Trong dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng, việc đổi mới nộidung, phương pháp đã và đang trở thành những hoạt động thường xuyên trongnhà trường, ở các cấp học, bậc học, với mục đ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cơ sở lý luận
Ngày nay, thời đại CNTT đang diễn ra rất nhanh và có tác động mạnh
mẽ đến tất cả các mặt của đời sống xã hội CNTT là một trong những động lựcquan trọng nhất của sự phát triển; nó cùng với một số ngành công nghệ caokhác làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Do
đó, việc ứng dụng CNTT vào lĩnh vực giáo dục cũng được Đảng và Nhà nướcrất quan tâm
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) đã nêu rõ mục tiêu củanước ta giai đoạn hiện nay là đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệphiện đại
Để đạt được mục tiêu trên, cần phải có một nguồn nhân lực có trình độcao, có khả năng cập nhật, thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của khoa học
và công nghệ Vì vậy, Đại hội đã chỉ rõ phương hướng phát triển giáo dụctrong giai đoạn mới là tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mớinội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lýhóa Điều này được thể hiện trong nghị quyết của Hội nghị lần IV – Ban chấphành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII “Về tiếp tục đổi mới sựnghiệp giáo dục và đào tạo” Nghị quyết khẳng định đổi mới phương pháp dạy
và học ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp tốt việc học với hành, học tập vớilao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu, gắn nhà trường với xã hội; ápdụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [7;
tr.27]
Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo cũng đã nêu rõ: từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT…CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra thay đổi lớn trong hệ thống quản lý giáodục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cáchmạng về phương pháp dạy và học
Trong dạy học nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng, việc đổi mới nộidung, phương pháp đã và đang trở thành những hoạt động thường xuyên trongnhà trường, ở các cấp học, bậc học, với mục đích cuối cùng là giúp cho HSnắm vững kiến thức bài học để từ đó góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm,nhân cách cho HS
Trang 2Việc củng cố kiến thức cho HS trong mỗi bài, mỗi chương, mỗi khóatrình là vấn đề quan trọng, giúp HS khắc sâu kiến thức, khái quát hóa, hệ thốnghóa kiến thức đã học, rèn luyện năng lực thực hành để vận dụng vào thực tế.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng ở nhà trườngphổ thông, khâu củng cố kiến thức cho HS trong những năm gần đây đã cónhững điểm tiến bộ không thể phủ nhận Song việc củng cố kiến thức cho HStrong dạy học lịch sử vẫn chỉ được tiến hành hình thức, gò ép, máy móc, đơnđiệu Chủ yếu GV thực hiện ở bước cuối cùng của tiết học (theo hệ thống 5bước lên lớp truyền thống) với việc sử dụng phương pháp chủ yếu là tóm tắt,liệt kê lại những nội dung đã trình bày khi tiến hành cung cấp kiến thức mới.Nhiều khi GV bỏ qua khâu củng cố mà thay vào đó là dặn HS về nhà đọcSGK, trả lời câu hỏi SGK… Như vậy, qua bài học, HS không biết hệ thốngkiến thức cơ bản, không khắc sâu kiến thức vừa học trên lớp Do đó, HSthường dễ quên kiến thức khi về nhà Đây cũng là một trong những nguyênnhân làm cho HS không say mê, không hứng thú với việc học tập môn lịch sử.Mặt khác, rất nhiều HS cho rằng môn lịch sử là môn phụ, môn học thuộc lòng,nên các em xem nhẹ việc ôn tập, củng cố kiến thức, có chăng ôn tập chỉ để đốiphó với kiểm tra, thi cử Điều này dẫn đến nhiều em không nắm vững kiếnthức, có khi nhầm lẫn các sự kiện rất cơ bản, từ đó dẫn đến hiểu sai kiến thứclịch sử
Thực tiễn dạy học lịch sử nêu trên đòi hỏi phải có những biện pháp tổchức tốt, có tác dụng thúc đẩy quá trình nhận thức, thúc đẩy năng lực học tậpcủa HS, để từng bước bắt kịp sự phát triển của nền giáo dục mới Việc ứngdụng CNTT mà cụ thể là PMDH PowerPoint vào dạy học lịch sử, nhất là trongkhâu củng cố kiến thức sẽ là một ưu thế vì yếu tố trực quan đóng vai trò quantrọng trong việc tiếp thu, hiểu và ghi nhớ các sự kiện lịch sử mà HS được học
2 Mục đích viết sáng kiến kinh nghiệm
Xuất phát từ những thực tiễn nói trên, trên cơ sở thực tế dạy học lịch sửhiện nay, tôi mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu việc tiến hành củng cố kiến thứccho HS trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông với sự hỗ trợ của phần mềmdạy học PowerPont với mong muốn được góp một phần công sức và tâm huyếtcủa mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông Vì
vậy, tôi quyết định chọn vấn đề “Củng cố kiến thức cho học sinh với sự hỗ
trợ của phần mềm dạy học PowerPoint trong dạy học lịch sử thế giới (1917 – 1945) lớp 11 THPT - chương trình chuẩn” làm đề tài nghiên cứu sáng kiến
kinh nghiệm của mình
Đề tài được hoàn thành sẽ có những đóng góp cơ bản sau:
- Về mặt lí luận: Khẳng định vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề
củng cố kiến thức cho HS với sự hỗ trợ của PMDH PowerPoint trong dạy họclịch sử ở trường THPT
Trang 3- Về thực tiễn: Đề xuất một số biện pháp cụ thể về vấn đề sử dụngPMDH PowerPoint để củng cố kiến thức lịch sử cho HS nhằm góp phần nângcao hiệu quả bài học cũng như chất lượng dạy học bộ môn qua dạy phần Lịch
sử thế giới hiện đại thời kì thứ nhất (1917 - 1945) lớp 11 trường THPT –chương trình chuẩn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng việc củng cố kiến thức trong dạy học lịch sử ởtrường phổ thông
- Đưa ra những ý kiến về nâng cao hiệu quả dạy học qua việc ứng dụngphần mềm dạy học Microsoft PowerPoint trong củng cố kiến thức lịch sử
- Tiếp tục triển khai chuyên đề điều chỉnh, bổ sung nhằm góp phần nâng cao chấtlượng dạy học bộ môn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình dạy học lịch sử ở trường THPTphần củng cố kiến thức với sự hỗ trợ của phần mềm day học PowerPoint
* Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ đề tài, tôi chỉ nghiên cứu về việc ứng dụng phần mềmdạy học PowerPoint trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông phần củng cốkiến thức
5 Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Phân tích, tổng hợp tài liệu
- Tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp có kinh nghiệm trong dạy họclịch sử trường THPT
Trang 4NỘI DUNG
1 CỦNG CỐ KIẾN THỨC CHO HS TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM DẠY HỌC POWERPOINT
1.1 Củng cố kiến thức cho HS trong DHLS ở trường THPT
Theo quan điểm của lí luận dạy học truyền thống cũng như hiện đại thìcủng cố kiến thức luôn chiếm vị trí quan trọng trong quá trình dạy học Củng
cố là một khâu trong quá trình dạy học; nó tác động biện chứng tới các khâukhác và ảnh hưởng đến hiệu quả bài học Củng cố kiến thức không tách rờiviệc xác định mục tiêu bài học, giúp GV và HS định hướng vào trọng tâm ôntập, củng cố những vấn đề kiến thức cơ bản Việc củng cố kiến thức sẽ làm chomục tiêu đó được thực hiện hiệu quả hơn
Về giá trị lớn lao của việc củng cố kiến thức, V.I.Lê nin đã chỉ ra rằnghoạt động thực tiễn của con người là phải làm cho các hình tượng lôgíc khácnhau được lặp đi lặp lại hàng triệu lần trong ý thức con người để từ những hìnhdạng đó ta có thể có được ý nghĩa của tiền đề
Đối với dạy học lịch sử, do đặc trưng của bộ môn là các sự kiện lịch sửchỉ diễn ra một lần, lần sau không lặp lại, kiến thức ngày càng chồng chất nênhọc sinh ngại học và rất dễ quên lịch sử Vì vậy, việc củng cố kiến thức chohọc sinh có vai trò hết sức quan trọng, giúp cho học sinh nắm vững chắc kiếnthức nhằm đạt được yếu tố đầu tiên trong mục đích học tập bộ môn
Củng cố kiến thức là việc làm cần thiết mà người GV phải làm để giúp
HS hoàn thiện tri thức và rèn luyện thêm kĩ năng, kĩ xảo, chuẩn bị cho việc tiếptục nghiên cứu sâu sắc hơn kiến thức mới Qua việc củng cố kiến thức cho HS,
GV có thể hệ thống hóa, khái quát hóa những kiến thức mà HS đã học, nângkiến thức cũ lên một chất lượng cao hơn Đồng thời qua đó, GV cũng có thểnhận biết được những lỗ hổng kiến thức của HS để kịp thời bổ sung, hoànthiện và đánh giá, điều chỉnh việc dạy của mình
Củng cố kiến thức không phải chỉ là công việc của GV mà của cả HS đểthực hiện mục tiêu dạy học GV tiến hành các phương pháp nhằm hệ thốnghóa, khái quát hóa, hoàn thiện và phát triển kiến thức đã học HS không phảithụ động mà tích cực tham gia vào hoạt động này (bằng việc trả lời các câu hỏicủa GV, tham gia chơi trò chơi ô chữ…), chủ động ôn tập ở nhà theo sự hướngdẫn của GV, tự củng cố kiến thức của mình cũng như thảo luận với bạn bè đểcủng cố kiến thức cho nhau Vì vậy, củng cố kiến thức là một khâu không thểthiếu được của quá trình dạy học
Qua thực tiễn giảng dạy, tôi thấy rằng học sinh không ghét môn lịch sử,nhiều em hứng thú say mê lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc nhưng lại ngại họckhông biết là thế nào để nhớ các sự kiện, hiện tượng, khái niệm, qui luật, bàihọc lịch sử… Kiến thức ngày càng nhiều, song không được củng cố một cách
tự nhiên như các môn học khác: Toán, Lí, Hóa…thường xuyên được củng cố,lặp lại các công thức, quy tắc, định lí, định luật vận dụng vào các bài học, ở các
Trang 5cấp học Khác với các môn học đó, lịch sử lại không như vậy mà kiến thức củabài nào xong bài đó, bài sau không lặp lại nữa.
