Trong Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định: Đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài đã được hoàn thành Đề tài được hoàn thànhdưới sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo bộ môn Phương pháp giảng dạy –Khoa Hoá học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Với lòng tri ân sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn:
PGS.TS Trần Trung Ninh – Người đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo, đóng góp nhiều
ý kiến, giúp đỡ em trong suốt quá trình em hoàn thành đề tài
Các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy cùng ban chủ nhiệmKhoa Hoá học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho em học tập,nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Cô giáo Trần Thị Hải Yến và các thầy cô giáo, các em học sinh của trường THPTTây Hồ đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm.Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã nhiệt tình ủng hộ emtrong suốt quá trình xây dựng và hoàn thành đề tài
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Huyền
Trang 2Học sinhMôi trườngPhản ứng hoá họcPhương pháp dạy họcPhương trình hoá học
Sơ đồ tư duySách giáo khoaTrung học phổ thôngThực nghiệm
Trang 3PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, là nền tảng thúc đẩy sự phát triển của các mặt khácnhư văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, kinh tế… Mặt khác, chúng lại trởthành công cụ để xã hội phát triển Trong đó, Khoa học công nghệ - Công nghệthông tin (CNTT) đang trở thành một mảng quan trọng của cuộc sống, nó phát triểnmột cách nhanh chóng, vượt bậc Chúng ta đang sống trong thời kì phát triển rực rỡcủa CNTT, không có lĩnh vực nào, không có vùng miền nào không có mặt củaCNTT CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển về kinh
tế, văn hoá, giáo dục… đặc biệt là tác động đối với giáo dục, nhất là đối với tìnhhình giáo dục hiện nay
Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường học đang rất được
ngành giáo dục và xã hội quan tâm Trong Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định: Đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ tư duy,quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục, các chính sách, cơ chế vàcác điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục; đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độđào tạo, ở cả Trung ương và địa phương, ở mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và
xã hội; hướng đến phát triển năng lực người học, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài;chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang tập trungphát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học có nghĩa là mục tiêu đổi mới cănbản, toàn diện, chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực cho HS, để có thểphát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo cho học sinh hứng thútrong học tập Do đó, người GV cần phải bồi dưỡng cho HS kĩ năng nhận biết bản chấtvấn đề, có năng lực tư duy độc lập và vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào thựctiễn Để đạt mục tiêu trên, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy họctích cực Một trong những công cụ hữu ích hỗ trợ cho GV, đó chính là ứng dụngCNTT vào trong quá trình DH bởi những lí do sau:
Trang 4- Trong thời đại ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc ứngdụng CNTT vào DH là phù hợp với quy luật và là một việc làm cần thiết, đem lạihiệu quả thiết thực.
- Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là phù hợp với chủ trương, chính sách củaĐảng, Nhà nước và Bộ GD và ĐT
- CNTT tạo môi trường học đa phương tiện, kĩ thuật đồ hoạ nâng cao, CNTT trithức nối tiếp trí thông minh của con người, ngân hàng dữ liệu khổng lồ được kết nốivới nhau…
- CNTT đã góp phần hiện đại hóa các phương tiện dạy học, các phần mềm dạyhọc đã giúp GV tạo bài giảng phù hợp nhu cầu của HS, giúp HS có nhiều phương pháptiếp thu kiến thức Đặc biệt, nó sẽ giúp cho GV tạo ra một lớp học mang tính tương tác: GV – HS, HS – HS và HS – bài học Do đó, ứng dụng CNTT sẽ giúp HS tiếp nhậnthông tin bài học hiệu quả hơn và sẽ biến những thông tin đó thành kiến thức củamình Đồng thời, nó cũng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS,khai thác nhiều giác quan của người học để lĩnh hội tri thức
- Ứng dụng CNTT vào dạy học cũng giúp GV bố trí thời gian giảng dạy hợp lý,
có thời gian đầu tư cho quá trình dẫn dắt, tạo tình huống có vấn đề để kích thích tư duysáng tạo và kiểm tra đánh giá HS HS có thể dễ dàng hình dung và có khái niệm chínhxác về các hình ảnh, sự vật, hiện tượng khi tiếp xúc với chúng bằng những hình ảnhtrực quan
Hoá học là một môn học có tính thực nghiệm cao, có các PƯHH, để người họcghi nhớ sâu về các phản ứng và nội dung bài học thì việc cho HS xem các hiện tượnghoá học là rất cần thiết, nhưng không phải thí nghiệm nào cũng làm được thí nghiệmtrực tiếp, một phần vì thời gian có hạn, hơn nữa có một số PƯHH xảy ra quá nhanhhoặc quá chậm, diễn biến của các quá trình khó quan sát Một phần vì các thí nghiệmrất độc hại, nguy hiểm Như vậy việc hỗ trợ của CNTT có vai trò rất quan trọng, có thể
Trang 5ứng dụng để cho HS xem các phản ứng phức tạp, độc hại và nguy hiểm Đặc biệt, hoáhọc lại là một môn học khá trừu tượng, yêu cầu người học phải nhớ nhiều, nhớ sâu, có
sự sáng tạo, hiểu và nhớ được bản chất của các PƯHH, các PTHH, như vậy công cụ hỗ
trợ tổng hợp các kiến thức và phát huy sự hoạt đông của vỏ não đó là sử dụng Sơ đồ
tư duy Mind Map có vai trò rất quan trọng trong quá trình học hoá học của HS.
Bộ não con người ước chừng có một ngàn tỷ nơ-ron (còn gọi là tế bào não), vàtrong mỗi giây, một tế bào có thể tiếp nhận xung thông tin đến từ hàng trăm ngàn điểmkết nối, các tế bào não lập tức xử lý toàn bộ dữ liệu các thông tin đến rồi xác địnhđường truyền thích hợp trong từng một phần triệu giây,số nơ-ron của tế bào nãocon người tương đương với sự làm việc của 73.855 máy tính, nhưng chúng ta chỉ sửdụng một lượng rất nhỏ số nơ-ron mà mình có Sức mạnh của bộ não con người là
vô tận, công cụ Sơ đồ tư duy Mind map có vai trò rất quan trọng trong việc khai thác
sự vô tận đó
“Sơ đồ tư duy” còn có tên gọi khác là “Lược đồ tư duy” hay “Bản đồ tư duy” là
một công cụ thiết yếu để kích thích khả năng sáng tạo của người học, đồng thời nógiúp HS nhớ sâu sắc hơn một cách tổng quan về bài học với cách khai thác một ýchính và triển khai các ý nhỏ trên ý chính đó Hơn nữa, việc kết hợp CNTT vào SĐTD
là một sự kết hợp rất hoàn hảo và mang lại kết quả tốt bởi việc này giúp kích thích trínhớ của HS hơn vì các hình ảnh đẹp, sống động, có màu sắc, hình khối, đường nét rõràng sẽ giúp HS nhớ lâu hơn, hơn nữa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS, rèn luyện khả năng tự học, khả năng tổng hợp, xây dựng kế hoạch trong học tập
và thực tiễn
Hiện nay, DH tích hợp ở chương trình phổ thông đang được ngành GD quan tâmđặc biêt, việc DH tích hợp giúp HS liên hệ kiến thức với nhau để dễ học, dễ nhớ và cóhứng thú học tập hơn Việc DH tích hợp giúp học sinh thấy kiến thức các môn không
bị rời rạc mà có quan hệ chặt chẽ với nhau, hơn thế nữa, có thể dung kiến thức mônhọc này để giải thích môn học khác Để hưởng ứng chương trình DH tích hợp, vừa quavào tháng 11 năm 2015, Sở GD và ĐT Thành phố Hà Nội đã tổ chức cuộc thi GV giỏi
Trang 6với chủ đề “Tích hợp giáo dục môi trường trong môn Hoá học”, cuộc thi đã diễn ra
thành công rực rỡ, mở ra một cánh cửa mới về sự đổi mới phương pháp DH, đặc biệt
là DH tích hợp
Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Giáo dục môi trường thông qua dạy học phần hiđrocacbon sử dụng kĩ thuật sơ
3.Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn các nội dung sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về quá trình dạy và học hoá học của GV và HS ở lớp
11 chương trình cơ bản nói riêng và ở trường THPT nói chung, về quá trình tự học của
HS, về thái độ tích cực và chủ động của HS, về phương pháp dạy học tích cực, tư duy,trí nhớ So sánh sử dụng SĐTD với các phương pháp khác
- Nghiên cứu về khả năng sử dụng CNTT và ứng dụng CNTT vào DH hoá họctheo hướng tích cực hiện nay của GV và học sinh ở lớp 11 nói riêng và trường THPTnói chung
Trang 7- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp DH và các kĩ thuật DH tích cực hóahọc ở trường THPT.
