Tỉ lệ số lượng loài của các họ Thân mềm Chân bụng nước ngọt thu được tại khu vực nghiên cứu...20 Bảng 3.5.. Tỉ lệ số lượng loài của các họ Thân mềm Chân bụng nước ngọt thu được tại khu v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
ĐẶNG BẢO NGỌC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐA DẠNG
ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG (Gastropoda) VÀ
CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC Ở HỒ TÂY, TP.HÀ NỘI
Ngành: Quản lý Môi Trường
Mã ngành: 52 85 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS ĐỖ VĂN NHƯỢNG
Trang 2HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án này, Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắcnhất đến PGS.TS Đỗ Văn Nhượng đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốtquá trình làm đồ án
Em xin chân thành cảm ơn Ban Chủ Nhiệm khoa Sinh học đã tạo mọi điềukiện thuận lợi cho em thực hiện đồ án
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Môi trường, Đại họcTài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập cũng như thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các chị, các em đang học tập và nghiên cứu tạitrung tâm Nghiên cứu động vật đất, Nhà A2, khoa Sinh học, Trường Đại học Sưphạm Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên, giúp đỡ để
em hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2016.
Trang 4MỤC L
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan nghiên cứu 3
1.2 Khái quát khu vực nghiên cứu 5
1.2.1.Vị trí địa lý 5
1.2.2.Khí hậu 7
1.2.3.Điều kiện kinh tế-xã hội của khu vực xung quanh hồ Tây 8
CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
2.2.Thời gian nghiên cứu 9
2.3.Địa điểm nghiên cứu 9
2.4 Phương pháp nghiên cứu 10
2.4.1 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 10
2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 11
CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
3.1 Thành phần loài Thân mềm Chân bụng nước ngọt tại khu vực nghiên cứu .14 3.2 Đặc điểm phân bố của Thân mềm Chân bụng nước ngọt tại khu vực nghiên cứu 23
3.3 So sánh sự gần gũi giữa các khu hệ 24
3.4 Một số đặc điểm nhận dạng các loài Thân mềm Chân bụng ở khu vực nghiên cứu 26 3.5 Mối quan hệ của loài Thân mềm Chân bụng với môi trường nước tại khu
Trang 53.5.1 Đánh giá chất lượng nước theo các chỉ số đa dạng 47
3.6 Đề xuất biện pháp quản lý môi trường nước hồ 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNGY Bảng 2.1 Địa điểm và toạ độ thu mẫu tại khu vực nghiên cứu 9
Bảng 2.2 Xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng 13
Bảng 2.3 Xếp loại mức độ ô nhiễm các thủy vực theo hệ thống BMWP 13
Bảng 3.1 Thành phần loài và độ phong phú của Thân mềm Chân bụng ở hồ Tây, TP Hà Nội 15
Bảng 3.2 Tỉ lệ các đơn vị phân loại trong 2 phân lớp Mang trước và có phổi cuả Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu 18
Bảng 3.3 Tỉ lệ các đơn vị phân loại trong các bộ Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu 19
Bảng 3.4 Tỉ lệ số lượng loài của các họ Thân mềm Chân bụng nước ngọt thu được tại khu vực nghiên cứu 20
Bảng 3.5 Phân bố của thành phần loài Thân mềm Chân bụng nước ngọt ở khu vực nghiên cứu 23
Bảng 3.6 So sánh thành phần loài Thân mềm Chân bụng tại hồ Tây, hồ Bảy Mẫu và hồ Ba Mẫu 25
Bảng 3.7 Độ phong phú về số lượng cá thể của Chân bụng nước ngọt tại các điểm đánh giá trong 1m2 44
Bảng 3.8 Kết quả phân tích lý hóa tại các điểm đánh giá 45
Bảng 3.9 Chỉ số đa dạng của Chân bụng nước ngọt tại các điểm đánh giá 47
Bảng 3.10 Xếp loại chất lượng nước theo các chỉ số đa dạng 48
Bảng 3.11 Hệ thống điểm BMWP và ASPT tại các điểm khảo sát 48
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình ảnh vệ tinh của hồ Tây 6
Hình 2.1 Bản đồ các địa điểm thu nghiên cứu ở khu vực hồ Tây 10
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí phân loại Thân mềm Chân bụng nước ngọt tại khu vực nghiên cứu 17
Hình 3.2 Sơ đồ cấu tạo vỏ ốc 27
Hình 3.3 Loài Angulyagra duchieri 29
Hình 3.4 Loài Angulyagra boettgeri 30
Hình 3.5 Loài Angulyagra polyzonata 31
Hình 3.6 Loài Sinotaia aeruginosa 32
Hình 3.7 Loài Filopaludina sumatrensis 33
Hình 3.8 Loài Mekongia lithophaga 34
Hình 3.9 Loài Pomacea canaliculata 35
Hình 3.10 Loài Pomacea bridgesi 37
Hình 3.11 Loài Allocinma longicornis 38
Hình 3.12 Loài Semyla tornatella 39
Hình 3.13 Loài Tarebia granifera 40
Hình 3.14 Loài Assiminea obtusa 41