Ví dụ: Trong khóa trình học lịch sử thế giới hiện đại giai đoạn 1917 –
1945, khi học xong bài Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng (1917 – 1921), HS được làm quen với các nhân vật
lịch sử Nga hoàng Ni-cô-lai II, Lê-nin; hiểu rõ khái niệm “Đảng Bôn-sê-vich”,
“cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới”, “cách mạng XHCN”; biết đến diễn biếnchính của cuộc cách mạng tháng Hai và cách mạng tháng Mười cũng như hiểuđược vì sao năm 1917 ở Nga lại diễn ra hai cuộc cách mạng? Mỗi một nộidung bài, bao gồm các nhân vật lịch sử, các sự kiện, diễn biến…HS chỉ đượctìm hiểu trong một tiết học (45 phút), tiết sau, học bài sau không nhắc lại kiếnthức đó nữa Cũng như vậy, sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917 và côngcuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô (1921 – 1941), đến các nước tư bản giữa haicuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939) Trong nội dung này, HS lại được biết
đến các nhân vật, sự kiện hoàn toàn khác Ví như ở bài Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), các em được biết đến nhân vật nhân
vật Hin-đen-bua, Hít-le; khái niệm “phát xít”; quá trình phát xít hóa chính
quyền ở Đức… Sau bài Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939) đến bài Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), lại
có nhân vật Rudơven, “chính sách mới” trong kinh tế tài chính và chính trị
-xã hội… Sau đó, các em lại được tìm hiểu về nội dung các nước châu Á giữahai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), với các nhân vật, sự kiện, địadanh, khái niệm khác…
Cứ như vậy theo dòng thời gian, theo chương trình, những kiến thức cũ
đã học ở bài trước không lặp lại, tái hiện lại thường xuyên ở bài sau Kiến thứckhông được sử dụng thường xuyên, mà trí nhớ của con người, của học sinh làmột quá trình hình thành, lặp đi lặp lại nhiều lần Đây là nét đặc trưng khó nhấttrong dạy học lịch sử, là một trong những nguyên nhân của tình trạng học sinh
sợ học, chán học, không nhớ các sự kiện, nhân vật, khái niệm…trong học tậplịch sử
Nếu tất cả các sự kiện, yếu tố liên quan đến sự kiện giáo viên chỉ nhắcmột lần, không gây ấn tượng cho học sinh, không làm xuất hiện trong óc họcsinh những động cơ, thói quen ghi nhớ ghi nhớ sự kiện, không thường xuyêncủng cố thì những sự kiện, hiện tượng lịch sử đó sẽ trôi qua, dần dần các emcũng sẽ quên đi những kiến thức đã được học
1.2 Ý nghĩa việc củng cố kiến thức cho HS trong DHLS ở trường THPT
Với vị trí quan trọng như vậy, việc củng cố kiến thức cho học sinh có ýnghĩa lớn lao trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học trên cả bamặt: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh
Thứ nhất, việc củng cố kiến thức lịch sử cho học sinh có mục đích cụ
thể, giúp học sinh mở rộng, đào sâu, hoàn thiện những tri thức lịch sử đã học
Trang 6Từ thực tế dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, chúng ta phảithừa nhận rằng, học sinh không thể tiếp thu, ghi nhớ kiến thức tốt nếu nhưngười thầy truyền đạt kiến thức một cách rời rạc, không lôgíc và thiếu tính hệthống, khái quát Kiến thức học sinh được học sẽ “trôi đi” nếu người thầykhông chú ý hoặc không biết khắc sâu, củng cố kiến thức cơ bản Để khắcphục tình trạng học sinh ngại học, sợ học sử, không nhớ kiến thức lịch sử, đòihỏi chúng ta phải giải quyết nhiều khâu, nhiều yếu tố trong cả quá trình dạyhọc Trong đó, khi tiến hành quá trình dạy học, chúng ta cần dành thời gianthỏa đáng cho việc củng cố kiến thức, tiểu kết sau mỗi mục, mỗi bài, mỗichương, mỗi khóa trình Để gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các emnắm vững kiến thức cơ bản, chúng ta cần tiến hành củng cố kiến thức bằngnhững bằng những biện pháp sư phạm sinh động, đa dạng, hấp dẫn Điều đó sẽgiúp cho kiến thức của học sinh liên tục được lặp lại, đào sâu, hệ thống vàngày càng hoàn thiện Qua đó, phát huy được tính tích cực, chủ động, hứng thúhọc tập lịch sử của học sinh, giúp các em nắm vững chắc được kiến thức cơbản trong chương trình học.
Ví dụ: Khi dạy bài Cách mạng thánh Mười Nga năm 1917 và cuộc đấu tranh bảo vệ cách mạng (1917 – 1921), sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu về
nguyên nhân, diễn biến, kết quả của cuộc cách mạng tháng Hai năm 1917 ởNga, GV cho HS so sánh giữa cách mạng tháng Hai với các cuộc cách mạng tưsản khác về các nội dung:
Nội dung Cách mạng tư sản
(Ở Anh, Pháp…)
Cách mạng tháng Hai
1917Nhiệm vụ
Từ đó, học sinh phải suy nghĩ, đào sâu, so sánh, phân tích giữa kiến thứcnhững bài trước với kiến thức mới vừa tiếp thu để tìm ra câu trả lời Trả lờiđược câu hỏi nghĩa là học sinh đã bổ sung thêm kiến thức về một hình thứckhác của cách mạng dân chủ tư sản, giúp cho kiến thức về cách mạng tư sảncủa các em được hoàn thiện hơn
Đồng thời, qua củng cố kiến thức, chúng ta phát hiện kịp thời, sửa chữanhững thiếu sót và hoàn chỉnh kiến thức cho HS, giúp HS hiểu rõ hơn các sựkiện, hiện tượng lúc đầu chưa hiểu rõ lắm, khắc phục những lỗ hổng về kiếnthức ở giai đoạn đầu tiên của việc lĩnh hội kiến thức Chúng ta cũng thấy rằng,
cứ mỗi lần được nghiên cứu thêm hoặc lặp lại những kiến thức cũ đã học thì sựlĩnh hội lại được bền vững hơn và học sinh lại sáng tỏ thêm những sắc thái và
Trang 7chi tiết khác nhau của nội dung tri thức mà trước đó các em bỏ qua không chú
ý đến trong lần tri giác đầu tiên
Qua củng cố, học sinh được củng cố những kiến thức cơ bản, đó là nhữngkiến thức giúp học sinh nắm được bản chất của vấn đề đang học, là những kiếnthức có ảnh hưởng rộng khắp, giúp các em hiểu được những vấn đề liên quan,những sự vật và hiện tượng cùng loại Những kiến thức đó có một tác dụng lâudài trong việc học tập lịch sử Mặt khác, hướng dẫn học sinh củng cố kiến thứcthường xuyên còn giúp các em nắm vững, hệ thống kiến thức lịch sử
Ví như sau khi dạy xong bài Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945),
để giúp HS nắm vững chắc, hiểu rõ quy mô, hậu quả của cuộc chiến tranh thế
giới, GV cung cấp cho HS Bảng thống kê các số liệu của hai cuộc chiến tranh thế giới [67; tr.108] như sau:
Danh mục
Chiến tranh thếgiới thứ nhất(1914 – 1918)
Chiến tranh thếgiới thứ hai(1939 – 1945)
Số người ra nhập quân đội (triệu người) 74 110
Số người chết vì chiến tranh (triệu người) 13,6 60
Thiệt hại về vật chất (tỉ đôla)
Trong đó chi phí quân sự trực tiếp
338208
40001384Sau đó, GV đặt câu hỏi nhận thức đồng thời cũng là hình thức củng cốkiến thức cho HS: “So sánh về quy mô, hậu quả của chiến tranh thế giới thứhai với chiến tranh thế giới thứ nhất và đánh giá về hậu quả mà chiến tranh thếgiới thứ hai mang lại cho nhân loại?” Sau khi HS suy nghĩ và trả lời được rằngChiến tranh thế giới thứ hai có quy mô rộng lớn và gây hậu quả nặng nề hơnrất nhiều so với Chiến tranh thế giới thứ nhất Nếu như Chiến tranh thế giớithứ nhất chủ yếu diễn ra ở châu Âu, thì Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ở
cả châu Âu, châu Á, châu Phi, Thái Bình Dương và các vùng biển khác Đó làcuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất, tàn phá nặng nề nhất trong lịch sửnhân loại Những tổn thất do chiến tranh gây ra vượt qua bất cứ một cuộc chiếntranh nào trong lịch sử nhân loại: 76 quốc gia bị lôi cuốn vào vòng chiến, trên
