Nhận thức được tầm quan trọng của tổ chức kế toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả kinh doanh, vận dụng lý luận và kiến thức đã học tại truờng, kết hợp với thực tế thu nhận đựoc từ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với xu thế toàn cầu hóa, một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường cần xác định cho mình những chính sách phù hợp Lợi nhuận là mục tiêu mà tất cả các doanh nghiệp đều hướng tới, bởi vì nguồn thu cuối cùng sau một kỳ hoạt động kinh doanh, là nguồn thu sau khi đã bù đắp hết chi phí phát sinh trong kỳ Nếu một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả thì nó không chỉ không có lợi nhuận mà thậm trí còn làm hao hụt vốn chủ sở hữu nếu như tình trạng lỗ kéo dài Ngược lại, nếu hoạt động kinh doanh hiệu quả có lợi nhuận sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đứng vững và mở rộng sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, việc lợi nhuận đạt cao hay thấp lại phụ thuộc vào doanh thu đạt được và cách thức quản lý chi phí của doanh nghiệp Để tăng lợi nhuận thì tăng doanh thu là biện pháp rất quan trọng vì doanh thu biến động sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, tăng doanh thu luôn là bài toán quan trọng và khó giải nhất của các doanh nghiệp Vì thế, việc theo dõi chi tiết doanh thu đối với từng hoạt động sẽ giúp nhà quản lý quyết định các chính sách phù hợp trong từng thời kỳ Việc tăng doanh thu phải luôn đi liền với quản lý chi phí để đảm bảo hiệu quả hoạt động
Có thể thấy rằng doanh thu, chi phí, lợi nhuận là các yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại, phát triển của một doanh nghiệp Vì vậy, việc quản lý các đối tượng này có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh Với công cụ kế toán, các đối tượng này vừa
là yếu tố để đánh giá hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp, vừa là căn cứ cho nhà quản lý đưa ra quyết định kinh tế quan trọng
Nhận thức được tầm quan trọng của tổ chức kế toán doanh thu bán hàng và xác định kết quả kinh doanh, vận dụng lý luận và kiến thức đã học tại truờng, kết hợp với thực tế thu nhận đựoc từ kế toán tại công ty Cổ phần Sơn VIVA Việt Nam là nơi có doanh thu hoạt động bán hàng hóa, thành phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu, em đã chọn
chuyên đề thực tập : " Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty Cổ
phần Sơn VIVA Việt Nam" để nghiên cứu
Chuyên đề thực tập của em gồm có 3 chương:
Trang 2Chương 1: Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty
Cổ phần Sơn VIVA Việt Nam.
Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty Cổ phần Sơn VIVA Việt Nam.
Trong quá trình thực tập, em đã nhận được sự chỉ dẫn nhiệt tình và giúp đỡ của các thầy cô trong bộ môn kế toán doanh nghiệp, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Văn Hậu, cùng với các anh, chị cán bộ kế toán thuộc công ty Cổ phần Sơn VIVA Việt Nam Tuy nhiên, phạm vi của chuyên đề mở rộng, thời gian thực tế chưa nhiều nên chuyên đề của em khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Kính mong được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy, cô giáo và các anh, chị phòng kế toán công ty Cổ phần Sơn VIVA Việt Nam để bài viết này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm về thành phẩm, bán hàng, xác định kết quả kinh doanh và các phương thức bán hàng.
1.1.1 Khái niệm về thành phẩm:
Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng của một quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó của doanh nghiệp (ngoài ra còn bao gồm cả những sản phẩm thuê ngoài gia công đã hoàn thành), đã qua kiểm tra kỹ thuật và được xác nhận là phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định được nhập kho hoặc giao trực tiếp cho khách hàng
Bên cạnh thành phẩm, doanh nghiệp còn có bán thành phẩm (nửa thành phẩm) Đây là những sản phẩm mới kết thúc một hay một số công đoạn trong quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) được nhập kho hay chuyển giao để tiếp tục chế biến thành phẩm hoặc có thể bán ra bên ngoài Trong phạm vi một doanh nghiệp thì bán thành phẩm còn có thế tiếp tục chế tạo thành thành phẩm hoàn chỉnh, nhưng trong phạm vi nền kinh tế quốc dân thì nửa thành phẩm còn có thể được bán ra bên ngoài cho doanh nghiệp khác sử dụng
Vì vậy, xác định đúng đắn nửa thành phẩm trong từng doanh nghiệp là vấn đề cần thiết và
có ý nghĩa quan trọng Nó giúp cho doanh nghiệp trong công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm hoàn thành Từ đó xác định được mức độ hoàn thành kế hoạch của đơn vị cũng như xác định được kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp
Thành phẩm được biểu hiện cả về mặt số lượng và mặt chất lượng:
- Về mặt số lượng: Thành phẩm được xác định bằng các đơn vị đo lường như con, cái, vòng, tấn, kg…
- Chất lượng của thành phẩm được xác định bằng tỷ lệ tốt xấu hoặc phẩm cấp (loại 1, loại 2…) Số lượng thành phẩm phản ánh quy mô thành phẩm của doanh nghiệp tạo ra, còn mặt chất lượng phản ánh giá trị sử dụng của thành phẩm
Trang 4Thành phẩm không chỉ là thành quả lao động sáng tạo của cán bộcông nhân viên toàn doanh nghiệp mà nó còn là vốn mà doanh nghiệp bỏ ra mua nguyên vật liệu đầu vào, máy móc, nhà xưởng…Do đó, doanh nghiệp phải tổ chức tốt khâu quản lý thành phẩm để đảm bảo an toàn, tránh lãng phí, làm cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Cần phân biệt giữa thành phẩm và sản phẩm:
Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ
Xét về mặt
phạm vi
Thành phẩm chỉ là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất
Sản phẩm gồm thành phẩm và nửa thành
Bán hàng hay còn gọi là quá trình tiêu thụ sản phẩm, là quá trình doanh nghiệp chuyển
Trang 5quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng đồng thời nhận được quyền thu tiền hoặc nhận được tiền từ khách hàng, đây là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của thành phẩm, tức là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị.