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung chương trình, phân phối chương trình, nghiên cứuSGK lớp 10,11,12 cả chương trình cơ bản và nâng cao,sự phân bố nội dung kiến thứctrong một tiết của chương trình hoá học hữu cơ lớp 11 nói riêng và chương trình hoá họcphổ thông nói chung
- Nghiên cứu khả năng sử dụng SĐTD của HS, nghiên cứu lý thuyết về phần
mềm Mindjet Mindmanager 8 – một phần mềm hữu ích cho việc lập SĐTD.
- Nghiên cứu SĐTD, cách sử dụng một SĐTD, và việc ứng dụng SĐTD vào
DH hoá học ở chương trình hoá học hữu cơ lớp 11 chương trình cơ bản có sự hỗ trợcủa CNTT
- Nghiên cứu DH tích hợp nói chung và đối với môn hoá học nói riêng, việc kết hợpkiến thức để thiết kế một bài DH tích hợp, nghiên cứu đặc biệt tích hợp môn hoá học vớimôi trường
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Tây Hồ - Hà Nội
4.Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận (lý thuyết): Tổng quan các tài liệu về lý luận
DH có liên quan đến đề tài Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, đánh giá, tổnghợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới việc đổimới PPDH
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thực trạng công tác dạy và học hóa
học ở trường THPT hiện nay, việc sử dụng các phương tiện trực quan, các thiết bịnghe nhìn và đặc biệt là việc ứng dụng CNTT vào dạy học hóa học Thực nghiệm sưphạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
Phương pháp xử lý thống kê toán học kết quả thực nghiệm, đưa ra những kếtquả phân tích định tính, định lượng từ đó rút ra kết luận cho đề tài
5.Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Trang 8- Quá trình DH hóa học ở trường THPT.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới PPDH hoá học hiện nay
- Chương trình DH hóa học lớp 11 ban cơ bản
Đối tượng nghiên cứu: Phần mềm Mindjet MindManager 8 và ứng dụng thiết
kế SĐTD trong DH hóa học lớp 11 chương trình cơ bản theo hướng đổi mới phươngpháp DH
6 Phạm vi nghiên cứu
- Các chương: chương V – Hidrocacbon no, chương VI – Hiđrocacbon không
no, chương VII – Hiđrocacbon thơm Nguồn Hiđrocacbon thiên nhiên Hệ thống hoá
về Hiđrocacbon của chương trình hoá học phổ thông lớp 11 cơ bản.
chất lượng dạy và học ở trường THPT hay không?
8 Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng việc Giáo dục môi trường thông qua dạy học phần hiđocacbon
sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy trong dạy học hoá học lớp 11 chương trình cơ bản
nói riêng và trong việc DH hoá học ở trường THPT nói chung sẽ nâng cao kết quảhọc tập của HS từ đó nâng cao chất lượng dạy và học hoá học ở lớp 11 chươngtrình cơ bản nói riêng và ở trường THPT nói chung
Trang 98.0 được quan tâm bởi tính hiệu quả, khả năng sử dụng dễ dàng.
Đã có một số luận văn, luận án về đề tài sử dụng SĐTD nhằm đổi mới phươngpháp DH về sử dụng SĐTD và DH tích hợp trong DH hoá học hữu cơ ở trường THPT
10 Những đóng góp mới của đề tài
Về mặt lý luận: Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của thiết kế một số chủ đề dạyhọc tích hợp Hoá học với môi trường có sử dụng SĐTD dưới sự hộ trợ của phần mềm
Mindjet Manager 8 phần Hiđrocacbon Hoá học lớp 11 chương trình cơ bản nhằm nâng
cao chất lượng DH hoá học ở trường phổ thông
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học sử dụng SĐTD có sự
hỗ trợ của phần mềm Mindjet Manager 8 vào các bài học cụ thể phần Hiđocacbonchương trình Hoá học lớp 11 chương trình cơ bản và vận dụng vào thực tế dạy học ởtrường THPT Tây Hồ – Hà Nội
11 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn đề tài.
Chương 2 Thiết kế một số SĐTD và các giáo án dạy các SĐTD đó có lồng ghép tích hợp BVMT trong phần Hđrocacbon lớp 11 cơ bản.
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm.
Trang 10PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN HIĐROCACBON SỬ DỤNG KĨ THUẬT SƠ
1.1.1 Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện
tượng thông qua sự tri giác của các giác quan
Sự nhận thức cảm tính được thực hiện thông qua hình thức tri giác cao, có tínhchủ động tích cực, có mục đích là sự quan sát
1.1.2 Nhận thức lí tính
Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những điều chưa từng có trong kinh
nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểutượng đã có
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối
liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan
mà trước đó ta chưa biết
Trang 11Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của tư duy là tính “có vấn đề” Tư duychỉ xuất hiện khi con người gặp và nhận thức được tình huống “có vấn đề” Tức là tìnhhuống chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, hành động cũtuy còn cần thiết nhưng không đủ sức giải quyết Và muốn giải quyết vấn đề mới đó,con người phải tư duy.
1.2 Quá trình nhận thức
Quá trình nhận thức liên quan chặt chẽ với tư duy, năng lực nhận thức được xácđịnh là năng lực trí tuệ của con người Nó được biểu hiện dưới nhiều góc độ khácnhau Các nhà tâm lí học xem trí tuệ là sự nhận thức của con người bao gồm nhiềunăng lực riêng rẽ và được xác định thông qua số chỉ IQ
Năng lực nhận thức được biểu hiện ở nhiều mặt cụ thể là :
- Mặt nhận thức : như nhanh biết, nhanh hiểu, biết suy xét và tìm ra các quy luậttrong các hiện tượng một cách nhanh chóng
- Về khả năng tưởng tượng : óc tưởng tượng phong phú, hình dung ra đượcnhững hình ảnh và nội dung theo đúng điều người khác mô tả
- Qua hành động : Sự nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng tạo
- Qua phẩm chất : óc tò mò, lòng say mê, hứng thú làm việc
1.3 Sự phát triển năng lực nhận thức cho học sinh
Việc phát triển năng lực nhận thức thực chất là hình thành và phát triển nănglực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo mà bước đầu là giải các bài toán nhận thức, vậndụng vào bài toán thực tiễn, trong hành động một cách chủ động và độc lập ở cácmức độ khác nhau
Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện thường xuyên, liêntục, có hệ thống, điều này đặc biệt quan trọng đối với HS
Trang 12Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện từ việc rèn luyệnnăng lực quan sát, phát triển trí nhớ và tưởng tượng, trau rồi ngôn ngữ, nắm vững kiếnthức, kĩ năng, kĩ xảo, phương pháp nhận thức và phẩm chất nhân cách.
Để phát triển năng lực nhận thức cho HS cần đảm bảo các yếu tố sau :
- Vốn di truyền về tư chất tối thiểu cho HS
- Vốn kiến thức tích luỹ phải đầy đủ và có hệ thống
- Phương pháp dạy và phương pháp học phải thực sự khoa học
- Chú ý đến đặc điểm lứa thuổi và sự đảm bảo về vật chất và tinh thần
Năng lực nhận thức liên quan trực tiếp với tư duy Năng lực nhận thức, năng lựctrí tuệ được phát triển khi tư duy phát triển
1.4 Phát triển năng lực nhận thức của học sinh trong dạy học hoá học
Trong việc phát triển năng lực nhận thức cho HS, khâu trung tâm là phát triểnnăng lực tư duy, trong đó cần đặc biệt chú ý rèn luyện cho HS một số thao tác tư duynhư phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá và ba phương pháp hình thành nhữngphán đoán mới: suy lí quy nạp, suy lí diễn dịch và suy lí tương tự
2 Vấn đề phát triển năng lực tư duy cho học sinh
2.1 Tư duy là gì?
L.N Tônxtôi đã viết: "Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quảnhững cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ" Như vậy, HS chỉ thực sự lĩnhhội được tri thức chỉ khi họ thực sự tư duy
Theo M.N Sacđacôp: "Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật vàhiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chấtcủa chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tượng mới, riêng
rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhận được”
Trang 13Tư duy là một quá trình tâm lí mà nhờ đó con người phản ánh được cái đối tượng
và hiện tượng của hiện thực thông qua những dấu hiệu bản chất của chúng, đồng thờicon người vạch ra được những mối quan hệ khác nhau trong mỗi đối tượng, hiệntượng và giữa các đối tượng, hiện tượng với nhau"
2.2 Những phẩm chất của tư duy
Những phẩm chất cơ bản của tư duy là:
- Tính định hướng: thể hiện ở ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần
lĩnh hội, mục đích phải đạt và những con đường tối ưu để đạt được mục đích ấy
- Bề rộng: thể hiện ở chỗ có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.
