Hình thức trả lương, thưởng hợp lý sẽ động viên người lao động nâng cao trình độ lành nghề, cải tiến kỹ thuật, phát huy sức sáng tạo, hợp lý các khâu trong sản xuất, tiết kiệm nguyênvật
Trang 1ĐỀ TÀI
“ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG TẠI CÔNG TY
TNHH PHÁT TRIỂN KỸ NGHỆ HÀ NỘI”
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưađược sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ trong luận văn này đều được cám ơn và các thông tin
đã trích dẫn trong luận văn đều được ghi lại rõ nguồn gốc
DANH MỤC VIẾT TẮT
1 BHXH: Bảo hiểm xã hội
1 CBCNV: Cán bộ công nhân viên
Trang 3MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU……… 1
Trang 4CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG
1.1 Khái niệm tiền
Trang 51.4.3.1 Khái niệm, đối tượng và điều kiện áp dụng:
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác trả lương………23
1.5.1 Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài:
2.2.1 Căn cứ trả lương………32
Trang 62.2.2 Thực trạng công tác trả lương ở công ty TNHH phát triển kỹ nghệ
Hà Nội………33
2.2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác trả lương của công
ty……… 33
2.2.2.2 Thực trạng công tác trả lương tại công ty………372.2.3 Đánh giá công tác trả lương của công ty TNHH phát triển kỹ nghệ
Hà Nội………48
2.2.3.1 Ưu điểm ………48
2.2.3.2 Nhược điểm……… 49
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRẢ
LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN KỸ NGHỆ HÀ NỘI.
3.1 Định hướng phát triển của công ty………
3.3.2 Hoàn thiện công tác trả lương theo thời gian 53
3.3.2.1 Xây dựng hệ thống đánh giá thực hiện công việc cho người lao động được trả lương theo thời
gian 53
Trang 73.3.2.2 Hoàn thiện cách tính lương theo thời gian 57
3.3.3 Hoàn thiện quy chế trả lương……….59
3.3.4 Kiến nghị với cấp trên………60
KẾT LUẬN………61
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì năng suất, chất lượng và hiệu quả luôn là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp dùng rất
nhiều các biện pháp, chính sách để đạt được mục tiêu đó Tiền lương, tiền
thưởng là một phạm trù kinh tế tổng hợp và có ý nghĩa to lớn vì vậy nó luôn được xã hội quan tâm Tiền lương, tiền thưởng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người lao động và được họ hết sức quan tâm và nó là nguồn thu nhập chủ yếu giúp đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình họ Đồng thời tiền lương, tiền thưởng cũng là một yếu tố động viên vật chất quan trọng, nó kích thích người lao động trong việc tăng năng suất lao động Ngoài ra tiền lương, tiền thưởng cũng là một loại chi phí sản xuất kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp và được cấu thành vào giá thành sản phẩm Hình thức trả lương, thưởng hợp lý sẽ động viên người lao động nâng cao trình độ lành nghề, cải tiến
kỹ thuật, phát huy sức sáng tạo, hợp lý các khâu trong sản xuất, tiết kiệm nguyênvật liệu, gắn trách nhiệm của người lao động với công việc
Tuy nhiên, vấn đề trả công lao phải gắn liền với quy luật phân phối lao động, nếu lạm dụng khuyến khích người lao động thông qua việc trả công lao động sẽ phản lại tác dụng và gây ra sự chênh lệch về thu nhập trong xã hội giữa các loại lao động và các doanh nghiệp Vì vậy công tác trả công lao động luôn làmột vấn đề quan trọng Chính vì vậy mà mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty hiện nay luôn đặt ra câu hỏi nên áp dụng hình thức trả công lao động như thế nào chophù hợp với tính chất đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, công ty mình để có thể phát huy tiềm lực tối đa hiện có cũng như kích thích người lao động hăng say làm việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội là một công ty với quy mô tương đối nhỏ Hiện nay công ty đang áp dụng hình thức trả lương theo thời giancho lao động Cách trả lương của công ty tuy là tốt nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định cần khắc phục
Trang 9Qua quá trình thực tập tại công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội em đãtìm hiều, nghiên cứu về công tác trả lương tại công ty hiện nay và thấy có nhiều vấn đề cần được giải quyết Do đó, em đã lựa chọn nghiên cứu, viết về đề tài “
Thực trạng công tác trả lương tại công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội
” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo và các cán bộ phòng ban trong công ty công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội đã hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thànhchuyên đề này
Trang 10CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG
1.1 Khái niệm tiền lương
Lao động là một hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến đổi tác động một cách tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của con người Do vậy lao động là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất trong quá trình sản xuất Sản xuất dù dưới hình thức nào thì người lao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động đều lànhững nhân tố không thể thiếu để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất
xã hội nói chung và quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng thì một vấn đề thiết yếu là phải tái sản xuất sức lao động
Vì vậy khi họ tham gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải trả thù lao cho họ Trong nền kinh tế thị trường thì việc trả thù lao cho người lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị và được gọi là tiền lương Như vậy tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, theo khối lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiẹp
Về bản chất tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động Mặt khác tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần làm việc hăng hái của người lao động, kính thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quảcông việc của họ Nói cách khác tiền lương là một nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về tiền lương, tùy theo từng góc độ xem xét và nghiên cứu vấn đề:
“Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”
Trang 11“Tiền lương là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó , mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cấm ”
“ Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả chongười lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng , nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động”
Theo điều 1 công ước số 95 (1949) về bảo vệ tiền lương của tổ chức lao động quốc tế ILO có quy định: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể được biểu hiện bằng tiền mặt và ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp động lao động viết tay hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm.”