Thành phẩm được xác định là tiêu thụ khi doanh nghiệp đó thu được tiền từ khách hàng hoặc được khách hàng chấp nhận thanh toán với đầy đủ các chứng từ chứng minh cho quá trình tiêu thụ đó như: hoá đơn bán hàng, hoá đơn thuế GTGT, hợp đồng kinh tế… Chỉ khi
đó doanh nghiệp mới được hạch toán doanh thu
Vai trò của công tác bán hàng trong doanh nghiệp:
Thành phẩm hoàn thành được nhập kho và bán cho khách hàng có ý nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp và giá trị sản phẩm của doanh nghiệp được xã hội công nhận, là
cơ sở để doanh nghiệp tăng cường sản xuất kinh doanh có lãi Với việc tổ chức tốt công tác kế toán bán hàng giúp doanh nghiệp hạn chế được sự thất thoát thành phẩm trong quá trình tiêu thụ, kịp thời phát hiện ra những thành phẩm chậm luân chuyển để đề xuất biện pháp thích hợp với chủ doanh nghiệp nhằm thúc đẩy quá trình tuần hoàn vốn Qua
số liệu kế toán thành phẩm cung cấp, chủ doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch về sản xuất và tiêu thụ, từ đó có những điều chỉnh kịp thời việc cân đối từng khâu trong quá trình lập kế hoạch Thông qua công tác kế toán bán hàng để xây dựng các báo cáo tài chính, cung cấp số liệu cho Nhà nước trong việc kiểm tra chấp hành các chính sách của nhà nước và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Ngoài
ra còn có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư, ngân hàng, cổ đông… biết được hiệu quả kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó họ có những quyết định trong việc đầu tư, việc cho vay, và quan hệ làm ăn với doanh nghiệp
Nhiệm vụ của công tác kế toán bán hàng trong doanh nghiệp:
Tổ chức công tác kế toán bán hàng hay tiêu thụ sản phẩm là cần thiết và tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất Doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc sản xuất sản phẩm mà còn phải tiến hành việc tiêu thụ sản phẩm Bởi vì giữa sản xuất và tiêu thụ có quan hệ hữu cơ với nhau Nếu như sản xuất thành phẩm là cơ sở, là điều kiện nảy sinh quá trình tiêu thụ, thì ngược lại tiêu thụ là yếu tố cơ bản đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành Nếu sản xuất không hoàn thành kế hoạch thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ Ngược lại nếu sản xuất được nhiều thành phẩm chất lượng
Trang 6cao, giá thành hạ là điều kiện để tiêu thụ thành phẩm một cách dễ dàng Đồng thời chỉ có
tổ chức tốt công tác kế toán thành phẩm mới đảm bảo tính toán chính xác, phân bổ hợp
lý số chi phí ngoài sản xuất cho sản phẩm đó tiêu thụ
Để phát huy vai trò của kế toán đối với công tác chỉ đạo sản xuất kinh doanh, kế toán bán hàng phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời tình hình tiêu thụ thành phẩm cùng các chi phí phát sinh trong quá trình này
- Ghi chép đầy đủ chi phí bỏ ra để tính toán phân bổ chính xác chi phí cho số sản phẩm tiêu thụ, xác định đúng doanh thu và kết quả tiêu thụ Xác định chính xác kết quả tiêu thụ từng mặt hàng cũng như toàn bộ lợi nhuận chung trong quá trình tiêu thụ thành phẩm
- Phản ánh, giám đốc chặt chẽ tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình tiêu thụ các loại thành phẩm, từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu khắc phục các tồn tại
- Cung cấp thông tin kế toán để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình tiêu thụ thành phẩm và phân phối kết quả kinh doanh
1.1.3 Các phương thức bán hàng và hình thức thanh toán trong doanh nghiệp.
a) Các phương thức bán hàng:
Sản phẩm của doanh nghiệp được coi là tiêu thụ khi doanh nghiệp thực hiện giao dịch bán hàng với khách hàng Sau khi thành phẩm hoàn thành nhập kho, nhiệm vụ quan trọng là tiến hành quá trình tiêu thụ thành phẩm sao cho hiệu quả, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Để thực hiện nhiệm vụ này doanh nghiệp áp dụng nhiều phương thức tiêu thụ khác nhau, phù hợp với từng đối tượng Căn cứ vào yếu tố chuyển giao quyền sở hữu hay sự chấp nhận thanh toán, doanh nghiệp có thể có các phương thức tiêu thụ như sau:
Phương thức tiêu thụ trực tiếp:
Tiêu thụ thành phẩm trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho, tại các phân xưởng (không qua kho) của doanh nghiệp Người mua thanh toán hay chấp nhận thanh toán số hàng mà người bán đã giao Số hàng này khi bàn giao cho khách hàng được coi là chính thức tiêu thụ Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
Trang 7chuyển giao quyền sở hữu số hàng bán và thu được lợi ích Theo phương thức này thành phẩm có thể được coi là tiêu thụ trực tiếp trong các trường hợp sau:
+ Bán buôn: Bán buôn là quá trình bán hàng cho các đơn vị sản xuất, các doanh nghiệp
thương mại để tiếp tục đưa vào quá trình sản xuất, gia công chế biến tạo ra sản phẩm mới hoặc tiếp tục được chuyển bán Do đó đối tượng của bán buôn rất đa dạng và phong phú, có thể là cơ sở sản xuất, đơn vị kết quả tiêu thụ hàng hóa thương mại trong nước và nước ngoài hoặc các công ty thương mại tư nhân
Đặc trưng của phương thức này là kết thúc nghiệp vụ bán hàng, hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, Do đó muốn quản lý tốt thì phải lập chứng từ cho từng lần bán
+ Bán lẻ: Theo hình thức này, hàng hóa thành phẩm được bán trực tiếp cho người tiêu
dùng Bán lẻ là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động của hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Đối tượng của bán lẻ là mọi cá nhân trong và ngoài nước muốn có một giá trị
sử dụng nào đó không phân biệt giai cấp, quốc tịch
Đặc trưng của phương thức bán lẻ là kết thúc nghiệp vụ bán hàng thì sản phẩm rời khỏi lĩnh vực lưu thông, đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị sử dụng của sản phẩm được thực hiện Hàng bán lẻ thường có khối lượng nhỏ, thường thanh toán ngay bằng tiền mặt nên thường ít được lập chứng từ cho từng lần bán Bán lẻ được chia làm hai hình thức:
- Bán lẻ thu tiền tập trung: Theo hình thức này, quá trình bán hàng được tách thành 2 giai đoạn: Giai đoạn thu tiền và giai đoạn giao hàng
- Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, việc thu tiền và giao hàng cho bên mua không tách rời nhau Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách hàng Hết ngày hoặc ca bán, nhân viên bán hàng có nhiệm vụ nộp tiền cho thủ quỹ và lập báo cáo bán hàng sau khi đã kiểm kê hàng tồn trên quầy
Tiêu thụ thành phẩm theo phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận:
Tiêu thụ theo phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận là phương thức là bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm ghi trong hợp đồng Số hàng chuyển đi này vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bán Khi được bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh
Trang 8toán về số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì số hàng được bên mua chấp nhận này mới được coi là tiêu thụ và bên bán hết quyền sở hữu số hàng đó.