- Độ sâu: thể hiện ở khả năng nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật,
hiện tượng
- Tính linh hoạt: thể hiện ở sự nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và
cách thức hoạt động vào các tình huống khác nhau một cách sáng tạo
- Tính mềm dẻo: thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo hướng
xuôi và ngược chiều
- Tính độc lập: thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện được vấn đề, đề xuất được cách
giải quyết và tự giải quyết vấn đề
- Tính khái quát: thể hiện ở chỗ khi giải quyết mỗi loại nhiệm vụ sẽ đưa ra mô
hình khái quát Từ mô hình khái quát này có thể vận dụng để giải quyết các nhiệm vụcùng loại
Trang 142.3 Rèn luyện các thao tác tư duy
Có năng lực quan sát tốt, ghi nhận được chính xác sự biến đổi của sự vật, hiệntượng nhưng không biết xâu chuỗi các hiện tượng đó lại với nhau và đưa ra những kếtluận cần thiết cũng như thể hiện quan điểm cá nhân thì chưa đủ mà cần phải có tư duy
Vì không có tư duy thì không có sự tiếp thu, không có sự vận dụng tri thức, HS khônghọc tập được Do đó, phát triển tư duy đồng nghĩa với việc rèn luyện các thao tác tưduy là điều vô cùng quan trọng và cần thiết Dạy và học hoá học có nhiều cơ hội đểthực hiện nhiệm vụ đó
2.3.1 Phân tích và tổng hợp
- Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân tích đối tượng nhận thức thành
những “bộ phận”, những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ giữa chúng để nhậnthức đối tượng sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn
- Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các “bộ phận”, những thuộc tính,
những thành phần đã được tách ra nhờ phân tích thành một chỉnh thể
Phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau tạo
thành một thể thống nhất không tách rời Phân tích là cơ sở của tổng hợp, tổng hợpdiễn ra trên cơ sở phân tích
2.3.2 So sánh
So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự
đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đốitượng nhận thức
Trong DH hoá học thường dùng hai loại so sánh là: so sánh tuần tự và so sánh đốichiếu
So sánh tuần tự: là sự so sánh trong đó nghiên cứu xong từng đối tượng nhận
thức rồi so sánh chúng với nhau
Trang 15So sánh đối chiếu: nghiên cứu hai đối tượng cùng một lúc hoặc khi nghiên cứu
đối tượng thứ hai người ta phân tích thành từng bộ phận rồi đối chiếu với từng bộ phậncủa đối tượng thứ nhất
So sánh có quan hệ chặt chẽ với phân tích và tổng hợp.
2.3.3 Trừu tượng hoá và khái quát hoá
Trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính,
những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết về phương diện nào đó và chỉ giữlại những yếu tố cần thiết để tư duy
Khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để bao quát nhiều đối tượng khác nhau
thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những mối quan hệ nhất định.Những thuộc tính chung này bao gồm hai loại: những thuộc tính giống nhau vànhững thuộc tính bản chất
Trừu tượng hoá và khái quát hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và
bổ sung cho nhau, giống như mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp nhưng ở mức độcao hơn
2.3.4 Tư duy hoá học
Tư duy hoá học được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức hoá học nghiên cứucác chất, quá trình biến đổi các chất và quy luật chi phối quá trình biến đổi này, đó làxảy ra sự biến đổi nội tại của các chất tạo thành chất mới theo nguyên lí, qui luật,những mối quan hệ định tính và định lượng của hoá học
Trên cơ sở của sự tương tác giữa các tiểu phân vô cùng nhỏ, thông qua các bài tập, cácvấn đề của hoá học mà tạo nên thao tác tư duy và phương pháp suy luận logic, tư duy độclập, sáng tạo
Cơ sở của tư duy hoá học là sự liên hệ quá trình phản ứng với sự tương tác giữa
Trang 16các tiểu phân của thế giới vi mô, mối liên hệ giữa đặc điểm cấu tạo chất với tính chấtcủa chất, các quy luật biến đổi giữa các loại chất và mối liên hệ giữa chúng.
Đặc điểm của tư duy hoá học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa sự biến đổibên trong và các dấu hiệu bên ngoài
Bồi dưỡng năng lực và phương pháp tư duy hoá học cho HS là bồi dưỡng cho HSbiết vận dụng thành thạo các phương pháp tư duy và phương pháp nhận thức, dựa vào
số liệu quan sát được mà phán đoán về tính chất và sự biến đổi các chất của quá trình
3 Một số vấn đề tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học hoá học
3.1 Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học
Việc đổi mới phương pháp DH cần phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ độngcủa học sinh; bồi dưỡng năng lục tự học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại hứng thú cho HS
Trong quá trình hoạt động nhận thức GV theo dõi, định hướng, chỉ đạo sự traođổi, tranh luận của HS và có những gợi ý cần thiết; HS chủ động tìm tòi giải quyết vấn
- Cần tạo ra những mâu thuẫn nhận thức bằng cách xây dựng tình huống có vấn
đề Tạo động cơ, hứng thú học tập bằng những tác động bên ngoài như khích lệ, khenthưởng… Thường xuyên đặt HS vào vai trò chủ thể tham gia giải quyết những mâu
Trang 17thuẫn nhận thức, tạo ra thói quen ở họ lòng ham thích hoạt động trí óc có chiều sâu, tựgiác tích cực.
- GV phải biết động viên, giúp đỡ và tổ chức lớp học sao cho HS mạnh dạn thamgia thảo luận, phát biểu ý kiến của mình, mạnh dạn nêu thắc mắc, lật ngược vấn đề chứkhông chờ phán xét của GV GV cần dành nhiều thời gian cho HS phát biểu thảo luận,từng bước tăng dần tốc độ suy nghĩ và làm việc của HS
- Cần tạo điều kiện tốt nhất để HS có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ đượcgiao, HS là chủ thể của hoạt động nhận thức, sự thành công của họ trong việc giải quyết vấn
đề học tập có tác dụng làm cho họ tự tin, hứng thú, mạnh dạn suy nghĩ những vẫn đề ngàycàng khó hơn
- Đặc trưng của bộ môn hoá học là thực nghiệm, tận dụng khai thác đặc thù của
bộ môn hoá học, tạo ra các hình thức hoạt động của học sinh một cách phong phú và
đa dạng Do đó phải tăng cường sử dụng thí nghiệm và phương tiện trực quan
- GV nên lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp, phải hình thành nănglực giải quyết vấn đề từ thấp đến cao Đây chính là biện pháp quan trọng để tăng mức
độ hoạt động tự lực, chủ động, tính tích cực của HS và phát triển tư duy cho các em
3.3 Hình thành và phát triển tư duy hoá học cho học sinh
Việc phát triển tư duy hoá học cho HS trước hết là giúp HS nắm vững kiến thứchoá học cơ bản, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành Qua đó màkiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn
Tư duy càng phát triển thì có nhiều khả năng lĩnh hội tri thức một cách nhanhnhạy, sâu sắc và khả năng vận dụng tri thức càng linh hoạt và có hiệu quả Như vậy sựphát triển tư duy của HS được diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức, khi
tư duy phát triển sẽ tạo ra một kỹ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ có phươngpháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho HS hoạt động sáng tạo sau này Do đó, trong hoạtđộng giáo dục cần phải tập luyện cho HS hoạt động tư duy sáng tạo qua các khâu của
Trang 18quá trình DH Từ hoạt động dạy học trên lớp, thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập mà HSđiều khiển hoạt động nhận thức của HS để giải quyết các vấn đề học tập được đưa ra.