Hình 3.15 Loài Lymnaea rubiginosa 42
Hình 3.16 Loài Lymnaea swinhoei 43
Hình 3.17 Nước thải được xả thải trực tiếp ra hồ Tây tại đường Trích Sài 49
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Diễn biến một số yếu tố khí tượng đặc trưng tháng từ tháng IV/2015
đến tháng IV/2016 tại trạm Hà Đông 8Biểu đồ 3.1 Số lượng và tỉ lệ các đơn vị phân loại chính ở khu vực nghiên cứu 18Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ các đơn vị phân loại trong các bộ Thân mềm Chân bụng tại khu
vực nghiên cứu 19Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ số lượng loài của các họ Thân mềm Chân bụng nước ngọt thu
được tại khu vực nghiên cứu 20Biểu đồ 3.4: Số lượng cá thể của loài Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu 22Biểu đồ 3.5 Phân bố của thành phần loài Thân mềm Chân bung nước ngọt ở khu
vực nghiên cứu 24Biểu đồ 3.6 Tương quan giữa các chỉ số pH, độ đục và thành phần loài tại các điểm
đánh giá 45Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa các chỉ số COD và thành phần loài tại các điểm
đánh giá 46Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa chỉ số đa dạng và thành phần loài tại các điểm đánh giá 47
Trang 8Trong ngành Thân mềm, lớp Chân bụng (Gastropoda) là lớp phong phú nhất,chiếm tới 75-80% tổng số loài Thân mềm hiện nay Là lớp duy nhất trong ngành cóđại diện sống ở cả dưới nước và trên cạn với số lượng lớn [1] Tuy nhiên, nghiêncứu về thành phần loài, đặc trưng phân bố, quá trình tiến hóa và ý nghĩa thực tiễncủa chân bụng ở nước ta còn ít
Về sinh thái, Chân bụng là một mắt xích trong chuỗi và lưới thức ăn Phần lớnChân bụng ăn thực vật, mùn bã hưu cơ, rêu, nấm, một số ăn thịt, một số khác lọcthức ăn trong nước hay sống ký sinh và chúng lại là thức ăn cho các loài động vậtkhác như một số loài cá, chim nước, Đặc biệt nhóm Thân mềm Chân bụng sốngdưới nước còn có ý nghĩa chỉ thị tình trạng môi trường [11,12]
Về tiến hóa, nghiên cứu tiến hóa của Thân mềm Chân bụng trong lịch sử tiếnhóa chủ yếu dựa vào nghiên cứu vỏ Thân mềm hóa thạch ở một vùng nào đó, từ đótìm hiểu được những thông tin về khí hậu, thổ nhưỡng, tác động của con người đếnmôi trường [12]
Về giá trị thực tiễn, Thân mềm Chân bụng được dùng làm thức ăn vì có hàm
lượng dinh dưỡng cao như thịt ốc sên (Helix aspera) rất giàu đạm Vì vậy chúng là
nguồn thủy sản rất có giá trị kinh tế và xuất khẩu Các loài ốc ở nước có giá trị thựcphẩm, cung cấp thức ăn cho nhân dân các vùng Ngoài ra chúng còn được dùng làmnguyên liệu cho các ngành : mỹ nghệ, phân bón, dược phẩm [4,8]
Bên cạnh những lợi ích mà Thân mềm Chân bụng mang lại, nhiều loài ốc có hạicho đời sống, sản xuất và bản thân con người Đối với sản xuất nông nghiệp, sên
trần (Arionidae), ốc sên (Achaitina fulica), ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata)
Trang 9nuôi Ví dụ: ốc đĩa (Polypilis hemisphoerula) truyền bệnh sán bã trầu cho lợn; ốc tai (Lymnaea swinhoei) truyền bệnh sán lá gan cho trâu bò Hai loài ốc là Lymnaea swinhoei và Lymnaea viridis có tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan và sán dây lớn nhất
[2,10,14]
Trong những năm qua, do quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế một cáchnhanh chóng đã làm cho mức độ ô nhiễm của hồ Tây ngày một gia tăng do lượngnước thải đổ ra ngày một nhiều, điều này làm chất lượng nước của hồ ngày càngsuy giảm, làm biến đổi thành phần loài và khu hệ sinh vật của hồ Tây Ngoài ra,biến đổi khí hậu với sự xen kẽ hạn hán và lũ lụt bất thường đang ảnh hưởng rất lớntới sự đa dạng sinh học của các loài sinh sống trong hồ
Từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu mối quan hệ giữa động vật Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) và chất lượng môi trường nước ở hồ Tây, TP Hà Nội” để tìm hiểu mối liên quan giữa thành phần loài
Chân bụng ở các vị trí (phía Đông, Tây, Nam, Bắc) của hồ với môi trường
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định thành phân loài Thân mềm Chân bụng có ở hồ Tây, TP Hà Nội
- Đặc trưng phân bố của chân bụng ở các phía của hồ
- Tìm hiểu mối liên quan giữa thành phần loài và môi trường xung quanh
Nội dung nghiên cứu
- Xác định các vị trí lấy mẫu
- Chuẩn bị các dụng cụ
- Xác định các chỉ tiêu môi trường cần thu lượm dựa vào các thiết bị hiện có
- Thu các mẫu Thân mềm Chân bụng có ở các điểm nghiên cứu
Trang 10CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu Chân bụng nước ngọt ở Việt Nam