60 triệu người bị chết, khoảng 90 triệu người bị tàn phế, thiệt hại về vật chấtước tính khoảng 4.000 USD (tính theo giá đương thời) Nền văn minh vật chất
và tinh thần của nhân loại bị tàn phá nặng nề Hàng triệu nạn nhân bị giết hạitrong các trại tập trung, các cuộc tàn sát vì lí do phân biệt chủng tộc, các cuộcoanh kích hủy diệt và ném bom nguyên tử… Việc so sánh đó giúp HS hiểu rõhơn vấn đề đang giải quyết, nhận thức đúng đắn hơn về chiến tranh, khắc sâuhơn kiến thức về chiến tranh thế giới và hậu quả khủng khiếp của nó đối vớilịch sử nhân loại Qua đó, giáo dục HS lòng căm thù chủ nghĩa phát xít, phảnđối chiến tranh; có thái độ kính trọng, biết ơn đối với nhân dân Liên Xô và tinhthần đoàn kết chiến đấu của nhân dân thế giới cho hòa bình, độc lập và tiên bộ
xã hội
Trang 8Thứ hai, việc củng cố kiến thức lịch sử có ý nghĩa to lớn trong việc giáo
dục học sinh Bởi vì trên cơ sở nắm vững chắc kiến thức, hiểu sâu sắc nội dunglịch sử đã học sẽ giúp các em hoàn thiện tư tưởng, tình cảm, đồng thời giáodục các em đức tính chuyên cần trong lao động học tập để góp phần bảo vệ,xây dựng quê hương đất nước
Ví như, sau khi học xong bài Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX (lớp 11 THPT – chương
trình chuẩn), GV kiểm tra hoạt động nhận thức của HS bằng câu hỏi: “Phongtrào Cần vương bùng nổ trong hoàn cảnh nào? Diễn biến chính 2 giai đoạn củaphong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX và ý nghĩa lịch sử củaphong trào?” Trả lời được câu hỏi này nghĩa là HS đã nhắc lại để khắc sâukiến thức của bài học rằng sau cuộc phản công quân Pháp tại Kinh thành Huếthất bại, một phong trào khởi nghĩa vũ trang mới dưới danh nghĩa Cần vương(giúp vua cứu nước) đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp,thu hút được đông đảo quầnchúng nhân dân tham gia; chia 2 giai đoạn (1885 – 1888 và 1888 – 1896), vớimột số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, HươngKhê Bên cạnh đó, còn có những cuộc đấu tranh tự vệ của nông dân và nhândân các dân tộc thiểu số miền núi, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Yên Thế.Qua đó, HS không chỉ nắm vững kiến thức mà còn làm các em thấy tự hào vềtruyền thống yêu nước, ý chí quyết tâm đấu tranh giải phóng dân tộc của nhândân ta Đồng thời, qua đó cũng giáo dục các em thái độ nghiêm túc, chuyêncần trong lao động học tập, rèn luyện để tiếp bước cha anh phát huy truyềnthống đó
Thứ ba, việc củng cố kiến thức giúp các em phát triển năng lực nhận
thức (ghi nhớ, tư duy lôgíc…) đồng thời cũng rèn luyện, phát triển các kĩ năng
kĩ xảo (tái hiện kiến thức, lập bảng biểu, so sánh, khái quát kiến thức…)
Củng cố kiến thức được thực hiện tốt sẽ giúp học sinh nắm vững, ghinhớ, khắc sâu kiến thức cơ bản Qua mỗi bài, chương, khóa trình học kiến thứcđược ghi nhớ trong trí nhớ của học sinh, nếu thiếu củng cố thì kiến thức sẽkhông được khắc sâu, dễ bị mờ nhạt, bị quên đi Củng cố kiến thức không chỉcần thiết cho việc hoàn thiện tri thức học sinh mà sau đó còn làm “mới lại”chúng trong thời điểm này hay thời điểm khác Những kiến thức cũ cần đượccủng cố chính là để giải phóng bộ óc, giúp cho việc lĩnh hội những kiến thứcmới được tốt hơn, bởi vì chỉ có thể cố định những kiến thức cũ thì mới dùng nólàm chỗ dựa cho kiến thức mới được
Kiến thức lịch sử là một hệ thống toàn vẹn có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau và phát triển theo một lôgíc nhất định Những kiến thức lịch sử trước cómối quan hệ nhất định với kiến thức đang học và sắp học của học sinh Vì vậy,mỗi khi cần nắm tri thức mới, việc liên hệ, so sánh, làm sống lại những kiếnthức cũ làm cơ sở hoạt động tư duy cho học sinh, thì điều cần thiết là phảiđược thực hiện và tiến hành các biện pháp củng cố kiến thức cho học sinh
Ví như, khi dạy bài Nhật Bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), lớp 11 THPT – chương trình chuẩn, nếu HS không được thường xuyên
Trang 9nhắc lại, làm mới lại quá trình quân phiệt hóa bộ máy nhà nước đã diễn ra ởĐức, sự hình thành lò lửa chiến tranh ở châu Âu…để liên hệ với Nhật Bản thìcác em sẽ rất khó khăn để có thể nắm bắt được vì sao chủ nghĩa phát xít lại trởthành hệ thống trên thế giới Từ đó, các em sẽ tích cực tiếp thu, hứng thú họctập, ghi nhớ nhanh và hiểu sâu sắc hơn kiến thức được học.
Việc ghi lại những tri thức cũ diến ra trong quá trình tìm hiểu, phân tíchđối tượng mới sẽ làm cho các con đường liên hệ thần kinh tạm thời ngày càngsâu đậm, bền vững, nếu không được củng cố thường xuyên thì những đườngliên hệ đó sẽ mờ dần và tắt hẳn Như vậy, chỉ có thường xuyên đưa những kiếnthức mới theo hệ thống nhất định vào hệ thống kiến thức cũ, mới đảm bảođược chất lượng cao cho việc nắm kiến thức của học sinh Để đạt được điều
đó, khi giảng bài mới giáo viên cần thường xuyên ôn lại những kiến thức cũtrong mối liên hệ nhất định, phù hợp với nội dung bài mới Rõ ràng, việc tổchức tiến hành củng cố tốt sẽ giúp học sinh ghi nhớ tốt, tri thức của học sinh sẽdần được hệ thống hóa, khái quát hóa Điều đó, giúp học sinh phát triển tư duysáng tạo và ghi nhớ được tri thức bền vững, sâu sắc mà mình đã tiếp thu, hoànthiện thêm các tri thức lịch sử đã được cung cấp Như vậy, HS hiểu rõ, nhậnthức đúng đắn về quy luật vận động, phát triển của lịch sử dân tộc cũng nhưlịch sử thế giới, về vai trò của quần chúng nhân dân, về cá nhân tiêu biểu tronglịch sử… Từ đó, bồi dưỡng cho các em thế giới quan khoa học, hình thànhnhân cách, giáo dục tư tưởng tình cảm đối với lịch sử, biết giữ gìn, phát huy và
tự hào truyền thống dân tộc, truyền thống lịch sử, giữ gìn bản sắc văn hóa củadân tộc và nhân loại, quý trọng sức mạnh quần chúng nhân dân… Đồng thời,các kĩ năng tư duy, kĩ năng thực hành của HS cũng được rèn luyện và pháttriển, hoàn thiện Hơn nữa, việc thực hiện củng cố bằng các biện pháp linh hoạt
sẽ gây hứng thú học tập cho học sinh, góp phần giáo dục HS đức tính cần cù,chăm chỉ, tính tích cực học tập lich sử, ham hiểu biết
Rõ ràng, củng cố kiến thức lịch sử cho HS có vai trò và ý nghĩa to lớn,chỉ có thường xuyên củng cố mới giúp HS nắm vững chắc kiến thức Qua củng
cố, kiến thức rời rạc của HS sẽ được hệ thống lại nên các em có khả năng pháttriển vốn hiểu biết của mình và vận dụng những hiểu biết vào thực tiễn Vìvậy, trong quá trình dạy học lịch sử, GV nên tiến hành hoạt động này một cáchnghiêm túc, đa dạng, phù hợp với từng nội dung bài học, khóa trình học đểkhắc sâu kiến thức cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
1.3 Một số nguyên tắc sư phạm của việc sử dụng phần mềm PowerPoint để củng cố kiến thức lịch sử cho HS THPT
Việc dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng được tiến hành trên cơ
sở những nguyên tắc của lí luận dạy học, tức là những quan điểm cơ bản chỉđạo mọi hoạt động của GV và HS, theo các quy luật cơ bản của quá trình dạyhọc Tính nguyên tắc đảm bảo việc dạy học được thực hiện theo những quytrình khoa học, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Tính nguyên tắc của việcthực hiện phương pháp dạy học không hề làm giảm, thủ tiêu sự sáng tạo của
Trang 10thầy và trò trong quá trình giáo dục; ngược lại, nó tạo điều kiện để phát huytính sáng tạo của công việc.
