Trong cơ chế thị trường, vai trò của lãi suất được thể hiệnkhá rõ nét, lãi suất có mối quan hệ mật thiết với lợi ích kinh tế của mọi thành viêntrong xã hội, là đòn bẩy, kích thích sự tăn
Trang 1MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ QUA KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2010 VÀ CƠ CHẾ TRẦN
LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên Lê Kim Hồng - HTTTA K12 Sinh viên Trần Minh Thu – NHA K11 Câu lạc bộ Sinh viên Nghiên cứu khoa học – Học viện Ngân hàng
GVHD: TS Bùi Duy Phú
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu………5
1.1 Tính cấp thiết của đề tài……….5
1.2 Phương pháp nghiên cứu………6
Chương 2: Lý luận cơ bản về lạm phát và các biến số vĩ mô……… 8
2.1 Lý luận chung về lạm phát……… 8
2.1.1 Khái niệm……….8
2.1.2 Các loại hình lạm phát……… 8
2.1.3 Tác động của lạm phát đến NKT……… 9
2.2 Tổng quan nền kinh tế và thực trạng lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2010………10
2.2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2010………10
2.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế……….10
2.2.1.2 Ngân sách nhà nước……….11
2.2.1.3 Thương mại quốc tế và tỷ giá ……… 12
2.2.2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam………13
2.2.2.1 Diễn biến lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2010………….………13
2.2.2.2 Nguyên nhân……….14
2.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến số vĩ mô……… 17
2.3.1 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng………17
2.3.2 Mối quan hệ giữa lạm phát và cung tiền………19
2.3.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất……… 22
2.3.4 Mối quan hệ giữa lạm phát, cán cân thương mại và tỷ giá……… 25
2.3.5 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng tín dụng trong nước………….27
Trang 32.3.6 Mối quan hệ giữa lạm phát và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)…………29
2.3.7 Mối quan hệ giữa lạm phát và giá vàng………30
2.3.8 Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến định tính……….31
Chương 3: Một số mô hình hồi quy giữa lạm phát và các biến số vĩ mô……… 33
3.1 Số liệu và biến giả……….33
3.1.1 Phân tích số liệu……… 33
3.1.2 Kiểm định tính dừng của các biến ………34
3.2 Mô hình chỉ định ban đầu……… 34
3.2.1 Các biến trong mô hình gốc……… 34
3.2.2 Mô hình hồi quy gốc……… 35
3.3 Kiểm tra và khắc phục các khuyết tật mô hình……… 38
3.3.1 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật phương sai sai số ngẫu nhiên…………38
3.3.2 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật tự tương quan mô hình………38
3.3.3 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật định dạng hàm và bỏ sót biến………….38
3.3.4 Kiểm tra và khắc phục về tính phân phối chuẩn của Ui 38
3.3.5 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật thừa biến trong mô hình………38
3.4 Mô hình tốt nhất và lý luận mô hình……… 38
3.4.1 Mô hình tốt nhất thu được……….38
3.4.2 Lý luận mô hình……….39
Chương 4: Cơ chế trần lãi suất ở Việt Nam……….59
4.1 Khái quát về cơ chế trần lãi suất ở Việt Nam hiện nay……… 59
4.1.1 Nguyên tắc và những ích lợi khi sử dụng trần lãi suất………59
4.1.2 Những bất cập khi khống chế trần lãi suất………60
4.2 Tác động của lãi suất cho vay đến lạm phát Việt Nam qua kết quả mô hình… 62
Trang 4Chương 5: Giải pháp và khuyến nghị……… ……63
5.1 Giải pháp………63
5.2 Khuyến nghị……… 64
Tài liệu tham khảo……… 65 Phần Phụ Lục……… 67
Trang 5CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lạm phát là một trong những vấn đề cốt yếu của kinh tế học vĩ mô và đã trở thànhmối quan tâm lớn của các nhà chính trị, các chuyên gia kinh tế và công chúng Trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, trong đó có ViệtNam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với sựnghiệp phát triển kinh tế Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh
tế, lạm phát xuất hiện với những hình thức, dáng vẻ khác nhau và có xu hướng ngàycàng tăng cao, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi kinh tế thế giới có nhiều biếnđộng
Lịch sử đã chứng minh rằng, trong quá trình phát triển kinh tế, các quốc gia đềuphải đối mặt với lạm phát, nhưng không phải lúc nào lạm phát cũng gây ra những tácđộng tiêu cực Trong nền kinh tế thị trường, nhiều quốc gia còn sử dụng lạm phát mộtcon số làm động lực để kích thích nền kinh tế phát triển
Xét trong nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển, diễnbiến của lạm phát tương đối phức tạp và có ảnh hưởng không nhỏ, nhất là cho đếnthời điểm hiện nay khi giá cả các mặt hàng thiết yếu trong và ngoài nước diễn ra rấtphức tạp, không chỉ giá hầu hết các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu như: xăng dầu, sắtthép, chất dẻo, phân bón… đều tăng mà cả giá vàng trong ngoài nước, tỷ giá hối đoáicũng đột ngột tăng cao
Bên cạnh yếu tố lạm phát thì vấn đề về lãi suất cũng là một phạm trù kinh tế rấtđược quan tâm và lưu ý Trong cơ chế thị trường, vai trò của lãi suất được thể hiệnkhá rõ nét, lãi suất có mối quan hệ mật thiết với lợi ích kinh tế của mọi thành viêntrong xã hội, là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, do đó, lãi suất trở thànhmột công cụ đắc lực để ngân hàng trung ương thực thi chính sách tiền tệ nhằm điềutiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, lạm phát và tăng trưởng kinh tế,… trongtừng thời kỳ nhất định Trong nền kinh tế Việt Nam, khi mà diễn biến của lạm phát
