• Xác định kết quả kinh doanh: Đó là chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả của hoạt động lưu chuyển hàng hóa nó là khoản chênh lệch khi lấy doanh thu bán hàng thuần trừ đi chi phí hoạt động kinh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có ý nghĩa ngày càng quan trọng Điều này phản ánh trình độ quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần hoạch định ra những phương án kinh doanh cụ thể và có tầm nhìn chiến lược từ việc tổ chức quản lý tới việc tiếp cận thị trường
Thực tế những năm gần đây, với sự phát triển của cơ chế thị trường cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, bên cạnh những doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh và thương hiệu trên thị trường thì vẫn còn những doanh nghiệp chưa tìm ra hướng đi hiệu quả, thu nhập không đủ bù đắp chi phí bỏ ra và đứng trước nguy cơ phá sản Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều yếu tố, trong đó kể đến sự yếu kém việc tổ chức bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Với mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là lợi nhuận thì việc xem xét phương thức bán hàng và xác định kết quả bán hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào
Nghiên cứu vấn đề này giúp các nhà quản trị, lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt được tình hình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, qua đó có định hướng phát triển kinh doanh trong tương lai Thực hiện tốt công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh thì doanh nghiệp mới tạo ra nguồn lực bù đắp được chi phí, đẩy nhanh vòng quay vốn kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao uy tín cho doanh nghiệp trên thị trường
Xuất phát từ sự cần thiết và tầm quan trọng cũng như yêu cầu đặt ra với kế toán trong việc bán hàng và xác định kết quả kinh doanh, qua nghiên cứu lý luận và thực tế tại Công ty Cổ phần dịch vụ giải trí Hà Nội, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác
Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Âu Lạc”
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Tìm hiều thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh hiện nay nói chung và Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ Âu Lạc nói riêng
Đánh giá, nhận xét về thực trạng kế toán nói chung và kế toán nói riêng tại Công ty TNHH TM và DV Âu Lạc, đề xuất những ý kiến của mình về hoàn thiện công tác kế toán kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty
Trang 2Tổng hợp kiến thức em đã được học đồng thời mở mang sự hiểu biết của mình về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.
- Đối tượng nghiên cứu
Công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH TM và
DV Âu Lạc
- Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Công ty TNHH TM và DV Âu Lạc
Về thời gian: Tháng 03 năm 2014
Về nội dung: Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp, Phương pháp nghiên cứu tài liệu (sách, báo chí, internet ), Phương pháp quan sát, Phương pháp kế toán
- Kết cấu nội dung của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, luận văn tốt nghiệp của em gồm có 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kế toán
bán hàng trong doanh nghiệp thương mại (dịch vụ)
Chương II: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại
Công ty TNHH TM và DV Âu Lạc
Chương III: Nhận xét và kiến nghị côngtác k ếtoánbán hàng và xác định kết quả
bán hàng tại Công ty TNHH TM và DV Âu Lạc.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong trường Đại học Điện Lực, đặc biệt là thầy cô ở Khoa Tài chính - Kế toán (trường Đại học Điện Lực) đã tận tình giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý báu, đồng thời tạo điều kiện cho em được thực tập và hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp của mình
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo ThS Lê Quỳnh Anh đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo giúp em trong quá trình thực hiện đề tài
Em cũng xin chân thành cảm ơn Bà: Trần Thị Hương Lan – Tổng Giám đốc Công ty TNHH TM và DV Âu Lạc và tất cả các anh chị cán bộ nhân viên trong Phòng Tài chính – Kế toán của Công ty đã tạo điều kiện quan tâm và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài của mình
Trang 3Do giới hạn thời gian nghiên cứu cũng như lượng kiến thức, thông tin thu thập còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy
em rất mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý kiến từ phía các Quý thầy cô và các bạn trong lớp để luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Đào
Trang 4CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁN HÀNG VÀ
Quá trình bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ cân đối sản xuất giữa các ngành, các đơn vị sản xuất trong từng ngành và đến quan hệ cung cầu trên thị trường Nó còn đảm bảo cân đối giữa tiền và hàng trong lưu thông, đảm bảo cân đối sản xuất giữa ngành, các khu vực trong nền kinh tế quốc dân
Đối với các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ thì việc bán hàng có ý nghĩa rất
to lớn, bán hàng mới có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và bù đắp được chi phí đã bỏ ra, không những thế nó còn phản ánh năng lực kinh doanh và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một nội dung chủ yếu của công tác kế toán phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ Với ý nghĩa to lớn đó, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng đòi hỏi các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường áp dụng các biện pháp phù hợp với doanh nghiệp mình mà vẫn khoa học, đúng chế độ kế toán do Nhà nước ban hành
1.2.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quá trình bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
1.2.1.Khái niệm bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
• Bán hàng:
Bán hàng (hay tiêu thụ hàng hóa) là giai đoạn cuối cùng của chu trình tuần hoàn vốn trong doanh nghiệp, là quá trình thực hiện mặt giá trị của hàng hóa trong mối
Trang 5quan hệ giữa doanh nghiệp và người mua hàng Số tiền doanh nghiệp nhận được chính
là giá trị của hàng hóa đó và số tiền này được gọi là doanh thu bán hàng Qúa trình bán hàng được hoàn thành khi: Doanh nghiệp đã giao hàng cho người mua và đồng thời người mua đã trả tiền cho doanh nghiệp Quá trình bán hàng trên thực tế giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế cụ thể như sau:
Đối với xã hội: Bán hàng là một nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy quá trình tái
sản xuất cho xã hội Nếu bán được nhiều hàng hoá (cung cấp dịch vụ) tức là hàng hoá (dịch vụ) được chấp nhận, bán được nhiều, do đó nhu cầu mới phát sinh cần có hàng hoá (dịch vụ)mới cho nên điều tất yếu là cần tái sản xuất cũng như mở rộng sản xuất
Đối với doanh nghiệp thương mại (dịch vụ): Bán hàng là mục đích cuối cùng
cần hướng tới và rất quan trọng, nó quyết định đến việc thành công hay thất bại của doanh nghiệp Do đó thực hiện tốt khâu bán hàng sẽ giúp doanh nghiệp thương mại (dịch vụ):
- Thu hồi vốn nhanh, quay vòng tốt để tiếp tục hoạt động kinh doanh
- Đẩy mạnh tốc độ chu chuyển vốn lưu động → quản lý vốn tốt giảm việc huy động vốn
từ bên ngoài (lãi suất cao)
- Thực hiện tốt quá trình chu chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại, điều hoà lượng hàng hoá mua vào, dữ trữ bán ra hợp lý
