tưởng vào khả năng học tập của mình
Các yếu tố nhân khẩu học và các vấn đề về văn hoá
Trong bài viết “Cheating among college and university students A North Americanperspective” của Donald L Mcabe ông đã đưa vào bảng khảo sát của mình câu hỏi
về việc sử dụng các thiết bị điện tử để lấy thông tin phục vụ cho bài kiểm tra.Ngoài ra, học sinh còn được hỏi về kinh nghiệm gian lận của mình trong quá khứ,
và ông cũng khảo sát mỗi sinh viên xem họ ước lượng như thế nào về sự nghiêmtrọng của mỗi tần suất gian lận
Bài báo có tên “Academic Integrity: Behaviors, Rates, and Attitudes of BusinessStudents toward Cheating” của Jeff Allen, Donald Fuller, and Michael Luckett cóviết: trong việc quản lý người học, hành vi gian lận có mối liên hệ với thói quencủa sinh viên, kích thước lớp học, vị trí ngồi trong lớp, sự thân quen giữa nhữngsinh viên ngồi cạnh nhau, và tầm quan trọng, mức độ khó của bài kiểm tra Tuynhiên, giân lận ít có xu hướng xảy ra khi có hình thức xử phạt thích hợp, các kì thiđược giám sát hơn, các bài kiểm tra dạng viết luận, các chính sách về gian lận được
Trang 35công bố và sự lo sợ khi bị phát hiện gian lận (Barid 1980; Bresnock 1989; Davis et
al 1992; Haines et al 1986; Kibler 1994; Nuss 1984; Oakes 1975; McCabe andTrevino 1993; Tittle and Rowe 1973; Vitro 1969)
Sinh viên có thể nhận thức sai lầm về việc gian lận do áp lực từ các sinh viên khác(Houston 1986; Baird 1980), do kỳ vọng về năng lực (David và Kovach 1979), hay
là do họ không biết hoặc nhầm lẫn về gian lận (Barnett và Dalton 1981; Uhlig vàHowers 1967; Oakes 1975) Ví dụ, McCabe (1992) viết rằng sinh viên kinh tế có tỷ
lệ tự nhận bản thân gian lận (87%), mặc dù Karlins, Micheals, và Podlogar thấyrằng chỉ có 3% trên số lượng lớn sinh viên kinh tế thực sự gian lận ở một số bài tập
cụ thể
Căn cứ vào các nghiên cứu trên nhóm đã đưa ra mô hình nghiên cứu chính thứcsau:
Giả thiết nghiên cứu:
H1: Có sự tương quan đồng biến giữa sự ảnh hưởng của gia đình với ý định gian
MÔI TRƯỜNG
XUNG QUANH
BẢN THÂN
Trang 36H4: Có sự tương quan đồng biến giữa sự ảnh hưởng của môi trường xung quanh
với ý định gian lận trong học tập
H5: Có sự tương quan đồng biến giữa sự ảnh hưởng của bản thân với ý định gian
lận trong học tập
2.6.Hệ thống các câu hỏi định lượng sử dụng thang đo Likert được dùng trong
bảng hỏi:
1 Khả năng tài chính của gia đình tôi tốt nên tôi có thể thực hiện các
hành vi gian lận (mua điểm, …)
Cochran et.al(1998); Tang andZuo (1997)
2 Bố mẹ tôi không phản đối việc gian lận trong thi cử nên tôi có ý
định thực hiện các hành vi gian lận
Elizabeth EhrhardtMustaine vàRichardTewksbury (2005)
3 Gia đình tôi có khác nhiều mối quan hệ để có thể giúp tôi đạt điểm
số tốt (xin điểm, nhờ thi hộ, học hộ, …)
Gottfredson vàHirschi (1990)
4 Gia đình tôi (bố, mẹ, anh chị em) gây ra cho tôi áp lực về điểm số
nên tôi có ý định gian lận
Kirk O Hanson.Retrieved (2005)
5 Bố mẹ tôi thường có phần thưởng (điện thoại, laptop, du lịch,…)
khi tôi đạt điểm số cao
Stephen F.Dvis,Pattrick F Drinan
và Tricia BertramGallant (2009)
6 Gia đình tôi không có truyền thống ham học tập (không có nhiều
tấm gương học tập, …)
Kirkvleit (1994);McCabe andTrevino (1997)MÔN HỌC
7 Có xu hướng hay xảy ra tình trạng gian lận trong một số môn nhất
định (VD: kinh tế lượng, thể dục, môn chuyên ngành, )