HS tham gia vào hoạt động này một cách tích cực sẽ nắm được cả kiến thức và phươngpháp nhận thức, đồng thời các thao tác tư duy cũng được rèn luyện
4 Sơ đồ tư duy và phần mềm Mindjet MindManager 8
4.1 Khái niệm sơ đồ tư duy, ứng dụng và lợi ích của việc
sử dụng sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy (hay còn có tên gọi khác là bản đồ tư duy hoặc lược đồ tư duy) (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả
năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay đểphân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Khác với máy tính,ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn nhưtrình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệcác dữ kiện với nhau Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép theo hệ thống bằng cách tư duy logic, sử dụng
màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chínhcủa một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề Nó là một công cụ tổ chức triển khai tưduy, ý tưởng được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến và ápdụng rộng khắp thế giới
- Phương pháp Sơ đồ tư duy (Mind Map) được sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn,
công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Map củaTony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của ông (ông
đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện về lĩnh vực nghiên cứu của mình)
- Trong quá trình thực hiện công việc hàng ngày: Việc sử dụng Sơ đồ tư duy huy
động tối đa tiềm năng của bộ não, khả năng suy luận logic và liên tưởng giúp ngườilàm tư duy một cách toàn diện, đầy đủ, hệ thống những yếu tố liên quan đến công việc;
hỗ trợ hiệu quả các phương pháp làm việc truyền thống
- Sơ đồ từ duy đặc biệt có ý nghĩa đối với hoạt động nghiên cứu, triển khai các ýtưởng dự án hay kế hoạch trong sản xuất, kinh doanh Việc tư duy một cách toàn diện
về các yếu tố ảnh hưởng đến nhân tố chính và mối quan hệ tương tác của chúng vớinhau cho phép chúng ta nhận thức được rõ sự tác động vào một nhân tố trong hệ thốngkéo theo các thay đổi của các nhân tố có liên quan giúp họ có được tư duy hệ thống khigiải quyết các công việc
Trang 19Việc sử dụng SĐTD giúp chúng ta:
- Tiết kiệm thời gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa
- Tận dụng các quy tắc trí nhớ siêu đẳng: sự hình dung, sự liên tưởng, làm nổi bật sự việc
- Sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc
4.2 Giới thiệu phần mềm Mindjet MindManager 8
Hiện nay, tư duy có sử dụng phần mềm tin học hỗ trợ được coi là phong cách tưduy hiện đại, một kỹ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ Để thiết lập SĐTD, chúng ta cóthể nhờ đến sự trợ giúp của các phần mềm tin học Chúng cho phép dễ dàng lập SĐTD,triển khai ý nghĩ, thêm bớt, chỉnh sửa các mối liên kết, sắp xếp lại theo ý muốn
Mindjet MindManager 8 chỉ chạy được trên hệ điều hành Microsoft Windows.Đây là phần mềm dành cho các doanh nghiệp và cá nhân Đặc biệt, phần mềm nàythích hợp với GV, HS, sinh viên cần sơ đồ hóa bài dạy học hoặc đề tài nghiên cứu.Mindjet MindManager 8 giúp sắp xếp công việc một cách thông minh, sáng tạo và
ít tốn thời gian hơn bằng cách theo dõi nhóm công việc, tổ chức và truyền thông tinmột cách có hiệu quả MindMap có thể kết nối với nhiều nguồn dữ liệu, trong đóbao gồm các ứng dụng soạn thảo và xử lý thông tin (MS.Excel, MS.Word,MS.PowerPoint) hay các đa phương tiện như video, simulation, animation, imagies, Hỗ trợ xuất ra nhiều định dạng, từ các định dạng ảnh thông dụng đến PDF, Doc,HTML, TXT, XML đến định dạng riêng của chương trình (.m.maps) Do có nhiềutính năng vượt trội nên phần mềm này rất hữu ích và tiện lợi khi thiết kế bài dạy họccủa GV và lập kế hoạch tự học của HS
5 Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường
5.1 Khái niệm dạy học tích hợp
Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm tích hợp, trong tiếng Anh tích hợp được
viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của
một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”.
Trang 20Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu tích hợp trong dạy học là sự kết hợp, tổ hợp cácnội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới hoặclồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học
Theo Xaviers Roegirs cho rằng: “Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa”.
DH tích hợp là một quan điểm trong dạy học điện đại và là định hướng DH trong
đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộcnhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hìnhthành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết
5.2 Các quan điểm tích hợp trong dạy học
Theo Dhainaut (1997, xuất bản lần thứ 5, 1998), có thể chấp nhận 4 quan điểmtích hợp khác nhau đối với các môn học:
- Quan điểm “trong nội bộ môn học”, trong đó chúng ta ưu tiên các nội dung củamôn học Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ Ví dụ trong phân mônHóa Vô Cơ, Hóa Hữu Cơ, Hóa Lí trong môn Hóa học có những nội dung được tíchhợp thành chủ đề
- Quan điểm “đa môn”, trong đó chúng ta đề nghị những tình huống, những “đềtài” có thể được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau Ví dụ, GD hướng nghiệp
Trang 21có thể được thực hiện thông qua nhiều môn học khác nhau (Sinh học, Giáo dục côngdân, Văn học, Toán học, Địa lí, Vật lí, Hóa học, ….) Theo quan điểm này, những mônhọc tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trongquá trình nghiên cứu các đề tài Như vậy, các môn học không thực sự được tích hợp.
- Quan điểm “liên môn”, trong đó chúng ta đề xuất những tình huống chỉ có thểđược tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học Ví dụ, câu hỏi: “Tạisao phải bảo vệ rừng?” chỉ có thể giải thích dưới ánh sáng của nhiều môn học: Địa lí,Lịch sử, Sinh học, Hóa học,… Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn học,làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước: Các quátrình học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xungquanh những vấn đề phải giải quyết
- Quan điểm “xuyên môn”, trong đó chúng ta chủ yếu phát triển những kĩ năng mà
HS có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống Đó là những kĩnăng xuyên môn Có thể lĩnh hội những kĩ năng này trong từng môn học hoặc qua nhữnghoạt động chung của nhiều môn học Ví dụ trong khoa học có những chủ đề tích hợp như:vật chất, sự sống,
5.3 Mục tiêu của dạy học tích hợp
- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa hơn bằng cách gắn học tập với cuộc sốnghàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, hòa nhập thếgiới học đường với thế giới cuộc sống Hình thành ở người học những năng lực rõ ràng
- Giúp HS phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là nhữngnăng lực cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nghĩa trongcuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo
- Quan tâm đến việc sử dụng kiến thức trong tình huống thực tế, cụ thể, có íchcho cuộc sống sau này Giúp HS hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống
- Giúp người học xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học Thông tin càng đadạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy HS mới thực sự làm chủđược kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi gặp một tình huống bất ngờ,
Trang 22chưa từng gặp.
5.4 Ưu điểm của dạy học tích hợp
- Phù hợp với trình độ nhận thức của HS, nhất là HS tiểu học và trung học cơ sở.Trước mắt các em thế giới là một thể thống nhất: tự nhiên, xã hội và con người Thếgiới không bị tách ra từng lát cắt
- Làm cho quá trình học tập gần gũi với cuộc sống của các em Các chủ điểmđược xây dựng từ những nội dung gắn liền với cuộc sống
- Ghép được những kiến thức và kĩ năng có liên quan gần nhau của các môn học
- Giảm số môn học và giảm tải cho HS
- Có điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển năng lực cho HS
5.5 Phương thức tích hợp bảo vệ môi trường ở vào bộ môn hoá học ở trường THPT
5.5.1 Xác định hệ thống kiến thức GDBVMT trong môn hoá học
Hệ thống kiến thức GDMT ở trường THPT ở nước ta hiện nay tập trung chủ yếu vàocác môn học có liên quan đến MT nhiều như hoá học, sinh học, kĩ thuât nông nghiệp, côngnghiệp, vệ sinh học đường, đạo đức…
Nội dung kiến thức GDMT trong bộ môn hoá học:
Phần đại cương: cung cấp cho HS một số kiến thức, các khái niệm, các quá trìnhbiến hoá,các hiệu ứng mang tính chất hoá học của MT: MT là gì, chức năng của MT, bảnchất hoá học trong sinh thái, hệ sinh thái, quan hệ giữa con người và MT, ô nhiễm MT…
Phần nội dung ô nhiễm MT: phân tích bản chất hoá học của sự ô nhiễm MT, bảnchất hoá học của hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ozon, khói mù quang học, mưa axit, hiệuứng hoá sinh của NO, H2S, SO2,… các kim loại nặng và một số độc tố khác, tác động củachúng tới MT…
Một số nội dung về: đô thị hoá và MT, một số vấn đề toàn cầu (trái đất nóng lên, suygiảm tầng ozon, Elnino, LaNina…) suy giảm đa dạng sinh học, dân số - MT và sự phát triểnbền vững, các biện pháp bảo vệ MT, luật BVMT, chủ trương chính sách của Đảng – nhànước về BVMT…
5.5.2 Phương thức tích hợp
Trang 23GDBVMT là GD tổng thể nhằm trang bị những kiến thức về MT cho HS thông quamôn hoá học sao cho phù hợp với từng đối tượng, từng cấp học Việc đưa kiến thức,GDBVMT vào hoá học thuận lợi và hiệu quả nhất là hình thức tích hợp và lồng ghép.