Theo Điều 90 Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012 có ghi: “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định.”
Ngày nay, người ta hiểu: “Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung– cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định về tiền lương của pháp luật lao động Tiền lương được người sử dụng lao động trả cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định trong khoảng thời gian hợp đồng lao động (tuần, tháng, năm, )” (Giáo trình Tiền lương – Tiền công_tác giả: PGS
TS Nguyễn Tiệp và TS Lê Thanh Hà_ Đại Học Lao động_Xã hội)
Liên quan đến tiền lương ở Việt Nam còn có một số khái niệm như:
Trang 12* Tiền lương cơ bản: Là tiền lương được chính thức ghi trong các hợp đồng
lao động, các quyết định về lương hay qua các thỏa thuận chính thức
Tiền lương cơ bản phản ánh giá trị của sức lao động và tầm quan trọng của công việc mà người lao động đảm nhận
Tiền lương cơ bản = Tiền lương tối thiểu * Hệ số lương
* Tiền lương tối thiểu: Là tiền lương trả cho lao động giản đơn nhất trong
điều kiện bình thường của xã hội Tiền lương tối thiểu được pháp luật bảo vệ
Tiền lương tối thiểu là cơ sở là nền tảng để xác định mức lương trả cho các loại lao động khác Nó còn là công cụ để nhà nước quản lý và kiểm tra việc trao đổi mua bán sức lao động Tiền lương tối thiểu còn nhằm điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế
* Tiền lương danh nghĩa: Là số lượng tiền mà người lao động nhận được khi
họ hoàn thành một khối lượng công việc nhất định
* Tiền lương thực tế: Cùng một khối lượng tiền tệ nhưng ở những thời điểm khác nhau hay vùng địa lý khác nhau thì khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mua được cũng có thể khác nhau Như vậy Tiền lương thực tế là khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa
Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế thể hiện qua công thức sau đây:
I tltt = Itldn IgcTrong đó:
Itltt : Chỉ số tiền lương thực tế
I tldn : Chỉ số tiền lương danh nghĩa
Igc : Chỉ số giá cả
Trang 13Tiền lương thực tế giúp ta có thể so sánh về mức sống giữa các loại lao động
ở các vùng hay quốc gia khác nhau Tiền lương thực tế là một chỉ số về mức sống dựa trên các dạng tiêu dùng của người lao động và gia đình họ
Trước đây chúng ta coi tiền lương thuộc phạm trù phân phối, nhưng ngày nay tiền lương được coi như một khoản chi phí cho đầu tư Chất lượng và hiệu quả của kinh doanh ngày nay còn phụ thuộc vào các khoản đầu tư có hiệu quả hay không Đầu tư đúng vào nguồn nhân công chất lượng là một đảm bảo cho sự thành công
Những đặc trưng của tiền lương
+ Mức tăng của tiền lương được quyết định bởi các phương tiện sống khách quan cần thiết cho tái sản xuất sức lao động cả về số lượng và chất lượng phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội
+ Tiền lương có khuynh hướng tăng lên không ngừng bởi vì bản thân giá trị sức lao động tăng lên không ngừng Việc giảm tiền lương so với mức đã dạt được
sẽ gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ đến nỗi trên thực tế không được coi là một khả năng có thể xảy ra trong một thời gian dài hay trong phạm vi mà người ta có thể cảm nhận thấy được
+Nhịp độ phát triển của tiền lương phải chậm hơn so với nhịp độ phát triển kinh tế bởi quy luật phát triển tích lũy của tư bản nghiêng về phần cố định đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng
Khái niệm tiền công: Tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của
tiền lương Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức laođộng và thường được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các hợp động dân sự thuê mướn lao động có thời hạn Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể gọi
là giá công lao động Ở Việt Nam, trên thị trường tự do thuật ngữ “tiền công”
Trang 14thường được dùng để trả công cho lao động chân tay , còn “thù lao” dùng chỉ việc trả công cho lao động trí óc.