Trang 6ngày càng phức tạp và có xu hướng ngày càng tăng cao trong thời gian gần đây thì lãisuất trở thành một công cụ hữu hiệu được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sử dụng đểkiềm chế lạm phát Cụ thể, hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang áp dụng cơchế trần lãi suất đối với lãi suất huy động và lãi suất cho vay Tuy nhiên, việc áp dụng
cơ chế này hiện cũng đang là một đề tài “nóng” thu hút nhiều sự quan tâm của các nhàchính trị và các chuyên gia kinh tế
Tất cả những điều trên đã đưa ra yêu cầu nghiên cứu một cách sâu sắc yếu tố lạmphát, mối quan hệ giữa lạm phát với các phạm trù liên quan: tăng trưởng, cung tiền,lãi suất, tỷ giá, tăng trưởng tín dụng, FDI, giá vàng, tiết kiệm…cũng như cơ chế trầnlãi suất; từ đó đưa ra những khuyến nghị phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam
Để nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa lạm phát và các biến số vĩ mô ở ViệtNam trong thời gian gần đây (giai đoạn 2000 – 2010) và cơ chế trần lãi suất của Việt
Nam hiện nay, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến số vĩ mô qua kết quả phân tích tại Việt Nam giai đoạn 2000-2010
và cơ chế trần lãi suất của Việt Nam hiện nay” Từ kết quả phân tích mô hình hồi
quy , chúng ta có thể thấy được mối liên hệ mật thiết giữa lạm phát và các biến số vĩ
mô Từ đó, bài nghiên cứu cũng đề xuất những khuyến nghị thích hợp nhằm giúp nềnkinh tế Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian tới
1.2 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm nghiên cứu tác động của các biến số vĩ mô đến biến trọng tâm
là lạm phát trong nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2010
Số liệu thu thập để làm đề tài nghiên cứu chủ yếu từ các nguồn sau:
- Tòa nhà WORLD BANK, địa chỉ 63 Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, http://www.worldbank.org/
http://vneconomy.vn/
- Quỹ tiền tệ quốc tế,
http://www.imf.org/external/
Trang 7- Tổng cục thống kê,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=217,
- Số liệu do T.S Bùi Duy Phú cung cấp
Hiện nay, với sự đa dạng của các công cụ tìm kiếm, thì việc tìm kiếm số liệu làtương đối thuận lợi Tuy nhiên, việc lựa chọn bộ số liệu như thế nào cho phù hợp làtùy thuộc vào mục đích của mỗi người, số liệu nghiên cứu là số liệu khách quan từnền kinh tế
Về bản chất, bài nghiện cứu được thực hiện theo các bước sau:
- Vận dụng các lý thuyết kinh tế đã được học để đưa ra và giải thích các giả thiết
về chất, chẳng hạn như cung tiền tăng làm lạm phát tăng, dấu hiệu của lạm pháttăng chính là tăng lãi suất… Đồng thời vận dụng môn kinh tế lượng, với việc chạycác mô hình, sẽ giúp chúng ta ước lượng cụ thể bằng những con số thay vì lýthuyết mang tính quy luật này
- Để thực hiện nghiên cứu, số liệu được thu thập, lựa chọn, sau đó sẽ được xử lýtrên Excel 2003 và trình bày thuộc mảng thống kê kinh tế
- Kinh tế lượng thường sử dụng các phương trình toán học do các nhà kinh tế đềxuất và đặt các phương trình dưới dạng phù hợp để kiểm định bằng thực nghiệm,bắt đầu gắn các biến quan sát được với các biến kinh tế lý thuyết để thực hiện hồiquy mô hình kinh tế lượng trên phần mềm Eviews 6.0 Các kết luận cho từng môhình sẽ được nêu ra và chúng sẽ là các kết luận có ích
Trang 8CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT VÀ CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ 2.1 Lý luận chung về lạm phát
Tuy nhiên, có lẽ định nghĩa lạm phát mang tính tổng quát và đúng nhất là:
Lạm phát là sự tăng giá trung bình của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian
Giảm phát là sự giảm giá trung bình của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian
- Siêu lạm phát: là loại lạm phát khi mức giá trung bình tăng bốn con số hàng nămtrở lên (>1000%/năm) Tác động của lạm phát này làm khủng hoảng và suy thoái trầmtrọng toàn bộ nền kinh tế
Trang 92.1.2.2 Căn cứ vào tính chất của lạm phát
- Lạm phát thuần túy: Lạm phát xảy ra khi giá tất cả các hàng hóa dịch vụ tăng cùngmột tỷ lệ, giá cả tương đối giữa các hàng hóa là không thay đổi
- Lạm phát có thể dự tính: Lạm phát được các nhà hoạch định kinh tế dự đoán trước.Chỉ số lạm phát này thường được sử dụng để chỉ số hóa trong các hợp đồng kinh tế,tài chính
- Lạm phát không thể dự tính: Lạm phát xảy ra bất ngờ, tỷ lệ biến động ngoài dựtính của các nhà hoạch định kinh tế, tạo nên sự biến động bất thường về giá trị tiền tệ
và làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi hoạt độngkinh tế xã hội
2.1.2.3 Căn cứ vào sự biến động của lạm phát
- Lạm phát ngắn hạn: Biểu hiện mức biến động giá cả trong ngắn hạn, thường được
đo bằng chỉ số CPI tháng, quý, năm
- Lạm phát dài hạn: Xu hướng biến động giá cả trong dài hạn, thường được đo bằngchỉ số lạm phát cơ bản
+ Tăng chi phí quản lý tiền mặt (chi phí mòn giấy)
+ Tăng chi phí để cập nhật thông tin (chi phí thực đơn)
+ Làm giảm tác dụng của phương pháp chỉ số hóa tiền lương theo lạm phát
+ Phân phối lại một phần thu nhập của người đóng thuế
Trang 102.1.3.2 Tác động của lạm phát không thể dự tính
- Tạo sự bất ổn cho môi trường kinh tế - xã hội
+ Nguồn lực xã hội bị phân bổ thiếu hiệu quả