a Tích hợp
Tích hợp là cách kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức hoá học với kiến thứcBVMT một cách hài hoà, thống nhất Ví dụ:
Khi giảng về bài Lưu huỳnh, khí H 2 S, một số oxit của Lưu huỳnh, song song
với việc giảng dạy về các kiến thức tính chất lí hoá, phương pháp điều chế… GVphải biết khai thác các kiến thức có liên quan đến MT như việc gây ô nhiễm môitrường khí quyển Có thể cung cấp cho HS một số thông tin như: người ta ước tínhcác chất hữu cơ trên Trái Đất sinh ra khoảng 31 triệu tấn H2S, mà sự oxi hoá tiếptheo sinh ra SO2 Các hoạt động gây ô nhiễm không khí bởi SO2 vẫn giữ vị trí hangđầu Qua đó để có thể nêu các biện pháp xử lí đơn giản đối với không khí bị ô nhiễmchưa lưu huỳnh
Khi dạy bài “Phân bón hoá học” GV nên hình thành cho HS ý thức BVMT
thông qua nội dung bài, cần phân tích cho HS việc sử dụng không hợp lí phân bón, quáliều lượng có thể gây ô nhiễm đất, nguồn nước, gây nhiễm độc cho nông sản, thựcphẩm, người và gia súc…
Khi dạy bài “Benzen và đồng đẳng của benzen ” GV nên giới thiệu cho HS
benzen là một trong những nhân tố quan trọng trong cuộc sống hằng ngày góp phần thúcđẩy sự phát triển của xã hội Benzen là hoá chất rất có ý nghĩa trong việc điều chế các dẫnxuất cơ bản trong công nghiệp, đồng thời cũng là một dung môi quan trọng nhưng nó có tácđộng độc rất nguy hiểm cho cơ thể sinh vật và con người như tác động lên hệ thần kinh, bộmáu di truyền…gây ung thư Con người vừa là nhân tố gây nên sự ô nhiễm benzen trongmôi trường sống, vừa là nạn nhân chủ yếu của nó do tiếp xúc trong các lĩnh vực sản xuất dongười ta vẫn sử dụng benzen trong rất nhiều ngành sản xuất bởi tính chất quan trọng của nó
Từ đó giáo dục cho HS hạn chế tiếp xúc với benzen, luôn cẩn thận với benzen và không sửdụng tuỳ tiện benzen khi làm thí nghiệm
b Lồng ghép
Trang 24Lồng ghép thể hiện là việc lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để có thể đưavào bài học một đoạn, một mục, một số câu hỏi có nội dung GDBVMT Ví dụ khi giảng
phần “Tính chất hoá học chung của kim loại”, GV có thể nêu thêm phần tác hại của một số
kim loại nặng: Pb, Cd, Hg, As… với cơ thể con người Qua đó nêu một số phương phápphòng ngừa và xử lí kịp thời khi bị nhiễm độc kim loại nặng
Hình thức lồng ghép có ba mức độ: lồng ghép toàn phần, lồng ghép một hoặc nhiều
bộ phận, lồng ghép liên hệ mở rộng bài học Tuỳ thuộc vào điều kiện, mục tiêu bài học, cấutrúc nội dung bài học, để có thể lựa chọn hình thức lồng ghép phù hợp để đem lại hiệu quả
GD cao nhất
5.6 Phương pháp GDBVMT qua môn hoá học ở trường THPT
Yêu cầu cơ bản khi tiến hành GDBVMT cho HS: “GDMT phải bao quát các mặt khác nhau của môi trường: tự nhiên và nhân tạo, công nghệ, xã hội, kinh tế, văn hoá, thẩm
mĩ GDMT phải nêu rõ mối quan hệ giữa các vấn đề MT ở địa phương, quốc gia và toàn cầu cũng như các tương quan giữa hành động hôm nay và hậu quả ngày mai” (Dự án
GDMT của UNESCO, 1988)
Mục tiêu GDBVMT cho HS: trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về hoá học phổthông, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Cung cấp những kĩ năng cơ bản vềBVMT, biết cách ứng xử tích cực đối với những vấn đề cụ thể của MT Xây dựng cho HSnhững kiến thức cơ bản về MT để mỗi HS trở thành một tuyên truyền viên tích cực tronggia đình, nhà trường và địa phương
17/10/2001, thủ tướng chính phủ đã ban hành QĐ/Ttg phê duyệt đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc gia” của Bộ GD và ĐT.
6 Thực trạng hoạt động dạy và học môn hoá học ở trường THPT và việc sử dụng sơ đồ tư duy và phần mềm Mindjet Mindmanager8 trong việc dạy và học hóa học
6.1 Thực trạng hoạt động dạy học ở trường THPT hiện nay
Hiện nay trong các giờ học môn Hoá học, các thầy cô giáo dành nhiều tâm huyếtvới nghề, đã có những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng DH GV đã thực
Trang 25hiện giờ dạy môn hoá học khá ổn định, thể hiện chất lượng bài dạy cho thấy đã cónhiều đầu tư, nghiên cứu, cho việc dạy và soạn Kết quả của sự cố gắng về việc thựchiện bài lên lớp hoá học hiện nay và đặc biệt là bài luyện tập, ôn tập phần nào đã đượcthể hiện thông qua chất lượng các kì thi: thi tốt nghiệp, thi đai học Tuy nhiên, GVchưa mạnh dạn mềm hoá nội dung kiến thức trong SGK để dành nhiều thời gian khaithác kiến thức trọng tâm của tiết lên lớp Một số GV vẫn dùng phương pháp minh hoạnhiều hơn phương pháp nghiên cứu Một số GV dung nhiều thời gian để thuyết trìnhbài mới, nên ít có thời gian để hướng dẫn HS suy nghĩ, phát hiện và giải quyết vấn đề.
Sau mỗi tiết thao giảng, GV thường họp để rút kinh nghiệm Tuy nhiên, chỉ chútrọng chuẩn kiến thức mà ít chú ý tới lý luận DH, nên chưa phát huy hết năng lực độclập sáng tạo của mình
GV có biểu diễn thí ngiệm dần dần chiếm tỉ lệ nhiều hơn trong các tiết giảng.Tuy nhiên, các tiết không có điều kiện thí nghiệm thì GV chưa biết cách để khai tháctối đa kiến thức – kỹ năng của các hình vẽ thí nghiệm trong SGK hay sử dụng CNTTcho HS xem các thí nghiệm đó
Việc đưa CNTT vào DH ảnh hưởng mạnh mẽ đến hứng thú học tập của HS
Vẫn còn một số ít GV DH hoá học theo kiểu truyền thống và chậm đổi mớiphương pháp hoặc còn băn khoăn về các khó khăn khi dạy theo phương pháp mới,những băn khoăn này xuất phát từ thói quan của kiểu DH cũ, ngại và rất ít làm thínghiệm biểu diễn hay minh hoạ, chỉ chuẩn bị và thực hiện thí nghiệm khi có GV khác
dự giờ, khi thao giảng hoặc trong đợt thi GV giỏi các cấp Vẫn còn một số ít GV hoáhọc yếu về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm hoặc không thật sự tâm huyết để giảng dạytheo phương pháp mới
6.2 Thực trạng học tập môn hoá học của HS THPT hiện nay
Trang 26Sự yêu thích môn Hoá học của các em HS hiện nay còn khá thấp, đa số các emchỉ học theo yêu cầu của chương trình GD phổ thông.