Anteneh AssefaDesalegn và AsresBerhan (2014)
8 Giảng viên giảng dạy các môn học này không hay(các môn học hay
9 Điểm quá trình thấp sẽ thúc đẩy tôi gian lận vào bài thi kết thúc học
Trang 37có ý định gian lận (quay cóp, chạy điểm)
NHÀ TRƯỜNG12.Các quy định xử lý về hành vi gian lận của trường chưa chặt chẽ
13.Việc xử lý các hành vi gian lận trên thực tế chưa được thực hiện
nghiêm túc (nhẹ hơn, cố tình bỏ qua,…) nên tôi có ý định gian lận
Jean MarcDenomme vàMadeleine Roy14.Nhà trường có nhiều chế độ khen thưởng đối với sinh viên có kết
quả học tập cao vì vậy tôi có ý định gian lận để được kết quả cao Ellen Citino (1998)15.Giám thị coi thi chưa chặt chẽ hoặc cố tình thả lỏng nên tôi có ý
16.Nhà trường chưa có cơ sở vật chất tốt trong việc phòng chống gian
17.Nhà trường không tiến hành thường xuyên các công tác thành tra,
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH18.Cơ chế thị trường (điều kiện tuyển dụng, xét học bổng, du học,…)
hiện nay coi trọng bằng cấp và điểm số
Phan Văn Thạng(2011)19.Sinh viên bè tôi thường xuyên gian lận nên làm tôi cũng có xu
hướng gian lận trong học tập
Cao Thu Hằng(2007)20.Sinh viên bè tôi sẵn sàng giúp đỡ tôi trong việc gian lận (cho chép
bài, thi hộ, …)
Ferre và Daniel(1995)21.Tôi không gặp phải phản ứng hay kỳ thị từ môi trường xung quanh
khi thực hiện hành vi gian lận (phản ứng của sinh viên bè, thầy cô,
…)
Tibberts và Myers(1999)22.Nhờ có sự giúp đỡ của công nghệ cao nên tôi có điều kiện dễ dàng
để gian lận (smartphone, tai nghe Bluetooth, …)
Popyack et al(2003)23.Việc học lại tốn nhiều chi phí và thời gian nên tôi sẽ thực hiện các
hành vi gian lận (mua điểm, chép bài, …)
Cochran et.al(1998); Tang andZuo (1997)BẢN THÂN
24.Tôi không ngại gian lận vì tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong vấn
25.Tôi thấy việc gian lận trong học tập sẽ thu được nhiều lợi ích Grasmick, Burisk,et al., 1993
27.Tôi thực hiện hành vi gian lận vì tôi chưa thấy hài lòng với kết quả Nagin &
Trang 38học tập của tôi Paternoster (1993)28.Tôi không có nhiều thời gian dành cho học tập (đi làm thêm, đi
29.Thái độ, ý thức của tôi trong quá trình học tập chưa được tốt Tibberts và Myers(1999)
Ý ĐỊNH GIAN LẬN30.Tôi cho rằng sinh viên sẽ tiếp tục thực hiện hành vi gian lận trong
34.Tôi có ý định gian lận trong kỳ học tới nếu có điều kiện (coi thi dễ,
2.7 Tổng kết chương:
Trong chương 2 nhóm đã trình bày tóm tắt các lý thuyết và mô hình nghiên cứu về
nhận thức, hành vi trong học tập từ đó xây dựng mô hình thể hiện sự ảnh hưởng
của các yếu tố đến hành vi gian lận trong học tập Các yếu tố của mô hình chính
thức bao gồm: gia đình, môn học, nhà trường, môi trường xung quanh, bản thân
Các giả thiết đưa ra đều tác động thuận chiều trực tiếp lên ý định hành vi
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu
Chương 2 nhóm đã trình bày cơ sở lý thuyết và đề nghị nghiên cứu mô hình
Chương 3 mục đích giới thiệu phương pháp nghiên cứu để sử dụng đánh giá các
Trang 39thang đo lường, quy trình tiến hành nghiên cứu, các khái niệm nghiên cứu và kiểmđịnh mô hình nghiên cứu cùng giả thuyết đặt ra Chương 3 được hình thành từ haiphần chính: (1) Thiết kế nghiên cứu, trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, gồmcác nghiên cứu sơ bộ (định tính) và nghiên cứu chính thức ( định lượng) (2) Xâydựng và phân tích thang đo.