+ Lạm phát làm ngừng trệ sự tăng trưởng kinh tế
- Phân phối lại thu nhập quốc dân và của cải xã hội
- Làm tăng lãi suất, gây ảnh hưởng xấu đến tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế
- Ảnh hưởng xấu đến tình trạng cán cân thanh toán quốc tế
- Gia tăng thất nghiệp
2.2 Tổng quan nền kinh tế và thực trạng lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2010 2.2.1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010
2.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỉ XXI, Việt Nam đã chứng kiến một giai đoạn tăngtrưởng kinh tế có tốc độ chậm lại so với thập niên trước đó Vào cuối thập niên 1990,
đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại vì những dấu hiệu do dự trong tiến trìnhcải cách kinh tế xuất hiện từ năm 1996 và những ảnh hưởng lan truyền tiêu cực từcuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 Hậu quả của tình trạng này là nền kinh tếphải trải qua một giai đoạn suy giảm tốc độ tăng trưởng và đi liền với hiện tượng giảmphát trong những năm 1999 - 2000 (hình 1)
Hình 1: Tăng trưởng kinh tế và lạm phát giai đoạn 1995-2009
Trang 11(Nguồn: Số liệu thống kê IMF, www.asset.vn)
Trước tình hình đó, một kế hoạch kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua nới lỏngtín dụng và mở rộng đầu tư nhà nước bắt đầu được thực hiện từ năm 2000, chính kếhoạch này đã lấy lại đà tăng trưởng cho nền kinh tế, nhưng cùng với đó là mầm mốnggây ra lạm phát, đặc biệt lạm phát cao vào năm 2007
Cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11/2006 mở ra một thị trườnghội nhập sâu rộng, do đó mức độ giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, dẫnđến nguồn vốn (đầu tư trực tiếp và gián tiếp) tăng mạnh, nhu cầu ổn định đồng tiềnViệt Nam đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải trung hòa một lượng ngoại tệrất lớn, dẫn đến lạm phát 2008 bùng nổ Cộng với những tác động to lớn của cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới trong hai năm 2008 - 2009, nền kinh tế Việt Nam tronggiai đoạn này phải chịu thời kỳ tăng trưởng kinh tế thấp đi đôi với lạm phát cao
2.2.1.2 Ngân sách Nhà nước
Đặc điểm căn bản của Ngân sách Nhà nước Việt Nam là luôn thâm hụt ở mức cao.Tiêu biểu là năm 2009 với thâm hụt đặc biệt cao, vì đây là năm Chính phủ thực hiệngói kích thích kinh tế lớn để chống suy thoái kinh tế (hình 2)
Hình 2: Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2000-2009
Trang 12(Nguồn: tinkinhte.com, vnexpress)
2.2.1.3 Thương mại quốc tế và tỷ giá
Thương mại quốc tế là lĩnh vực đặc biệt phát triển của Việt Nam trong giai đoạnhiện nay Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu,Việt Nam phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức
Trong những năm gần đây, mặc dù dòng kiều hối cũng như dòng vốn chảy vàoViệt Nam bắt đầu có sự gia tăng ổn định và góp phần quan trọng trong việc cân đốicán cân vãng lai Tuy nhiên, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ranăm 2008 đã khiến dòng vốn chậm lại khiến cho tình trạng thâm hụt cán cân vãnglai trở lại và không có khuynh hướng thu hẹp Kết quả là, Việt Nam phải giảm mạnh
dự trữ ngoại hối để bù đắp cho lượng ngoại tệ bị thâm hụt (hình 3) Điều này dẫnđến tỷ giá thực tế USD/VND những năm gần đây giảm mạnh và thâm hụt thươngmại của Việt Nam ngày càng trầm trọng (hình 4,5)
Hình 3: Thâm hụt cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối, 2000-2009
Trang 13(Nguồn: tổng hợp từ IMF)
Hình 4: Tỷ giá thực tế và tỷ giá danh nghĩa USD/VND, 2000-2009
(năm 2000 làm gốc)
( Nguồn:tổng hợp từ IMF)
Trang 14Hình 5: Cán cân thương mại và tỷ lệ thâm hụt, 1999 - 2010
(Nguồn: GSO - NDHMONEY.VN)
2.2.2 Thực trạng lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2000–2010
2.2.2.1 Diễn biến lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2010
Diễn biến lạm phát Việt Nam giai đoạn này tương đối phức tạp Từ năm 2004, ViệtNam đã trải qua giai đoạn lạm phát cao hơn, dao động lớn hơn và kéo dài hơn so vớicác đối tác thương mại của mình Đến năm 2006, lạm phát giảm nhẹ, sau đó đã lạităng mạnh trong năm 2007 tới 12.63%, đặc biệt trong năm 2008 tăng lên khoảng 20%(hình 6,7)
Trang 15Hình 6: Tỷ lệ lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2010
6.52 11.75
Trang 16Sự tăng mạnh của lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2000-2010 có thể là do cácnguyên nhân: (i) sự tăng giá của hàng hóa quốc tế - đây là nguyên nhân lạm phát chiphí đẩy; (ii) chính sách tiền tệ nới lỏng và thiếu linh hoạt; (iii) chính sách quản lý tỷgiá có phần cứng nhắc; (iv) nguồn vốn gián tiếp đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Namcao đẩy giá chứng khoán và tài sản lên rất cao Nền kinh tế lúc đó phải hấp thụ mộtlượng ngoại tệ lớn và để ổn định tỷ giá, NHNN đã phải bơm một lượng tiền đồng lớnvào nền kinh tế khiến lạm phát trong những năm này rất cao.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc lạm phát tăng mạnh trong những năm gần đây chủyếu xuất phát từ 4 nguyên nhân chính: cung tiền tăng quá mức,điều hành lãi suất chưahợp lý, giá hàng hóa thế giới tăng cao đột ngột và sức cầu về hàng hóa trong nướctăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng kịp
Trong những năm vừa qua cung tiền (M2) và tăng trưởng tín dụng luôn ở mức cao,