Đa số HS đều học môn Hoá học một cách máy móc, rập khuôn theo kiểu truyềnthống: có thuộc bài nhưng lại không hiểu thấu đáo các kiến thức trọng tâm bài học,không nắm vững yêu cầu cơ bản của bài học (học vẹt, học để đáp ứng yêu cầu kiểm tracủa GV), chưa vận dụng được kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng hoá học tựnhiên và cuộc sống hằng ngày Nguyên nhân là do các em ít làm bài tập trên lớp và vềnhà và một số em bị mất căn bản về kiến thức hoá học ngay từ những lớp dưới và GVkhông có thời gian để củng cố, ôn tập, hệ thống lại kiến thức cho các em, chưa tạođược hứng thú học tập cho các em
6.3 Thực trạng việc sử dụng sơ đồ tư duy và phần mềm Mindjet Mindmanager8 và sử dụng các nội dung tích hợp trong việc dạy và học hóa học
Tiến hành điều tra khảo sát việc sử dụng SĐTD khối 11 của trường THPT Tây
Hồ, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Có 8.42% HS chưa từng nghe đến hay biết đến việc sử dụng SĐTD vào cácbài học
- Có 20.00% HS đã từng biết đến việc sử dụng SĐTD vào các bài học, tuynhiên các em chưa tự sử dụng SĐTD vào các bài học của mình
- Có 71.58% HS đã từng nghe và sử dụng SĐTD vào các bài học
- Tuy nhiên, chỉ có 5.26% HS sử dụng SĐTD thường xuyên, còn lại đa số HS ítkhi sử dụng hoặc chưa sử dụng bao giờ
- Đối với môn hoá học nói riêng, thầy cô cũng chưa sử dụng nhiều SĐTD vàocác bài dạy, chỉ 4.21% số HS cho rằng GV thường xuyên sử dụng SĐTD vào các bàidạy và đa phần các em đều rất thích thú với các bài dạy hoá học được thầy cô ứngdụng SĐTD và cảm thấy thích thú khi được tham gia xây dựng SĐTD
Như vậy, ta có thể thấy những phương pháp DH mới như sử dụng SĐTD vào dạy
và học môn hoá học bước đầu được sử dụng nhưng không thường xuyên, không phổ
Trang 27biến và cũng chưa được chú trọng cao,các GV vẫn chủ yếu đi theo phương pháptruyền thống Việc xây dựng SĐTD cho các bài học môn hoá học có sử dụng sự hỗ trợcủa công nghệ thông tin hầu như rất ít được áp dụng ở trường PT Có nhiều nguyênnhân dẫn đến thực trạng này, có thể kể đến vài nguyên nhân sau:
- Thứ nhất đó là tình trạng cơ sở vật chất Hiện nay các hướng dạy học áp dụngCNTT đều đồng nghĩa với việc cần có ít nhất một máy tính và một máy chiếu trongphòng học, trong khi cơ sở vật chất ở các trường THPT không đáp ứng được yêu cầunày Thường thì hầu hết các trường mới chỉ đầu tư được một số phòng học có trang bịđầy đủ các thiết bị công nghệ cần thiết Nếu một tiết học nào muốn áp dụng CNTT thìhoặc là GV cho HS lên phòng học đa năng, hoặc là GV phải mang máy tính hoặc máychiếu xuống phòng học để lắp đặt Với thời gian giải lao giữa hai tiết học là khoảng 5phút thì việc chuẩn bị cho một tiết dạy có áp dụng CNTT gặp khá nhiều khó khăn Mặtkhác để chuẩn bị cho một tiết dạy CNTT, GV cần có một buổi chuẩn bị đề phòng khiphòng máy gặp vấn đề Khi cơ sở vật chất không thuận lợi thì gây cho GV tâm lí ngại vàchỉ khi noà bắt buộc họ mới dạy một vài tiết trong đó có áp dụng CNTT
- Thứ hai, đó là trình độ tin học của GV Để thiết kế một bài dạy có áp dụngCNTT, GV phải mất rất nhiều thời gian (đối với những GV mà trình độ tin học cònhạn chế thì điều này càng khó khăn hơn) Hiện nay, thư viện bài giảng điện tử trựctuyến rất phong phú đã giúp ích cho GV rất nhiều trong việc thiết kế bài giảng GV cóthể sử dụng những bài giảng có sẵn, chỉ cần chỉnh sửa lại theo ý tưởng của mình, nhứthế GV sẽ đỡ mất thời gian Tuy nhiên việc chỉnh sửa cũng phải đòi hỏi ở GV mộttrình độ tin học nhất định thì mới thể hiện được ý tưởng của bản thân
Chính những nguyên nhân đó khiến cho GV hiện nay rất ngại áp dụng CNTT vào
DH Với tâm lí này, rất nhiều GV không mấy quan tâm đến những phương pháp DHmới đặc biệt là những phương pháp DH có ứng dụng CNTT
Hiện nay, khái niệm SĐTD đã trở nên khá quen thuộc trong cuộc sống nóichung và trong lĩnh vực DH nói riêng Có rất nhiều sách viết về SĐTD và cũng cónhững chương trình truyền hình nói về lĩnh vực này Phương pháp này được ápdụng ở nhiều nước phát triển, có ý nghĩa tích cực trong việc hướng dẫn HS tự học,
Trang 28tự ôn tập, giúp HS biết hệ thống một cách đầy đủ, chi tiết Thông qua đó còn rènluyện cho HS biết lập kế hoạch cho một hoạt động theo một chủ đề xác định nhưnghiên cứu khoa học theo đề tài (dạy học dự án), hoạt động hợp tác, lập đề cươngbáo cáo, trình bày một vấn đề
Với sự trợ giúp của CNTT và phần mềm Mindjet MindManager 8, SĐTD củaTony Buzan sẽ đem lại những tiện ích đáng kể cho việc sử dụng kĩ thuật DH này trongviệc nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập góp phần hình thành năng lực hànhđộng, khả năng tự học suốt đời cho HS
Hiện nay, việc sử dụng các nội dung DH tích hợp đang còn mới lạ với nhiều GV
và HS, nhiều GV chưa cập nhật được vấn đề tích hợp trong DH để lồng ghép vào bàidạy của mình sao cho hay và hợp lí Nhưng có thể khẳng định một điều rằng, việc sửdụng các nội dung DH tích hợp đã mang đến những phản hồi rất tốt từ phía GV và HS
Vì vậy việc sử dụng các nội dụng tích hợp lồng ghép vào bài dạy đang mở ra những cơhội và thách thức cho GV hiện nay
Trang 29TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này chúng tôi đã tổng quan hệ thống các cơ sở lý luận của việc đổi
mới PPDH hóa học Đã trình bày tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu từ trước đến nay
về đổi mới PPDH hóa học ở Việt Nam theo hướng ứng dụng CNTT&TT, trong đó chútrọng hướng sử dụng SĐTD để đổi mới PPDH hóa học 11 chương trình cơ bản Đãtrình bày thực trạng của việc sử dụng SĐTD trong việc đổi mới PPDH hóa học, giớithiệu SĐTD và phần mềm Mindjet MindManager 8.0 Đã trinh bày được các vấn đề
cơ bản của DH tích hợp
Trên đây là cơ sở vững chắc về lý luận và thực tiễn giúp chúng tôi quyết địnhchọn hướng nghiên cứu đổi mới PPDH, thông qua dạy học hóa học theo SĐTD bằngphần mềm Mindjet MindManager 8.0 và tích hợp bảo vệ môi trường, nhằm mục đíchtìm biện pháp nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT
Trang 30CHƯƠNG II: GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN HIĐROCACBON SỬ DỤNG KĨ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY (HOÁ HỌC HỮU
CƠ PHẦN HIĐROCACBON LỚP 11 CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN)
1 Phân tích chương trình phần Hiđrocacbon – lớp 11
1.1 Mục tiêu
1.1.1 Về kiến thức
- HS biết được khái niệm, định nghĩa các hiđrocacbon, đặc điểm và công thứccấu tạo, danh pháp, đồng phân, tính chất (vật lí và hoá học) của các hiđrocacbon,cách gọi tên các hiđrocacbon, các phương pháp điều chế các hidrocacbon và ứngdụng của chúng
- HS hiểu vì sao các hiđrocacbon no có phản ứng thế là phản ứng đặc trưng, cáchiđrocacbon không no có phản ứng cộng là phản ứng đặc trưng, vì sao hiđrocacbonkhông no có phản ứng trùng hợp, vì sao hiđrocacbon thơm có cả phản ứng cộng vàphản ứng thế? Vì sao các Hiđrocacbon no lại có nhiều đồng phân hơn các Hiđrocacbon
no tương ứng?