Tiêu thụ thành phẩm theo phương thức gửi bán:
Đây là phương thức tiêu thụ mà người mua chưa chấp nhận thanh toán ngay khi giao nhận hàng, có thể xảy ra các trường hợp sau:
- Gửi bán đại lý: đây là phương thức mà bên chủ hàng(bên giao đại lý) xuất hàng
cho bên nhận đại lý để bán Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng (bán đúng giá của doanh nghiệp), hoặc chênh lệch giá(trường hợp bán không đúng giá) Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu và hoa hồng khi đại
lý đó thông báo đã bán được hàng và thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
- Gửi cho khách hàng: doanh nghiệp gửi hàng cho khách hàng theo hợp đồng, sau
khi khách hàng nhận hàng, kiểm tra, thử nghiệm và xác nhận chất lượng, số lượng hàng đúng như trong hợp đồng thì mới chấp nhận thanh toán Trường hợp hàng không đúng như trong hợp đồng thì khách hàng có thể trả lại hàng cho doanh nghiệp hoặc được giảm giá hàng theo thoả thuận của hai bên Điều này có nghĩa
là, khi chuyển hàng cho khách hàng, hàng vẫn đang thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi khác hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng mới thuộc quyền sở hữu của khách hàng
Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp:
Bán hàng theo trả chậm, trả góp là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần, người mua thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua Số tiền còn lại, người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu mặt tỷ lệ lãi xuất nhất định Xét về bản chất, hàng bán trả chậm trả góp vẫn được quyền sở hữu của đơn vị bán, nhưng quyền kiểm soát tái sản và lợi ích kinh tế sẽ thu được của tài sản đã được chuyển giao cho người mua Vì vậy, doanh nghiệp thu nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm, phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận
Phương thức tiêu thụ nội bộ:
Trang 9Tiêu thụ nội bộ là việc mua bán sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ giữa các đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một công ty, tập đoàn, liên hiệp các xí nghiệp… Ngoài ra, coi là tiêu thụ nội bộ còn bao gồm các khoản sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ xuất biếu, tặng, xuất trả lương, thưởng, xuất dùng cho hoạt động sản xuất kết quả tiêu thụ hàng hóa.
Phương thức hàng đổi hàng:
Theo phương thức này, doanh nghiệp dùng sản phẩm, hàng hóa của mình để đổi lấy sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp khác hay còn gọi là phương thức thanh toán bù trừ lẫn nhau Khi đó, ở doanh nghiệp vừa phát sinh nghiệp vụ bán hàng vừa phát sinh nghiệp vụ mua hàng
b) Các hình thức thanh toán.
Để cạnh tranh trong cơ chế thị trường như hiện nay, đa dạng hoá trong phương thức thanh toán cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu đẩy mạnh việc tiêu thụ thành phẩm Các hình thức thanh toán bao gồm:
- Thanh toán ngay: Là hình thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua ngân hàng ngay khi nhận được hàng
- Thanh toán bù trừ: Khi khách hàng ứng trước cho doanh nghiệp một khoản tiền hàng, sau khi nhận hàng thì số tiền phải trả được tính bằng tổng giá thanh toán trừ đi số tiền hàng ứng trước đó
- Cho nợ: Đối với những khách hàng truyền thống, thường xuyên hoặc khách hàng có
uy tín thì doanh nghiệp có thể bán chịu trong một khỏang thời gian nhất định ghi trong hợp đồng Nếu khách hàng thanh toán trước thời hạn ghi trong hợp đồng thì sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán theo quy định của doanh nghiệp (nếu có) Tuy nhiên trong những trường hợp có bằng chứng về việc khách hàng không có khả năng thanh toán thì doanh nghiệp phải tiến hành trích lập dự phòng những khoản phải thu khó đòi vào cuối niên độ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính
- Trả góp: Đây là một hình thức tín dụng của doanh nghiệp cho phép khách hàng được trả dần khoản nợ theo từng phần trong từng khoảng thời gian nhất định Mức trả và thời gian trả do doanh nghiệp quyết định Số tiền trả góp thường bằng số tiền trả ngay cộng với một khoản lãi do trả chậm
Trang 101.2. Nội dung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong
Doanh thu trong doanh nghiệp bao gồm: Tổng giá trị cao có lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được như: Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính, tiền lãi, bản quyền, tổ chức và lợi nhuận được chia
Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền sẽ thu được từ các hoạt động giao dịch từ các hoạt động giao dịch như bán sản phẩm hàng hoá cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực số 14: Doanh thu và thu nhập khác, Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua
- Doanh nghiệp không nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Nguyên tắc hoạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, khi viết hoá đơn bán hàng phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, các khoản phụ thu, thuế GTGT phải
Trang 11nộp và tổng giá thanh toán Doanh thu bán hàng được phản ánh theo số tiền bán hàng chưa
là 3 cấp: Tổng công ty - Công ty - Xí nghiệp) như: Giá trị các loại sản phẩm, hàng hóa được dùng để trả lương cho cán bộ công nhân viên, giá trị các sản phẩm đem biếu, tặng hoặc tiêu dùng trong nội bộ doanh nghiệp
Tài khoản kế toán sử dụng
Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: TK này dùng phản ánh
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực của tế của DN trong 1 kỳ hạch toán của hoạt động SXKD từ các giao dịch và nghiệp vụ sau:
- Bán hàng: Bán các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hóa mua vào
- Cung cấp dịch vụ: Thực hiện các công việc đã thỏa thuận trong 1 hoặc nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê tài sản theo phương thức hoạt động, doanh thu bất động sản đầu tư
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc số thu được
từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có)
Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” có các tài khoản cấp 2.