Việc nghiên cứu Thân mềm Chân bụng ở Việt Nam và Đông Dương nóichung diễn ra từ rất sớm, ngay từ đầu thế kỉ thứ XIX và thường gắn với các nghiêncứu Thân mềm ở dưới nước [17] Tuy nhiên, nghiên cứu còn rất hạn chế, chủ yếu là
do các tác giả nước ngoài thực hiện, nếu có nhắc đến các tác giả Việt Nam chỉ làđóng góp hay cộng sự với các tác giả nước ngoài
Thời kì trước năm 1954:
Nghiên cứu về trai ốc nước ngọt, mở đầu là công trình của Cross và Fisher(1863), công bố 454 loài ốc nước ngọt Trung Bộ Sau đó là những nghiên cứu vềtrai ốc nước ngọt Việt Nam của Morlet (1886), Mabille (1887), Dautzenberg etHamoville ( 1887) [17,19] Năm 1891, Fisher đã tiến hành tổng hợp lại tất cả nhữngdần liệu về trai ốc nước ngọt, nước mặn và trên cạn trong nghiên cứu khu hệ Thânmềm vùng Đông Dương Nghiên cứu đã tổng hợp được 1.129 loài thuộc 203 giống
đã tìm thấy, có 127 loài ở Việt Nam [17]
Sau công trình nghiên cứu của Fisher có thể nêu một số công trình được công
bố tiếp theo của Morlet (1891), Bavay et Dautzenberg ( 1900-1901), Martens(1902) mô tả thêm một số loài trai ốc mới ở Đông Dương [18]
Năm 1904, trong các nghiên cứu của đoàn Pavie, danh lục các loài ốc nướcngọt ở vùng Đông Dương của Fisher và Dautzenberg bao gồm khoảng 360 loàitrong đó có 148 loài tìm thấy ở Việt Nam Như vậy, theo danh lục các loài ốc nướcngọt ở vùng Đông Dương của Fisher (1891) đã bổ sung 21 loài mới cho Việt Nam
và 24 loài cho Bắc Việt Nam [18]
Theo nhận định của Đặng Ngọc Thanh năm 1980, ở thời kì này, các nghiêncứu đã thống kê khá đầy đủ về thành phần loài trai ốc nước ngọt ở vùng ĐôngDương nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, nghiên cứu về thành phần loàicòn nhiều vấn đề phân loại học, vị trí phân loại và danh pháp còn nhiều nhầm lẫn,chính vì thế đã có nhiều công trình tu chỉnh của Dautzenberg và Fisher (1905), Haas
Trang 11Thời kì sau năm 1954:
Các nghiên cứu trong thời kì sau 1954, nhất là trong thời gian gần đây đượcđẩy mạnh Nghiên cứu về trai ốc nước ngọt miền Bắc có thể kể đến các công trìnhcủa Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1965-1967, 1968, 1971, 1975, 1980), Bott(1970) về Giáp xác và Thân mềm Ngoài ra còn có Nguyễn Xuân Quýnh về trai ốcnước ngọt phía Bắc Việt Nam (1970) và Hoàng Minh Thảo về trai ốc nước ngọtphía Nam Việt Nam (1984) [15]
Năm 1980, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã tổng hợp, tu chỉnh các kết quả
nghiên cứu từ trước năm 1970 về phân loại học và công bố trong công trình “Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam” Công trình này ghi nhận
miền Bắc Việt Nam có 47 loài ốc nước ngọt, đây là công trình đầy đủ duy nhất đãđược công bố cho tới thời điểm đó về ốc nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam [22].Trong những năm tiếp theo, các cán bộ Viện Sinh Thái và Tài nguyên Sinh vậttiếp tục điều tra, thu mẫu trai ốc nước ngọt khắp các tỉnh miền Bắc, Trung và NamViệt Nam, kể cả các nhóm ốc có kích thước <5mm Trên cơ sở phân tích các mẫuthu được, những công bố gần đây của Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2003,
2004, 2006) đã tu chỉnh về thành phần loài của cá họ ốc nước ngọt Ampullariidae,Vivipiridae, Thiaridae, Pachychikidae và phân họ Triculinae thuộc Pomatiopsidae.[16,19,20,21] Trong đó, có 1 giống với 9 loài ốc mới cho khoa học thuộc phân họTriculinae đã được các tác giả trên mô tả
Nghiên cứu về Thân mềm ở các sông và cửa sông miền Bắc Việt Nam có thể kểđến nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh thực hiện năm 2004 ở sông Bằng Giang (CaoBằng), Kì Cùng (Lạng Sơn) và các nhánh thượng nguồn của sông Tây Giang Kết quả
đã xác định được 37 loài trong đó có 8 loài đặc hữu, phân bố hẹp ở đây [16]
Thời gian gần đây, bên cạnh các tác giả Việt Nam, còn có các nhà khoa họcnước ngoài thực hiện công tác điều tra, phân loại học một số nhóm ốc nước ngọtViệt Nam Trong đó, các công trình nghiên cứu mới, tu chỉnh phân loại học ốc nướctrong khu vực Đông Nam Á và ở cả Việt Nam, như công trình của Kohler (2002,
2006, 2009), Kohler & Glaubrecht (2006) về họ ốc Pachychilidae, theo hướng phânloại học hình thái, giải phẫu, phát triển phôi kết hợp với kĩ thuật sinh học phân tửhiện đại Một số những kết quả nghiên cứu nổi bật của Kohler (2009) là tính đa
Trang 12dạng họ Pachychilidae ở Việt Nam với 6 loài mới cho khoa học, lần đầu tiên pháthiện và mô tả ở Việt Nam.