dữ liệu của ADB cho thấy cung tiền M2 tăng trung bình 31.2% trong 10 năm từ năm
2000 đến 2009 Con số này là 27% cho năm 2010, năm được coi là chính sách tiền tệthiên về thắt chặt Ngoài ra, năm 2006 và 2007 đánh dấu năm phát triển mạnh mẽ của
hệ thống ngân hàng, tăng trưởng tín dụng năm 2006 đạt 50.18%, năm 2007 đạt 49.1%.Điều này tất yếu dẫn đến đồng tiền bị mất giá Thực tế chúng ta dễ nhận thấy là lạmphát ở Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong cùng thời kỳ, mặc
dù cùng chịu chung cú sốc tăng giá của hàng hóa thế giới (Hình 8)
Hình 8: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam và một số nước (2000 – 2009)
Trang 17(Nguồn: VEPR)
Tại sao Việt Nam cần một mức tăng trưởng cung tiền cao như vậy? Nguyên nhân là
do tỷ lệ đầu tư/GDP trong nền kinh tế Việt Nam khá cao nhưng lại không tạo ra đượcmột tốc độ tăng trưởng kinh tế tương ứng Hàng năm, đầu tư trong nền kinh tế đềuquanh mức 40% GDP Tỷ lệ đầu tư lớn này đòi hỏi một mức tăng trưởng tín dụng vàcung tiền cao để phục vụ nhu cầu đầu tư Trong khi đó, tăng trưởng GDP chỉ quanhmức 7%, thậm chí năm 2008, 2009 và 2010 chỉ lần lươt đạt mức 6.19%; 5.32% và6.78% Điều này cho thấy chất lượng tăng trưởng, đầu tư và phát triển ở Việt Namchưa tương xứng với đầu tư Đây là nguyên nhân sâu xa khiến cho lạm phát luôn ởtrong tình trạng chực chờ, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô
Ngoài nguyên nhân tiền tệ kể trên, chúng ta xem xét những nguyên nhân còn lạixuất phát từ phía cầu và phía cung hàng hóa (lạm phát chi phí đẩy (cost push) và cầukéo (Demand pull)) Đây là những nguyên nhân trực tiếp và dễ thấy nhất Trongnhững năm gần đây, sự bùng nổ của nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời giá cảcủa hàng loạt nguyên nhiên liệu như xăng dầu, sắt thép và lương thực đều tăng mạnh,kích hoạt cho một đợt tăng giá mạnh mẽ của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ trongnước đã góp phần làm lạm phát tăng tốc (Hình 9) Lạm phát cao nhất tính theo năm đãlên tới 28% vào tháng 8/2008 Cuối năm 2008, với sự lao dốc của hầu hết các hànghóa trên thế giới, lạm phát trong nước cũng được chặn đứng Lạm phát giảm xuốngmức thấp nhất chỉ còn 1.97% (YoY) vào tháng 8/2009 Sang năm 2010, chỉ số lạmphát là 11.75%
Hình 9: Chỉ số giá một số mặt hàng (2005 – 2009)
Trang 18(Nguồn: IMF)
2.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến số vĩ mô
2.3.1 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Về mặt lý thuyết, lạm phát có ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực đến tăng trưởngkinh tế Tỷ lệ lạm phát thấp sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng Hai trường pháiKeynes và trường phái tiền tệ cho rằng trong ngắn hạn, lạm phát và tăng trưởng cómối liên hệ cùng chiều, tốc độ tăng trưởng tăng sẽ làm gia tăng lạm phát, điều nàycũng trùng với kết quả nghiên cứu của Tobin được công bố 1965
Tuy nhiên, bên cạnh tác động tích cực, tỷ lệ lạm phát cao sẽ có ảnh hưởng tiêu cựcđến nền kinh tế Cụ thể, lạm phát ở mức cao sẽ dẫn đến sự bất ổn trong lĩnh vực kinh
tế và làm tăng rủi ro của các hoạt động đầu tư Lạm phát làm thay đổi giá cả tương đối
và được xem như một loại “thuế” đối với nền kinh tế, đặc biệt là đối với những ngườidân nghèo và người làm công ăn lương Những nghiên cứu của Fisher (1993), Barro(1996), Bruno and Easterly (1998) đã chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phátmang dấu âm ở nhiều nước khác nhau Gần đây nhất là mô hình của Khan anhSenhadji (2001), với số liệu cho 140 nước, trong giai đoạn 1960 - 1998 đã tìm thấyngưỡng của mức lạm phát ở các nước đang phát triển là 11-12%, mà theo đó mối liên
hệ giữa tăng trưởng và lạm phát mang dấu âm khi tỷ lệ lạm phát vượt qua ngưỡng này
và mang dấu dương trong trường hợp còn lại Tiếp đến là nghiên cứu của Li (2006),
Trang 19với số liệu cho 90 nước đang phát triển, giai đoạn 1961 - 2004, ngưỡng của lạm phát
là 14%
Nối tiếp các nghiên cứu trên, rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về ảnh hưởng qualại giữa tăng trưởng và lạm phát với các phương pháp nghiên cứu khác nhau đượccông bố Điển hình trong số đó là nghiên cứu của Mallik và Chowdhury (2001), đã sửdụng mô hình hội quy đồng liên kết (co integration regression) và mô hình sai số hiệuchỉnh (Ecm-eror correction model) để xem xét mối quan hệ cùng chiều giữa tăngtrưởng và lạm phát trong dài hạn Thêm vào đó Faria and Cameiro (2001) cũng sửdụng kiểm định nghiệm đơn vị và phương pháp phân tích phương sai dựa trên môhình VAR cho thấy, lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng (GDP) trong dài hạn,nhưng trong ngắn hạn sự ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng (GDP) lại mangdấu âm
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng của Việt Nam cũng phù hợp với lýthuyết và kết quả kiểm nghiệm trên thế giới Ở mức lạm phát thấp (thường là một consố) thì lạm phát không có tác động tiêu cực đến tăng trưởng Ở mức lạm phát thấp, giatăng lạm phát thường gắn liền với tăng trưởng cao hơn (giai đoạn 2000 – 2006) Tuynhiên, khi lạm phát đạt đến một ngưỡng cao nhất định thì lạm phát bắt đầu tác độngtiêu cực đến tăng trưởng (giai đoạn 2007 – 2010)
Hình 10: Tăng trưởng GDP và lạm phát của Việt Nam qua các năm (2000 – 2010)
Trang 20(Nguồn:tác giả tự tổng hợp)