1.2 Chức năng và vai trò của tiền lương
1.2.1 Chức năng của tiền lương
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp thường sử dụng tiền lương làm đòn bẩy để khuyến khích tinh thần tích cực lao động là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động Vì vậy tiền lương có các chức năng sau:
Chức năng tái sản xuất sức lao động:
Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vât chất, sức lao động cũng cần phải được tái tạo Trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau việc tái sản xuất sức lao động có sự khác nhau Sự khác nhau này thể hiện bởi quan hệ sản xuất thống trị Song nhìn chung quá trình tái sản xuất sức lao động diễn ra trong lịch sử thể hiện rõ
sự tiến bộ của xã hội Sự tiến bộ này gắn liền với sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của những thành tựu khoa học - kỹ thuật mà nhân loại sáng tạo ra Chính nó đã làm cho sức lao động được tái sản xuất ngày càng tăng cả về số lượng và cả về chất lượng
Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho ngườilao động thông qua tiền lương.Sức lao động là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên được duy trì và khôi phục Như vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho người lao động có một số lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể:
- Duy trì và phát triển sức lao động của chính mình
- Sản xuất ra sức lao động mới
- Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng lao động, tăng cường chất lượng lao động
Chức năng kích thích người lao động:
Trang 15Kích thích là hình thức tác động, tạo ra động lực cho lao động Trong hoạt động kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực cơ bản, nó biểu hiện trên nhiều dạng, có lợi ích vật chất và có lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, có lợi ích
cá nhân, lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội Tiền lương đảm bảo và góp phần tác động để tạo ra cơ cấu lao động hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khích phát triển kinh tế ngành và lãnh thổ Tiền lương đồng thời là đòn bẩy kinh tế thu hút người lao động hăng say làm việc Là động lực thúc đẩy tăng năng suất, khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, gắn trách nhiệm cá nhân với tập thể và công việc
Các Mác đã viết: "Một tư tưởng tách rời lợi ích kinh tế thì nhất định sẽ làm nhục nó" Thực tế cho thấy rằng khi được trả công xứng đáng thì người lao động sẽlàm việc tích cực, sẽ không ngừng hoàn thiện mình hơn nữa và ngược lại, nếu người lao động không được trả lương xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ
có những biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp Thậm chí nó sẽ có những cuộc đình công xảy ra, bạo loạn gây nên xáo trộn về chính trị, mất ổn định xã hội
Ở một mức độ nhất định thì tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa
vị và uy tín của người lao động trong gia đình, tại doanh nghiệp cũng như ngoài xã hội Do đó cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của người lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp, để tính tiền lương trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển
Chức năng thanh toán của tiền lương:
Dùng tiền lương để thanh toán các khoản chi tiêu phát sinh trong đời sống sinhhoạt hàng ngày, giúp cho người lao động tính toán các khoản chi tiêu và họ sẽ tự điều chỉnh, cân đối chi tiêu cho hợp lý với số tiền họ nhận được khi kết thúc một quá trình lao động
Tiền lương là thước đo mức độ cống hiến của người lao động
Trang 16Chức năng này là biểu hiện của quy luật phân phối theo lao động Tiền lương
là thước đo giá trị sức lao động Nó là thước đo để xác định mức tiền công của các loại lao động , là căn cứ để thuê mướn lao động , là cơ sở để xác định và điều chỉnhđơn giá sản phẩm, hay giá cả sức lao động Đồng thời nó là cơ sở khoa học thay đổigiá cả sức lao động khi giá cả tư liệu sinh hoạt biến động trên thị trường Giá trị củahàng hóa sức lao động này phải được đo bằng lượng lao động xã hội cần thiết để tạo ra nó (đảm bảo sản xuất và tái sản xuất sức lao động) và qua mối quan hệ cung cầu về hàng hóa sức lao động đó trên thị trường lao động
Chức năng công cụ quản lý nhà nước
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh người sử dụng lao động đứng trước hai sức ép là chi phí sản xuất và kết quả sản xuất Họ thường tìm mọi cách
có thể để làm giảm thiểu chi phí trong đó có tiền lương trả cho người lao động
Bộ luật lao động ra đời, trong đó có chế độ tiền lương, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động đồng thời bảo vệ quyền lợi người lao động và lợi ích hợp pháp của người lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, tăng hiệu quả sử dụng và quản lý lao động
Với các chức năng trên ta có thể thấy tiền lương đóng một vai trò quan trọng việc thúc đẩy sản xuất và phát triển phát huy tính chủ động, sáng tạo của người lao động, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.2.2 Vai trò của tiền lương:
Về kinh tế:
Đối với người lao động thì tiền lương là phần thu nhập chính của họ, nó đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế của gia đình Ngườilao động dùng tiền lương của mình để trang trải các chi phí trong gia đình như: ăn,
ở, mặc, đi lại, chữa bệnh, học tập, giải trí,…và tích lũy Nếu tiền lương đảm bảo đủ
Trang 17chi phí trong gia đình và tích lũy sẽ tạo điều kiện cho người lao động yên tâm làm việc, doanh nghiệp phát triển, xã hội phồn vinh Ngược lại, sẽ làm cho mức sống của người lao động sẽ bị giảm sút, nền kinh tế gặp khó khăn, tạo ra tệ nạn xã hội,
Về chính trị xã hội:
Tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động, ảnh hưởng tới doanh nghiệp xã hội Nếu tiền lương cao sẽ ảnh hưởng tích cực, góp phần ổn định đời sống xã hội, ngược lại, nếu tiền lương thấp, người lao động sẽ không tha thiết gắn bó với công việc và doanh nghiệp, sẽ gây ra tình trạng sáo trộn trong xã hội
1.3 Các nguyên tắc trả lương
1.3.1 Lương trả ngang nhau cho người lao động như nhau
Đề ra nguyên tắc này là nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động,phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Người sử dụng lao độngkhông được trả công cho người lao động thấp hơn mức tối thiểu do Nhà nước quy định, không được phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc,… mà phải trả công ngang nhau cho lao động như nhau nếu kết quả lao động và hiệu quả như nhau, nghĩa là mức hao phí lao động như nhau trong cùng một đơn vị làm việc Đây là một
nguyên tắc quan trọng vì nó đảm được tính công bằng và bình đẳng trong trả lương.Điều này sẽ có sức khuyến khích rất lớn đối với người lao động
1.3.2 Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tạo cơ sở hạ giá thành và giảm giá cả hàng hóa.
Thực hiện nguyên tắc này thì tiền lương phải là giá cả sức lao động phù hợp với quan hệ lao động của pháp luật Nhà nước Thực hiện việc trả lương gắn với giá trị mới sáng tạo ra, đồng thời phản ánh đúng kết quả lao động và hiệu quả kinh tế Mức lương tối thiểu phải là nền tảng của chính sách tiền lương và có cơ cấu hợp lý
về sinh học, xã hội học, bảo hiểm tuổi già và nuôi con
Trang 18Tiền lương của người lao động là để tái sản xuất sức lao động, tức là đảm bảo cho đời sống của bản thân họ và gia đình của người lao động Điều quan trọng
là số lượng tư liệu sinh hoạt mà người lao động được nhận khi họ chuyển hóa số tiền lương nhận được qua các khâu phân phối, lưu thông trực tiếp là giá cả và phương thức phục vụ của thị trường Từ đó có cơ sở hạ giá thành sản phẩm, kích thích tiêu dùng
1.3.3 Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân
Nguyên tắc này nhằm thực hiện yêu cầu của tái sản xuất mở rộng, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt và chăm lo lợi ích lâu dài
Thực hiện nguyên tắc này, cần gắn chặt tiền lương với năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Giải quyết tốt mối quan hệ giữa: Làm và ăn, thúc đẩy mọi người khai thác mọi khả năng tiềm năng để không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội
Nguyên tắc này có khả năng thực hiện được bởi vì những nhân tố làm tăng năng suất lao động nhiều hơn những nhân tố làm tăng tiền lương Tiền lương phụ thuộc vào việc nâng cao trình độ lành nghề của người lao động do nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian lao động do Nhà nước tăng lương… Năng suất lao động tănglên không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố làm tăng tiền lương mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau: Do phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào hoạt động sản xuất Do cải tiến và nâng cao trình độ tổ chức sản xuất và tiết kiệm, phát huy các yếu tố thuận lợi của điều kiện
tự nhiên…
bộ phận lao động xã hội
Trang 19Cơ sở để đề ra nguyên tăc này là nhằm đảm bảo sự công bằng và bình đẳng
xã hội, kết hợp hài hòa lợi ích giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội Thực hiện nguyên tắc này cần xem xét, giải quyết tốt mối quan hệ về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa những người đang làm việc với những người nghỉ hưu, người hưởng chính sách xã hội
Trong khu vực Nhà nước, cần thực hiện trả lương hoàn toàn bằng tiền trên
cơ sở xóa bỏ các chính sách chế độ cung cấp hiện vật mang tính chất tiền lương Xác lập quan hệ hợp lý về tiền lương và thu nhập giữa các khu vực, các ngành nghềtrên cơ sở xác định bội số và mức lương bậc 1 khi Xây dựng các hệ thống thang, bảng lương, phụ cấp và cơ chế trả lương, trả thưởng Nhà nước có chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp lý giữa các bộ phận dân cư, các vùng, các ngành
Một vấn đề được đặt ra ở mỗi doanh nghiệp là phải đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động lành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân có nghĩa là rút ngắn được khoảng cách về thu nhập giữa những người lao động có cùng trình độ chuyên môn nhưng làm việc trong những ngành, lĩnh vực khác nhau
Công thức: LSP= ĐGTL * QTT