- Xác định được kết quả kinh doanh để hoạch định kế hoạch kinh doanh cho năm tiếp theo được tốt hơn
- Hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước cũng như thực hiện nghĩa vụ thanh toán với các bên liên quan như: ngân hàng, chủ nợ,
• Xác định kết quả kinh doanh:
Đó là chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả của hoạt động lưu chuyển hàng hóa nó là khoản chênh lệch khi lấy doanh thu bán hàng thuần trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh bao gồm: chi phí về giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 61.2.2.Đặc điểm của bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
Hàng hóa trong các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ là những vật phẩm do các doanh nghiệp mua về với mục đích là để bán ra phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội
Xét trên góc độ kinh tế, bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa, sản phẩm gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng, đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Theo đó quá trình bán hàng trong doanh nghiệp
có thể chia làm 2 giai đoạn:
o Giai đoạn 1: Đơn vị xuất giao bán hàng cho đơn vị mua, căn cứ vào hợp đồng kinh tế
đã ký kết Trong giai đoạn này chỉ phản ánh một mặt quá trình vận động của hàng hóa, chưa phản ánh kết quả của việc bán hàng, vì số hàng hóa chưa đảm bảo chắc chắn đã thu được tiền hay chấp nhận thanh toán tiền
o Giai đoạn 2: Đơn vị mua hay khách hàng đã trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán tiền Đây là giai đoạn mà đơn vị mua đã thu được hàng còn đơn vị bán thu được tiền hoặc
sẽ thu được tiền từ đơn vị mua Kết thúc giai đoạn này cũng là kết thúc xong giai đoạn bán hàng
Tóm lại quá trình bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ có những đặc điểm sau:
o Đối tượng phục vụ của doanh nghiệp thương mại, dịch vụ bao gồm người tiêu dùng, các công ty bán lẻ, các tổ chức xã hội
o Các phương thức bán lẻ rất đa dạng như gửi bán, giao hàng trực tiếp
o Có sự thỏa thuận giữa người mua và người bán về số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán
o Có sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng hàng hóa từ người bán sang người mua
o Người bán giao cho người mua một lượng hàng hóa và nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán
Trong quá trình bán hàng doanh nghiệp thương mại, dịch vụ phải chi ra những khoản tiền phục vụ cho việc bán hàng gọi là chi phí bán hàng và các chi phi liên quan đến việc quản lý hành chính, quản trị kinh doanh của toán doanh nghiệp Tiền bán hàng thu được tính theo giá bán chưa có thuế GTGT gọi là doanh thu bán hàng Chênh
Trang 7lệch giữa doanh thu thuần hoạt động bán hàng và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp được gọi là kết quả hoạt động bán hàng.
1.2.3.Vai trò của bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
Đối với mỗi doanh nghiệp nói chung và một doanh nghiệp thương mại dịch vụ nói riêng thì công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng có vai trò quan trọng trong bước hạn chế được sự thất thoát hàng hóa, xác định được những hàng hóa chậm luân chuyển để có biện pháp xử lý thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình hình thành vốn Các số liệu mà kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cung cấp cho doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nắm được mức độ cũng như công tác hoàn chỉnh của kế toán bán hàng từ đó tìm ra những phương pháp tốt nhất để cân đối giữa khâu mua, khâu dự trữ và khâu bán để có biện pháp khắc phục kịp thời
Từ các số liệu trên báo cáo tài chính mà kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cung cấp, nhà nước nắm được tình hình kinh doanh cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó thực hiện chức năng quản lý kiểm soát vĩ mô nền kinh
tế đồng thời nhà nước có thể kiểm tra việc chấp hành về kinh tế tài chính và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Ngoài ra thông qua số liệu của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cung cấp các bạn hàng của doanh nghiệp cũng nắm được phần nào về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó quyết định đầu tư, cho vay vốn hayn hợp tác làm ăn cùng vói doanh nghiệp
1.3 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
Để quản lý một cách tốt nhất hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp đó thuộc thành phần nào, loại hình nào, loại hình sở hữu hay lĩnh vực hoạt động nào đều phải sử dụng đồng thời các công cụ khác nhau, trong đó kế toán được coi là một công cụ hữu hiệu nhất Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường kế toán được sử dụng như một công cụ đắc lực không thể thiếu đối với doanh nghiệp cũng như cũng như sự quản lý vĩ mô của nhà nước chính vì vậy kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Ghi chép đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hóa dịch vụ bán ra và tiêu thụ nội bộ tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng bán cũng như các chi phí khác liên quan
Trang 8- Kiểm tra giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận, phân phối lợi nhuận và các nghĩa vụ kinh tế đối với nhà nước.
- Cung cấp thông tin chính các trung thực và đầy đủ về tình hình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh để phục vụ cho công tác báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp
Như vậy công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một công việc quan trọng của doanh nghiệp, nhằm xác định số lượng và giá trị của lượng hàng hóa bán ra cũng như doanh thu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; song để phát huy được vài trò và thực hiện tốt các nhiệm vụ đã nêu trên đòi hỏi bộ máy kế toán phải được tổ chức một cách khoa học, hợp lý, đồng thời cần nắm rõ các chính sách, chuẩn mực cũng như các quy định về công tác kế toán do Nhà Nước ban hành vì nó là căn cứ xác thực nhất cũng như là những lý lẽ cụ thể nhất cho doanh nghiệp dựa vào để hoạt động
Khái niệm: Là phương thức bán hàng cho các đơn vị, tổ chức kinh tế khác nhằm
mục đích tiếp tục chuyển bán hoặc tiêu dùng cho sản xuất
Đặc điểm bán buôn hàng hóa:
- Hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng
- Hàng hóa được bán theo lô hoặc bán với khối lượng lớn
- Giá bán biến động tùy thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh toán
Ưu điểm của phương pháp: Thời gian thu hồi vốn nhanh, có điều kiện để đẩy nhanh
vòng quay của vốn và nâng cao hiệu quả kinh doanh
Phân loại bán buôn:
- Bán buôn qua kho: Là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong hàng bán phải được xuất từ kho bảo quản của Doanh nghiệp
+ Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Doanh nghiệp xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho đại diện bên mua ngay tại kho Sau khi đại diện bên mua nhận
đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác định là tiêu thụ
Trang 9+ Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Căn cứ vào hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng Doanh nghiệp xuất kho hàng hóa, dùng phương tiện vận tải, chuyển hàng đến kho của bên mua Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp, chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu về hàng hóa Chi phí vận chuyển dựa vào sự thỏa thuận giữa hai bên.