- TK 5111 “Doanh thu bán hàng”
- TK 5112 “Doanh thu bán thành phẩm”
- TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”
- TK 5118 “Doanh thu khác”
Trang 12 Trình tự hạch toán:
TK 911 TK 511 TK 111,112, 131 TK 521
K/c DT thuần DT bán hàng và Doanh thu bán hàng
cung cấp dịch vụ bị trả lại, giảm giá
hàng bán, chiết khấu
Thuế GTGT đầu ra
Thuế GTGT hàng bán bịtrả lại, bị giảm giá CKTM
K/c doanh thu hàng bán bị trả lại, bị giảm giá, chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
theo phương thức tiêu thụ trực tiếp
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
TK 155 TK 157 TK 632
Xuất hàng giao giao đơn vị K/c giá vốn của hàng đại lý
Trang 13Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán Doanh thu bán hàng đại lý
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
Trang 14K/c DT Lãi tính trên khoản
hoạt động tài chính phải trả về trả chậm,
trả góp
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hạch toán Doanh thu bán hàng trả chậm, trả góp
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
Trang 15TK 911 TK 5118 TK 112 TK 521
K/c DT thuần DT bán hàng nội bộ DT hàng bán bị trả lại
TK 33311
Thuế GTGT đầu raThuế GTGT hàng bán bị trả lại K/c doanh thu hàng bán bị trả lại trong kỳ
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ hạch toán Doanh thu bán hàng nội bộ chịu thuế tính theo
phương pháp khấu trừ
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
Trang 16TK 511 TK 131 TK 155, 156
Doanh thu xuất hàng đi trao đổi Giá trị hàng nhận về
Số tiền chênh lệch trả thêm Số tiền chênh lệch được
thanh toán thêm
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ hạch toán Doanh thu bán hàng, đổi hàng không tương tự
chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
Trang 171.2.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng:
Khái niệm:
Các khoản giảm trừ doanh thu như: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán đã bán bị trả lại, thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp và thuế xuất khẩu Các khoản giảm trừ doanh thu là cơ sở để doanh thu thuần và kế quả kinh doanh trong kỳ kế toán Các khoản giảm trừ doanh thu phải được phản ánh, theo dõi chi tiết, riêng biệt trên tài khoản phù hợp, nhằm cung cấp thông tin kế toán để lập báo cáo tài chính
Các khoản trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm:
- Chiết khấu thương mại: là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá niêm yết doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng
- Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là bán hàng hoàn thành bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc theo chính sách bảo hành như: Hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại
- Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho khách hàng do khách hàng hoá kém phẳm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu
- Các loại thuế có tính vào giá bán: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp trực tiếp…
Trang 18- Các khoản chiết khấu thương mại cho số hàng bán ra trong kỳ phải đảm bảo cho DN kinh doanh có lãi.