Năm 2010, Sau một thời gian dài phân tích mẫu vật Thân mềm Chân bụngnước ngọt từ mọi miền đất nước, Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải đã tương đốihoàn chỉnh cuốn “Động vật chí Việt Nam” đưa ra những dẫn liệu đầy đủ về thànhphần loài và phân loại trai ốc nước ngọt toàn quốc, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu vàgiảng dạy về thủy sinh học nước ngọt (tài liệu chưa xuất bản) [23] Cùng thời điểm
đó, nghiên cứu về Giáp xác lớn và Thân mềm ở sông Hồng (đoạn từ Phú Thọ tớicửa Pa Lạt) của Hoàng Ngọc Khắc (2010) đã bổ sung 26 loài cho khu hệ Giáp xác,Thân mềm ở Việt Nam và 38 loài cho khu vực phía Bắc [13]
Với hướng tiếp cận các công cụ hiện đại như giải phẫu học và sinh học phân
tử kết hợp với so sánh hình thái trong phân loại trai ốc thì trong tương lai, những kếtquả nghiên cứu mới này có thể làm sáng tỏ thêm nhiều về vấn đề phân loại học, hệthống học và nguồn gốc chủng loại của trai ốc nước ngọt Việt Nam
1.2 Khái quát khu vực nghiên cứu
Hồ Tây là hồ lớn nhất của Hà Nội, nằm ở phía tây bắc thành phố, có vai tròquan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thủ đô Cùng với tốc độ đôthị hóa, sự can thiệp của con người đã và đang làm cho hồ Tây bị biến dạng, theo đó
là ô nhiễm môi trường, mất đi nhiều loài thủy sản, đặc sản có giá trị
1.2.1 Vị trí địa lý
Hồ Tây có tọa độ địa lý ở vào khoảng 21°03’ vĩ độ Bắc, 105-49’ kinh độ Đông[29], nằm ở phía Tây Bắc Hà Nội, thuộc quận Tây Hồ Phía Bắc giáp đê bao YênPhụ-Tứ Liên; phía Nam giáp đường Thụy Khê; phía Đông giáp đường Thanh Niên;phía Tây giáp đường Lạc Long Quân Xung quanh hồ có 6 phường của quận Tây
Hồ là: Yên Phụ, Quảng An, Nhật Tân, Xuân La, Thụy Khê, Bưởi và một phườngcủa quận Ba Đình là phường Quán Thánh Bên cạnh Hồ Tây cách khoảng 30m còn
có hồ Trúc Bạch với diện tích nhỏ hơn so với Hồ Tây và thông với Hồ Tây bởi haicống Hồ Tây với diện tích hơn 500ha gần như được chia làm 2 phần: phần từ cống
Đõ sang bán đảo Quảng An (Phủ Tây Hồ) trở lên phía Bắc gọi là hồ trên; phần cònlại là hồ dưới
Trang 13Theo các kết quả điều tra, khảo sát, diện tích hồ Tây hiện nay vào khoảng526,16ha, chu vi 18.967m, chỗ rộng nhất là 3724m, chỗ hẹp nhất là 2618m, độ sâutrung bình 1,5-2,0m, nơi sâu nhất là 3,0m Một số đo đạc cụ thể cho thấy phân bố
độ sâu nước hồ như sau: cách bờ 1-2m, nông nhất là 0,6-0,7m; sâu nhất là 1,5-1,7m;cách bờ 15-20m, nông nhất là 1,2-1,3m; sâu nhất là 2,0-2,4m; cách bờ từ 100m; từ2,4 đến 2,8m
Lượng nước trung bình khoảng 10 triệu mét khối Hồ Tây có sự đa dạng sinh
học cao và điển hình ở vùng đồng bằng sông Hồng ( Hình 1)
Hình 1.1 Hình ảnh vệ tinh của hồ Tây Đặc điểm tự nhiên
Khu hệ thủy sinh vật Hồ Tây khá đa dạng với 72 loài thực vật nổi, 47 loài tảobám đáy, 37 loài động vật nổi, 29 loài động vật đáy (thuộc nhóm ốc, hến), 12 loàigiáp xác Tuy nhiên, hệ thủy sinh ngày càng suy giảm, nguyên nhân chủ yếu do khaithác quá mức và nguồn nước, nền đáy bị ô nhiễm [28]
Trang 14Ở Hồ Tây hiện nay tồn tại 8 cửa cống lớn thông với hồ Trong đó, cống Đỗ phíanam hồ trên đường Thuỵ Khuê là cống thông với sông Tô Lịch Trước đây, nước sông
Tô Lịch và Hồ Tây thông nhau, nay có hệ thống cửa cống điều tiết nước hồ ra sông TôLịch [30] Cống tràn Xuân La cũng có chức năng đưa nước Hồ Tây ra khi mực nướccao Cống cây si trên đường thanh niên thông nước Hồ Tây với Hồ Trúc Bạch Các cốngcòn lại, chủ yếu là cống thải nước sinh hoạt vào hồ Trong đó đặc biệt là cống Tàu baycạnh Xưởng phim tài liệu ( vườn hoa Lý Tự Trọng ), là cống thải lớn nhất ( cửa cốnghiện nay được nằm ngầm dưới sàn bê tông của công trình dịch vụ du lịch ăn uống)
Tổng lượng mưa tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc cao hơn giá trị TBNN từ(15mm đến 1000mm) và có giá trị dao động phổ biến từ 72mm đến 188mm Lượngmưa ngày lớn nhất phổ biến từ 22 đến 69mm; số ngày mưa trong tháng phổ biến từ
13 đến 20 ngày; số ngày mưa liên tục phổ biến từ 2 đến 7 ngày; số ngày không mưaliên tục phổ biến từ 4 đến 8 ngày [27]
Tổng số giờ nắng tháng IV/2016 ở các nơi trong vùng dao động từ 46 giờ đến
77 giờ, cao nhất là 132 giờ tại Nho Quan; có giá trị ở mức xấp xỉ hoặc dao độngxung quanh giá trị TBNN (từ -51 giờ đến 34 giờ) Độ ẩm không khí trung bìnhtháng từ 83% đến 93%, phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc dao động xuang quanh giá trịTBNN từ (-4% đến 3%); giá trị độ ẩm không khí thấp nhất tuyệt đối là 51% xảy ravào ngày 18/IV tại Láng và Hà Đông Lượng bốc hơi vùng Đồng bằng Bắc Bộ phổbiến từ 28,3mm đến 66,3mm; lượng bốc hơi ngày cao nhất phổ biến từ 2 đến 4mm.Lượng bốc hơi tháng phổ biến ở mức xấp xỉ hoặc thấp hơn giá trị lượng mưa tháng
từ 36mm đến 154mm [27]
Trang 15Biểu đồ 1.1 Diễn biến một số yếu tố khí tượng đặc trưng tháng từ tháng IV/2015
đến tháng IV/2016 tại trạm Hà Đông [27].