- Bán buôn vận chuyển thẳng: Doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng, nhận mua hàng, không đưa về nhập kho Có hai phương thức bán buôn:
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo phương thức giao hàng trực tiếp (hình thức giao tay ba): Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua hàng, giao hàng trực tiếp cho đại diện bên mua tại kho người bán Sau khi giao nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán, hàng hóa được xác nhận
là tiêu thụ
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Doanh nghiệp sau khi mua
hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa chuyển
đi mới được xác định là tiêu thụ
b Hình thức bán lẻ hàng hóa
Khái niệm: Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng mà kết thúc quá trình bán
hàng, hàng hóa tách ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng
Đặc điểm bán lẻ hàng hóa:
- Hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng
- Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện
- Khối lượng khách hàng lớn, khối lượng hàng bán nhỏ, hàng hoá phong phú về mẫu
mã, chủng loại và thường xuyên biến động theo nhu cầu thị trường
- Bán đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá trị thường ổn định
Ưu điểm của phương pháp: Doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với
khách hàng, do vậy có thể nắm bắt nhanh nhạy đối với sự thay đổi của nhu cầu, sự thay đổi của thị hiếu tiêu dùng, từ đó có những biện pháp, phương án thích hợp
Nhược điểm: Khối lượng hàng hoá bán ra chậm, thu hồi vốn chậm.
Trang 10Phân loại bán lẻ: Bán lẻ có thể được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
- Bán lẻ thu tiền tập trung: Theo hình thức này, nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua tách rời nhau Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hóa đơn cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên giao bán Hết ngày (hết ca) bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hóa đơn để xác định số lượng hàng hóa đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng
- Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách Hết ca (hết ngày) bán hàng, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ, đồng thời kiểm kê hàng hóa tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng
- Bán trả góp: Theo hình thức này, người mua trả tiền mua hàng thành nhiều lần Ngoài
số tiền thu theo giá bán thông thường, doanh nghiệp còn thu thêm của người mua một khoản lãi nào đó
1.4.2 Các phương thức thanh toán trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
Công tác bán hàng trong doanh nghiệp thương mại có thể tiến hành theo nhiều phương thức, hình thức khác nhau nhưng việc bán hàng nhất thiết phải gắn với việc thanh toán với người mua Việc thanh toán với người mua được tiến hành theo các phương thức chủ yếu sau:
• Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt: Việc giao hàng và thành toán tiền hàng được
thực hiện ở cùng một thời điểm và giao hàng ngay tại doanh nghiệp Do vậy, việc bán hàng được hoàn tất ngay khi giao hàng và nhận tiền
• Thanh toán chậm: Hình thức này có đặc trưng cơ bản là từ khi giao hàng tới lúc
thanh toán hàng có một khoản thời gian nhất định (tuỳ thuộc vào hai bên mua, bán)
Trang 11• Thanh toán qua ngân hàng: có hai hình thức.
- Thanh toán bằng phương thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua
đã chấp nhận thanh toán, việc bán hàng được xem là đã được thực hiện, doanh nghiệp chỉ cần theo dõi việc thanh toán với người mua
- Thanh toán bằng phương thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua có quyền từ chối không thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị hàng mua do khối lượng hàng gửi đến cho người mua không phù hợp với hợp đồng về số lượng hoặc chất lượng
và quy cách: hàng hoá được chuyển đến cho người mua nhưng chưa thể xem là bán hàng, doanh nghiệp cần theo dõi tình hình chấp nhận hay không chấp nhận để xử lý trong thời hạn quy định đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp
1.5 Các quy định, chuẩn mực kế toán, văn bản pháp luật hiện hành về bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
1.5.1.Tại Việt Nam
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01), nguyên tắc kế toán doanh thu bán hàng gồm có các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc cơ sở dồn tích: muốn đề cập đến mọi nghiệp vụ tài chính của doanh
nghiệp liên quan đến doanh thu, chi phí thì được kế toán ghi sổ đúng vào thời điểm phát sinh, chứ không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, chi tiền ( VD: Khi bán hàng cho khách thời điểm chuyển hàng cho khách kế toán phải ghi nhận doanh thu và giá vốn ngay mà không căn cứ là khách đã trả tiền hay chưa)
Nguyên tắc phù hợp: “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với
nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó“
o Chi phí của kỳ tạo ra doanh thu, đó là các chi phí đã phát sinh thực tế trong kỳ và liên quan đến việc tạo ra doanh thu của kỳ đó
o Chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó
=>Như vậy, chi phí được ghi nhận trong kỳ là toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến việc tạo doanh thu và thu nhập của kỳ đó không phụ thuộc khoản chi phí đó được chi ra trong kỳ nào Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định và đánh giá đúng kết quả kinh doanh của từng thời kỳ kế toán giúp cho các nhà quản trị có quyết định kinh doanh đúng đắn vào hiệu quả
Trang 12Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán( phương pháp
tính khấu hao, phương pháp tính trị giá xuất kho ) doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có thay đổi chính sách
và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi
đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.(VD: Đầu kì ta chọn phương pháp khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng thì đến cuối kì ta vẫn phải sử dụng nhất quán phương pháp khấu hao đó.)