Khi thực hiện bất cứ một nghiên cứu nào, người nghiên cứu có thể lựa chọn giữahai phương pháp: nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng hoặc cả hai.Phương pháp định tính bao hàm việc chọn lọc thông tin từ nghiên cứu tại bàn vàquan sát, trong khi đó phương pháp định lượng đòi hỏi người nghiên cứu phải điềutra thu thập thông tin từ việc điều tra thị trường, ví dụ thông qua phương pháp điềutra bằng cách: sử dụng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn hoặc phương pháp quansát Như đã đề cập ở chương 1, đề tài nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạnlà: nghiên cứu sơ bộ thông qua phương pháp nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnhrút gọn phác thảo thêm các ý tưởng bổ sung vào các biến quan sát dùng trong đolường xác định các nhân tố ảnh hưởng và phương pháp nghiên cứu định lượngchính thức sử dụng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và quan sát sẽ được trình bày kĩ ở cácphần sau
3.2 Thiết kế nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính được tiến hành thôngqua: tham khảo các bài nghiên cứu,báo khoa học (chủ yếu là tài liệu nước ngoài)
để mô hình hoá hệ thống; khảo sát chuyên sâu và điều tra khảo sát sơ bộ nhằm pháthiện điều chỉnh và bổ sung cho các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệmnghiên cứu, mục đích cuối cùng là xây dựng được bảng câu hỏi chính thức phù hợpvới đề tài và hoàn cảnh của Việt Nam Nghiên cứu chính thức sử dụng phươngpháp định lượng được thực hiện thông qua hình thức trả lời bảng câu hỏi chi tiếtnhằm thu thập, phân tích số liệu, thăm dò đánh giá các thang đo và kiểm định môhình lý thuyết đã được đặt ra
3.2.2 Quy trình nghiên cứu
Thang đo
Cơ sở lý thuyết
Trang 40- Loại biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ
- Kiểm tra hệ số Alpha
Hình 3.1: Toàn bộ quy trình nghiên cứu được trình bày
3.2.3 Nghiên cứu định tính
Từ mục tiêu nghiên cứu đã xác định dựa trên các lý thuyết nghiên cứu ý định hành
vi của con người đã trình bày ở chương 2 cùng với các thang đo nghiên cứu thựcnghiệm, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thang đo chinh thức bằng cách điều chỉnh
và bổ sung cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu là sinh viên và phạm vi trên địabạn thành phố Hà Nội
Do điều kiện của nước ta khác với các nước đang phát trên thế giới về văn hoá,trình độ phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng giáo dục, quan điểm chính sách của nhànước…nên các câu hỏi khảo sát được tham khảo từ nguồn tài liệu của nước ngoàinhóm đã thay đổi hoặc chỉnh sửa để xác định và bổ sung thang đo, các khái niệmnghiên cứu và xây dựng bảng hỏi phù hợp với các nước đang phát triển trong đó cóViệt Nam Trên cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của PhilipKotler nhóm đưa thêm vào những nhân tố về nhân khẩu học để khảo sát về thực