2.3.2 Mối quan hệ giữa lạm phát và cung tiền
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và cung tiền, Milton Friedman, nhà kinh
tế học nhận giải thưởng Nobel kinh tế 1976, cho rằng: “Lạm phát luôn luôn và mọinơi là vấn đề thuộc về tiền tệ”, lạm phát chỉ là biểu hiện của sự tăng lên quá mức củacung tiền
Theo lý thuyết số lượng tiền tệ của Fisher thì giữa các tham số cung tiền và giá cảtrong nền kinh tế có mối quan hệ và được thể hiện qua công thức:
Thực chất cung tiền và lạm phát
Khi ngân hàng nhà nước tăng cung tiền, lãi suất giảm dẫn đến đầu tư tăng dẫn ADtăng, sản lượng tăng và giá tăng lên P2 gây lạm phát
Trang 21Từ năm 2000 trở lại đây, chỉ số lạm phát tại Việt Nam tăng dần qua các năm,nhưng lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức và bị che phủ bởi các thành tựu pháttriển kinh tế ấn tượng Tuy nhiên, lạm phát đã bùng nổ gây ảnh hưởng đời sống kinh
tế - xã hội trong năm 2007 với tỷ lệ lên tới 12,63% mặc dù tổng sản phẩm quốc nộiGDP đạt mức tăng tới 8,5% và đe dọa đến quá trình phát triển bền vững Có nhiềunguyên nhân được đưa ra như sự tăng lên của giá cả trên thế giới, đặc biệt giá dầu mỏ,thiên tai liên tục diễn ra trong nước Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân chủ yếuđược đa số các nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế thừa nhận là sự mở rộng cung tiềnquá mức tại Việt Nam, cung tiền M2 chính là một trong những nguyên nhân quantrọng khiến cho lạm phát Việt Nam trở nên ‘vượt trội’ so với các nước trong khu vực
Hình 11: Tỷ lệ lạm phát Việt Nam, tốc độ tăng cung tiền và tín dụng 1996 - 2009
(Nguồn: IFS và NHNN, 2010)
Trong giai đoạn 2001 - 2007, Việt Nam đã thực thi chính sách tiền tệ mở rộng đạtmức bình quân rất cao 26,7%/năm, trong khi GDP tăng tương ứng 7,5%/năm Chínhđiều này là yếu tố gây nên mức lạm phát cao chưa kể độ trễ và lũy tích của việc tăngcung tiền đối với nền kinh tế trong các năm kế tiếp Đặc biệt vào năm trước bùng nổ
Trang 22(2006), tốc độ mở rộng cung tiền đạt tới đỉnh điểm 33,6% và cùng với các yếu tố khác
đã góp phần làm tăng lạm phát trong năm kế tiếp Kết quả là, lạm phát dường nhưngoài tầm kiểm soát trong những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008 và gây nênnhững ảnh hưởng tới quá trình tăng trưởng bền vững của nền kinh tế
Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, trong việc điều hành cung tiền ở ViệtNam nhiều năm qua, các cơ quan chức năng luôn thể hiện sự chậm trễ, thiếu nhấtquán Ví như tại những tháng đầu năm 2008, khi lạm phát tăng liên tiếp và tăng mạnhthì các nhà hoạch định chính sách tiền tệ lại loay hoay giữa việc hút tiền về thông quabán trái phiếu và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, với việc bơm tiền ra trước đòi hỏi đáp ứngthanh khoản của các NHTM và mua vào ngoại tệ nhằm duy trì tỷ giá Những hànhđộng này một mặt khiến cho các doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế gặpkhó khăn trong công tác dự báo và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, mặt khác đẩy kỳvọng lạm phát lên cao
Lạm phát có nguyên nhân từ cung tiền, nhưng cung tiền lại chỉ là hệ quả của sựtương tác giữa tính có chủ đích từ phía Chính phủ và nhu cầu tự thân của nền kinh tế.Ngân hàng Nhà nước bằng chính sách tiền tệ tiến hành chủ động mở rộng hay thu hẹpcung tiền thông qua các công cụ: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cho vay chiết khấu,nghiệp vụ thị trường mở Ngược lại, nhu cầu số lượng tiền lưu thông lại chịu tácđộng khách quan của nền kinh tế bao gồm chi tiêu chính phủ trong chính sách tàikhóa, của doanh nghiệp với mở rộng hoạt động kinh doanh và cuối cùng là tác độngcủa dòng vốn nước ngoài
Hình 12: Lạm phát và cung tiền của Việt Nam giai đoạn 2000-2010
Trang 23(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
2.3.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất
Lãi suất là một biến số kinh tế nhạy cảm, sự tác động qua lại giữa lạm phát và lãisuất làm cho diễn biến của chúng ngày càng biểu hiện khó lường, gây khó khăn chocông tác kiểm soát vĩ mô nền kinh tế của Chính phủ
Để mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất, nhà kinh tế học người Mỹ IrvingFisher đã đưa ra hiệu ứng Fisher:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát
Như vậy, theo ông, khi tỷ lệ lạm phát tăng lên thì tỷ lệ lãi suất danh nghĩa cũngtăng lên cùng một tỷ lệ, trong khi lãi suất thực tế không thay đổi
Thống kê tình hình lạm phát và lãi suất từ năm 2000 đến năm 2010 nhận thấy có sựtương đồng giữa 2 chỉ tiêu này Tức là năm nào CPI tăng cao là lãi suất huy động vàlãi suất cho vay trên thị trường cũng tăng theo Đặc biệt kể từ năm 2007 tới nay, xuhướng 2 chỉ số này luôn theo sát nhau Việc lạm phát tăng cao khiến tiền đồng bị mấtgiá mạnh Người có tiền thường có xu hướng đầu tư vào các tài sản có tính sinh lờicao hơn và thường tăng theo lạm phát như đô la và vàng, do đó xu hướng lãi suất huyđộng phải đẩy lên cao để có có thể duy trì các khoản tiền gửi và cạnh trạnh tranh đượcvới các kênh đầu tư khác Mặt khác, đa phần các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động
Trang 24dựa trên nguồn vốn đi vay, cho nên khi chi phí vay vốn cao thì giá thành sản phẩmcao, dẫn đến đồng tiền mất giá và lạm phát cao.