1.1.2 Về kĩ năng
- Quan sát thí nghiệm, mô hình phân tử rút ra được nhận xét về cấu trúc phân tử,tính chất của các hiđrocacbon
- Viết được công thức cấu tạo, gọi tên các đồng phân của hiđrocacbon
- Viết được các PTHH về tính chất hoá học của các hidrocacbon, về các phươngpháp điều chế các hidrocacbon
- Biết phân biệt, nhận biết, tách chất các hidrocacbon
- Có kĩ năng giải các bài tập hoá học tương ứng, tính khối lượng, thể tích các chấtphản ứng, các chất sản phẩm
Trang 31cả mặt nội dung và hình thức thực hiện.
Về nội dung, phần hiđrocacbon đưa ra khá đầy đủ về các kiến thức của phần hữu
cơ, đưa ra cách viết các đồng phân, gọi tên các hiđrocacbon, các tính chất hoá họcđược trưng như phản ứng thế, phản ứng cộng, phản ứng tách, phản ứng oxi hoá (oxihoá hoàn toàn và oxi hoá không hoàn toàn), phản ứng trùng hợp… Vì vậy việc ghinhớ kiến thức với HS sẽ gặp nhiều bỡ ngỡ và khó khăn hơn rất nhiều so với việc ghinhớ kiến thức của các phần khác
Hiđrocacbon ở chương trình lớp 11 cơ bản các em được học các dãy đồng đẳngchính, đó là: ankan (phân tử chỉ có liên kết σ và công thức phân tử chung là CnH2n+2),anken (có 1 liên kết đôi và có công thức phân tử chung là CnH2n), ankađien (có 2 liênkết đôi và có công thức phân tử là C2H2n-2), ankin (có 1 liên kết ba và có công thứcphân tử là C2H2n-2), aren ( có vòng thơm và có công thức phân tử là CnH2n-6) Các dãyđồng đẳng này đều có các tính chất khá phức tạp, nếu để HS sử dụng các phương pháptruyền thống để học sẽ gây trở ngại không nhỏ đến việc HS phải cố học thuộc lòngnhững kiến thức đó vào đầu, và khi học thuộc lòng các kiến thức đó theo kiểu học vẹt,việc ghi nhớ kiến thức trong một thời gian dài là rất khó
Để giúp các em ghi nhớ tốt hơn và ghi nhớ lâu hơn về kiến thức phầnhiđrocacbon chương trình lớp 11 cơ bản, chúng tôi đã đưa ra ý tưởng giúp HS tổnghợp kiến thức một cách mạch lạc, gắn kết với nhau để phát triển tư duy của các embằng cách tổng hợp kiến thức bằng SĐTD, không chỉ giúp HS nhớ kiến thức dễ dàng
Trang 32hơn, nhớ lâu hơn mà việc sử dụng SĐTD có sự hỗ trợ của phần mềm MindjetManager 8 có thể cho HS xem trực tiếp hình ảnh, các video thí nghiệm sẽ tăng hứngthú học tập cho HS, từ đó giúp nâng cao chất lượng học tập, giúp giờ học hiệu quảhơn Hơn nữa chúng tôi còn đưa vào các nội dung tích hợp mở ra một phong cách mới
so với phương pháp truyền thống hiện nay
1.3 Phương pháp dạy học
Phần hiđrocacbon có kiến thức khá phức tạp, chúng cũng có giá trị lớn đối vớinền kinh tế quốc dân và là nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp hoá học cógiá trị, được ứng dụng rất lớn vào cuộc sống, làm nguyên vật liệu cho rất nhiều ngànhsản xuất, tiêu dùng, phục vụ thiết yếu cho đời sống Ngoài ra, kiến thức vềhiđrocacbon cũng là kiến thức cơ sở để hình thành các quy luật nghiên cứu các hợpchất dẫn xuất của hiđrocacbon và rộng hơn là phương pháp học tập hóa học hữu cơcho HS Với vị trí và ý nghĩa to lớn của phần hiđrocacbon trong chương trình hóa hữu
cơ ở trường phổ thông như vậy nên khi DH phần này, cần chú ý về phương pháp DHnhằm hình thành ở HS những kiến thức đúng đắn về các hợp chất Hidrocacbon và cảphương pháp học tập phần hóa hữu cơ Cụ thể là:
Sử dụng triệt để các phương tiện trực quan, thí nghiệm hóa học
Sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực để tổ chức hoạt động nhậnthức cho HS như: phương pháp đàm thoại, phương pháp thuyết trình, phương pháp sosánh, tổng hợp, khái quát hoá, phương pháp làm việc theo nhóm, …
Khi tổ chức các hoạt động học tập của HS, cần sử dụng triệt để phương pháp sosánh trong bài dạy
GV cần đa dạng hóa các hoạt động học tập để HS tham gia hoạt động một cáchtích cực, chủ động hơn
Trang 33 GV cần đọc thêm các tài liệu tham khảo để lựa chọn tư liệu bổ sung, làmphong phú và cập nhật kiến thức, làm tăng hứng thú học tập cho HS.
1.4 Kiểm tra, đánh giá
Sau khi dạy phần hiđrocacbon, tiến hành cho HS làm 2 bài kiểm tra ( 1 bài kiểmtra 45 phút và 1 bài kiểm tra 15 phút), lấy kết quả để đánh giá chất lượng học tập khi
áp dụng phương pháp sử dụng SĐTD có lồng ghép các nội dung tích hợp và so sánhkết quả với các bài kiểm tra khác dạy theo phương pháp truyền thống thông thường
2 Xây dựng sơ đồ tư duy bằng phần mềm Mindjet MindManager 8
2.1 Các nguyên tắc lựa chọn nội dung bài học có sử dụng sơ đồ tư duy
Khi lựa chọn nội dung, chủ đề bài học sử dụng SĐTD có tích hợp MT, chúng tôi
đã tự đề ra những các nguyên tắc sau:
Hướng đến mục tiêu giáo dục PT, đảm bảo mục tiêu giáo dục môn học
Phù hợp với điều kiện khách quan và thời gian trong bối cảnh chung của nhàtrường hiện nay
Có khả năng ứng dụng các học liệu đa phương tiện và SĐTD
Bảo đảm tích hợp nội dung, phương pháp dạy học
Nội dung chủ đề HS khai thác một cách chủ động và sáng tạo với tinh thần hợptác Có ý nghĩa quan trọng về mặt nhận thức, tạo điều kiện hỗ trợ tự học và hướng dẫncách học
Bảo đảm gắn với thực tiễn và thiết thực với HS, tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú học tập cho HS
Phù hợp với năng lực, trình độ hiện có của HS
2.2 Cách lập sơ đồ tư duy
Theo Tony Buzan – nhà sáng lập ra SĐTD, để lập một SĐTD gồm có :
Trang 34- Bắt đầu ý tưởng trung tâm ở giữa một tờ giấy trắng, phần giấy trắng xungquanh dùng để diễn tả các ý chính theo các nhánh nhỏ.