1.2.3 Điều kiện kinh tế-xã hội của khu vực xung quanh hồ Tây
Xung quanh Hồ Tây có 6 phường của Quận Tây Hồ và 1 phường của Quận BaĐình với số dân 33.123 người sống giáp hồ Diện tích đất sử dụng quanh hồ là78,72ha, trong đó diện tích đất khu dân cư là 52,48ha Dân số vùng xung quanh HồTây phân bố không đồng đều Dân cư chủ yếu tập trung ở phía Nam và Đông Namcủa hồ Thành phần dân cư gồm 2 dạng:
- Những dân cư sống chính thức quanh hồ với phần đông là những hộ gia đìnhsống lâu đời tạo thành các quần cư với các làng nghề rất nổi tiếng như Võng Thị (chàilưới), Nghi Tàm (tơ tằm, dệt lụa, trồng hoa), Bưởi (làm giấy), Thành Công (dệt vải) –
- Những dân cư tới thuê ở tại những khu vực cao ráo, có khí hậu tốt được xâydựng nhiều trong mấy năm qua ở quanh hồ, như Quảng An,
Hồ Tây có diện tích đất nông nghiệp chiếm 26,24ha Diện tích đất nông nghiệpxung quanh Hồ Tây được sử dụng chủ yếu để trồng rau màu và đặc biệt là cây cảnhnhư đào, quất, các loại hoa ở Nhật Tân, Nghi Tàm Hàng năm có một số lượng khálớn phân hóa học và thuốc BVTV từ các hoạt động nông nghiệp đổ theo các cốngthoát vào hồ Theo kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV ở đây cho thấy
có nhiều loại thuốc diệt côn trùng được sử dụng như Monitor, Wofatox, Bassa,Pulichin, và các loại phân hóa học thường dùng là Urê, phân tổng hợp NPK chính
vì vậy gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước hồ
Trang 16CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Các loài Thân mềm Chân bụng Gastropoda sốngtrong nước ở hồ Tây
- Phạm vi nghiên cứu : Ven bờ khu vực hồ Tây
- Xác định các chỉ tiêu đánh giá môi trường
2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 3/2016 đến tháng 6/2016 Bao gồm 3 đợt thu mẫu:
- Đợt 1: Ngày 05/04/2016 đến ngày 19/04/2016
- Đợt 2: Ngày 20/04/2016 đến ngày 04/05/2016
- Đợt 3: Ngày 05/05/2016 đến ngày 15/05/2016
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Đối với mẫu Thân mềm Chân bụng
Tiến hành thu mẫu ốc tại 5 điểm định tính và 3 điểm định lượng ven bờ hồ Tây (bảng 2.1) Địa điểm và tọa độ được thể hiện chi tiết ở bảng 2.1 :
Bảng 2.1 Địa điểm và toạ độ thu mẫu tại khu vực nghiên cứu
6 Đ6 105°49'54.3"E 21°02'38.4"N 6/4/2016 (Mẫu định lượng)
7 Đ7 105°49'11.9"E 21°03'46.8"N 20/4/2016 (Mẫu định lượng)
8 Đ8 105°49'06.2"E 21°03'33.5"N 5/5/2016 (Mẫu định lượng)
Trang 17Hình 2.1 Bản đồ các địa điểm thu nghiên cứu ở khu vực hồ Tây.
Đối với mẫu nước
Mẫu nước được lấy theo TCVN 5994:1995 [5], TCVN 6492:2011 [6] vàQCVN 08-MT:2015/BTNMT [7] Thực hiện tiến hành thu mẫu nước tại các điểmlấy mẫu ốc nhằm so sánh chất lượng nước ở môi trường hồ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Các phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
a Chuẩn bị dụng cụ:
Vợt tay thu mẫu 5mm, sàng mắt lưới 2mm, gàu nhỏ có độ mở miệng 0.02 mm,panh, máy ảnh, kính lúp cầm tay, thước dây, giấy ghi nhãn, sơ đồ khu vực lấy mẫu,túi đựng mẫu, bút chì, sổ ghi chép, hóa chất đinh hình (cồn 70°)
b Chọn địa điểm thu mẫu: mẫu vật được thu thập tại 5 địa điểm đã xác định
(theo hình 2.1) Tọa độ các điểm nghiên cứu được định vị bằng GPS
Trang 18c Phương pháp thu mẫu:
Thu mẫu định tính:
- Mẫu được thu tại 8 điểm ven hồ (hình 2.1) Khi thu mẫu cần chú ý các mẫu
có kích thước nhỏ, mẫu bám dưới các cây thủy sinh, các vật cứng dưới nền đáy
Các bước tiến hành thu mẫu:
- Dùng vợt lấy những mẫu có thể nhìn thấy được bám trên thành bờ
- Dùng sàng thu các mẫu nhỏ bằng cách loại bỏ hết bùn và rác lẫn trong mẫu
- Với mẫu có kích thước lớn (> 5mm) : Nhặt bằng tay
- Với mẫu có kích thước nhỏ (< 5mm): Dùng vợt tay hoặc gàu nhỏ có độ mởmiệng 0.02 mm để súc bùn đáy, sau đó dùng sàng mắt lưới 2 mm để loại bỏ bùn
Thu mẫu định lượng:
Mẫu định lượng được tính trên một đơn vị diện tích 1m2 Tùy theo định hình đểxác định theo diện tích 1m2 Thu toàn bộ mẫu trong ô định lượng
Mẫu trong mỗi ô được đựng trong túi riêng và ghi nhãn đầy đủ
d Xử lý mẫu vật: Mẫu sau khi thu được rửa sạch và định hình trong cồn 70o.Tất cả các mẫu phải được ghi đầy đủ các thông tin vào nhãn: ngày tháng, địa điểmthu mẫu, tọa độ thu mẫu, người thu mẫu Mẫu được lưu giữ và bảo quản tại Trungtâm nghiên cứu Động vật đất khoa Sinh học trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
a Phương pháp xác định chỉ tiêu độ đục, pH, nhiệt độ, COD
Sử dụng các công cụ đo nhanh để đo các chỉ tiêu nhiệt độ, pH, độ đục của mẫunước thu về:
- Đo nhiệt độ, pH bằng máy HI2211 Microprocessor – based Ph/Mv/OC BenchMeters - Made in Romania ( nhiệt độ có sai số ± 0,3, pH có sai số ± 0,01)