Nguyên tắc thận trọng: thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần
thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Khi khoản nợ của khách hàng đã quá hạn mà không có khả năng chi trả ta phải trích lập dự phòng cho số nợ đó nhưng khôngđượcquáớn
Nguyên tắc trọng yếu: thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu
thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14 ) có viết: khi hàng hóa được
trao đổi để lấy hàng hóa tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi
là một giao dịch tạo ra doanh thu
Theo điều 78 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định Nguyên tắc kế toán các khoản doanh thu cụ thể như sau:
• Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền
• Doanh thu và chi phí tạo ra khoản doanh thu đó phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Tuy nhiên trong một số trường hợp, nguyên tắc phù hợp có thể xung đột với nguyên tắc thận trọng trong kế toán, thì kế toán phải căn cứ vào bản chất và các Chuẩn mực kế toán để phản ánh giao dịch một cách trung thực, hợp lý
1.5.2 Các quy định hiện hành về bán hàng và xác định kết quả bán hàng trên Quốc Tế.
Trang 13Theo IAS 18, Doanh thu bán hàng hóa được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất
cả 5 điều kiện sau:
• Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
• Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
• Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
• Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
• Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
1.6.Tổ chức kế toán về bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
1.6.1 Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu của doanh nghiệp thương mại, dịch vụ.
1.6.1.1 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
a Khái niệm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) và chuẩn mực kế toán quốc
tế số 18 (IAS 18), doanh thu được hiểu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp
thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
b Chứng từ sử dụng
Chứng từ kế toán và những bằng chứng về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành thông qua chứng từ kế toán kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp và tính xác thực của hoạt động kinh tế tài chính Trong kế toán bán hàng có sử dụng các chứng
từ chủ yếu sau:
- Hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
- Các hợp đồng kinh tế về bán hàng
- Báo cáo bán hàng, bản kê bán lẻ hàng hoá, bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi
- Thẻ quầy hàng, giấy nộp tiền, bảng kê nhận tiền và thanh toán hàng ngày
Ngoài ra còn có các chứng từ khác có liên quan như phiếu thu, phiếu chi, giấy báo nợ, giấy báo có của ngân hàng giúp cho kế toán thực hiện việc ghi sổ các nghiệp
vụ công tác kế toán bán hàng
Trang 14c Tài khoản sử dụng
Để phản ánh doanh thu bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ, doanh nghiệp sử dụng:
Tài khoản 511- Doanh bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Tài khoản 511 cuối kỳ không có số dư và được chia thành 6 tài khoản cấp 2:
• Tài khoản 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”: Sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp
kinh doanh vật tư, hàng hoá
• Tài khoản 5112 “Doanh thu bán các thành phẩm”:Phản ánh doanh thu và doanh thu
thuần của khối lượng sản phẩm (Thành phẩm, bán thành phẩm) được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp
• Tài khoản 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”:Sử dụng chủ yếu cho các ngành kinh
doanh dịch vụ như: Giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, dịch vụ công cộng, dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụ kế toán, kiểm toán,…
• Tài khoản 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”: Sử dụng cho các doanh nghiệp thực
hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hoátheo yêu cầu của Nhà nước và được hưởng các khoản thu từ doanh nghiệp
• Tài khoản 5117 “Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư”: Dùng để phản ánh
doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư của các Doanh nghiệp
d Trình tự kế toán doanh thu bán hàng
• Kế toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa
- Kế toán bán hàng theo phương pháp kê khai thường xuyên
Trang 15Sơ đồ 1.1: Trình tự kế toán theo phương pháp bán buôn trực tiếp
Sơ đồ 1.2: Trình tự kế toán bán hàng tay ba (theo PP kê khai thường xuyên)
- Kế toán bán hàng theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Sơ đồ 1.3: Trình tự kế toán bán hàng tay ba (theo PP kiểm kê định kỳ)
Trang 16(1): Đầu kỳ kết chuyển giá thành thực tế hàng hóa tồn kho, hàng gửi bán chưa được tiêu thụ.
(2a): Phản ánh doanh thu bán hàng thu được trong kỳ
(2b): Trị giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ
(3a): Kết chuyển doanh thu bán hàng và xác định kết quả
(3b): Kết chuyển trị giá vốn hàng tồn cuối kỳ
(4): Kết chuyển giá vốn hàng tồn cuối kỳ
• Kế toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hóa
- Doanh nghiệp hạch toán HTK theo phương pháp Kê khai thường xuyên
Sơ đồ 1.4: Trình tự kế toán bán hàng bán lẻ trực tiếp
- Doanh nghiệp hạch toán Hàng tồn kho theo phương pháp Kiểm kê định kỳ
Sơ đồ 1.5: Trình tự kế toán bán hàng bán lẻ trực tiếp
Trang 17(1): Đầu kỳ kết chuyển giá thành thực tế hàng hóa tồn kho, hàng gửi bán chưa được tiêu thụ.
(2a): Phản ánh doanh thu bán hàng thu được trong kỳ
(2b): Trị giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ
(3a): Kết chuyển doanh thu bán hàng và xác định kết quả
(3b): Kết chuyển trị giá vốn hàng tồn cuối kỳ
(4): Kết chuyển giá vốn hàng tồn cuối kỳ
- Phương thức tiêu thụ qua các đại lý
Sơ đồ 1.6: Trình tự kế toántiêu thụ theo phương thức gửi bán tại đơn vị giao đại lý
- Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp:
Trang 18Doanh nghiệp đã nhận hàng nhưng chưa thanh toán tiền cho người bán Việc
thanh toán chậm trả có thể thực hiện theo điều kiện tín dụng ưu đãi theo thoả thuận (
Ví dụ: Điều kiện “1/10, n/20″ có nghĩa là trong 10 ngày đầu kể từ ngày chấp nhận nợ, nếu người mua thanh toán công nợ sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán là 1% Từ ngày thứ 11 đến hết ngày thứ 20, người mua phải thanh toán toàn bộ công nợ
là “n” Nếu hết 20 ngày mà người mua chưa thanh toán nợ thì họ sẽ phải chịu lãi suất tín dụng).