- Diễn đạt ý tưởng trung tâm bằng một từ khoá, hình ảnh hay bản vẽ Theo TonyBuzan, một hình ảnh có thể diễn đạt ý tưởng tương đương với 1000 từ vựng Hình ảnhcàng hấp dẫn thì càng làm tinh thần tập trung, não bộ hoạt động hưng phấn và làm việchiệu quả hơn
- Sử dụng màu sắc hợp lí khi vẽ Cũng như hình ảnh, màu sắc trong SĐTD rấtquan trọng, màu sắc kích thích đại não hưng phấn, tạo cảm giác vui vẻ, sống động choSĐTD, từ đó làm tăng khả năng sáng tạo của người dùng
- Liên kết các nhánh chính với hình ảnh trung tâm, nhánh chính với các nhánhcấp 2, nhánh cấp 2 với nhánh cấp 3, … Đại não con người tư duy thông qua liêntưởng, do vậy việc liên kết các nhánh lại với nhau giúp người dùng hiểu rõ vấn đề vànhớ lâu hơn
- Luôn để các nhánh của SĐTD gấp khúc tự nhiên, điều này làm cho SĐTD cuốnhút và không bị nhàm chán
- Sử dụng một từ khoá trên mỗi nhánh ý tưởng Từ khoá phải thật sự ngắn gọn vàlàm nổi bật được ý nghĩa của nhánh ý tưởng đó
- Sử dùng hình ảnh tối đa cho mỗi ý tưởng, một SĐTD sử dụng nhiều hình ảnh ýnghĩa khiến não bộ tư duy liên tưởng mạnh mẽ hơn
2.3 Quy trình xây dựng sơ đồ tư duy trong dạy học môn hoá học
2.3.1 Quy trình tổng quan đầy đủ xây dựng một Sơ đồ tư duy
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học Đọc kĩ SGK, kết hợp với các tài liệu tham
khảo để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và mục đích DH cần đạt được; trên
cơ sở đó, xác định mục tiêu cần đạt cả về kiến thức, kĩ năng lẫn thái độ
Trang 35Bước 2: Lựa chọn những kiến thức cơ bản, xác định đúng nội dung trọng tâm.
Nội dung đưa vào chương trình, SGK phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức
đồ sộ của khoa học bộ môn, được sắp xếp một cách khoa học, logic nhằm đảm bảotính sư phạm và tính thực tiễn Bởi vậy, GV cần bám sát vào chương trình và SGK
để lựa chọn những kiến thức cơ bản, đảm bảo tính thống nhất nội dung dạy họctrong toàn quốc Để xác định đúng trọng tâm của mỗi bài học, GV cần đọc thêm tàiliệu, sách tham khảo để có thể nghiên cứu sâu nội dung DH, giờ học cũng trở nênsinh động và phong phú hơn Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài học có thể gắnvới việc sắp xếp lại cấu trúc, làm nổi bật mối liên hệ giữa các phần trong bài Tuynhiên, cần chú ý rằng, việc cấu trúc lại nội dung phải tuân thủ nguyên tắc khônglàm biến đổi nội dung đó
Bước 3: Multimedia hóa kiến thức Trong môi trường multimedia, thông tin
thường được truyền dưới các dạng sau: Text (văn bản); Graphish (hình họa); Animation (ảnh động); - Image (ảnh chụp); - Video, phim; - Audio (âm thanh)
-Việc multimedia hóa kiến thức được thực hiện qua các bước: - Dữ liệu hóa thôngtin, kiến thức; - Phân loại kiến thức dựa trên việc khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ,
đồ họa, ảnh tĩnh, phim hay âm thanh, ; - Tiến hành xây dựng hoặc sưu tập nguồn tưliệu sẽ sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu thường được lấy từ một phần mềm dạy họcnào đó, từ internet hoặc được xây dựng mới bằng đồ họa, ảnh quét, ảnh chụp, quayvideo, các phần mềm đồ họa chuyên dụng; - Lựa chọn các phần mềm dạy học có sẵncần dùng đến trong bài học để liên kết; - Xử lí các tư liệu thu được nhằm nâng cao chấtlượng về hình ảnh, âm thanh Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh, giáo viêncần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mĩ và ý đồ sư phạm
Bước 4: Xây dựng các thư viện tư liệu: Sau khi có được đầy đủ các tư liệu cần
thiết cho việc soạn bài giảng, GV cần tiến hành sắp xếp lại thành thư viện tư liệu Cácthư mục này sẽ hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và giữ được mốiliên kết trong bài giảng với các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép từ ổ đĩa nàysang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác
Trang 36Bước 5: Xây dựng SĐTD Khi đã có các thư viện tư liệu, trước hết, GV cần chia
quá trình DH thành các hoạt động nhận thức cụ thể của HS GVdựa vào các hoạt động
đó để xác định các chủ đề, trọng tâm và các chủ đề nhánh, sự liên quan của các chủ đềvới nhau Sau đó, xây dựng nội dung cho từng chủ đề Tùy từng nội dung cụ thể màthông tin trên mỗi chủ đề có thể là văn bản, đồ họa, tranh ảnh, âm thanh, video clip,
Văn bản trong các chủ đề cần được trình bày ngắn gọn, cô đọng, chủ yếu là cáctiêu đề dàn ý cơ bản Nên dùng một loại phông chữ unicode, màu chữ, màu khungđược lựa chọn phù hợp với các mục đích sử dụng khác nhau của từng phần nội dungkiến thức GV cần trình bày khoa học, súc tích, dễ hiểu để học sinh thấy được ngaylogic của bài học
Đối với mỗi bài giảng nên dùng khung, màu nền, màu chữ thống nhất Khôngnên dùng màu quá sặc sỡ hoặc màu không tương phản nhau Sau khi đã xây dựng xongnội dung bài giảng có sử dụng SĐTD, chúng ta thực hiện các liên kết (hyperlink) lêncác đối tượng trong bài giảng Đây là ưu điểm nổi bật, cần khai thác tối đa các khảnăng liên kết Nhờ có khả năng liên kết này mà bài giảng được tổ chức một cách linhhoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễ tiếp thu kiến thức
Bước 6: Sửa chữa và hoàn thiện SĐTD Sau khi đã thiết kế xong SĐTD, GV cần
tiến hành kiểm tra các sai sót, đặc biệt là các liên kết để sửa chữa và hoàn thiện SĐTD
2.3.2 Quy trình cụ thể vẽ một sơ đồ tư duy
Khi đã có ý tưởng, ta có thể xây dựng một SĐTD theo quy trình gồm 7 bước nhưsau:
Bước 1: Bắt đầu từ chủ đề trung tâm (Central Topic) Bắt đầu từ trung tâm cho
bộ não của bạn sự tự do để trải rộng 1 cách chủ động và để thể hiện phóng khoánghơn, tự nhiên hơn
Trang 37Bước 2: Dùng hình ảnh, hay bức tranh cho ý tưởng Vì một hình ảnh có thể diễn
đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trungtâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn
Bước 3: Luôn sử dụng màu sắc Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não
như hình ảnh
Bước 4: Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh
nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai, bằngcác đường nối Các đường nối càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậmhơn, dày hơn Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơnrất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng
Bước 5: Vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng Vì chẳng có gì mang lại sự buồn
tẻ cho não hơn các đường thẳng Giống như các nhánh cây, các đường cong có tổ chức
sẽ lôi cuốn và thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn
Bước 6: Sử dụng một từ khóa (Key Word) trong mỗi dòng Bởi các từ khóa
mang lại cho SĐTd của bạn nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao Mỗi từ haymỗi hình ảnh đơn lẻ giống như một cấp số nhân, mang đến cho những sự liên tưởng vàliên kết của nó diện mạo đặc biệt Khi bạn sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từkhóa đều không bị ràng buộc, do vậy nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới Cáccụm từ hoặc các câu đều mang lại tác động tiêu cực Một SĐTD với nhiều từ khóa bêntrong giống như một bàn tay với nhiều ngón tay cùng làm việc Ngược lại, mỗi SĐTD
có nhiều cụm từ hay nhiều câu lại giống như một bàn tay mà tất cả các ngón tay bị giữtrong một thanh nẹp cứng nhắc
Bước 7: Dùng những hình ảnh xuyên suốt Bởi vì giống như hình ảnh trung
tâm, mỗi hình ảnh cũng có giá trị của một ngàn từ Vì vậy, nếu bạn chỉ có mườihình ảnh trong SĐTD của mình thì nó đã ngang bằng với mười nghìn từ của nhữnglời chú thích
Trang 382.4 Cách sử dụng Mindjet MindManager 8
Bước 1: Mở ứng dụng
Giao diện màn hình sau khi đã cài đặt Mindjet MindManager 8: Khi mở chương trình,nhấn vào New để tạo sơ đồ mới
Bước 2: Tạo những nhánh con
- Insert/topic (hoặc subtopic) để tạo Main Topic, triển khai kế hoạch chi tiết hơnchọn Insert/subtopic để tạo các Subtopic
- Phím enter ( hoặc Insert/topic) để tạo nhánh con cùng cấp với con trỏ chuộtđang đứng
Trang 403 Liệt kê các biểu tượng…
4 Liên kết với các file khác: attachment, notes, image…
3 Liên kết với Excel…
4 Liên kết với Microsoft Outlook…
Formart