- Các khoản giảm trừ doanh thu được theo dõi và phản ánh trên TK 521 – Các khoản giảm trừ doanh thu
Tài khoản kế toán sử dụng:
Tài khoản 521 – Các khoản giảm trừ doanh thu: Tài khoản này dùng để phản ánh các
khoản được điều chỉnh giảm trừ vào doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong
kỳ, gồm: Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại Tài khoản này không phản ánh các khoản thuế được giảm trừ vào doanh thu như thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 521 “Các khoản giảm trừ doanh thu” như sau:
- Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách
hàng
- Số giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người mua hàng
- Số giảm giá hàng bán đã chấp thuận cho người mua hàng
- Doanh thu của hàng bán bị trả lại, đã trả tiền cho người mua
hoặc tính trừ vào khoản phải thu khách hàng về số sản phẩm,
hàng hóa đã bán
Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toàn bộ
số chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại sang TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ báo cáo
TK 521 không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 521 “Các khoản giảm trừ doanh thu” có 3 tài khoản cấp 2:
- TK 5211 “Chiết khấu thương mại”
- TK 5212 “Hàng bán bị trả lại”
- TK 5213 “Giảm giá hàng bán”
Trình tự hạch toán:
Trang 19TK 111, 112, 131 TK 521 TK 511
Chiết khấu thương mại, giảm giá Cuối kỳ kết chuyển các khoản
hàng bán thực tế phát sinh giảm trừ doanh thu
TK 33311
Sơ đồ 1.6: Sơ đồ hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
1.2.3 Kế toán giá vốn hàng xuất bán:
Khái niệm: Giá vốn hàng bán là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trị giá của
sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ, bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp được xác định là đã tiêu thụ trong kỳ; là toàn bộ chi phí để tạo ra một thành phẩm Đối với một công ty thương mại thì giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí cần thiết để hàng có mặt tại kho Đối với một công ty sản xuất thì phức tạp hơn do đầu vào là nguyên liệu chứ không phải thành phẩm
Nguyên tắc tính giá vốn hàng bán: Về nguyên tắc, sảm phẩm hàng hóa phải được
đánh giá theo giá thực tế - giá phí
Các phương pháp tính giá vốn hàng bán:
Hàng hóa mà doanh nghiệp mua về nhập kho hoặc xuất bán ngay, được sản xuất và mua từ nhiều nguồn, nhiều nơi khác nhau nên giá trị thực tế của chúng ở những thời điểm khác nhau thường là khác nhau
Do đó, khi xuất kho cần xác định giá trị mua thực tế của hàng hóa xuất kho theo một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO)
- Phương pháp tính giá thực tế đích danh
- Phương pháp giá bán lẻ
Trang 20Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị
của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu
kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ Giá trị trung bình có thể được tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô hàng nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp
• Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng)
Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:
Đơn giá xuất kho
Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ
Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác Ngoài ra, phương pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ
• Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm)
Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức sau:
Đơn giá xuất kho lần thứ i
=
Trị giá vật tư, hàng hóa tồn đầu kỳ +
Trị giá vật tư, hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i
Số lượng vật tư, hàng hóa tồn đầu kỳ +
Số lượng vật tư, hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i
Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương pháp trên nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức Do đặc điểm trên mà phương
Trang 21pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.
Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO): Theo phương pháp này, phải xác định
chính xác giá thực tế nhập kho của từng lần nhập Hàng nào nhập trước thì xuất trước theo đúng giá từng lần nhập tương ứng Nếu giá cả có xu hướng tăng thì giá trị hàng tồn kho sát với thực tế tại thời điểm cuối kỳ Do đó, giá trị hàng xuất trong kỳ thấp, giá trị hàng tồn kho cao dẫn đến chi phí kinh doanh giảm, lợi nhuận tăng Ngược lại, nếu giá cả hàng hóa có xu hướng giảm thì giá trị hàng tồn kho nhỏ, chi phí tăng và lợi nhuân giảm
Ưu điểm của phương pháp này là việc tính đơn giản, dễ làm, tương đối hợp lý nhưng khối lượng hạch toán công việc nhiều, lại phụ thuộc vào xu hướng giá cả thị trường
Phương pháp tính giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này, giá thực tế của hàng
hóa xuất kho theo từng lô hàng, từng lần nhập, tức là xuất vào lô hàng nào thì tính theo giá của lô hàng đó Phương pháp này phản ánh chính xác từng lô hàng nhưng công việc phức tạp đòi hỏi thủ kho phải nắm chi tiết từng lô hàng Phương pháp này thường áp dụng trong những doanh nghiệp mà việc quản lý hàng tồn kho cần phải tách biệt
Ngoài ra, trường hợp nếu doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán để hạch toán chi tiết hàng nhập – xuất thì cuối kỳ, kế toán phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để phản ánh trên các tài khoản
Phương pháp giá bán lẻ
Phương pháp này thường được dùng trong ngành bán lẻ để tính giá trị của hàng tồn kho với số lượng lớn các mặt hàng thay đổi nhanh chóng và có lợi nhuận biên tương tự mà không thể sử dụng các phương pháp tính giá gốc khác
Giá gốc hàng tồn kho được xác định bằng cách lấy giá bán của hàng tồn kho trừ đi lợi nhuận biên theo tỷ lệ phần trăm hợp lý Tỷ lệ được sử dụng có tính đến các mặt hàng đó bị
hạ giá xuống thấp hơn giá bán ban đầu của nó Thông thường mỗi bộ phận bán lẻ sẽ sử dụng một tỷ lệ phần trăm bình quân riêng
Chi phí mua hàng trong kỳ được tính cho hàng tiêu thụ trong kỳ và hàng tồn kho cuối
kỳ Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí mua hàng tùy thuộc tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp nhưng phải thực hiện theo nguyên tắc nhất quán
Trang 22Phương pháp giá bán lẻ được áp dụng cho một số đơn vị đặc thù (ví dụ như các đơn vị kinh doanh siêu thị hoặc tương tự).
Tài khoản kế toán sử dụng:
Tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán: Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (Đối với doanh nghiệp xây lắp) bán trong kỳ
Ngoài ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao; chi phí sửa chữa; chi phí nghiệp vụ cho thuê bất động sản đầu tư theo phương thức cho thuê hoạt động (Trường hợp phát sinh không lớn); chi phí nhượng bán, thanh lý bất động sản đầu tư
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”
+ Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công vượt trên mức bình
thường và chi phí SXC cố định không phân bổ được tính vào giá vốn
hàng bán trong kỳ
- Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ đi phần
bồi thường do trách nhiệm các nhân gây ra
- Chi phí xây dựng, tự chế TSCĐ vượt trên mức bình thường không
được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng, tự chế hoàn
thành
- Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (chệnh lệch giữa số dự
phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số dự phòng
đã lập năm trước chưa sử dụng hết)
- Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ sang tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh”
- Khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (Chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm trước)
- Trị giá hàng bán bị trả lại nhập kho
- Khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán nhận được sau khi hàng mua
đã tiêu thụ
TK 632 không có số Dư cuối kỳ
+ Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Trang 23- Trị giá vốn của thành phẩm tồn kho đầu kỳ
- Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Chênh
lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay lớn hơn số đã
lập năm trước chưa sử dụng hết)
- Trị giá vốn của thành phẩm sản xuất xong nhập kho
- Kết chuyển giá vốn của thành phẩm đã xuất bán, dịch
vụ hoàn thành được xác định là đã bán trong kỳ vào bên Nợ TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh”
TK 632 không có số Dư cuối kỳ
CP liên quan cho thuế hđ BĐS Thành phẩm,hàng hóa bị trả lại
đầu tư nhập kho
Trang 24TK217
BĐS đầu tưTK2147 Giá trị hao mòn
Trích dự phòng giảm giá HTK
Sơ đồ 1.7: Sơ đồ hạch toán Giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
1.2.4 Kế toán chi phí quản lý kinh doanh:
Tài khoản kế toán sử dụng: TK 642- Chi phí quản lý kinh doanh, có 2 tài khoản
cấp 2:
+ TK 6421 - Chi phí bán hàng
+ TK 6422- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Khái niệm:
* Chi phí bán hàng: là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm,
hàng hoá và cung cấp dịch vụ, bao gồm:
Trang 25- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hoá, vận chuyển đi tiêu thụ.