Sơ đồ 1.7: Trình tự kế toán tiêu thụ theo phương thức trả chậm, trả góp
1.6.1.2 Kế toán giảm trừ doanh thu
a Các khoản giảm trừ doanh thu
Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, để đẩy mạnh hàng bán ra thu hồi vốn nhanh chóng tiền bán hàng, doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối với khách hàng Các khoản đó sẽ phải ghi vào hoạt động tài chính hoặc giảm trừ doanh thu bán hàng ghi trên hóa đơn Bao gồm:
• Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng hóa với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc cam kết mua, bán hàng
• Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ được doanh nghiệp chấp nhận một cách đặc biệt trên giá đã thỏa thuận trên hóa đơn Vì lý do hàng bán bị kém chất lượng, không đúng qui cách hoặc không đúng thời hạn ghi trong hợp đồng
• Giá trị hàng bán bị trả lại:Là số hàng hóa doanh nghiệp đã xác định là tiêu thụ nhưng
bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế như
Trang 19sau: Hàng kém phẩm chất, sai qui cách, chủng loại Hàng bán bị trả lại phải có văn bản
đề nghị của người mua ghi rõ lý do trả lại hàng, số lượng hàng trả lại, giá trị hàng bị trả lại đính kèm hóa đơn (Nếu trả lại toàn bộ) hoặc bản sao hóa đơn
Các khoản giảm trừ doanh thu là cơ sở để tính doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán
Các khoản giảm trừ doanh thu phải được phản ánh, theo dõi chi tiết, riêng biệt trên những tài khoản kế toán kế toán phù hợp, nhằm cung cấp các thông tin kế toán để lập báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh
Trong VAS 14, các khoản giảm trừ doanh thu được nêu khái niệm cụ thể và chi tiết, trong khi đó, IAS 18 chỉ được nhắc đến như một khoản giảm trừ doanh thu
b Căn cứ ghi nhận các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng
Khi hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng cần phải tôn trọng một số quy định sau:
• Doanh nghiệp phải có qui chế quản lý và công khai các khoản giảm giá hàng bán
• Phải đảm bảo được doanh nghiệp vẫn có lãi khi thực hiện các khoản chiết khấu thanh toán, hoặc giảm giá hàng bán cho số lượng hàng bán ra trong kỳ
• Phải ghi rõ trong hợp đồng bán hàng hay trong hợp đồng kinh tế các khoản được giảm trừ
• Số hàng bị trả lại phải có văn bản của người mua, phải có ghi rõ số lượng, đơn giá, tổng giá trị lô hàng bị trả lại Kèm theo chứng từ nhập lại kho của lô hàng nói trên
c Tài khoản sử dụng – TK 521
Tài khoản dùng để phản ánh toàn bộ số tiền giảm trừ cho người mua hàng được tính giảm trừ vào doanh thu hoạt động kinh doanh: chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, và các khoản giảm giá hàng bán cho người mua trong kỳ
Trang 20Nợ TK 521 Có
- Trị giá của hàng bán bị trả lại, đã trả lại
tiền cho người mua hoặc tính vào nợ phải
- Các khoản giảm giá hàng bán
- Kết chuyển toàn bộ các khoản giảm trừ doanh thu phát sinh trong kỳ vào Bên Nợ tài khoản 511
Tài khoản 521 cuối kỳ không có số dư và có 3 tài khoản cấp 2 gồm:
• Tài khoản 5211 - Chiết khấu thương mại: Tài khoản này dùng để phản ánh khoản chiết
khấu thương mại cho người mua do khách hàng mua hàng với khối lượng lớn nhưng chưa được phản ánh trên hóa đơn khi bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong kỳ
• Tài khoản 5212 - Hàng bán bị trả lại: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bị người mua trả lại trong kỳ
• Tài khoản 5213 - Giảm giá hàng bán: Tài khoản này dùng để phản ánh khoản giảm
giá hàng bán cho người mua do sản phẩm hàng hóa dịch vụ cung cấp kém quy cách nhưng chưa được phản ánh trên hóa đơn khi bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong kỳ
d Trình tự hạch toán
Sơ đồ 1.8: Trình tự kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
TK 111, 112, 131 TK 5211, 5212, 5213 TK 511
Trang 21(1a) - Khoản giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại trong kỳ.
(1b)- Số tiền thuế GTGT đầu ra giảm tương ứng số hàng trả lại (nếu có)
(2) - Cuối kỳ kết chuyển số tiền giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại sang tài khoản 511 để xác định doanh thu thuần
(3) - Nhận sản phẩm, hàng hóa bị trả lại (theo phương pháp kê khai thường xuyên) (4) - Nhận sản phẩm, hàng hóa bị trả lại (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
1.6.2 Kế toán giá vốn hàng bán
a Khái niệm giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán trong doanh nghiệp thương mại (dịch vụ) là chỉ tiêu được dùng
để theo dõi trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóaxuất bán, cung cấp dịch vụ trong kỳ.Việc xác định trị giá vốn hàng bán là cơ sở để tính kết quả hoạt động kinh doanh
b Phương pháp xác định trị giá vốn thực tế hàng xuất bán
Hàng hóa được nhập từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau nên
có nhiều giá khác nhau Đối với hàng hóa xuất kho:
Trang 22Trị giá gốc của
hàng hóa xuất kho =
Trị giá xuất kho theo giá mua +
Chi phí mua phân bổ cho hàng hóa xuất kho
Chi phí mua phân bổ cho hàng hóa xuất kho theo tiêu thức phù hợp, thông thường là giá mua của hàng hóa:
Chi phí mua phân
Trị giá xuất kho theo giá mua được tính theo mộ trong các phương pháp sau:
• Phương pháp tính theo giá đích danh:Theo phương pháp này, giá thực tế NVL được
xác định theo đơn chiếc hay từng lô Phương pháp này thường được áp dụng cho những doanh nghiệp có ít loại mặt hàng và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc nhập kho (trừ trường hợp điều chỉnh) Khi xuất kho lô nào (hay cái nào) sẽ tính theo giá thực tế của lô hay cái đó
Ưu điểm: Xác định được chính xác giá vật tư xuất làm cho chi phí hiện tại phù
hợp với doanh thu hiện tại
Nhược điểm: Trong trường hợp đơn vị có nhiều mặt hàng, nhập xuất thường