Từ lí luận nêu trên, việc củng cố kiến thức lịch sử với sự hỗ trợ củaPMDH PowerPoint phải đảm bảo được các nguyên tắc sư phạm sau:
Thứ nhất, ứng dụng PMDH phải được coi là một phương tiện hỗ trợ để củng cố kiến thức cho HS trong DHLS Ý nghĩa, vai trò của PMDH nói chung,
PMDH PowẻPoint nói riêng đối với môn lịch sử là không thể phủ nhận Song,nếu tuyệt đối hóa vai trò của các PMDH, khẳng định yếu tố phương tiện kĩthuật hiện đại sẽ quyết định chất lượng DHLS, là phương pháp vạn năng, từ đócho rằng bài nào cũng phải ứng dụng PMDH thì đó là quan niệm sai lầm,
phiến diện Bởi vì “phương tiện có hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ trong tay nhà giáo dục…, thiết bị là một phương tiện hỗ trợ cho ông thầy trong quá trình giáo dục, là công cụ của ông thầy” [9; tr.349] Bởi vậy, việc ứng dụng
các PMDH vào củng cố kiến thức lịch sử chỉ là phương tiện để hỗ trợ giảngdạy, người dạy không lạm dụng các tính năng của PMDH để biến phần củng
cố kiến thức thành một phần trình chiếu, làm cho việc học của HS trở nên thụđộng, không hiệu quả Do đó, cùng với việc kế thừa, cải tiến các phương phápdạy học truyền thống như thuyết trình, tường thuật, trao đổi, đàm thoại, giảithích, đặt câu hỏi… thì việc kết hợp một cách hiệu quả với phương pháp dạyhọc hiện đại có sự hỗ trợ của các PMDH sẽ góp phần tích cực trong việc đổimới phương pháp dạy học lịch sử và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Nóivậy không có nghĩa là PMDH quyết định toàn bộ đến chất lượng giảng dạy màchỉ có người sử dụng PMDH, thông qua vai trò tổ chức, điều khiển quá trình
dạy học của mình mới quyết định chất lượng giảng dạy bộ môn, vì “không một công cụ nào thay thế được con người trong quá trình giáo dục” [9; tr.349] Ví
dụ, khi dạy bài 18 “Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)” (Lớp 11THPT – chương trình chuẩn), trong phần củng cố kiến thức toàn bài, GV đưa
ra những hình ảnh, số liệu liên quan đến diễn biến, hậu quả… của chiến tranh.Nếu chỉ dừng lại ở đây thì tiết học sẽ trở thành giờ trình chiếu, biểu diễnPowerPoint của người thầy, HS giống như khán giả ngồi xem phim hoạt hình
mà không có thuyết minh Bởi vậy, để tiết học trở nên hấp dẫn, lôi cuốn, thuhút HS tham gia vào quá trình học tập, tìm hiểu kiến thức, GV phải kết hợp sửdụng PMDH với các phương pháp truyền thống như sử dụng câu hỏi, bài tậpnêu vấn đề, trao đổi, đàm thoại, miêu tả…; tùy từng đơn vị kiến thức mà có sựkết hợp các phương pháp khác nhau cho phù hợp, hiệu quả dưới sự hỗ trợ củaPMDH Có như vậy thì việc ứng dụng các PMDH vào củng cố, ôn tập kiếnthức mới phát huy được tính ưu việt của nó, đem lại hiệu quả, chất lượng dạyhọc cao hơn so với những bài học không có sự hỗ trợ của PMDH
Thứ hai, ứng dụng PMDH PowerPoint phải hướng vào những nội dung lịch sử cơ bản, chủ yếu của bài học, chương, khóa trình Thông thường, việc
củng cố, ôn tập kiến thức lịch sử được tiến hành sau khi hoàn thiện việc nghiêncứu một sự kiện, hiện tượng, một giai đoạn, thời kì hay một khóa trình học.Trong chương trình học, việc củng cố kiến thức được tiến hành ngay trong mỗi
Trang 11bài học với các nội dung kiến thức liên quan cũng như thông qua các dạng bài
ôn tập, sơ kết, tổng kết Nhiệm vụ cụ thể của phần học này là củng cố kiến thức,rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho HS Đây là phần học có nội dung, cách thức tiếnhành không giống với phần cung cấp kiến thức mới mà chủ yếu là củng cố kiếnthức, bổ sung, khái quát hóa, rút ra những kết luận để HS có được nhận thức sâusắc, toàn diện hơn Chính vì vậy, khi tiến hành củng cố, ôn tập với sự hỗ trợ củaPMDH không được làm mất đi đặc trưng của loại bài học mà phải làm nổi bậtđược những nội dung kiến thức cơ bản của dạng bài củng cố, ôn tập
Quá trình phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc có khá nhiềucác sự kiện diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định Vì vậy, khi tiếnhành củng cố kiến thức cho HS, người GV phải biết lựa chọn những nội dunglịch sử cơ bản nhất để khắc sâu, củng cố cho HS Đó phải là những nội dung nổibật, điển hình chứa đựng hững sự kiện đủ để phác họa nên bức tranh quá khứmột cách chân thực để HS nhận biết được lịch sử cụ thể của từng thời kì, củacác quốc gia khác nhau, phản ánh được quy luật phát triển của xã hội Ngượclại, việc đưa ra những nội dung lịch sử không cơ bản, không nổi bật, vụt vặt,riêng lẻ để hấp dẫn HS sẽ rơi vào tình trạng sa đà vào những nội dung không cầnthiết, từ đó gây phản tác dụng đối với công việc củng cố, ôn tập, hệ thống hóa,khái quát hóa kiến thức lịch sử cũng như rút ra bài học lịch sử cho HS
Thứ ba, ứng dụng PMDH PowerPoint phải phát huy được tính tích cực học tập của HS khi học phần củng cố, ôn tập Khi tiến hành bài học lịch sử,
việc sử dụng đa dạng và kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lí các phương pháp, cáccách dạy học phù hợp với từng nội dung lịch sử là điều cần thiết Tuy nhiên,việc sử dụng phương pháp nào – truyền thống hay đổi mới cũng phải phát huyđược tính tích cực, độc lập của HS để nâng cao hiệu quả bài học Tích cực, độclập trong nhận thức, đặc biệt là trong tư duy sẽ đảm bảo cho các em lĩnh hộisâu sắc và nhớ lâu kiến thức; là phương tiện tốt để hình thành kiến thức, khơidậy những xúc cảm lịch sử, kích thích hứng thú học tập, từ đó tạo cơ sở đểgiáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho HS Phát triển tính tích cực, độc lậptrong nhận thức còn là phương thức tốt góp phần phát huy các năng lực nhậnthức, năng lực thực hành, kĩ năng, kĩ xảo cho HS
Trong DHLS nói chung, củng cố kiến thức lịch sử nói riêng, có nhiềucon đường, phương pháp khác nhau để phát triển hoạt động nhận thức độc lậpcủa HS Trong đó, việc ứng dụng PMDH PowerPoint vào giảng dạy phần củng
cố kiến thức lịch sử có nhiều ưu thế để phát huy tính tích cực học tập của HS.Bởi vì, thành tựu của PMDH này cho phép người thầy dễ dàng thiết kế hệthống sơ đồ, biểu đồ, bản đồ câm, xây dựng hệ thống câu hỏi, đặc biệt là trìnhbày có hình ảnh các sự kiện, hiện tượng lịch sử gây xúc cảm mạnh mẽ cho HS,
từ đó phát huy tính tích cực học tập của các em
Với đặc thù của bộ môn lịch sử là các hiện tượng, sự kiện lịch sử đã xảy
ra trong quá khứ, không tái diễn trở lại Cho nên, khi tiến hành quá trình dạyhọc, dựa trên những tư liệu lịch sử, GV phải tạo được những hình ảnh về sựkiện, con người trong quá khứ, để khôi phục bức tranh lịch sử sinh động trong
Trang 12nhận thức của HS, làm cho các em như đang được tham gia, chứng kiến sự kiệnlịch sử Điều này có tác dụng rất lớn trong việc củng cố, ôn tập kiến thức cho
HS Việc trình bày hình ảnh một cách trực quan còn khơi gợi cho các em nhữngcảm xúc lịch sử như: căm ghét, phản đối, đồng tình hay yêu mến…; làm tănghúng thú học tập bộ môn, do đó kích thích được tính tích cực, tự giác học tậpcủa các em Mặt khác, khi trình bày các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử…
mà có hình ảnh hay video kèm theo không chỉ là điểm tựa của nhận thức cảmtính mà còn là nguồn gốc của tư duy Bởi vì, sự có mặt của các phương tiện tạohình trước mắt HS là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phân tích, so sánh,tổng hợp để hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Đây chính là lợi thếlớn của việc ứng dụng PMDH nói chung, phần mềm PowerPoint nói riêng màkhông có một phương pháp dạy học truyền thống nào có thể sánh được
Thứ tư, khi ứng dụng PMDH PowerPoint thì nội dung củng cố kiến thức lịch sử phải đảm bảo được tính khoa học, tính tư tưởng, tính vừa sức và tính trực quan Khi dạy phần củng cố, ôn tập kiến thức môn lịch sử, người GV phải