- Đo độ đục bằng máy đo độ đục AQ3010 - Made in USA
- Phân tích COD bằng phương pháp phương pháp Đicromat trong phòng thínghiệm Trung tâm Nghiên cứu Động vật, khoa Sinh học, trường Đại học Sư Phạm
Hà Nội
Trang 19c Sử dụng phương pháp chuyên gia trong quá trình định loại: Trao đổi với
các chuyên viên ngành Động vật học nghiên cứu vể Thân mềm Chân bụng
S: Tổng số loài trong mẫuN: Tổng số lượng cá thể trong mẫu
Trang 20Bảng 2.2 Xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng
Chỉ số đa dạng (H), (D) Chất lượng nước
Một số họ động vật đáy được lựa chọn tham gia một lần tính điểm bao gồm các
họ có tính nhạy cảm cao nhất (tương đương với điểm cao nhất - điểm 10) sau đó làcác họ có tính nhạy cảm giảm dần và cuối là các họ có khả năng thích nghi vớiđiềukiện môi trường thay đổi (tương đương với sốđiểm thấp nhất - điểm 1) [11]
Sau khi cóđiểm tổng cộng BMWP, tínhđiểm số trung bình hay còn gọi là ASPT(Average Score Per Taxon) bằng cách lấy tổng sốđiểm chia cho tổng số họ đã thamgia tính điểm Điểm số ASPT là chỉ số sinh học tương ứng với một mức chất lượngnước (Bảng 2.4) Chỉ số này trong khoảng từ 1-10 [9], [11]
Bảng 2.3 Xếp loại mức độ ô nhiễm các thủy vực theo hệ thống BMWPThứ hạng Điểm số trung bình (ASPT) Đánh giá chất lượng nước
vật không xương sống đáy)
Nguồn : Environment Agency, UK, 1997 Richard Orton, Anne Bebbington và
John Bebbington, 1995)
Trang 21CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài Thân mềm Chân bụng nước ngọt tại khu vực nghiên cứu
Sau khi phân tích và tổng hợp các mẫu vật thu được tại địa điểm nghiên cứu,thành phân và các đơn vị phân loại của thân mềm Chân bụng nước ngọt được sắpxếp trong bảng 3.1 dưới đây :
Trang 22Bảng 3.1 Thành phần loài và độ phong phú của Thân mềm Chân bụng ở hồ Tây, TP Hà Nội
2.Họ Ampullariidae
3.Họ Bithyniidae
Bộ Sorbeoconcha
4.Họ Thiaridae
Ghi chú:
- Đ1, Đ2, Đ3, Đ4, Đ5, Đ6, Đ7, Đ8: Điểm thu tương ứng Điểm 1, Điểm 2, Điểm 3, Điểm 4, Điểm 5, Điểm 6, Điểm 7, Điểm 8(Bảng 2.1)
Trang 23- n : số lượng cá thể
- n% : tỉ lệ % số lượng cá thể
Trang 24Sau khi thu thập mẫu ở các địa điểm tại khu vực nghiên cứu, phân tích mẫutrong phòng thí nghiệm để định loại và sắp xếp chúng trong các đơn vị phân loạihiện đang sử dụng trên thế giới về Thân mềm Chân bụng có nhận xét sau:
Thành phần các loài ốc nước ngọt phát hiện ở khu vực nghiên cứu thuộc 2 phânlớp : phân lớp Mang trước (Prosobranchia) và phân lớp Có phổi (Pulmonata) với 4
bộ tương ứng là bộ Mesogastropoda, bộ Sorbeoconcha, bộ Hypsogastropoda và bộBasommatophora Các loài được phát hiện tại hồ Tây thuộc 6 họ :Viviparidae,Ampullariidae, Bithyniidae, Thiaridae, Assimineidae và Lymnaeidae được thể hiệnqua sơ đồ 3.1 dưới đây :
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí phân loại Thân mềm Chân bụng nước ngọt
tại khu vực nghiên cứu
Thiaridae
Hypsogastropoda
Assimineidae
Trang 25Phân lớp Ốc mang trước (Prosobranchia) có 3 bộ là bộ Mesogastropoda, bộSorbeoconcha, bộ Hypsogastropoda với 12 loài trong tổng số 14 loài (chiếm 87%);thuộc 9 giống trong tổng số 10 giống (chiếm 90%) và 4 họ trong tổng số 5 họ(chiếm 80%)
Phân lớp Ốc có phổi (Pulmontana) có 1 bộ là Basommatophora với 2 loài (chiếm 14,29%) thuộc 1 giống (chiếm 10%) và 1 họ (chiếm 20%)
Bảng 3.2 Tỉ lệ các đơn vị phân loại trong 2 phân lớp Mang trước và có phổi cuả
Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu
Trang 26Biểu đồ 3.1 Số lượng và tỉ lệ các đơn vị phân loại chính ở khu vực nghiên cứu
Về bậc bộ :
Phân tích cấu trúc bậc bộ, nhận thấy trong 4 bộ ở bộ Mesogastropoda có sốlượng họ lớn nhất với 3 họ (chiếm 50% trên tổng số 6 họ đó là Viviparidae,Ampullariidae, Bithyniidae), 6 giống (chiếm 60%), 9 loài (chiếm 64,28%) Sau đó
là bộ Sorbeoconcha với 1 họ ( chiếm 16,67 % đó là Thiaridae), 2 giống (chiếm20%), 2 loài (chiếm 14,29%) Tiếp theo là bộ Hypsogastropoda với 1 họ (chiếm16,67% là Assimineidae), 1 giống ( chiếm 10%), 1 loài (chiếm 7,14%) Cuối cùng
là bộ Basommatophora với 1 họ (chiếm 16,67% là Assimineidae), 1 giống ( chiếm10%), 2 loài (chiếm 14,29%) Cấu trúc bậc bộ được thể hiện ở bảng 3.3 dưới dây :Bảng 3.3 Tỉ lệ các đơn vị phân loại trong các bộ Thân mềm Chân bụng
tại khu vực nghiên cứu
Trang 27Phân lớp Có phổi có tỉ lệ phần trăm về bậc bộ, giống, loài ít hơn rất nhiều so vớiphân lớp Mang trước Sở dĩ có sự chênh lệch lớn như vậy là bởi vì ở trong môi trườngnước thì việc hô hấp bằng mang sẽ có lợi thế hơn hẳn so với hô hấp bằng phổi.