xuyên thì khó theo dõi và công việc của kế toán chi tiết NVL sẽ rất phức tạp, tốn kém thời gian, công sức, chi phí hạch toán tăng
Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp kinh doanh ít loại mặt hàng, mặt hàng ổn định và NVL nhận định được thì mới có thể áp dụng phương pháp này
• Phương pháp bình quân gia quyền:Theo phương pháp này, giá trị của từng loại NVL
được tính theo giá trị trung bình của từng loại NVL đầu kỳ và giá trị từng loại NVL được mua hoặc sản xuất trong kỳ Phương pháp bình quân có thể được tính theo hơi kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp
Trang 23Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể xác định theo một trong ba cách sau:
- Phương pháp bình quân gia quyền cuối kỳ trước:
Dựa vào trị giá và số lượng hàng tồn kho cuối kỳ trước, kế toán tính giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước để tính giá xuất
Giá đơn vị bình quân
Trị giá thực tế NVL tồn kho cuối kỳ trước
Số lượng NVL thực tế tồn kho cuối kỳ trước
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán của kế toán
vì giá NVL xuất kho tính khá đơn giản, cung cấp thông tin kịp thời về tình hình biến động của NVL trong kỳ
Nhược điểm: Độ chính xác của việc tính giá phụ thuộc tình hình biến động giá cả
NVL Trường hợp giá cả thị trường NVL có sự biến động lớn thì việc tính giá NVL xuất kho theo phương pháp này trở nên thiếu chính xác
- Phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ:
Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong
kỳ Tùy theo kỳ dự trữ doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá mua, giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:
Số lượng NVL tồn đầu kỳ + Số lượng NVL nhập
trong kỳ
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều
Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ làm, giảm nhẹ được việc hạch toán chi
tiết NVL không phụ thuộc vào số lần nhập xuất của từng danh điểm vật tư
Nhược điểm: Công việc tính giá NVL xuất kho vào cuối kỳ hạch toán nên ảnh
hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán khác
- Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (Bình quân liên hoàn):
Trang 24Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập NVL kế toán tính đơn giá bình quân sau đó căn cứ vào đơn giá bình quân và lượng NVL xuất để tính giá NVL xuất.
Giá đơn vị bình quân
Trị giá thực tế NVL tồn kho sau mỗi lần nhập
Số lượng NVL thực tế tồn kho sau mỗi lần nhập
Phương pháp này nên áp dụng ở những doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư và
số lần nhập của mỗi loại không nhiều
Ưu điểm:Phương pháp này cho giá NVL xuất kho chính xác nhất, phản ánh kịp
thời sự biến động giá cả, công việc tính giá được tiến hành đều đặn
Nhược điểm: Công việc tính toán nhiều và phức tạp, chỉ thích hợp với những
doanh nghiệp sử dụng kế toán máy
• Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này NVL được tính giá thực tế xuất kho trên cơ sở giả định NVL nào nhập trước thì được xuất dùng trước và tính theo đơn giá của những lần nhập trước Khi xuất kho căn cứ vào số lượng xuất tính giá trị thực tế NVL xuất kho theo công thức:
Ưu điểm: Cho phép kế toán có thể tính giá NVL xuất kho kịp thời, phương pháp
này cung cấp một sự ước tính hợp lý về giá trị NVL cuối kỳ Trong thời kỳ lạm phát phương pháp này sẽ cho lợi nhuận cao do đó có lợi cho các công ty cổ phần khi báo cáo kết quả hoạt động trước các cổ đông làm cho giá cổ phiếu của công ty tăng lên
Nhược điểm: Các chi phí phát sinh hiện hành không phù hợp với doanh thu phát
sinh hiện hành Doanh thu hiện hành có được là do các chi phí NVL nói riêng và HTK nói chung vào kho từ trước Như vậy chi phí kinh doanh của doanh nghiệp không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL
Trang 25Ngoài ra, Thông tư 200/2014/TT-BTCmột số đơn vị có đặc thù (ví dụ như các đơn vị kinh doanh siêu thị hoặc tương tự) có thể áp dụng kỹ thuật xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ theo phương pháp Giá bán lẻ Phương pháp này thường được dùng trong ngành bán lẻ để tính giá trị của hàng tồn kho với số lượng lớn các mặt hàng thay đổi nhanh chóng và có lợi nhuận biên tương tự mà không thể sử dụng các phương pháp tính giá gốc khác Giá gốc hàng tồn kho = giá bán của hàng tồn kho - lợi nhuận biên theo tỷ lệ phần trăm hợp lý.Tỷ lệ được sử dụng có tính đến các mặt hàng đó bị hạ giá xuống thấp hơn giá bán ban đầu của nó Thông thường mỗi bộ phận bán lẻ sẽ sử dụng một tỷ lệ phần trăm bình quân riêng.
Mỗi phương pháp tính giá trị hàng tồn kho đều có những ưu, nhược điểm nhất định Mức độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ, năng lực nghiệp vụ và trình độ trang bị công cụ tính toán, phương tiện xử lý thông tin của doanh nghiệp Đồng thời cũng tuỳ thuộc vào yêu cầu bảo quản, tính phức tạp về chủng loại, quy cách và sự biến động của vật tư, hàng hóa ở doanh nghiệp
Trong VAS 02 có áp dụng phương pháp LIFO (nhập sau – xuất trước) trong tính giá hàng tồn kho Tuy nhiên, Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 2 sửa đổi tháng 12/2003 và theoChế độ kế toán hiện hành Thông tư 200/2014/TT-BTC đã loại phương pháp LIFO trong tính giá hàng tồn kho.
c.Chứng từ sử dụng
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (03PXK – 3LL)
- Phiếu xuất kho gửi hàng đại lý (04HDL – 3LL)
- Phiếu nhập kho (01 – VT)
- Phiếu xuất kho (02 – VT)
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa (03 – VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa (05 – VT).Phiếu Xuất kho cho tài khoản 632
d.Tài khoản sử dụng
Để hạch toán kế toán sử dụng tài khoản 632- Giá vốn hàng bán.