Trong đó:
Trang 20- LSP :Tiền công sản phẩm thực tế của người lao động
- ĐGTL : Đơn giá tiền lương
- QTT :Số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách chất lượng mà người lao động sản xuất ra trong kỳ
Ưu điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm:
Tiền lương người lao động gắn trực tiếp với kết quả sản xuất từ đó tạo động lực kích thích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
Khuyến khích người lao động nâng cao trình độ, hoàn thiện phương pháp laođộng, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động
Tạo sự cạnh tranh lành mạnh cho người lao động, khuyến khích tinh thần thi đua trong các tổ đội sản xuất
Tiền lương người lao động được chi trả một cách rõ ràng, thực hiện tốt tính công khai trong việc chi trả lương
Nhược điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm:
o Trả công theo sản phẩm có thể dẫn tới tình trạng người lao động ít quan tâm
đến đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu và sử dụng hợp
lý máy móc thiết bị
o Hình thức trả lương theo sản phẩm chỉ phù hợp với những công việc mà ở đó
dây chuyền sản xuất đảm bảo được tính liên tục, các công việc có thể định mức được, có tính lặp đi lặp lại và không đòi hỏi trình độ lành nghề cao, năng suất lao động phụ thuộc chủ yếu vào sự nỗ lực của người lao động và việc tăng năng suất không gây ảnh hưởng lớn tới chất lượng sản phẩm
Các hình thức trả lương theo sản phẩm:
a Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế:
Với các thức này thì tiền lương trả cho người lao động được tính trực tiếp theo
số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định, không có bất cứ một hạn chế nào
Trang 21Đây là hình thức phổ biến được các doanh nghiệp sử dụng để tính lương phải trả cho người lao động trực tiếp.
b Trả lương theo sản phẩm gián tiếp.
Đó là tiền lương phải trả cho bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hình thức này thường áp dụng để trả lương cho người lao động gián tiếp Tuy lao động của họ không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại gián tiếp ảnh hưởng tới năng suất lao động trực tiếp và họ là những người làm nhiệm vụ vận chuyển
nguyên vật liệu, thành phảm, bảo dưỡng máy móc tiết bị…
c Trả lương theo sản phẩm có thưởng, phạt:
Theo hình thức này ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp người lao động còn được thưởng trong sản xuất như thưởng về chất lượng sản phẩm tốt, năng suất lao động cao, tiết kiệm vật tư Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, vượt quá vật tư trên định mức quy định, không đàm bảo được ngày công quy định thì có thể phải chi tiền phạt trừ vào thu nhập của họ
Hình thức này được sử dụng để khuyến khích người lao động hăng say trong công việc và có ý thức trách nhiệm trong sản xuất Chế độ trả lương theo sản phẩm
d Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến.
Theo hình thức này ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp Còn căn cứ vào mức độ hoàn thành vượt định mức lao động, tính thêm một số tiền lương theo tỷ lệ luỹ tiến Những sản phẩm vượt mức càng cao thì suất luỹ tiến càng lớn
Trang 22Hình thức này chỉ được sử dụng trong một số trường hợp cần thiết, như khi cần hoàn thành gấp một đơn đặt hàng hoặc trả lương cho người lao động ở khâu khó nhất, để đẩy nhanh tốc độ sản xuất đảm bảo cho thực hiện công việc được đồng bộ Trong chế độ trả lương này dùng hai loại đơn giá:
Đơn giá cố định: dùng để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn thành
Đơn giá lũy tiến: dùng để tính lương cho những sản phẩm vượt mức khởi điểm Đơn giá lũy tiến là đơn giá cố định nhân với tỷ lệ tăng đơn giá
1.4.2 Hình thức trả lương khoán
Đây là hình thức trả lương cho người lao động theo khối lượng và chất lượng công việc mà họ hoàn thành
Có hai loại khoán: Khoán công viêc và khoán quỹ lương
a Khoán công việc:
Doanh nghiệp xác định mức tiền lương trả theo từng công việc mà người lao động phải hoàn thành
Hình thức này áp dụng cho những công việc lao động đơn giản, có tính chất đột xuất như bốc dỡ nguyên vật liệu, hàng hoá, sửa chữa, nhà cửa…
b Hình thức khoán quỹ lương:
Căn cứ vào khối lượng từng công việc, khối lượng sản phẩm và thời gian cần thiết để hoàn thành mà doanh nghiệp tiến hành khoán quỹ lương
Người lao động biết trước số tiền lương mà họ sẽ nhận sa khi hoàn thành côngviệc trong thời gian đã được quy định
Hình thức này áp dụng, cho những công việc không thể định mức cho từng bộ phận công việc hoặc những công việc mà xét ra giao khoán từng công việc chi tiết thì sẽ không lợi về mặt kinh tế Thông thường là những công việc cần hoà thành đúng thời hạn
1.4.3 Hình thức trả lương theo thời gian:
1.4.3.1 Khái niệm, đối tượng và điều kiện áp dụng:
Trang 23Khái niệm: Hình thức trả lương theo thời gian là thực hiện việc tính trả lươngcho người lao động theo thời gian làm việc thực tế, theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghiệp vụ kỹ thuật chuyên môn của người lao động.
Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau, mỗi ngành nghề cụ thể có một tháng lương riêng Trong mỗi tháng lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ kỹ thuật chuyên môn mà chi làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định
Tiền lương theo thời gian có thể tính theo: Tháng, tuần, ngày, giờ
Công thức tính như sau: (Giáo trình Tiền lương – Tiền công_tác giả: PGS
TS Nguyễn Tiệp và TS Lê Thanh Hà_ Đại Học Lao động_Xã hội)
TLTG = ML * TLVTT
Trong đó:
+ TLTG : Tiền lương thời gian trả cho người lao động
+ ML : Mức lương tương ứng với các bậc trong thang lương, bảng lương (mức lương giờ, ngày, tháng)
+ TLVTT :Thời gian làm việc thực tế (số ngày công, giờ công đã làm trong kỳ, tuần, tháng,…)
Hình thức trả lương này được áp dụng chủ yếu với:
Đối với những bộ phận sản xuất nhưng chưa thể xây dựng được định mức
Đối với những khâu có trình độ tự động hóa
Đối với những khâu có yêu cầu cao về mặt chất lượng hoặc những công việc quan trọng
Đối với bộ phận quản lý trong doanh nghiệp
Để áp dụng có hiệu quả hình thức trả lương theo thời gian, cần đảm bảo những điều kiện sau:
+ Phải thực hiện chấm công cho người lao động chính xác
Trang 24+ Phải đánh giá chính xác mức độ phức tạp của công việc
+ Phải bố trí đúng người đúng việc
1.4.3.2 Các hình thức trả lương theo thời gian:
Trả lương theo hình thức thời gian thực hiện theo hai hình thức, đó là:
- Hình thức trả lương theo thời gian đơn giản
- Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng
Khái niệm: Hình thức trả lương theo thời gian đơn giản là hình thức trả lương mà tiền lương nhận được của mỗi người lao động phụ thuộc vào mức lương cấp bậc, chức vụ hay cấp hàm và thời gian làm việc thực tế của họ
Áp dụng chủ yếu đối với khu vực hành chính sự nghiệp hoặc đối với công việc khó xác định định mức lao động chính xác, khó đánh giá công việc chính xác trong công ty
Tiền lương thời gian đơn giản được xác định như công thức đã nêu ở trên (TLtg= ML x TLVTT) Có hai hình thức trả lương theo thời gian đơn giản chính là hình thức trả lương tháng và hình thức trả lương ngày
- Hình thức trả lương tháng:
Hình thức trả lương tháng là hình thức trả lương tính theo mức lương cấp bậchoặc chức vụ tháng của công nhân viên chức Hình thức trả lương tháng được áp dụng chủ yếu đối với viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước
Công thức tính:(Giáo trình Tiền lương – Tiền công_tác giả: PGS TS Nguyễn Tiệp
và TS Lê Thanh Hà_ Đại Học Lao động_Xã hội)
MLtháng = MLcb, cv + PC = Hhsl x TLmin + PC
Trong đó:
+ MLtháng: Mức lương tháng
+MLcb, cv: Mức lương cấp bậc, chức vụ
Trang 25Mức lương ngày được xác định như sau:
Trang 26công việc thời hạn dưới 3 tháng thì có thể trả ngay sau mỗi ngày làm việc nhưng phải tính thêm cho họ khoản bảo hiểm xã hội, ít nhất 15% vào tiền lương, để người lao động tự lo vấn đề bảo hiểm cho mình.