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ các đơn vị phân loại trong các bộ Thân mềm Chân bụng
tại khu vực nghiên cứu.
Về bậc họ :
Tại khu vực nghiên cứu đã phát hiện 6 họ Chân mềm Thân bụng nước ngọt.Trong số 6 họ phát hiện được ở khu vực nghiên cứu thì họ có số loài nhiều nhất là
họ có kích thước trung bình và trung bình nhỏ (Viviparidae) với 6 loài trên tổng số
14 loài (chiếm 42,85%) Họ Ampullariidae, Thiaridae, Lymnaeidae đều có số loàibằng nhau và bằng 2 (chiếm 14,29%) Còn lại là 2 họ Bithyniidae ,Assimineidae chỉ
có duy nhất 1 loài (chiếm 7.14%) (Bảng 3.4)
Bảng 3.4 Tỉ lệ số lượng loài của các họ Thân mềm Chân bụng nước ngọt thu
được tại khu vực nghiên cứu
Trang 28Tổng cộng 14 100%
Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ số lượng loài của các họ Thân mềm Chân bụng nước
ngọt thu được tại khu vực nghiên cứu.
Về bậc loài :
Khu vực hồ Tây mang những nét đặc trưng của hầu hết các thủy vực nước
ngọt, đó là sự phong phú của các loài Angulyagra boettgeri và loài Lymnaea rubiginosa Angulyagra boettgeri và Lymnaea rubiginosa là hai loài phân bố rộng, gặp hầu hết cả các điểm thu mẫu Ngoài ra khu vực còn xuất hiện loài Tarebia granifera đặc trưng cho thủy vực dạng suối.
Dựa vào bảng 3.1, ta có thể thấy được loài Angulyagra boettgeri có số lượng
cá thể lớn nhất, lớn hơn rõ rệt so với 13 loài còn lại với 325 trên tổng số 712 cá thể
thu được tại khu vực nghiên cứu (chiếm 45,65%) Đứng thứ hai là Lymnaea rubiginosa có 94 cá thể (chiếm 13,2%) Hai loài này đã chiếm ưu thế về môi trường
và nguồn thức ăn ở hồ Chúng là loài đặc trưng và chiếm ưu thế ở hồ Tây
Ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata, Pomacea bridgesi) là loài được tìm thấy nhiều ở các địa điểm thu mẫu tại khu vực nghiên cứu Loài Pomacea canaliculatacũng được cho là phong phú ở hồ Tây với số lượng là 74 cá thể (chiếm
10,39%), loài Pomacea bridgesi thu được 38 cá thể (chiếm 5,34%) không được
phong phú bằng loài Pomacea canaliculata Điều này chứng tỏ các loài ốc có nguồn
gốc từ nước ngoài khi du nhập vào Việt Nam phát triển và thích nghi khá tốt ở môi
Trang 29sinh tồn, ốc ăn thực vật như lúa không hề có ở hồ Tây nên nguồn thức ăn hạn chế;việc để trứng ở các bờ đá trên cạn cũng là nguyên nhân làm số lượng của chúngkhông thể phát triển mạnh mẽ được
Loài ốc Lymnaea rubiginosa cũng có số lượng cá thể khá là lớn tại khu vực nghiên cứu Lymnaea rubiginosa thuộc ốc có phổi (Pulmonata), không có nắp
miệng, thường sinh sống ở mép nước, đây cũng chính là loài duy nhất chuyển từcạn xuống nước Khi tiến hành thu mẫu, loài này được phát hiện trên các bờ đá ven
hồ , chứng tỏ nước không phải là môi trường thuận lợi cho sự sinh tồn và phát triển
của Lymnaea rubiginosa.
Tại khu vực nghiên cứu còn phát hiện thêm loài Assiminea obtuse rất đặc biệt.
Đây là loài ốc sống tại nước lợ, sống trên trên mặt bùn nhưng vì lý do nào đó màloài này lại xuất hiện tại hồ Tây
Số lượng cá thể của loài Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu đượcthể hiện qua biểu đồ 3.4 :
Biểu đồ 3.4 : Số lượng cá thể của loài Thân mềm Chân bụng
tại khu vực nghiên cứu.