Kết cấu tài khoản 632 gồm:
Bên Nợ :
• Kết chuyển giá trị thực tế của hàng hóa tồn kho đầu kỳ
• Khoản hao hụt, mất mát, hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do trách nhiệm gây ra
Trang 26• Khoản chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn khoản đã lập dự phòng năm trước.
Bên Có:
• Kết chuyển giá trị thực tế của hàng hóa tồn kho cuối kỳ
• Khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (chênh lệch giữa
số dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay nhỏ hơn khoản đã lập dự phòng năm trước)
• Kết chuyển giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ trong kỳ sang Tài khoản 911- Xác định kết quả kinh doanh
Tài khoản 632 cuối kỳ không có số dư và có thể được mở chi tiết theo từng nội
dung phản ánh tùy thuộc vào yêu cầu quản lý (Giá vốn sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ, chi phí kinh doanh bất động sản đầu tư…)
e Trình tự kế toán giá vốn thu bán hàng.
• Trình tự kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Sơ đồ 1.9: Trình tự kế toán giá vốn hàng bán (theo PP kê khai thường xuyên)
Trang 27• Trình tự kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Theo phương pháp này, cuối kỳ kế toán kiểm kê xác định hàng hóa tồn kho và xác định giá vốn hàng bán
Giá vốn
hàng bán =
Giá trị hàng tồn kho, gửi bán đầu kỳ
Sơ đồ 1.10: Trình tự kế toán giá vốn hàng bán (theo PP kiểm kê định kỳ)
1.6.3 Kế toán xác định kết quả bán hàng
1.6.3.1 Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
a Nội dung chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp.
Trong lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, Doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp Chi phí bán hàng, chi phí QLDN có nhiều khoản chi cụ thể, với nội dung và công dụng khác nhau, tùy theo cầu quản lý có thể phân biệt (phân loại) chi phí theo tiêu thức thích hợp
b Chứng từ sử dụng
- Bảng thanh toán tiền lương, Bảng phân bổ tiền lương – BHXH…
- Bảng phân bổ vật liệu – công cụ dụng cụ, Phiếu xuất kho…
- Bảng tính trích khấu hao TSCĐ
- Thông báo thuế, Bảng kê nộp thuế, Biên lai thu thuế…
- Các hoá đơn dịch vụ, Phiếu chi, giấy báo Nợ…
Trang 28c Tài khoản sử dụng
Để phản ánh các khoản chi phí trong quá trình bán hàng và quản lý doanh nghiệp, kế toán sử dụng TK 641- Chi phí bán hàng, TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp
• Tài khoản 641- Chi phí bán hàng
Bên Nợ:
- Các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ
Bên Có:
- Khoản được ghi giảm chi phí bán hàng trong kỳ;
- Kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh doanh" để tính kết quả kinh doanh trong kỳ
Tài khoản 641cuối kỳ không có số dư và có 7 tài khoản cấp 2 như sau:
+ Tài khoản 6411- Chi phí lương và các khoản trích theo quy định của cán bộ, nhân viên ở các phòng ban, bộ phận của doanh nghiệp
+ Tài khoản 6412- Chi phí vật liệu cho bán hàng, quản lý như: Giấy, bút, mực… Vật liệu dùng cho sửa chữa TSCĐ, công cụ dụng cụ
+ Tài khoản 6413- Chi phí dụng cụ, đồ dùngphục vụ cho quá trình tiêu thụ hàng hóa, công tác quản lý doanh nghiệp
+ Tài khoản 6414- Chi phí khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp
+ Tài khoản 6415- Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa trong quá trình tiêu thụ của doanh nghiệp
+ Tài khoản 6417- Chi phí dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài như tiền điện, nước + Tài khoản 6418- Chi phí khác bằng tiền khác như chi phí tiếp khách, chi phí hội nghị khách hàng, chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm…
• Tài khoản 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Bên Nợ:
- Các chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ
- Số dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (Chênh lệch giữa số dự phòng phải lập kỳ này lớn hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa sử dụng hết)
Bên Có:
Trang 29- Các khoản được ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập kỳ này nhỏ hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa sử dụng hết) (TK642)
- Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp vào TK 911
Tài khoản 642 cuối kỳ không có số dư và có 8 tài khoản cấp 2 như sau:
+ Tài khoản 6421- Chi phí lương và các khoản trích theo quy định của cán bộ, nhân viên ở các phòng ban, bộ phận của doanh nghiệp
+ Tài khoản 6422- Chi phí vật liệu cho bán hàng, quản lý như: Giấy, bút, mực… Vật liệu dùng cho sửa chữa TSCĐ, công cụ dụng cụ
+ Tài khoản 6423- Chi phí dụng cụ, đồ dùngphục vụ cho quá trình tiêu thụ hàng hóa, công tác quản lý doanh nghiệp
+ Tài khoản 6424- Chi phí khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp
+ Tài khoản 6425- Chi phí thuế, lệ phí
+ Tài khoản 6426- Chi phí dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí KD của DN.+ Tài khoản 6427- Chi phí dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài như tiền điện, nước + Tài khoản 6428- Chi phí khác bằng tiền khác như chi phí tiếp khách, chi phí hội nghị khách hàng, chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm…
Tuỳ theo đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý từng ngành, từng doanh nghiệp,
TK 641 và TK 642 có thể được mở thêm một số nội dung chi phí
d Trình tự kế toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
Trang 30Sơ đồ 1.11:Trình tự kế toán chi phí bán hàng và chi phí Quản lý doanh nghiệp
Trang 321.6.3.2 Kế toán xác định kết quả bán hàng
a Nội dung xác định kết quả bán hàng
Kết quả bán hàng của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ kết quả của các hoạt động sản xuất - kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác mà doanh nghiệp tiến hành trong kỳ
b Tài khoản sử dụng
Thông thường cuối kỳ kinh doanh hay sau mỗi thương vụ, kế toán tiến hành xác định kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Công việc này được thực hiện trên tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh” Đây là tài khoản để xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp, được mở chi tiết theo từng hoạt động (hoạt động sản xuất- kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác)
Kết cấu của tài khoản 911 như sau:
- Tổng số doanh thu thuần về bán hàng
- Kết chuyển lỗ từ các hoạt động kinh doanh
Tài khoản 911 cuối kỳ không có số dư.