biết lựa chọn những sự kiện cơ bản, chính xác nhất, rõ ràng nhất để cung cấpcho HS Tính khoa học thể hiện chủ yếu ở sự chính xác của sự kiện (nội dungphản ánh đúng hiện thực khách quan, phải được khoa học lịch sư thừa nhận, cótính chính xác cao, không xuyên tạc), ở việc đánh giá, giải thích, tìm ra bản chất,mối quan hệ nhân quả, sự phát triển hợp quy luật của các sự kiện, hiện tượnglịch sử Mặt khác, tính khoa học còn gắn liền với tính tư tưởng; khi đánh giá,giải thích các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử phải đảm bảo nguyên tắcphương pháp luận Mác-xít, tránh việc hiện đại hóa, xuyên tạc, bóp méo lịch sử
Để đảm bảo tính tư tưởng của sự kiện, GV phải giáo dục HS theo quan điểm củaĐảng và Nhà nước: tình yêu quê hương đất nước, yêu hòa bình, căm ghét chiếntranh; giáo dục sự đoàn kết, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường sống
Tính khoa học của nội dung lịch sử còn gắn liền với tính vừa sức trongviệc lĩnh hội kiến thức của HS Thực chất, đây là việc giải quyết mâu thuângiữa khối lượng tri thức ngày càng lớn với năng lực, trình độ có hạn của HS.Qua đó, HS có thể nâng cao trình độ nhận thức một cách khái quát và hệ thốnghóa về một sự kiện, hiện tượng, về một thời kì, khóa trình học, từ đó giáo dục
ý thức, thái độ hướng tới phát triển toàn diện HS
Với ưu thế trực quan sinh động, khả năng trình bày đa phương tiện vàtương tác, các PMDH, nhất là PowerPoint có thể đem đến cho HS sự hứng thúhọc tập, phát huy được tính tích cực, chủ động của các em Vì thế, việc ứngdụng PMDH PowerPoint vào DHLS nói chung, củng cố kiến thức lịch sử nóiriêng là rất cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Tuynhiên, việc ứng dụng PMDH phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học lịch
sử Người thầy không nên “lạm dụng” việc sử dụng PMDH vào DHLS, biếngiờ học thành giờ trình diễn hình ảnh, video… hấp dẫn HS, song các em lại bịđộng và không có tác dụng nhiều trong việc ôn tập, củng cố kiến thức
Như vậy, trong DHLS nói chung, củng cố kiến thức nói riêng, dù tiếnhành bằng con đường nào, phương pháp nào cũng phải đảm bảo được tính
Trang 13khoa học, tính tư tưởng, tính vừa sức, tính trực quan của nội dung bài học Đểđạt được điều đó, chúng ta phải xác định rõ ràng vai trò của người GV là hếtsức quan trọng, không thể thay thế.
2 CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT ĐỂ CỦNG CỐ KIẾN THỨC LỊCH SỬ CHO HS THPT
Microsoft PowerPoint (PowerPoint) là phần mềm mạnh về trình diễn mà
GV có thể sử dụng công cụ này để xây dựng bài giảng điện tử, các dạng bài tập
và nhiều nội dung hoạt động khác trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.Đây một chương trình ứng dụng để tạo các bài trình diễn (Presentation) bằngmột hoặc nhiều liên kết (slide), chứa nội dung chữ, bản đồ, hình ảnh…
PowerPoint có thể:
- Tạo nhanh các bài trình diễn
- Trợ giúp xây dựng các bài trình diễn theo ý tưởng từng bước
- Dễ dàng thay đổi kiểu thể hiện để đạt hiệu quả cao nhất
- Có số lượng mẫu tham khảo phong phú
- Giúp thiết kế các bài trình diễn chuyên nghiệp
Vì thế, cùng với việc ứng dụng một số phần mềm dạy học khác, phầnmềm PowerPoint được ứng dụng vào củng cố kiến thức lịch sử cho HS là phổbiến hơn cả
Chúng ta có thể sử dụng phần mềm PowerPoint vào củng cố kiến thứcbằng một số phương pháp cụ thể như: xây dựng niên biểu, biểu đồ, sơ đồ, câuhỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan, trò chơi ô chữ… Qua đó, không nhữngphát huy được tính chủ động sáng tạo của HS trong học tập mà còn góp phầnquan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
2.1 Sử dụng phần mềm PowerPoint để xây dựng niên biểu, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị
Chúng ta biết rằng, nhiệm vụ chính của việc ôn tập, củng cố kiến thứclịch sử cho HS là thực hiện tối đa khả năng tổng hợp, củng cố và khái quát hóakiến thức của HS Vì thế, khi tiến hành giảng dạy, các loại đồ dùng trực quanphát huy được sở trường của mình trong việc hệ thống hóa kiến thức để ôn tập,
củng cố kiến thức lịch sử cho HS “Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp HS nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng
ta thu nhận được bằng trực quan… Cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dụng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS… đồ dùng trực quan góp phần to lớn nâng cao chất lượng kì học lịch sử, gây hứng thú học tập cho HS.
Nó là chiếc “cầu nối” giữa qúa khứ với hiện tại” [4; tr.44] Với những nội
dung ôn tập, củng cố, tổng kết, các loại đồ dùng trực quan quy ước như biểu
đồ, đồ thị, niên biểu, sơ đồ… thường được sử dụng nhiều Nó không chỉ làphương tiện để cụ thể hóa lịch sử mà còn là cơ sở để hình thành khái niệm cho
Trang 14HS Không những thế, nó còn rèn luyện kĩ năng thực hành, hệ thống hóa kiếnthức và tăng khả năng vận dụng kiến thức cho HS.
Thực tế quá trình giảng dạy cho thấy rằng, các loại đồ dụng trực quanquy ước sẽ phát huy được hiệu quả nhất, sinh động và hấp dẫn HS nhất khiđược thiết kế trên phần mềm PowerPoint Trong dạy học lịch sử nói chung,củng cố kiến thức lịch sử nói riêng, PowerPoint có nhiều ưu điểm, thuận lợicho GV trong việc thiết kế niên biểu, bảng so sánh, băng thời gian, sơ đồ, đồthị… kết hợp với hệ thống câu hỏi gợi mở nhằm tiến hành ôn tập, củng cố kiếnthức lịch sử cho các em Kết quả trao đổi thảo luận, giải quyết vấn đề giữa GV
và HS sẽ được kiểm chứng, khắc sâu, đầy đủ hơn khi GV cho xuất hiện dầndần nội dung đã thiết kế sẵn để điền vào ô trống dưới dạng văn bản, kí hiệu kếthợp màu sắc với độ chính xác cao… Điều này không chỉ làm cho giờ học đượclôi cuốn, hấp dẫn mà các em cũng tích cực, chủ động hơn trong quá trình ônluyện, củng cố kiến thức
* Niên biểu giúp HS hệ thống hóa kiến thức theo thứ tự thời gian, ghi
nhớ, so sánh các sự kiện để rút ra những dấu hiệu bản chất, sự khác biệt giữachúng Niên biểu không chỉ cung cấp kiến thức, ghi nhớ sự kiện, thời gian…trong quá trình tri giác tài liệu mới, mà trong quá trình củng cố việc lập niênbiểu có tác dụng giúp HS củng cố vững chắc kiến thức lại không nhàm chán,tạo hứng thú và đảm bảo tính trực quan, làm cho HS dễ nhớ kiến thức, pháthuy tính tích cực, chủ động trong việc tìm kiếm kiến thức để hoàn thành cácbảng, biểu mà GV yêu cầu Tùy theo nội dung lịch sử và đối tượng HS mà GV
có thể yêu cầu HS lập niên biểu thống kê, niên biểu tổng hợp, niên biểu chuyên
đề hay niên biểu so sánh
“Niên biểu tổng hợp là bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong một
thời gian dài Loại niên biểu này giúp HS không những ghi nhớ những sự kiệnchính, mà còn nắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sự
kiện quan trọng” [4; tr.48] Ví dụ, khi dạy bài 18 “Ôn tập lịch sử thế giới hiện đại (phần từ năm 1917 đến năm 1945)” lớp 11 THPT, GV yêu cầu HS lập niên
biểu những sự kiện chính của lịch sử thế giới hiện đại (phần từ năm 1917 đếnnăm 1945) theo mẫu sau đây:
Trang 15
Để HS làm tốt bài tập này, GV trình chiếu cho HS xem mẫu rồi yêu cầucác em về nhà hoàn thiện Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng
cố, hệ thống hóa kiến thức của HS khi học bài ôn tập, tổng kết môn lịch sử
“Niên biểu chuyên đề đi sâu đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan
trọng nổi bật nào đấy của một thời kì nhất định, nhờ đó mà HS hiểu được bảnchất sự kiện một cách toàn diện đầy đủ” [10; tr.48] Ví như, niên biểu “Cácgiai đoạn chính của nước Nhật trong những năm 1918 – 1939” giúp HS thấy rõtình hình Nhật Bản những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhữngnét nổi bật về kinh tế, chính trị của Nhật Bản giai đoạn 1924 – 1933 cũng nhưquá trình quân phiệt hóa bộ máy nhà nước ở Nhật Bản
Trang 16
Qua đó, HS được củng cố vững chắc kiến thức về Nhật Bản giữa haicuộc chiến tranh thế giới; hiểu được Nhật Bản là nước duy nhất ở châu Á đượcxếp vào hàng ngũ các cường quốc tư bản Trải qua những năm ổn định ngắnngủi sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật Bản lâm vào cuộc khủng hoảngkinh tế (1929 – 1933) Để tìm lối thoát ra khỏi khủng hoảng, giới cầm quyềnNhật Bản tiến hành quân phiệt hóa bộ máy nhà nước, biến Nhật Bản thành lòlửa chiến tranh ở châu Á và trên thế giới.