Hình 13: Lạm phát và lãi suất huy động giai đoạn 2000 – 2010
(Nguồn: TCTK, NHNN)
Hình 14: Lạm phát và lãi suất cho vay của Việt Nam
05101520
25
Lãi suất chovay (%)Lạm phát(%)
(Nguồn: Tổng hợp từ IMF)
Lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các NHTM Việt Nam có dấu hiệu tăngmạnh trong những năm gần đây Đỉnh điểm của lãi suất là vào năm 2008 khi lãi suấthuy động của các NHTM VN có lúc lên tới 17 – 18%, mức tăng cao nhất kể từ năm
Trang 251993 (22.04%) và lãi suất cho vay lên tới 15,78% Lãi suất năm 2009 tuy có hạ xuống(lãi suất huy động còn 8.5%, lãi suất cho vay còn 10,07%), nhưng so với năm 2000(LS huy động 3.65%, LS cho vay 10,55%) thì lãi suất huy động của các ngân hàng đãtăng tới 133% trong giai đoạn 2000 – 2009 còn lãi suất cho vay tuy có giảm 4,55%nhưng vẫn ở mức cao So với các nước trong khu vực thì lãi suất của Việt Nam thuộchàng cao nhất Trong giai đoạn từ năm 2000 – 2009, lãi suất huy động của Việt nam
và Indonesia thay nhau duy trì ở vị trí đầu bảng Đặc biệt trong thời điểm từ năm 2007tới 2009 thì lãi suất huy động của Việt Nam biến động thất thường, từ 7.49%/nămtrong năm 2007 lên tới 12.73%/năm trong năm 2008 và chỉ tạm thời kéo về lại mốc8.50%/năm trong năm 2009
Hình 15: Lãi suất huy động của Việt Nam so với các nước (2000 – 2009)
(Nguồn: IMF, IFS)
So sánh lãi suất huy động và CPI của Việt Nam so với các nước trong khu vực giaiđoạn 2000 – 2010 cho thấy lãi suất huy động cao của Việt Nam do CPI của Việt Namtăng cao liên tục
Hình 16: Lãi suất huy động và CPI của Việt Nam so với các nước (2000-2010)
Trang 26(Nguồn: NHNN, IMF, WB, ABD)
2.3.4 Mối quan hệ giữa lạm phát, cán cân thương mại và tỷ giá
Trong điều kiện nền kinh tế mở, lạm phát, cán cân thương mại và tỷ giá có mốiquan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ
lệ lạm phát nước bạn hàng thì hàng xuất khẩu trong nước trở nên kém hấp dẫn vì giá
cả tăng lên, trong khi hàng xuất khẩu của nước ngoài lại trở nên rẻ hơn, thúc đẩy nhậpkhẩu, làm xấu đi tình trạng của cán cân thương mại (do đó làm xấu đi cán cân vãnglai), gây áp lực đối với tỷ giá (trong điều kiện tỷ giá linh hoạt) Tỷ lệ lạm phát caocùng với thâm hụt cán cân thương mại có thể tạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giácủa đồng nội tệ so với ngoại tệ tạo nên áp lực mạnh đối với tỷ giá Và nếu điều nàythực sự xảy ra, nó có thể đẩy mức lạm phát trong nước cao hơn Cụ thể như sau:
Tỷ giá biến động sẽ ảnh hưởng đến giá hàng nhập khẩu bán trên thị trường nội địa,
từ đó tác động đến mức giá cả trong nước Chẳng hạn, khi tỷ giá tăng, giá hàng nhậpkhẩu bán bằng nội tệ tăng (có thể do áp lực lạm phát của nước xuất khẩu, hoặc do giátrị nội tệ giảm so với ngoại tệ hoặc do ảnh hưởng của khủng hoảng, …) dẫn đến mứcgiá chung trong nước (mức lạm phát) tăng Nếu hàng nhập khẩu là hàng tiêu dùng, nótrực tiếp làm tăng chỉ số CPI Nếu đó là hàng tư liệu sản xuất, nó làm cho chi phí sảnxuất tăng, dẫn đến mức lạm phát cũng tăng, gây bất ổn cho nền kinh tế Nếu tỷ giágiảm, mức giá chung trong nước cũng sẽ giảm và khi tỷ giá ổn định, nó là một trongnhững yếu tố ổn định giá cả trong nước, ổn định nền kinh tế
Trang 27Sự tác động của tỷ giá đến lạm phát được thể hiện qua công thức
CPI = α.P + (1 – α).E.P*
Trong đó:
CPI : Chỉ số giá tiêu dùng
α : Tỷ trọng hàng hóa tiêu dùng nội địa(1-α) : Tỷ trọng hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu
P : Giá hàng nội địaP* : Giá hàng nhập khẩu
tỷ lệ lạm phát cũng tăng cao với biên độ dao động lớn (đặc biệt là năm 2008, lạm phátlên tới khoảng 20%) và điều này đã góp phần gây ra tình trạng nhập siêu lớn và kéodài của Việt Nam trong nhiều năm, từ đó gây thâm hụt cán cân thương mại, ảnhhưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế trong những năm tới
Hình 17: Diễn biến tỷ giá giai đoạn 2000-2010
Trang 28(Nguồn: Tổng hợp từ nguồn số liệu của IMF)
Hình 18: Cán cân thương mại, cán cân vãng lai, cán cân thanh toán giai đoạn 2000 –
2010
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
2.3.5 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng tín dụng trong nước
Cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy nếu tăng trưởng tín dụng hiệu quả thì tác độngcủa nó đến lạm phát là điều không đáng lo ngại và nó cũng được coi là tiêu chí quantrọng để phát triển kinh tế trong ngắn hạn Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra ở đây, nếu tốc
độ tăng trưởng tín dụng quá nóng cùng với chất lượng tín dụng hạn chế của hệ thống
Trang 29ngân hàng trong những năm gần đây là nguyên nhân quan trọng gây lạm phát do cầukéo.
Hình 19: Tăng trưởng tín dụng và lạm phát
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Trong các năm 2003-2005, dư nợ tín dụng tăng mạnh với tốc độ tăng 28,41% vàonăm 2003, năm 2004 tăng lên 41,65%, năm 2005 là 31,7% Điều đáng nới là một phầnlớn vốn vay được sử dụng để giải quyết nhu cầu tín dụng trung và dài hạn cho các dự
án lớn của Nhà nước với những hợp đồng tín dụng khổng lồ đã được các doanhnghiệp Nhà nước ký kết vào nửa cuối năm 2004 và đầu năm 2005 Hầu hết đó lànhững dự án thuộc lĩnh vực thay thế nhập khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng và nănglượng Khối lượng tiền bơm ra lưu thông qua kênh tín dụng ngân hàng thời kỳ nàynhiều, giải ngân cho các công trường đầu tư xây dựng cơ bản quá lớn
Từ năm 2006 đến nay, dư nợ tín dụng vẫn theo đà tăng trưởng với mức tăng kỷ lục46,4% vào năm 2007, cao nhất kể từ năm 1996 đến nay Song điều đáng lo ngại là cácngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần tăng dư nợ tín dụng quá cao và sử dụng
Trang 30tỷ lệ lớn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, cho vay kinh doanh chứng khoán và kinhdoanh bất động sản.