Ưu điểm: giảm bớt được tính bình quân trong trả lương, có tác dụng khuyến khích việc nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian lao động trong tháng Nhược điểm là chưa phản ánh được hiệu quả lao động trong ngày làm việc
Ngoài hai hình thức trả lương trên, trên thực tế còn có chế độ trả lương tuần
và trả lương giờ.Các hình thức này được áp dụng chủ yếu ở khu vực phi Nhà nước
Mức lương tuần trả cho một tuần làm việc được xác định như sau:
MLtuần =
MLtháng x 12 (tháng)
52 (tuần)Mức lương giờ để trả cho số giờ làm việc và được xác định như sau:
1.4.3.2.2Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng là sự kết hợp thực hiện hình thức trả lương theo thời gian đơn giản với việc áp dụng các hình thức thưởng nếu cán bộ công nhân viên chức đạt được các chỉ tiêu và điều kiện thưởng quy định
Hình thức trả lương này thường áp dụng đối với những bộ phận sản xuất hoặc những công việc chưa có điều kiện trả lương theo sản phẩm hay những công
Trang 27việc đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác cao, những công việc có trình độ cơ khí hoá, tự động hoá cao.
Tiền lương của người lao động nhận được bao gồm tiền lương theo thời gian đơn giản cộng với tiền thưởng
Công thức tính: (Giáo trình Tiền lương – Tiền công_tác giả: PGS TS
Nguyễn Tiệp và TS Lê Thanh Hà_ Đại Học Lao động_Xã hội)
TLTg = ML x Tlvtt + Tthưởng
Trong đó:
+ ML : Mức lương thời gian của người lao động
+ Tlvtt : Thời gian làm việc thực tế của người lao động
+ Tthưởng : Tiền thưởng
Hình thức trả lương này có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả lương theo thời gian đơn giản: phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế
mà còn gắn chặt tiền lương với thành tích công tác của từng người lao động thông qua các chỉ tiêu xét thưởng mà họ đã đạt được Vì vậy nó khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả công tác của mình
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác trả lương
1.5.1 Yếu tố thuộc môi trường bên ngoài:
+Thi trường lao động: Tình hình cung và cầu lao động, thất nghiệp trên thị trường lao động là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến số lượng tiền công mà người chủ sử dụng sức lao động sẽ đưa ra để thu hút và giữ gìn người lao động có trình độ Sự thay đổi cơ cấu đội ngũ lao động, các chế định về giáo dục và đào tạo cũng ảnh hưởng đến mức tiền lương của doanh nghiệp
+ Sự khác biệt về tiền lương theo vùng địa lý mà tổ chức doanh nghiệp đang
cư trú
+Các mong đợi của xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán: Các mong đợi của
xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán tại nơi doanh nghiệp đang kinh doanh cũng
Trang 28cần được lưu tâm xem xét khi xác định mức tiền lương vì tiền lương phải phù hợp với chi phí sinh hoạt của vùng địa lý.
+Các tổ chức công đoàn: Công đoàn là một tổ chức có thế lực mạnh mẽ mà các cấp quản trị phải thảo luận với họ về các tiêu chuẩn được sử dụng để xếp
lương, các mức chênh lệch về tiền lương, các hình thức trả lương,…Nếu doanh nghiệp được công đoàn ủng hộ thì các kế hoạch đề ra rất dễ giành được thắng lợi
+Luật pháp và các quy định của chính phủ: Các điều kiện về tiền lương và các khoản phúc lợi đươc quy định trong bộ luật Lao động đòi hỏi các tổ chức phải tuân thủ khi xác định các mức tiền lương
+Tình trạng của nền kinh tế: Tình trạng của nền kinh tế đang suy thoái hay đang tăng trưởng nhanh sẽ tạo ra cho doanh nghiệp có khuynh hướng hạ thấp hoặc tăng trưởng cho người lao động Bởi vì, trong điều kiện nền kinh tế suy thoái thì nguồn cung về lao động tăng lên, còn trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng thì việc làm được tạo ra và cầu về lao động lại tăng lên
+ Quy mô, cơ cấu của doanh nghiệp, môi trường công ty
+ Môi trường của công ty: Môi trường công ty là nhân tố ảnh hưởng mạnh
mẽ đến công tác tổ chức tiền lương của công ty Do đó cần phải tạo ra một môi trường lành mạnh trong công ty
+Chính sách của công ty: Do chính sách của công ty mà công tác tổ chức tiền lương cần phải thực hiện Nhưng chính sách cuả công ty bao giờ cũng tạo điều
Trang 29kiện thúc đẩy quá trình lao động sản suất có hiệu quả Chính sách tổ chức của công
ty phải có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình tài chính của công ty
+ Khả năng chi trả của công ty: Tài chính và tình hình sản suất kinh doanh