Niên biểu chuyên đề chỉ ghi những sự kiện cơ bản, nêu được nội dung chủyếu của mỗi giai đoạn, khôi phục đúng bức tranh lịch sử quá khứ Để thực hiệnbài tập này một cách hiệu quả nhất, GV nên thiết kế trên PowerPoint Ban đầu,
GV thiết kế niên biểu trống để gọi HS trả lời, sau đó GV nhận xét, chốt ý và choxuất hiện dần nội dung đã xây dựng sẵn Cách làm này không những giúp HShứng thú hơn, tích cực học tập hơn mà còn giúp tăng hiệu quả giờ học
“Niên biểu so sánh dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng
một lúc trong lịch sử, nhằm làm nổi bật bản chất đặc trưng của các sự kiện ấy,hoặc để rút ra một kết luận khái quát có tính chất nguyên lí” [4; tr.49] Ví dụ,
sau khi tìm hiểu xong nội dung III Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Lào và Cam-pu-chia trong bài 16: “Các nước Đông Nam Á giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)”, để củng cố kiến thức cho HS, GV có
thể đưa ra niên biểu so sánh phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp, cứunước ở Lào, Cam-pu-chia như sau:
Trang 17của phong trào độc lập dân tộc ở hai nước này Qua đó, các em sẽ nhận thức rõquy luật phát triển của lịch sử “có áp bức, có đấu tranh”, hiểu được tính tất yếutrong cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Dương.
Rõ ràng, việc ứng dụng phần mềm PowerPoint vào thiết kế, trình chiếucác dạng niên biểu để ứng dụng vào ôn tập, củng cố kiến thức lịch sử cho HS sovới các phương pháp truyền thống là hiệu quả hơn, tốt hơn, lôi cuốn được HS.Tuy nhiên, việc xây dựng, thiết kế phải hấp dẫn, có ý tưởng, không nên để lộ nộidung sớm cho HS Các nội dung đáp án chỉ được xuất hiện khi các em trả lờisong, có như thế các niên biểu mới phát huy được hết tác dụng trong việc ôn tập,củng cố, hệ thống hóa kiến thức và gây hứng thú học tập đối với HS
* Sơ đồ: Cùng với việc thiết kế và sử dụng niên biểu, với phần mềm
PowerPoint, GV có thể sử dụng các biểu đồ, sơ đồ (Graph) “nhằm mô hình hóa kiến thức cơ bản bằng những vòng tròn hoặc hình vuông, hình chữ nhật
và những đường định hướng như mũi tên thẳng, cong hoặc gấp khúc để thể hiện mối quan hệ lôgic giữa các đỉnh (kiến thức cơ bản)” [8; tr.228] Việc sử
dụng sơ đồ hóa kiến thức giúp cho HS có được hình ảnh tượng trưng, quy ước
về một tổ chức cơ cấu xã hội, một chế độ chính trị, một hiệu quả kinh tế, xãhội hay mối liên hệ giữa các sự kiện với các câu hỏi, bài tập Không những thế,
nó còn giúp tiết kiệm được thời gian ôn tập trên lớp, có thể tiến hành dướinhiều phương pháp khác nhau và ở nhiều khâu trong cấu trúc của bài học Với
HS, sơ đồ hóa kiến thức có tác dụng kích thích tính tích cực, sáng tạo trong tưduy của HS, đồng thời rèn luyện, phát triển các kĩ năng, kĩ xảo của các em Cóthể chia ra nhiều loại sơ đồ khác nhau theo những tiêu chí nhất định Dựa vàocấu trúc sơ đồ để thiết kế: đường trục thời gian (Timelines), chuỗi sự kiện(Chain of Events), sơ đồ mạng (Spider Maps) hay sơ đồ khái niệm (ConceptMaps) và sơ đồ cây (Tree Graphs) nhằm hướng dẫn HS tái hiện, tổng kết vàkhái quát hóa kiến thức đã học
So với các phương pháp truyền thống, việc ứng dụng phần mềmPowerPoint rất có ưu thế để thiết kế các loại sơ đồ, biểu đồ vừa có tính thẩm
mĩ, cuốn hút vừa linh hoạt khi sử dụng (đáp án không cần phải theo một tuần
tự nhất định mà xuất hiện từng phần theo ý tưởng của GV) Ví dụ, khi dạy
xong bài 10 “Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội (1921 – 1941)”, GV có thể
lập sơ đồ thể hiện phân kì các giai đoạn chủ yếu của Liên Xô từ 1921 đến
1941, đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta lại chọn mốc phân kì đó?
Trang 18* Biểu đồ: Trong dạy học lịch sử, biểu đồ hình tròn, biểu đồ hình chữ
nhật thường được sử dụng phổ biến hơn Ví dụ, khi dạy bài 10 “Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội (1921 – 1941), ở mục II Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, GV có thể sử dụng “Biểu đồ sản lượng một số sản
phẩm công nghiệp của Liên Xô” như sau:
Qua biểu đồ, HS dễ dàng nhận thấy sau khi hoàn thành công cuộc khôiphục kinh tế, nhân dân Liên Xô bước vào công cuộc xây dựng CNXH vớinhiệm vụ trọng tâm là công nghiệp hóa XHCN Trong thời gian ngắn, Liên Xô
đã trở thành cường quốc công nghiệp XHCN với sự tăng trưởng mạnh của cácngành công nghiệp trọng điểm nhờ vào chính sách của nhà nước với việc thựchiện các kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội
Trang 19* Đồ thị: Ngoài các niên biểu, sơ đồ, biểu đồ, trong quá trình ôn tập,
củng cố kiến thức, chúng ta còn có thể sử dụng các đồ thị Đồ thị dùng để miêu
tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện lịch sử trên cơ sở sử dụng
số liệu, tài liệu thống kê trong bài học Qua đồ thị, HS không những thấy đượccác giai đoạn phát triển của từng sự kiện, từng thời kì lịch sử mà còn thấy đặcđiểm phát triển của từng sự kiện, hiện tượng, thời kì lịch sử Đồ thị có thể biểudiễn bằng một mũi tên để minh họa sự vận động đi lên, sự phát triển của mộthiện tượng lịch sử, hoặc được biểu diễn trên các trục hoành (ghi thời gian) vàtrục tung (ghi sự kiện)
Qua phần trên, chúng ta thấy rằng, trong dạy học lịch sử, các loại niênbiểu, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị cần được sử dụng linh hoạt trong các bài học Căn
cứ vào mục tiêu, kiến thức cơ bản cần củng cố, GV lựa chọn loại bảng biểu, sơđồ… phù hợp mục đích sử dụng Mặt khác, cách thức sử dụng bảng biểu, sơ
đồ, biểu đồ, đồ thị cũng cần phải phù hợp với trình độ HS Đối với những HSkhá, giỏi, GV có thể yêu cầu các em tự lập bảng biểu, sơ đồ… ôn tập kiến thức
cơ bản của bài học Đối với những HS trung bình hoặc chậm hiểu, GV nênchuẩn bị sẵn các mẫu bảng và sơ đồ trống rồi hướng dẫn các em điền thông tinvào bảng, sơ đồ, sau đó GV nhận xét, chốt ý cho HS ghi nhớ kiến thức
Tóm lại, trong dạy học lịch sử nói chung, dạy phần ôn tập, củng cố kiếnthức nói riêng, việc ứng dụng phần mềm PowerPoint để tạo ra và sử dụng đồdùng trực quan quy ước như các niên biểu, sơ đồ, biểu đồ… để hệ thống hóakiến thức cho HS là rất cần thiết Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan quyước trong củng cố kiến thức không giống với việc sử dụng trong bài cung cấpkiến thức mới Ở đây, đồ dùng trực quan được sử dụng vừa phải có tác dụng
hỗ trợ, gợi nhớ và giúp HS hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức tốt hơn, vừaphải giúp HS phát huy cao nhất tính tích cực học tập của mình, tránh chỉ dùng
để minh họa qua loa mà không giúp các em hiểu rõ hơn các nội dung, sự kiệnlịch sử Đồng thời, trong quá trình sử dụng các niên biểu, sơ đồ, biểu đồ, đồthị… được thiết kế bởi PowerPoint để ôn tập, củng cố kiến thức cho HS, GVphải khéo léo kết hợp chặt chẽ việc sử dụng lời nói, tài liệu viết nhằm đạt kếtquả dạy học cao nhất Đặc biệt, trong điều kiện CNTT ngày càng được sử dụngphổ biến, GV và HS có thể tự thiết kế, xây dựng các loại bảng biểu có tínhtương tác cao, sử dụng linh hoạt, phù hợp với nhiều đối tượng HS và các tìnhhuống dạy học cụ thể
2.2 Sử dụng phần mềm PowerPoint để xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhằm củng cố kiến thức cho HS
Hiện nay, bên cạnh phương pháp kiểm tra truyền thống, nhiều phươngpháp hiện đại đã được vận dụng, trong đó có phương pháp trắc nghiệm khách
quan “Trắc nghiệm khách quan là hệ thống câu hỏi, bài tập đòi hỏi các câu trả lời ngắn để đo kĩ năng, kĩ xảo, trí tuệ, năng lực của cá nhân hay một nhóm
HS Bài kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm được coi là khách quan, vì hệ thống cho điểm là khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người
Trang 20chấm như trong việc đặt và đánh giá câu hỏi dưới dạng tự luận” [4; tr.176].