c Trình tự kế toán xác định kết quả bán hàng
Trang 33Sơ đồ 1.12:Trình tự kế toán xác định kết quả bán hàng
1.7 Nội dung tổ chức sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng
1.7.1 Tổ chức sổ kế toán chi tiết nghiệp vụ bán hàng
Để kế toán chi tiết nghiệp vụ bán hàng, kế toán mở các loại sổ kế toán sau:
- Sổ chi tiết sản phẩm hàng hóa (Mẫu sổ S10 – DN) mở cho các tài khoản 155, 156 theo các phương pháp hạch toán chi tiết hàng hóa như phương pháp thẻ song song, phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, phương pháp sổ số dư
- SCT chi phí sản xuất kinh doanh mở cho TK 632, 641, 642 (Mẫu sổ S36 – DN)
- Sổ Chi tiết bán hàng mở cho TK 511, 512, 521, 531, 532 (Mẫu sổ S35 – DN)
- Sổ Chi tiết khác mở cho TK 911, 521, 157 (Mẫu sổ S38 – DN)
- Bảng tổng hợp chi tiết bán hàng, giá vốn, chi phí kinh doanh
Trang 34ứng được các yêu cầu của Luật Kế toán và đảm bảo rõ ràng, minh bạch Các loại chứng từ kế toán tại Phụ lục 3 Thông tư 200/2014/TT-BTC chỉ mang tính hướng dẫn Trường hợp doanh nghiệp không tự xây dựng, thiết kế cho riêng mình được thì có thể
áp dụng theo Phụ lục 3 Thông tư 200/2014/TT-BTC.
Doanh nghiệp có thể dựa vào một trong năm hình thức kế toán sau để tổ chức kế toán tổng hợp nghiệp vụ bán hàng:
Đặc điểm:Tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật
ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh
Ưu điểm:Ghi sổ đơn giản, dễ ghi chép, thuận tiện cho việc sử dụng kế toán máy
Vận dụng cho các loại hình DN, đặc biệt là DN lớn
Nhược điểm:Tách rời kế toán tổng hợp với chi tiết Trong điều kiện kế toán thủ
công khó phân công lao động kế toán
Trình tự ghi sổ kế toán:
Trang 35Sơ đồ 1.13: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung
b Hình thức Nhật ký – Sổ Cái
Đặc điểm:Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp chi chép theo trình tự
thời gian và theo nội dung kinh tế trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là
sổ Nhật ký – Sổ Cái
Ưu điểm:Mẫu sổ đơn giản, dễ ghi chép, thuận tiện cho kiểm tra, đối chiếu.
Nhược điểm: Những doanh nghiệp sử dụng nhiều tài khoản, nhiều nghiệp vụ
kinh tế phát sinh thì sổ phải mở rộng, khó phân công lao động kế toán vì vậy hình thức này chỉ áp dụng với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, DN có mô hình quản lý tập trung, trình độ nhân viên kế toán thấp và sử dụng ít lao động kế toán
Trình tự ghi sổ kế toán:
Trang 36Sơ đồ 1.14: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký – Sổ Cái
c Hình thức Chứng từ ghi sổ
Đặc điểm:Kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ để
lập “Chứng từ ghi sổ” Từ “Chứng từ ghi sổ”, kế toán ghi vào “Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ” và vào sổ cái
Ưu điểm:Đơn giản, dễ sử dụng, thuận tiện cho việc chuyên môn hóa cao, đảm
bảo quan hệ đối chiếu, kiểm tra, thích hợp với kế toán máy Vận dụng cho các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt thích nghi với những doanh nghiệp sử dụng máy vi tính
Nhược điểm: Ghi chép còn trùng lặp, dễ dẫn đến sai sót và trong điều kiện kế
toán thủ công, công việc kế toán sẽ tăng lên
Trình tự ghi sổ kế toán:
Trang 37Sơ đồ 1.15: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Chứng từ ghi sổ
Ưu điểm:Rất thuận tiện vận dụng cho các DN lớn, số lượng nghiệp vụ nhiều, tránh
được việc ghi chép trùng lặp, công việc phân bố đều, dễ phân công lao động kế toán
Nhược điểm: Kết cấu sổ sách phức tạp nên đòi hỏi trình độ chuyên môn cao Trình tự ghi sổ kế toán
Trang 38Sơ đồ 1.16: Trình tự ghi sổ kế tón theo hình thức Nhật ký – Chứng từ
e Hình thức kế toán trên máy vi tính
Đặc điểm: Kế toán trên máy vi tính được thực hiện theo một chương trình phần
mềm kế toán trên máy vi tính Phầm mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức ghi số kế toán hoặc kết hợp giữa các hình thức kế toán trên
Ưu điểm: Thích hợp cho các loại DN, đặc biệt là các DN lớn Cung cấp thông tin
kế toán kịp thời, độ chính xác cao và có thể cho báo cáo bất cứ lúc nào
Nhược điểm: Chương trình kế toán máy có thể bị lỗi làm sai thông tin kế toán,
mất tài liệu
Sơ đồ 1.17: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính
Trang 391.8 Tổ chức báo cáo kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
1.8.1 Tổ chức Báo Cáo Tài Chính về bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
a.Tổ chức Báo cáo trên Bảng Cân Đối kế Toán.
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Tại ngày tháng năm (1) (Áp dụng cho doanh nghiệp đáp ứng giả định hoạt động liên tục)
Đơn vị tính: VN Đ
số
Thuyết minh Số cuối
năm
Số đầu năm
A - TÀI SẢN NGẮN HẠN
100
III Các khoản phải thu ngắn hạn 130
1 Phải thu ngắn hạn của khách hàng 131
2 Trả trước cho người bán ngắn hạn 132
4 Phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây
Trang 405 Phải thu về cho vay ngắn hạn 135
3 Thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước 153
4 Giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ 154
I Các khoản phải thu dài hạn 210
1 Phải thu dài hạn của khách hàng 211
2 Trả trước cho người bán dài hạn 212
2 Tài sản cố định thuê tài chính 224