của công ty là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng công tác tổ chức tiền lương, đến khảnăng chi trả, đến các chính sách về tiền lương trong công ty
1.5.3 Yếu tố thuộc về cá nhân người lao động
+ Sự hoàn thành công tác: Công tác tổ chức tiền lương căn cứ vào sự hoàn thành công tác của người lao động để xác định mức lương cho phù hợp Nếu nó xácđịnh phù hợp với quá trình lao động sản suất của họ thì nó sẽ thúc đẩy kích thích họlàm việc hăng say, tạo ra năng suất lao động cao
+Thâm niên: Thâm niên của người lao động có ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động Do đó công tác tổ chức tiền lương cũng căn cứ vào thâm niên
để xác định mức lương cho phù hợp với mọi đối tượng lao động Ngoài ra còn có kinh nghiệm tiềm năng cũng ảnh hưởng đến công tác tiền lương của công ty
+Trình độ năng lực quản lý và khả năng sử dụng công nghệ trong công việc: Đây là hai yếu tố gắn chặt với con người nó có ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ tới công tác tổ chức tiền lương Nếu trình độ năng lực quản lý và khả năng sử dụng công nghệ của cán bộ công nhân viên tốt thì công tác tổ chức tiền lương sẽ có hiệu quả và ngược lại
+Bản thân công việc: Công việc là yếu tố chính quyết định đến tiền lương của mỗi lao động Doanh nghiệp nào cũng cần phải có công tác tổ chức tiền lương hợp lý phù hợp với bản thân công việc, với sức lực của người lao động bỏ ra
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN KỸ NGHỆ HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Trang 30• Địa chỉ: Số 179 phố Bùi Thị Xuân, phường Bùi Thị Xuân, Quận Hai
• Điện thoại: 9461013 - Fax: (hide)
• Giám đốc: DOÃN QUANG HƯNG
• Điện thoại: 9761013
- Quá trình hình thành: Công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội là một
công ty tương đối nhỏ, quy mô ở mức trung bình Công ty được thành lập theo giấyphép số 893/GP cấp ngày 31 tháng 10 năm 2003 của Ủy ban Nhà Nước về Hợp tác
và Đầu tư và các giấy phép điều chỉnh Công ty hoạt động ngày 6 tháng 11 năm 2003
Tổng số vốn đầu tư đăng ký của doanh nghiệp 6.000.000 USD
Lĩnh vực hoạt động: sản xuất, kinh doanh chế tạo các loại vật liệu xây dựng
Sản xuất, lắp ráp các máy khoan và các thiết bị điện tử khác, nghiên cứu, phát triển, sản xuất và kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin khác co liên quan
Kinh doanh nhà ở và nhận thầu xây lắp
Quá trình phát triển của công ty:
Năm 2003, Công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội được thành lập theo Giấy phép của Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư với số vốn đầu tư là 700.000 USD
Trang 31 Công ty đã nghiên cứu, hoàn thiện đưa vào sản xuất các loại vật liệu xây dựng.
2005, tăng vốn lên 2.000.000 USD Tháng 9/2011 tăng vốn lên 4.600.000 USD và kéo dài thời hạn liên doanh từ 10 năm lên 20 năm
Năm 2010: Đón nhận Huân chương lao động hạng 3 của Nhà nước
Tháng 7 năm 2012 xuất khẩu lô hàng đầu tiên sang Philippine
Tháng 4/2015: Khai trương Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển với quy
mô trên 200 nhân sự; chuyên viên nghiên cứu, phát triển và kinh doanh các loại vật liệu xây dựng
Nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh của công ty
Kinh doanh
Kinh doanh xi măng và vật liệu xây dựng
Kinh doanh nhà
Sản xuất
Sản xuất gạch hoa lát nền và gạch nung
Xây dựng công nghiệp
Xây dựng công trình công cộng nhà ở
Xây dựng công trình giao thông
Xây dựng công trình thủy lợi
Sản xuất bê tông thương phẩm, các sản phẩm từ xi măng và thạch cao
Sản xuất xi măng, vôi, thạch cao…
Sản xuất các vật liệu, thiết bị lắp đặt trong xây dựng
Trang 32o Bảo trì - Bảo dưỡng
o Sửa chữa
Nghiên cứu và phát triển (R&D)
o Nghiên cứu & Phát triển các sản phẩm khác
o Các dịch vụ giá trị khác
o Quảng cáo
Bảng 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty TNHH phát triển kỹ nghệ Hà Nội
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ các bộ phận và phòng:
Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị (HĐQT):
o Chủ tịch HĐQT do toàn thể thành viên Công ty bầu và thực hiện quyền, nghĩa vụ như sau:
o Chủ tịch chuẩn bị chương trình, nội dung tài liệu họp HĐQT
o Triệu tập và chủ tọa các cuộc họp HĐQT
o Giám sát việc tổ chức thực hiện quyết định của HĐQT
o Thay mặt HĐQT ký các quyết định của HĐQT
o Thay mặt HĐQT ký duyệt các văn bản liên quan đến hoạt động kinh doanh do Giám đốc đệ trình
o Nhiệm kỳ Chủ tịch HĐQT không quá 03 năm và có thể được bầu lại
Giám đốc Công ty
PHÒNG IRD
PHÒNG FAD
PHÒNG AMD