Do đó, trắc nghiệm khách quan rất phù hợp với GV trong việc hướng dẫn ôntập để củng cố kiến thức cho HS, vừa giúp HS nhớ lại, khắc sâu kiến thức, pháthuy tính tích cực, chủ động học tập của HS vừa tạo được sự hứng thú cho các
em khi ôn tập, nhất là khi nó được kết hợp với trình chiếu của GV
Có nhiều hình thức đặt câu hỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan như: yêucầu xác định đúng sai, yêu cầu HS phải lựa chọn câu trả lời đúng, xác lập mốiquan hệ giữa các yếu tố được nêu (nhân vật với sự kiện lịch sử, sự kiện lịch sửvới niên đại, sự kiện lịch sử với không gian), điền khuyết… Tùy theo từng nộidung, sự kiện lịch sử mà GV có thể lựa chọn hình thức đặt câu hỏi trắc nghiệmkhách quan cho phù hợp
Các câu hỏi, bài tập yêu cầu xác định đúng sai Loại này, đòi hỏi HS
phải xác định “đúng” hay “sai” trước các sự kiện, niên đại, các định nghĩa,khái niệm, các nội dung phán đoán được nêu ra Ví dụ, sau khi dạy xong bài 11
“Tình hình các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)”,
GV đưa ra bài tập để củng cố kiến thức cho HS:
…
Để thực hiện bài tập này hiệu quả nhất, GV trình chiếu câu hỏi và nộidung, sau đó gọi một số em HS trả lời Cuối cùng, GV sử dụng hiệu ứng trongPowerPoint cho xuất hiện các đáp án để HS so sánh, đối chiếu kết quả Câu hỏiloại này không chỉ kiểm tra được việc ghi nhớ sự kiện, tái tạo được quá khứ
mà ở một mức độ nhất định GV có thể đánh giá được năng lực vận dụng kiếnthức đã học và các kĩ năng, kĩ xảo của các em
Câu hỏi, bài tập đòi hỏi HS phải lựa chọn câu trả lời đúng Đó là việc
đặt một câu hỏi, kèm theo nhiều câu trả lời, HS phải chọn một ý đúng hoặc
Trang 21một câu trả lời đúng Khi soạn câu hỏi, bài tập loại này, GV không được để lộ
rõ ý chính của câu trả lời, sao cho HS phải suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn ra đáp ánđúng nhằm kích thích tư duy của các em Nếu câu hỏi, bài tập ở dạng này đượcxây dựng tốt, các phương án trả lời đa dạng sẽ đem lại kết quả có độ tin cậycao để đánh giá nhận thức của HS
Ví dụ, khi nghiên cứu xong bài 13 “Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)”, GV đưa ra bài tập:
…
Với sự hỗ trợ của PMDH PowerPoint, dạng bài tập trắc nghiệm này cótác dụng tiết kiệm thời gian viết bảng, sử dụng được nhiều lượt khác nhau,đồng thời làm tăng tính tích cực học tập, gây hứng thú cho các em Sau khi HSlựa chọn phương án trả lời, GV sẽ dùng hiệu ứng cho xuất hiện phương án trảlời, do đó tính trực quan sẽ cao hơn cách đọc câu hỏi cho HS chép hoặc viếtlên bảng đen
Câu hỏi, bài tập đòi hỏi HS phải biết xác lập mối quan hệ giữa các yếu
tố được nêu Với dạng câu hỏi, bài tập này, HS phải dựa trên cơ sở những kiến
thức đã được lĩnh hội, những kĩ năng, kĩ xảo của mình để xác lập mối quan hệgiữa các yếu tố sao cho phù hợp giữa sự kiện với thời gian, không gian và nhânvật lịch sử cụ thể, mối quan hệ giữa sự kiện lịch sử với nhân vật lịch sử Dạngbài tập này rất thích hợp với việc ôn tập, củng cố kiến thức bởi vì GV có thểkiểm tra được việc nắm bắt kiến thức lịch sử của HS trong thời gian ngắn,đồng thời các em cũng phát huy được tính tích cực học tập của mình với bàitập loại này
Trang 22Ví dụ, khi dạy bài 16 “Ôn tập lịch sử thế giới hiện đại (Phần từ năm
1917 đến năm 1945)”, GV có thể đưa ra bài tập: Bằng cách đánh số thứ tự, hãy
sắp xếp các sự kiện lịch sử thế giới giai đoạn 1917 – 1945 sau đây theo thứ tựthời gian:
Dạng câu hỏi, bài tập này sẽ dễ dàng gây húng thú học tập cho HS nếu
GV thiết kế trên PowerPoint, bởi sau khi các em trả lời, kết quả thu được vẫn
là một bảng lộn xộn các sự kiện Nếu không sử dụng phần mềm PowerPoint,
GV sẽ phải cho HS viết lại theo thứ tự từ một đến hết, làm như thế mất nhiềuthời gian, HS dễ nản, việc ôn tập sẽ không đạt hiệu quả cao Trái lại, nếu sửdụng phần mềm PowerPoint thì việc sắp xếp của HS trở nên đơn giản hơn, các
em sẽ rất hào hứng, tích cực học tập
Câu hỏi, bài tập điền khuyết: là dạng câu hỏi, bài tập yêu cầu HS điền
vào chỗ trống Loại câu hỏi, bài tập này đòi hỏi HS không chỉ nhớ mà còn hiểu
để lí giải một cách lôgic nội dung vấn đề đặt ra Phần điền vào chỗ trống phảingắn gọn, tương ứng với phần nêu ra, song phải đủ ý, rõ ràng Dạng bài tậpnày nếu được ứng dụng phần mềm PowerPoint để trình chiếu sẽ cho hiệu quảcao hơn với cách kiểm tra thông thường mà GV hay sử dụng Ví dụ, khi củng
cố kiến thức cho HS về Các nước tư bản chủ nghĩa giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), GV có thể đưa ra bài tập:
Trang 23
Câu hỏi, bài tập phân loại cũng là một loại câu hỏi bài tập, đòi hỏi HS
phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ vấn đề nêu ra, phù hợp với trình độ các em.Trong quá trình hướng dẫn HS củng cố kiến thức, GV cũng có thể đưa ra dạngcâu hỏi bài, tập này nhằm kích thích tính tích cực học tập của HS, yêu cầu HSphải biết phân biệt được các sự kiện lịch sử cùng loại
Loại câu hỏi, bài tập đòi hỏi HS phải làm việc với đồ dùng trực quan,
nhằm rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn, đồng thời phát huy được tính tíchcực, hứng thú học tập của HS Nếu kết hợp loại câu hỏi, bài tập này với trìnhchiếu PowerPoint sẽ cho hiệu quả cao hơn với cách sử dụng thông thường Ví
dụ, khi dạy xong bài 15 Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), để kiểm tra kiến thức của HS, GV đưa ra bức ảnh của Hít-le và yêu cầu
các em:
Trang 24
Qua bài tập này, HS không chỉ nhận thức đúng về các sự kiện lịch sử màcòn nhận diện được nhân vật lịch sử bằng hình ảnh minh họa mà GV đưa ra,tránh được hiện tượng nhầm lẫn khi nhận diện nhân vật lịch sử mà HS vẫn haymắc phải
Hoặc cũng với dạng bài tập này, trên phần mềm PowerPoint, GV có thểchiếu các bản đồ lịch sử, sau đó yêu cầu HS trả lời các câu hỏi trắc nghiệmkhách quan hoặc miêu tả diễn biến chiến dịch trên bản đồ…
Trên đây là một số loại bài tập, câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùngtrong củng cố, ôn tập kiến thức lịch sử nhằm phát huy tính tích cực học tập của