Như vậy, cùng với mức độ tăng trưởng tín dụng quá nóng là chất lượng tín dụnggiảm và tỷ lệ nợ xấu gia tăng Đây là một trong những lý do quan trọng gây lạm phátcao trong hiện tại và cả trong tương lai ở Việt Nam
2.3.6 Mối quan hệ giữa lạm phát và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu ảnh hưởng tương đối lớn của tình hình kinh tế vĩ
mô của nước tiếp nhận đầu tư Nếu kinh tế vĩ mô của một nước ổn định thì đây thực
sự trở thành một điểm đến lý tưởng của đầu tư nước ngoài Ngược lại, nếu kinh tế vĩ
mô của một nước có nhiều biến động không ổn định thì sẽ làm hạn chế việc thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước đó
Liên hệ với thực tế Việt Nam ta có thể thấy rõ đầu tư trực tiếp nước ngoài ngàycàng đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.Trong những giai đoạnkinh tế vĩ mô được ổn định thì Việt Nam thực sự trở thành một điểm đến lý tưởng củađầu tư nước ngoài Tuy nhiên, trong những năm vừa qua khi lạm phát gia tăng, kinh tế
vĩ mô có nhiều biểu hiện không ổn định, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chững lại, giátrị đầu tư thực tế và giá trị giải ngân thấp hơn nhiều so với giá trị đăng ký (đặc biệttrong năm 2008, do ảnh hưởng của khủng hoảng, tỷ trọng vốn thực hiện/ vốn đăng kýchiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ) Tuy nhiên, khối lượng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài vào Việt Nam vẫn tăng lên theo các năm (hình 20)
Hình 20: Đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2000-2010
Trang 31(Nguồn: Tổng cục thống kê)
2.3.7 Mối quan hệ giữa lạm phát và giá vàng
Trong lịch sử, vàng đã chứng tỏ là kênh đầu tư phòng ngừa rủi ro, bảo tồn giá trị tàisản khi lạm phát leo thang hoặc khủng hoảng kinh tế - địa chính trị
Theo nghiên cứu của chúng tôi thì giá vàng sẽ tăng khi lạm phát tăng, khủng hoảngbắt đầu leo thang và đạt tới đỉnh điểm khi lạm phát, khủng hoảng được các phươngtiện truyền thông đăng tải dồn dập, liên tục nhưng chưa có dấu hiệu kết thúc và giávàng sẽ quay đầu giảm mạnh khi lạm phát , khủng hoảng trở nên trầm trọng, cao trào
và lan tỏa khắp nơi Sau đó, lạm phát, khủng hoảng và tất nhiên là giá vàng sẽ cùngnhau giảm dần
Trong giai đoạn 2000-2010, lạm phát Việt Nam có hướng ngày càng tăng cao (đặcbiệt năm 2008 được coi là giai đoạn đỉnh điểm chu kỳ tăng của lạm phát) trở thànhngòi nổ cho sự gia tăng mãnh liệt của giá vàng Quan sát diễn biến của giá vàng giaiđoạn này ta có thể thấy giá vàng rồng trong nước có xu hướng ngày càng tăng cao
Hình 21: Giá vàng rồng trong nước giai đoạn 2000-2010
Trang 32(Nguồn: btmc.vn)
Hình 22: Giá vàng trên thế giới (2000-2009)
gold price (Millions of USD)
0 100 200 300
400
gold price (Millions of USD)
(Nguồn: Tồng hợp từ IMF)
2.3.8 Mối quan hệ giữa lạm phát và các biến định tính
Lạm phát không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với các biến số kinh
tế nêu trên mà lạm phát còn chịu tác động tương đối lớn của các biến định tính như:thiên tai, tâm lý của người tiêu dùng, khủng hoảng kinh tế thế giới, Tết nguyên đán…Các vấn đề về thiên tai như hạn hán, bão lụt kéo dài trên diện rộng… sẽ ảnh hưởngkhá lớn đến cung cầu hàng hóa, làm cho giá của nhóm hàng lương thực thực phẩm
Trang 33tăng nhanh Đây là nhóm hàng có quyền số cao nhất trong rổ hàng hóa tiêu dùng dịch
vụ nên sự tăng giá nhanh của nhóm hàng hóa này đã kéo chỉ số giá chung tăng cao.Yếu tố tâm lý của người dân cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự biến động củalạm phát Tâm lý của người dân rất nhạy cảm với lạm phát và thường có phản ứng quámức càng đẩy lạm phát lên cao Trong khi đó, các phản ứng của Chính phủ chống lạilạm phát thường chậm và thụ động, chính sách điều hành không nhất quán, khiếnngười dân càng mất niềm tin vào hiệu quả chính sách Điều này thể hiện qua nhữngcơn sốt của thị trường vàng, đôla hay bất động sản trong thời gian qua khiến chongười dân đổ xô đầu tư và găm giữ các loại tài sản khác thay thế tiền đồng
Khủng hoảng kinh tế thế giới (2007, 2008) nổ ra đã gây ra những tác động tiêu cựcđến nền kinh tế Việt Nam Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2008 giảm xuốngcòn 6,31%, năm 2009 còn 5,32% Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh về vốnđăng kí (Từ 71,7 tỷ USD năm 2008 còn 21,5 tỷ USD năm 2009) và vốn thực hiện (Từ11,5 tỷ USD xuống 10 tỷ USD) Lượng khách quốc tế giảm từ trên 4,2 triệu lượtngười xuống còn trên 3,7 triệu lượt người Lượng kiều hối giảm từ 7,2 tỷ USD xuốngcòn gần 6,3 tỷ USD, vốn đầu tư gián tiếp sụt giảm mạnh… Tốc độ tăng giá tiêu dùngcao trong năm 2007 (12,63%), bùng phát trong năm 2008 đã tăng tới 19,98% (tínhbình quân năm đã tăng tới 22,97%) Giá USD nếu năm 2007 giảm nhẹ thì năm 2008tăng 6,31% và năm 2009 đã tăng 10,7% Nhập siêu năm 2007 lên trên 14,2 tỷ USD,năm 2008 đã lên đến trên 18 tỷ USD và năm 2009 cũng gần 19,2 tỷ USD