- Chi phí vật liệu dùng bảo quản, đóng gói…trong bán hàng
- Chi phí đồ dùng, dụng cụ dùng trong bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Chi phí khấu hao tài sản cố định để phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài phát sinh phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ như: thuê tài sản, thuê kho, bốc dỡ, vận chuyển, tiền hoa hồng đại lý…
- Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá
- Chi phí khác bằng tiền như: chi hội nghị, tiếp khách, quảng cáo…
- TK sử dụng: TK 6421- Chi phí bán hàng và tình hình kết chuyển chi phí bán hàng sang TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh.
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất
kinh doanh, quản lý hành chính và một số khoản khác có tính chất chung toàn doanh nghiệp, bao gồm:
- Chi phí nhân viên quản lý: gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho Ban Giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ trên tiền lương nhân viên quản lý theo tỷ lệ quy định
- Chi phí vật liệu quản lý: là trị giá thực tế các loại vật liệu, nhiên liệu xuất dùng cho hoạt động quản lý của Giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ của doanh nghiệp cho việc sửa chữa TSCĐ
Trang 26- Chi trích dự phòng như các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ chung toàn doanh nghiệp như: tiền điện, tiền nước, thuê sửa chữa TSCĐ
- Chi phí bằng tiền khác: các khoản chi khác bằng tiền ngoài các khoản đã kể như hội nghị, tiếp khách, chi công tác phí
- TK sử dụng: TK 6422-Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Trang 27TK 214 để xác định kết quả
Chi phí KH TSCĐ dùng cho BH, quản lý DN
Phân bổ dần hoặc trích trước
vào chi phí quản lý kinh doanh
TK1592
Số trích lập dự phòng nợ phải
thu khó đòi
Sơ đồ 1.8: Sơ đồ hạch toán chi phí quản lý kinh doanh
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
1.2.5 Kế toán doanh thu và chi phí hoạt động tài chính.
Nội dung:
+ Doanh thu hoạt động tài chính là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được từ hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn trong kỳ kế toán Doanh thu từ hoạt động tài chính phát sinh từ các khoản tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của doanh
Hoàn nhập dự phòng nợ phải thu khó đòi
Trang 28nghiệp chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện: Có khả năng thu được lợi ích
từ giao dịch đó và doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm:
- Tiền lãi: lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, thu bán hàng trả chậm, trả góp
- Lãi do bán, chuyển nhượng công cụ tài chính, đầu tư liên doanh vào cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát, đầu tư liên kết, đầu tư vào công ty con
- Cổ tức và lợi nhuận được chia
- Chênh lệch lãi do mua bán ngoại tệ, khoản lãi do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ
- Chiết khấu thanh toán được hưởng do mua vật tư, hàng hóa, dịch vụ, TSCĐ
- Thu nhập khác liên quan đến hoạt động tài chính
+ Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn, các hoạt động đầu tư tài chính và các nghiệp vụ mang tính chất tài chính của doanh nghiệp
Chi phí hoạt động tài chính bao gồm:
- Chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư công cụ tài chính
- Chi phí liên quan đến hoạt động cho vay vốn
- Chi phí liên quan đến mua bán ngoại tệ
Trang 29TK121,221 XĐ KQ XĐ KQ TK121,2218,2213
TK111,112,331
CP lãi tiền vay, CK TT Khoản CKTT được
hưởng
cơ sở kiểm soát KC DT chưa thực hiện
CL đánh giá lại tỷ giá TK1591,229 CL đánh giá lại tỷ giá
giảm giá đầu tư TC Hoàn nhập CL dự phòng TK111,112 TK1591,229 giảm giá đầu tư TC DT hđ TC phát sinh
Trích lập dự phòng giảm
Giá đầu tư TC
Sơ đồ 1.9: Sơ đồ hạch toán kế toán doanh thu và chi phí hoạt động TC
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
1.2.6 Kế toán thu nhập khác và chi phí khác.
Nội dung:
+ Thu nhập khác là các khoản thu nhập không phải là doanh thu của doanh nghiệp Đây
là các khoản thu nhập được tạo ra từ hoạt động khác ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp
Thu nhập khác bao gồm:
- Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ
- Giá trị còn lại hoặc giá bán hoặc giá trị hợp lý của TSCĐ bán để thuê lại theo ph ương thức thuê tài chính hoặc thuê hoạt động
Trang 30- Tiền phạt thu được do khách hàng, đơn vị khác vi phạm hợp đồng kinh tế.
- Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ
- Các khoản thuế được nhà nước miễn giảm trừ thuế TNDN
- Thu từ các khoản nợ phải trả không xác định được chính chủ
- Các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ không tính trong doanh thu( nếu có)
- Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các cá nhân, tổ chức tặng doanh nghiệp + Chi phí khác là các khoản chi phí của các hoạt động ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu của doanh nghiệp Đây là các khoản lỗ do các sự kiện hay nghiệp vụ khác biệt với các hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp
Chi phí khác bao gồm:
- Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ
- Giá trị còn lại của tài sản thanh lý, nhượng bán( bình thường)
- Giá trị còn lại hoặc giá bán của TSCĐ nhượng bán để thuê lại theo phương thức thuê tài chính hoặc thuê hoạt động
- Các khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế
- Khoản bị phạt thuế, truy nộp thuế
- Các khoản chi phí do ghi nhầm hoặc bỏ sót khi ghi sổ kế toán
- Các khoản chi phí khác
Tài khoản sử dụng:
Kế toán thu nhập và chi phí khác chủ yếu sử dụng hai TK 711 - Thu nhập khác và TK
811 – Chi phí khác Nội dung hai tài khoản này như sau:
TK 711 – Thu nhập khác: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản thu nhập khác, các khoản doanh thu ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
TK 811 – Chi phí khác: Tài khoản này phản ánh những khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của các doanh nghiệp
Ngoài ra kế toán thu nhập khác và chi phí khác còn sử dụng một số tài khoản liên quan khác như TK 111, TK 112, TK 152, TK 153,…
Trang 31Thu phạt KH vi phạm HĐKT tiền các tổ chức BH bồi thường
Tiền phạt trừ vào nhận ký cược, ký quỹ
Nhận tiền tài trợ, biếu tặng
Thu được khoản phải thu khó đòi đã xóa sổ
Tính vào TNK khoản nợ phải trả không xđ chủ
Các khoản thuế XNK, TTĐB NSNN hoàn lại
Trang 32Giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý, nhượng bán
Sơ đồ 1.10: Sơ đồ hạch toán kế toán thu nhập khác và chi phí khác
Nguồn: Theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
1.2.7 Kế toán xác định kết quả kinh doanh.
Khái niệm:
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh
thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định, biểu hiện bằng số tiền lãi hoặc lỗ
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào thì việc xác định kết quả kinh doanh là khâu được quan tâm chú ý rất nhiều Xác định kết quả kinh doanh qua đó cho ta biết được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có được phương hướng kinh doanh sao cho đạt hiệu quả nhất.Đối với công ty cổ phần sơn VIVA Việt Nam cũng vậy Và kết quả kinh doanh của công ty chủ yếu nằm ở kết quả bán hàng Vì vậy kế toán xác định kết quả bán hàng là rất quan trọng
Kết quả kinh
doanh = Doanh thu thuần về bán hàng + Giá vốn của hàng xuất bán + CPQLDNCPBH và
Trong đó:
Doanh thu thuần về
bán hàng = Tổng doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ - Các khoản giảm trừ
Tài khoản kế toán sử dụng:
Trang 33Kế toán xác định kết quả kinh doanh chủ yếu sử dụng TK 911 – Xác định kết quả kinh
doanh và TK 421 – Lợi nhuận chưa phân phối Nội dung hai tài khoản này như sau:
TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh: Tài khoản này dùng để xác định và phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán năm Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác
TK 421 – Lợi nhuận chưa phân phối: Tài khoản này dùng để phản ánh kết quả kinh doanh (lợi nhuận, lỗ) sau thuế thu nhập doanh nghiệp và tình hình phân chia lợi nhuận hoặc
xử lý lỗ của doanh nghiệp
Ngoài ra kế toán xác định kết quả kinh doanh còn sử dụng một số tài khoản liên quan khác như TK 632, TK 635, TK 511, TK 515,…
Sơ đồ 1.11: Sơ đồ hạch toán xác định kết quả bán hàng
Nguồn: Theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng BTC
Trang 34CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN VIVA VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Sơn Viva Việt Nam.
2.1.1.Lịch sử hình thành và quá trình phát triển.
Lịch sử hình thành:
Giai đoạn 2011-2013, anh Phạm Quang Trưởng đã nhìn ra tiềm năng phát triển của ngành sản xuất và kinh doanh sơn chống thấm và các vật liệu liên quan đến xây dựng, nội thất Anh cùng với các cộng sự của mình đã thành lập cửa hàng chuyên kinh doanh các loại sơn và vật liệu xây dựng Để làm nên thương hiệu trên thị trưởng và mở rộng sản xuất kinh doanh, khép kín quá trình từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm, nhằm mục đích mang đến cho người tiêu dùng những loại sơn đạt tiêu chuẩn tốt nhất, Công ty Cổ phần Sơn Viva Việt Nam
đã được ra đời Tôn chỉ hoạt động của công ty đó là: “Nhà đẹp, nhà bền”
Ngày 31/12/2013, Công ty Cổ phần Sơn Viva Việt Nam được cấp giấy phép thành lập số
0103013950 bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội
Ngày 26/01/2015, thay đổi đăng kí bổ sung thêm lĩnh vực kinh doanh lần thứ nhất Tên giao dịch: Công ty Cổ phần Sơn Viva Việt Nam
Tên tiếng Anh: VIVA Viet Nam Paint Join Stock Company
Tên viết tắt: VIVA PAINT, JSC
Địa chỉ: Số 57 Nguyễn Đức Cảnh, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội, Việt Nam
Trang 35Văn phòng giao dịch: Số 1037 đường Giải Phóng, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Tài khoản: 21310000386613 tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Nam Hà Nội
Số điện thoại liên hệ: (84-4) 36282333
Giai đoạn năm 2013, công ty chú trọng về lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dòng sơn
nước kinh tế VIVAMAX PRIMER và sơn chống thấm đa năng, gồm: sơn chống thấm trộn xi măng và sơn chống thấm pha màu
Giai đoạn năm 2014, công ty mở rộng sản xuất thêm dòng sơn nội thất và dòng sơn
ngoại thất cao cấp VIVAPRO Các đại lý được Viva giao hàng gửi bán được đặt tại nhà phân phối Bách hóa Sơn Bảo An, tỉnh Lào Cai; công ty Tam Sơn, tỉnh Hải Dương Không chỉ phục vụ đối tượng khách hàng chủ yếu tại Hà Nội, Công ty Cổ phần Sơn Viva Việt Nam đã dần mở rộng mạng lưới khách hàng trên các tỉnh thành khu vực phía Bắc
Giai đoạn quý 1 năm 2015, công ty xin thay đổi bổ sung thêm lĩnh vực kinh doanh
lần thứ nhất Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực sản xuất và kinh doanh sản phẩm sơn, công ty Cổ phần Sơn Viva Việt Nam đã mạnh dạn tiến sâu hơn vào ngành xây dựng Công ty cung cấp các dịch vụ lắp đặt, bảo trì, bảo dưỡng các thiết bị nội thất và thiết
bị xây dựng Kinh doanh bán buôn, bán lẻ các vật liệu xây dựng và trang trí nội thất Với đội ngũ quản lí và nhân viên chăm chỉ, sáng tạo không ngừng, tham vọng của Viva Paint là tạo dựng chỗ đứng trên thị trường Việt Nam
Trang 36 Giai đoạn quý 2 năm 2015, các sản phẩm của Viva đã được phủ sóng rộng khắp ở
các tỉnh miền Trung và miền Nam Tháng 4 năm 2015, chi nhánh Sơn Viva tại Hà Tĩnh đã được thành lập
2.1.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức Công ty Cổ phần Sơn VIVA Việt Nam
Nguồn: Ban Giám đ ốc Công ty Cổ phần sơn ViVa Việt Nam
Trang 37
Trong đó chức năng cụ thể của các bộ phận, phòng ban như sau:
Hội đồng quản trị: chịu trách nhiệm trước pháp luật và tiến hành quản lý mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty
Ban giám đốc:
+ Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Là người điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty đảm bảo hiệu quả
và đúng pháp luật
+ Chỉ đạo xây dựng tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất, kỹ thuật lao động, đời sống
xã hội, thực hiện công tác kiểm soát, kiểm tra sản xuất, xây dựng thực hiện tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh, đồng thời tổ chức thực hiện các quy chế của Công ty và trực tiếp chỉ đạo các mặt kế hoạch sản xuất kinh doanh
Các phòng ban:
+ Phòng kinh doanh:
- Có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất theo từng tháng, quý, năm.
- Nghiên cứu thị trường để lập ra kế hoạch tổ chức có hiệu quả, đúng pháp luật quy định và phù hợp với chủ trương kế hoạch sản xuất kinh doanh và các quy định của Công ty
- Khi có những mặt hàng khách hàng yêu cầu thì bố trí cho các mỏ, các xưởng sản xuất đáp ứng kịp thời cho khách hàng, lập thành kế hoạch và có kế hoạch thực hiện
+ Phân xưởng sản xuất:
Nhận được kế hoạch sản xuất trong tháng phê duyệt từ phòng Kinh doanh, phân xưởng tiến hành sản xuất sản phẩm Bao gồm:
• Tổ 1: Kiểm tra NVL, xử lý thô; xử lý lọc tinh
• Tổ 2: Điều chỉnh độ nhớt, pha màu
• Tổ 3: Đóng thùng, lập hồ sơ theo quy định để nhập kho
+ Bộ phận kho:
Hàng được chuyển đến kho, thủ kho căn cứ vào số lượng trên phiếu nhập kho, trực tiếp nhận hàng chuyển vào kho theo đúng nơi quy định cho từng chủng loại mặt hàng Nhập kho xong, thủ kho ghi vào thẻ kho để theo dõi
Khi xuất bán, thủ kho sẽ xuất hàng theo đúng số lượng, chủng loại ghi trên phiếu xuất kho Sau đó, tiến hành ghi vào thẻ kho để theo dõi và đối chiếu số liệu với phòng kế toán
Trang 38Quản lí nguyên vật liệu, tư liệu, công cụ sản xuất, quản lí sổ, thẻ tài sản cố định.
+ Phòng tài chính kế toán:
Giúp Giám đốc trong khâu quản lý toàn Công ty, tổ chức hoạch toán đầy đủ và đúng pháp lệnh thống kê - kế toán của Nhà nước Định kỳ báo cáo kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của đơn vị cho Giám đốc và cơ quan quản lý cấp trên theo yêu cầu của Nhà nước
Theo dõi tiến độ thực hiện các hợp đồng kinh tế, xuất nhập hoá đơn bằng chứng từ, đôn đốc việc thu nộp tiền hàng, tiền thuế theo luật định và hoàn tất các thủ tục hành chính khi kết thúc các hợp đồng
Truởng phòng kế toán có trách nhiệm bố trí cán bộ nhân viên trong phòng phù hợp với năng lực chuyên môn của mỗi người đảm bảo nâng cao chất lượng của công tác hoạch toán
- kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý của hoạt động kinh doanh Chịu trách nhiệm trước Giám đốc và cơ quan quản lý cấp trên về toàn bộ hoạt động tài chính của đơn vị
2.1.2.Ngành nghề sản xuất, kinh doanh.
Sản xuất sơn, véc ni và các chất sơn, quét tương tự, sản xuất mực in và ma tít
Sản xuất các sản phẩm chịu lửa
Sản xuất xi măng, vôi, thạch cao
Sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng và thạch cao
Gia công cơ khí, xử lí và tráng phủ kim loại
Lắp đặt máy móc và thiết bị công nghiệp
Bán buôn các vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng Chi tiết:
• Bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến;
Trang 39• Bán buôn gạch ốp lát và thiết bị vệ sinh.
Trang 402.1.3.Đặc điểm quy trình sản xuất sơn
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất sơn
Giai đoạn 1: Kiểm tra NVL, xử lý thô: NVL xuất kho theo dự toán đơn hàng được
kiểm tra khi đưa xuống phân xưởng Các NVL cần thiết phục vụ cho sản xuất được nghiền thô theo từng loại, sau đó tiến hành lọc lần 1