HS Loại câu hỏi, bài tập trắc nghiệm khách quan có nhiều ưu điểm như trongmột thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều nội dung, kết quả đánh giákhách quan, chính xác, GV tốn ít thời gian cho việc chấm bài, gây được hứngthú và phát huy tính tích cực của HS trong học tập, nhất là khi sử dụng vớiphần mềm PowerPoint Mặc dù vậy, nó cũng không tránh khỏi những hạn chếnhư chỉ đo được kết quả chứ không đo được quá trình dẫn đến kết quả, khóđánh giá được một cách chuẩn xác các lĩnh vực cảm xúc, khả năng sáng tạocủa HS Bài kiểm tra không thể hiện được bản sắc, khả năng riêng của HStrong việc nhận thức, trình bày, diễn đạt và giải quyết vấn đề Mặt khác, cũng
có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra như quay cóp, đoán mò, rủimay… Vì vậy, khi tiến hành củng cố, ôn tập kiến thức cho HS, người thầy nênkết hợp nhiều loại bài tập khác nhau để phát huy được tính tích cực, chủ động,sáng tạo của HS, giúp các em ôn tập, củng cố kiến thức đạt hiêu quả cao nhất
Như vậy, khi củng cố, ôn tập kiến thức lịch sử cho HS, việc xây dựng hệthống câu hỏi, bài tập lịch sử là một trong những biện pháp quan trọng để hệthống hóa, khái quát hóa kiến thức cho HS, tránh lối học tủ, học vẹt, khôngnắm vững trọng tâm của kiến thức lịch sử Tuy nhiên, việc sử dụng hệ thốngcâu hỏi để đạt hiệu quả cao là cả một nghệ thuật của người GV Trước đây, khi
ôn tập, củng cố kiến thức cho HS, GV thường sử dụng phương pháp truyền
Trang 25thống, vừa mất thời gian, số lượng câu hỏi và bài tập đưa ra không nhiều, lại ítgây được hứng thú học tập cho HS… Hiện nay, với việc ứng dụng mạnh mẽphần mềm PowerPoint vào dạy học lịch sử, với ưu thế vượt trội của mình vớiviệc xử lí khối lượng thông tin lớn trong thời gian ngắn, nó cho phép GV dễdàng xây dựng được một hệ thống câu hỏi, bài tập đa dạng, phong phú, sinhđộng, hấp dẫn và gây được hứng thú học tập cho HS Vì vậy, khi ôn tập, củng
cố kiến thức lịch sử cho HS thì việc xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập là cầnthiết; song nếu hệ thống câu hỏi, bài tập đó được hỗ trợ thông qua trình chiếuPowerPoint thì sẽ nâng hiệu quả giờ học lên rất nhiều, HS không những yêuthích giờ học, tích cực ôn tập mà kiến thức lịch sử cũng đọng lại, in sâu trongcác em hơn, bền chặt hơn
2.3 Sử dụng phần mềm PowerPoint để xây dựng cấu trúc bài học tạo điều kiện cho việc củng cố, ôn tập kiến thức Lịch sử cho học sinh
Thực tiễn dạy học ở trường phổ thông đã chứng minh, việc GV xâydựng được cấu trúc bài giảng rõ ràng, mạch lạc sẽ giúp cho HS dễ dàng hơntrong việc lĩnh hội và ghi nhớ kiến thức Ngày nay, với sự hỗ trợ của phầnmềm PowerPoint, việc trình diễn trực quan cấu trúc bài học giúp HS có tư duymạch lạc về lịch sử, dễ nhớ bài học bằng cách hình dung, tưởng tượng lại, nhớlại hình ảnh cấu trúc bài học được trình chiếu
Cấu trúc bài giảng để củng cố kiến thức lịch sử cho HS trên màn hìnhPowerPoint thường được xây dựng như sau:
Việc xây dựng cấu trúc bài học như vậy, để được đưa vào bài giảng hiệuquả là nhờ vào khả năng liên kết (Hyperlink) giữa các slide của PowerPoint
Trang 26Thông thường, từ slide chủ GV sẽ tạo liên kết tới từng slide của nhánh một Tiếp
đó, từ nhánh một trở đi, GV sẽ tạo liên kết hai chiều giữa các slide nhánh vớislide gốc, và từ slide cuối cùng của mỗi vấn đề sẽ được liên kết về slide chủ
Đối với mỗi bài học lịch sử cụ thể, dạng cấu trúc bài học như trênthường được trình bày như sau: trên slide chủ ghi những vấn đề cơ bản của bài,chương, khóa trình, khi kích chuột vào dấu hiệu (biểu tượng) liên kết sẽ xuấthiện một slide của nhánh một theo ý tưởng của GV Tiếp đó, từ slide nhánhmột sẽ liên kết đến mỗi slide nhánh hai (nhánh nhỏ của nhánh một) Mỗi slidenhánh hai thường có hai phần: phần sự kiện cơ bản của vấn đề và phần bài tập.Tương tự, từ slide bài tập nhánh hai sẽ được liên kết đến mỗi slide nhánh ba(nhánh nhỏ của nhánh hai) Slide nhánh ba thường chứa các bài tập để luyệntập, củng cố, kiểm tra kiến thức cho HS Sau khi hoàn thiện các bài tập ôn tập,củng cố, màn hình PowerPoint sẽ trở về slide chủ
Với cách làm như vậy, GV dễ dàng thực hiện được các ý tưởng sư phạmđặt ra trong giờ học, hơn nữa vẫn có thể linh động trong việc khống chế thờigian trên lớp cho phù hợp với từng đối tượng HS Còn HS thì vừa dễ dàng hìnhdung được cấu trúc khái quát những vấn đề cơ bản của chương, bài ôn tập theotừng vấn đề, nắm chắc sự kiện, hiện tượng lịch sử, vừa có cái nhìn khái quát,tổng hợp, rút ra được bản chất, quy luật lịch sử Những tác dụng đó đã khẳngđịnh, sử dụng phần mềm PowerPoint để xây dựng cấu trúc bài học sẽ giúp choviệc củng cố, ôn tập kiến thức đạt hiệu quả cao theo như mong muốn của GV
mà các biện pháp thông thường không thể làm được
Ví dụ, khi dạy bài 10 Liên Xô xây dựng CNXH (1921 -1941), chúng tôi
xây dựng cấu trúc bài giảng như sau: trên slide chủ cho hiển thị tên bài học vàcác vấn đề cơ bản cần ghi nhớ, vấn đề nào là trọng tâm của bài học Qua đó,
HS dễ dàng trực quan để nhận biết, định hình được các vấn đề cơ bản cần tìmhiểu khi học bài này Trong tiến trình dạy học, khi GV kích chuột vào vấn đềcần tìm hiểu sẽ hiện ra slide chứa các sự kiện cơ bản, tư liệu tham khảo cầnthiết, bài tập củng cố kiến thức về vấn đề đó Việc quay trở về slide chủ sau khitìm hiểu mỗi vấn đề làm cho HS được lặp lại việc trực quan cấu trúc bài học,giúp các em nhớ rõ, khắc sâu những kiến thức cơ bản, những vấn đề chính cầnghi nhớ trong bài học
Trang 27Chẳng hạn, khi kích chuột vào dòng chữ “Chính sách kinh tế mới” sẽhiện ra slide sau:
Với slide này, GV tổ chức cho HS tìm hiểu rồi trình bày các vấn đề liênquan đến Chính sách kinh tế mới (NEP) Sau khi nhận xét phần trả lời của HS,với việc sử dụng hiệu ứng Trigger trong hộp thoại Timing tại ứng dụngCustom Animation, các nội dung kiến thức liên quan sẽ lần lượt hiện ra hay ẩn
Trang 28đi, ăn khớp với lời giảng của GV Ví như, kích chuột vào “Hoàn cảnh lịch sử”
sẽ hiện ra slide sau:
Hoặc kích chuột vào “Bài tập” sẽ xuất hiện slide sau:
Với slide này, GV phát phiếu học tập, tổ chức cho HS hoạt động nhómnhằm giúp các em ôn tập, củng cố các kiến thức liên quan Bằng việc sử dụnghiệu ứng Entrance trong Add Effect tại ứng dụng Custom Animation, các đáp
án sẽ lần lượt xuất hiện trong từng ô trống sau khi HS trả lời để các em có thể
so sánh với câu trả lời của mình, hoàn thiện và ghi nhớ kiến thức Đây là một