Nguyên nhân hàng đầu có tính truyền thống, trực tiếp và dễ nhận thấy nhất trongviệc tạo áp lực gia tăng đột ngột chỉ số CPI chung của cả nước, nhất là ở các đô thị tậptrung dân cư và có quy mô thị trường tiêu thụ lớn như TP Hà Nội và TP HCM, chính
là sự gia tăng đột ngột vượt trội mọi thời điểm khác trong năm về nhu cầu và sức tiêuthụ các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng gắn với dịp Tết cổ truyền dân tộc.Trong thờigian này, nhu cầu và sức tiêu thụ của người dân tăng về các mặt hàng lương thực, thựcphẩm, hàng công nghiệp tiêu dùng thường có xu hướng tăng cao, tác động làm tăngđáng kể chỉ số lạm phát cả năm
Trang 34CHƯƠNG 3: MỘT SỐ MÔ HÌNH HỒI QUY GIỮA LẠM PHÁT VÀ CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ
3.1 Số liệu và biến giả
lớn lạm phát càng cao
4 FDI Nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài
+ Tỷ đồng Đầu tư tăng, tăng
trưởng cao, lạm phát tăng
phát tăng là tăng lãi suất
6 Pv Giá vàng trong nước + Tỷ đồng Thị trường hối
phiếu ảnh hưởng giá cả chung
7 E Tỷ giá hối đoái cuối
kỳ
+ Hằng số hoặc % Thị trường hối
phiếu
cân thương mại
cân thương mại
10 S Tiền gửi tiết kiệm _ Tỷ đồng Tiết kiệm tăng
lạm phát giảm
11 DC Tín dụng trong nước + Tỷ đồng Tín dụng tăng
làm lạm phát tăng theo
Các biến định
Dự kiến dấu
Giá trị
Trang 351 D1 Khủng hoảng kinh tế
thế giới + ảnh hưởng của khủng hoảng ảnh hưởng yếu tốkhác
tai ảnh hưởng yếu tốkhác
trong và sau Tết
Các tháng còn lại
3.1.2 Kiểm định tính dừng của các biến (phụ lục)
3.2 Mô hình chỉ định ban đầu
3.2.1 Các biến trong mô hình, ước lượng mô hình
Giả thuyết (số liệu theo quý)
Pv
Giá vàng (thị trường định giá) Gold price Tỷ VND
S Tiền gửi tiết
kiệm
Savings Deposits Tỷ VND
Gross domestic product Tỷ VND/%
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Foreign direct investment
Tỷ VND
Trang 36M2 Mức cung tiềntrong nền kinh
đoạn không có khủng hoảng thế giới
D2
D2=1 – các tháng trước, trong và sau Tết (Q1 và Q4 các năm), Tet holidayD2=0 – các
tháng khác (Q2
và Q3 các năm)
D3
D3=1 – các tháng xảy ra thiên tai (Q3 các năm) (tháng 7,8,9), DisasterD3=0 – các
tháng không có thiên tai
Ví dụ LR(-1) lãi suất cho vay quý trước
M2(-1) cung tiền quý trước…
3.2.2 Mô hình hồi quy gốc
CPI=….( cpi c d1 d2 d3 gdp m2 fdi lr lr*lr lr*lr*lr s ex im pv dc e cpi(-1) gdp(-1) m2(-1) fdi(-1) lr(-1) dc(-1) ex(-1) im(-1) pv(-1) s(-1) e(-1) d1*gdp d2*gdp d3*gdp d1*m2 d2*m2 d3*m2 d1*fdi d2*fdi d3*fdi d1*lr d2*lr d3*lr d1*dc d2*dc d3*dc d1*s d2*s d3*s d1*e d2*e d3*e e*e*d1 )
Trang 37Mô hình tốt nhất ta thu được
Dependent Variable: CPI
Method: Least Squares
Date: 06/05/11 Time: 03:06
Sample (adjusted): 2000Q2 2010Q4
Included observations: 43 after adjustments
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob.
CPI(-1) 0.742739 0.088192 8.421872 0.0000 FDI(-1) 6.14E-06 8.84E-07 6.951753 0.0000 M2(-1) -1.64E-07 1.71E-08 -9.543896 0.0000 LR(-1) 5.652772 1.186812 4.762990 0.0003 EX(-1) -0.488168 0.047400 -10.29899 0.0000 IM(-1) 0.301004 0.051002 5.901820 0.0000 DC(-1) -0.000110 4.23E-05 -2.612349 0.0205 D1*GDP 0.000258 6.94E-05 3.710269 0.0023
MÔ HÌNH 1
Trang 39(Chú thích với ( )** mức ý nghĩa 10%, ( )* mức ý nghĩa 5%).
3.3 Kiểm tra và khắc phục các khuyết tật mô hình (phụ lục)
3.3.1 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật phương sai sai số ngẫu nhiên 3.3.2 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật tự tương quan mô hình
3.3.3 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật định dạng hàm và bỏ sót biến 3.3.4 Kiểm tra và khắc phục về tính phân phối chuẩn của U i
3.3.5 Kiểm tra và khắc phục khuyết tật thừa biến trong mô hình 3.4 Mô hình tốt nhất và lý luận mô hình
3.4.1 Mô hình tốt nhất thu được (mô hình 1)
Mô hình thu được
Substituted Coefficients:
=========================
CPI = -3.51255804465 + 7963.93223936*D1 + 10.2543064627*D2 (T) (-0.268284)** ( 5.802962)* (1.859810)*
Trang 40
+ 142.748409046*D3 + 2.83357569243e-05*GDP + 1.6912669409e-07*M2
(4.437607)* (0.622924)** (7.921599)*
+ 7.57305659808e-06*FDI + 0.000241474175056*DC - 1.04068653854*LR*LR (8.235199)* (7.053199)* (-5.486834)*
+ 0.0572445310038*LR*LR*LR - 0.000417332995901*S + 0.192011989071*EX (5.875110)* (-6.557336)* (5.277692)*
+ 0.742739452977*CPI(-1) + 6.14427367947e-06*FDI(-1) - 07*M2(-1)
(8.421872)* (6.951753)* (-9.543896)*
+ 5.65277196289*LR(-1) - 0.488167845777*EX(-1) + 0.301003906625*IM(-1) (4.762990)* (-10.29899)* (5.901820)*
(2.570704)* (-5.308128)* (4.535225)*
- 0.00948750086538*D3*E - 37.9457832274*LR*D1
(-4.283321)* (-8.593387)*
3.4.2 Lý luận mô hình
3.4.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2010
Từ kết quả hồi quy cuối cùng, ta có thế rút ra được kết luận về các nhân tố ảnhhưởng đến lạm phát Việt Nam giai đoạn 2000-2010, đó là:
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Mức cung tiền (M2)