Ngoài sự đa dạng về số lượng cá thể thì các mẫu thu được tại khu vực nghiêncứu còn đa dạng về kích thước, hình dạng miệng vỏ, màu vỏ, Hầu hết các mẫu thuđược đều có kích thước trung bình (chiều dài khoảng từ 20-30mm) chủ yếu là thuộc
họ Viviparidae Tuy nhiên có những mẫu ốc thu được có kích thước rất lớn (trên
50mm) như loài ốc Pomacea bridgesi Bên cạnh những cá thể có kích thước lớn
như vậy thì ở khu vực nghiên cứu cũng có những mẫu ốc có kích thước rất nhỏ
( nhỏ hơn 5mm) như loài Lymnaea rubiginosa và Lymnaea swinhoei Về hình dạng
miệng vỏ cũng rất đa dạng như miệng vỏ hình tim, hình tròn, hình bán nguyệt,…có
Assiminea obtusa Wattebled, 1886
Allocinma logicornis (Benson)
Tarebia granifera (Lamarck,1822)
Angulyagra duchieri (Fischer,1908)
Mekongia lithophaga (Heude,1890)
Lymnaea swinhoei (Adam,1866)
Sermyla tornatella (Lea,1850)
Filopaludina sumatrensis (Dunker,1852)
Pomacea bridgesi (Reeve,1856)
Sinotaia aeruginosa (Reeve, 1863)
Angulyagra polyzonata (Frauenfeld, 1862)
Pomacea canaliculata (Lamark,1822)
Lymnaea rubiginosa (Michelin, 1831)
Angulyagra boettgeri (Heude,1869)
1 3 4 4 4 5 7 33 38 53 67 74 94
325
Column2
Trang 30Theo Đặng Ngọc Thanh và cs (1980) [22] cho thấy ở khu vực Bắc Việt Nam
đã phát hiện và mô tả được 2 bộ, 14 họ, 28 giống và 47 loài sống ở môi trường nướcngọt Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận ở khu vực hồ Tây, nhóm Chân bụng nướcngọt gồm 4 bộ, 6 họ, 10 giống và 14 loài Việc so sánh kết quả ở hai nơi này khôngmang các giá trị như nhau vì chúng khác nhau nhiều về phạm vi không gian, mức
độ nghiên cứu,… nhưng kết quả trên cho thấy ở khu vực nghiên cứu có độ đa dạngkhông được phong phú
3.2 Đặc điểm phân bố của Thân mềm Chân bụng nước ngọt tại khu vực nghiên cứu
Các loài Thân mềm Chân bụng nước ngọt được phát hiện ở khu vực nghiêncứu có sự phân bố không đồng đều, sự phân bố thành phần loài được thể hiện rõnhất qua bảng 3.5 dưới đây:
Bảng 3.5 Phân bố của thành phần loài Thân mềm Chân bụng nước ngọt ở khu vực
nghiên cứu
Đ1 Đ2 Đ3 Đ4 Đ5 Đ6 Đ7 Đ8
2 Angulyagra polyzonata (Frauenfeld, 1862) + + + - + + +
-3 Lymnaea rubiginosa (Michelin, 1831) - + + + + - + +
4 Sinotaia aeruginosa (Reeve, 1863) - + + - - + + +
5 Filopaludina sumatrensis (Dunker,1852) - + + - + + +
-6 Pomacea canaliculata (Lamark,1822) - + + + - - + +
7 Angulyagra boettgeri (Heude,1869) + - + - + + -
-8 Mekongia lithophaga (Heude,1890) - + - - + - -
-11 Tarebia granifera (Lamarck,1822) - - - + + - -
-12 Angulyagra duchieri (Fischer,1908) - + - - -
-13 Assiminea obtusa Wattebled, 1886 - + - - -
Ghi chú : + : có mẫu ; - : không có mẫu
Từ bảng 3.5, nhận thấy các loài Thân mềm Chân bụng tại hồ Tây phân bố
không đều nhau Như các loài Pomacea bridgesi, Angulyagra polyzonata, Lymnaea rubiginosa, Sinotaia aeruginosa, Filopaludina sumatrensis , Lymnaea rubiginosa phân bố ở hầu hết các địa điểm nghiên cứu (6-7/8 điểm thu mẫu) Trong
Trang 31hiện ở duy nhất 1/8 điểm thu mẫu mẫu Các loài Mekongia lithophaga, Allocinma logicornis, Sermyla tornatella, Tarebia granifera xuất hiện ở 2/8 điểm thu mẫu và loài Angulyagra boettgeri xuất hiện ở 4/8 điểm thu mẫu
Biểu đồ 3.5 Phân bố của thành phần loài Thân mềm Chân bung nước ngọt ở khu vực nghiên cứu.
Dựa vào biểu đồ 3.5 ta nhận thấy số lượng loài xuất hiện ở các điểm cũngkhông đồng đều Tại điểm 2 có tới 9 loài (chiếm 64,29% tổng số lượng loài), lớngấp 3 lần số lượng loài tại điểm 1 (có 3 loài – chiếm 21,43% tổng số lượng loài ).Điểm 3 và điểm 5 có số lượng loài tương đồng nhau, đều là 8 loài (chiếm 57,14%).Điểm 4, điểm 6 cùng có 6 loài (chiếm 35,71%) Điểm 7 là 7 loài (chiếm 50%) vàcuối cùng là điểm 8 với 8 loài (chiếm 28,57%)
3.3 So sánh sự gần gũi giữa các khu hệ
Cùng nằm trong Thành phố Hà nội nhưng hồ Ba Mẫu và hồ Bảy mẫu sẽ cóquan hệ nhất định về thành phần loài Thân mềm Chân bụng với khu nghiên cứu Sosánh với nghiên cứu của tác giả Phan Thu Thủy về ốc nước ngọt tại khu vực hồ BảyMẫu (2016) – tài liệu chưa công bố [26] và nghiên cứu của tác giả Vương ViệtThúy về ốc nước ngọt tại khu vực hồ Ba Mẫu (2016) – tài liệu chưa công bố [25] ta
có được bảng so sánh thành phần loài giữa 3 khu hệ Thành phần loài của các khu
hệ được thể hiện qua 3.6 dưới đây: