Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiệnnay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất vàsinh hoạt của con người gây ra.. Đối tượng g
Trang 1Báo cáo kiến tập Công ty xử lý nước thải Bắc Thăng Long - Vân Trì.
Họ và tên: Nguyễn Thị Linh Thảo
Lớp : 11-03 Khoa : Công Nghệ Sinh Học Trường : Viện Đại Học Mở Hà Nội
Trang 2Mục lục:
I Giới thiệu chung.
1 Tình trạng ô nhiễm ở Việt Nam.
2 Giới thiệu về công ty xử lý nước thải Bắc Thăng Long - Vân Trì.
II Lưu lượng và tính chất các dòng thải.
III Đặc trưng ô nhiễm của nước thải.
1 Nước thải sinh hoạt.
2 Các dòng vật chất.
IV Quy trình xử lý:
1 Quy trình xử lý nước thải chung.
2 Quy trình xử lý nước thải được nhà máy xử lý nước thải Bắc Thăng Long – Vân Trì áp dụng.
V Mục đích:
1 Thuyết minh quy trình công nghệ.
2 Quy trình công nghệ.
Trang 3I Giới thiệu chung:
1 Tình trạng ô nhiễm ở Việt Nam.
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiệnnay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất vàsinh hoạt của con người gây ra Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạtrực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của cácthế hệ hiện tại và tương lai Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với cáccấp quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thốngchính trị và của toàn xã hội
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưutiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắnphát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tìnhtrạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hộidiễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễmmôi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng Đối tượng gây ônhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khucông nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn Ô nhiễmmôi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễmkhông khí Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô nhiễm không khí tại các đô thịlớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễmvượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày20/4/2008 cả nước có 185 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủquyết định thành lập trên địa bàn 56 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.Đến hết năm 2008, cả nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp Ngoài ra,còn có hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được uỷ ban nhân dân các tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập Theo báo cáo giámsát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, tỉ lệ cáckhu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phươngrất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc.Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trungnhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí Đến nay, mới có 60 khucông nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% sốkhu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm
xử lí nước thải Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra
Trang 4khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác Tại Hộinghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Naingày 26/2/2008, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồnnước thuộc lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng,không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt Theo sốliệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi trường phối hợp với Công ty Cấp nướcSài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy, lượng NH3 (amoniac), chất rắn lơlửng, ô nhiễm hữu cơ (đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh) tăng cao tại hầuhết các rạch, cống và các điểm xả Có khu vực, hàm lượng nồng độ NH3trong nước vượt gấp 30 lần tiêu chuẩn cho phép (như cửa sông Thị Tính);hàm lượng chì trong nước vượt tiêu chuẩn quy định nhiều lần; chất rắn lơlửng vượt tiêu chuẩn từ 3 - 9 lần Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễmnày chính là trên 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen
kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai Bình quân mỗi ngày, lưuvực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuấtnày Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất đanghoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số cònlại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nướccủa các nguồn tiếp nhận Có nơi, hoạt động của các nhà máy trong khucông nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn hán,ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuấtnông nghiệp của bà con nông dân
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nướcchưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thựctrạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễmnghiêm trọng Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận vớicác khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường Họphải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải côngnghiệp Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệtcủa người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khibùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làngnghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Việcphát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương Tuy nhiên, hậu quả về môitrường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm
Trang 5các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trongquá trình sản xuất khá cao Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề ViệtNam, hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghềtruyền thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, baogồm cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên Các làngnghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung pháttriển nhất là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằngsông Cửu Long Riêng ở đồng bằng sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm42,9% cả nước Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, cóthể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên, do sản xuất mangtính tự phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuấtchật chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ýthức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém, bêncạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năngcủa Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghềthủ công gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ nhữnglàng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môitrường tại các làng nghề ngày càng trầm trọng và hiện nay đã ở mức “báođộng đỏ” Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghềkhông chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ củanhững người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người dân sống
ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư này, làm nảysinh các xung đột xã hội gay gắt
Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môitrường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động Đó làcác ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếngồn Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấpthoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng Nước thải, rácthải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môitrường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận chuyểnđến bãi chôn lấp Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân
ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải rahàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải
ra hàng trăm tấn bụi, khí độc Trong tổng số khoảng 34 tấn rác thải rắn y tếmỗi ngày, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầukhí quyển của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen
và sunfua đioxit đáng báo động Theo một kết quả nghiên cứu mới công bốnăm 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam,xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất Theo báo cáo củaChương trình môi trường của Liên hợp quốc, thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh đứng đầu châu Á về mức độ ô nhiễm bụi
2 Giới thiệu về nhà máy xử lý nước thải Bắc Thăng Long – Vân Trì.
Công ty xử lý nước thải Bắc Thăng Long – Vân Trì được xây dựng vàonăm 2002 và hoạt động vào tháng 7 năm 2005 Tháng 2 năm 2009, tiển khai thi công bãi giếng sông Hồng, gồm 8 giếng để nâng công suất nhà máy đạt đạt 50.000 m3/ ngày đêm
Qui mô, công suất:
- Công suất khai thác trung bình một ngày đêm : 37.000 m3
- Số giếng đang hoạt động : 16 giếng
Theo báo cáo của Công ty, nước thải công nghiệp và sinh hoạt trung bình tạiKhu công nghiệp là 18.500m3/24 giờ Toàn bộ nước thải này được thu gom
về Nhà máy Xử lý nước thải tập trung theo hệ thống riêng (nước mưa đượcthu gom về các hồ điều hòa theo hệ thống độc lập)
Nhà máy Xử lý nước thải với công nghệ màng lọc hiện đại, lớn nhấtĐông Nam Á, đảm bảo khử trùng đạt qui chuẩn; được Sở Tài nguyên và Môitrường Hà Nội xác nhận, đưa vào hoạt động từ tháng 9/2009 Theo đó, nướcthải đầu ra của Nhà máy đổ vào kênh Việt Thắng dẫn ra môi trường, phảiđảm bảo 36 chỉ tiêu được qui định tại cột A (QCVN 24:2009/BTNMT), baogồm từ các tiêu chuẩn về nhiệt độ, độ pH, mùi, dầu, các chất hữu cơ gây ônhiễm đến các chất kim loại nặng, dầu mỡ khoáng, Clo dư, tổng Coliform …tới hàm lượng phóng xạ
II Lưu lượng và tính chất các dòng thải.
Theo khảo sát công suất công ty có thể đạt 37.000m3 ngày đêm Đối vớicông ty xử lý nước thải Bắc Thăng Long- Vân Trì , nước thải trước khi thải
ra cống chung phải đạt loại A ( TCVN 59450-1995) Do nước thải đầu vàothường là nước thải sinh hoạt từ khu đô thị Nam Thăng Long nên hàm lượnN-NH3 rất cao nên khi đầu ra thường chưa được loại A Và công ty xử lý 1lượng lớn nước thải từ khu công nghiệp Bắc Thăng Long
Bảng 1:Chỉ tiêu đối với đầu vào và đầu ra của công ty:
Trang 7TCVT5945 -2005 (cột A)
Trước
xử lý
Sau xử lý
III Đặc trưng ô nhiểm của nước thải.
1 Nước thải sinh hoạt.
a) Khái niệm nước thải sinh hoạt:
Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục đíchsinh hoạt như tắm giặt, vệ sinh cá nhân…được thải ra từ các trường học,bệnh viện, cơ quan,…
Thông thường, nước thải sinh hoạt của hộ gia đình được chia làm hai loại
chính: nước đen và nước xám
Nước đen là nước thải từ nhà vệ sinh, chứa phần lớn các chất ô nhiễm, chủ yếu là: chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh và cặn lơ lửng
Trang 8Nước xám là nước phát sinh từ quá trình rửa, tắm, giặt, với thành phần cácchất ô nhiễm không đáng kể.
Lượng NTSH tại các cơ sở dịch vụ, công trình công cộng phụ thuộc vào loạicông trình, chức năng, số lượng người
Lượng NT từ các cơ sở thương mại và dịch vụ cũng có thể được chọn từ 25% tổng lượng NT của toàn thành phố
Ví dụ: năm 2010 báo cáo Hà Nội : 670.000 mét khối/ ngày
Nội thành : 400.000 mét khối/ ngày
Theo thống kê xử lý thì đã xử lý được 47000 mét khối (7%)
b) Đặc trưng của nước thải sinh hoạt.
Bảng 2: đặc trưng nước thải sinh hoạt
- Thành phần chất hữu cơ cao (55-65% tổng lượng chất bẩn), chứa
nhiều vi sinh vật có cả vi sinh vật gây bệnh, vi khuẩn phân hủy chất
hữu cơ cần thiết cho các quá trình chuyển hóa chất bẩn trong nước
thải
- Hàm lượng chất vô cơ (chiếm từ 35% - 45%) chủ yếu là nitơ vô cơ
do protein hữu cơ phân hủy thành phosphat không cao lắm vì đặc
tính của phosphat có khả năng lắng đọng lớn, lắng đọng trong bùn
- Thành phần vi sinh vật rất lớn, phong phú, đa dạng về chủng loại,
bao gốm cả vi sinh vật gây bệnh tả lỵ, thương hàn, có cả vi sinh vật
hữu ích trong nước thải
Trang 9Các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh hoạt
là BOD5, COD, Nitơ và Phốt pho Trong nước thải sinh hoạt, hàm lượng N
và P rất lớn, nếu không được loại bỏ thì sẽ làm cho nguồn tiếp nhận nướcthải bị phú dưỡng – một hiện tượng thường xảy ra ở nguồn nước có hàmlượng N và P cao, trong đó các loài thực vật thủy sinh phát triển mạnh rồichết đi, thối rữa, làm cho nguồn nước trở nên ô nhiễm
Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt, đặc biệt làtrong phân, đó là các loại mầm bệnh được lây truyền bởi các vi sinh vật cótrong phân Vi sinh vật gây bệnh từ nước thải có khả năng lây lan qua nhiềunguồn khác nhau, qua tiếp xúc trực tiếp, qua môi trường (đất, nước, khôngkhí, cây trồng, vật nuôi, côn trùng…), thâm nhập vào cơ thể người quađường thức ăn, nước uống, hô hấp,…,và sau đó có thể gây bệnh Vi sinh vậtgây bệnh cho người bao gồm các nhóm chính là virus, vi khuẩn, nguyên sinhbào và giun sán.Với thành phần ô nhiễm là các tạp chất nhiễm bẩn có tínhchất khác nhau, từ các loại chất không tan đến các chất ít tan và cả nhữnghợp chất tan trong nước, việc xử lý nước thải sinh hoạt là loại bỏ các tạp chất
đó, làm sạch nước và có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận hoặc đưa vào tái
sử dụng
Việc lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp thường được căn cứ trên đặc điểm của các loại tạp chất có trong nước thải
2 Các dòng vật chất:
- Nước mưa chảy tràn:
Nước mưa chảy tràn trên mặt bằng khu công nghiệp sẽ cuốn theo đất đá chấtcặn bã, dầu mỡ rơi rớt xuống hệ thống thoát nước Mặt khác, một số nhàmáy có hệ thống thoát nước mưa và hệ thống thoát nước thải đấu nối vàonhau làm cho đầu ra của hệ thống thoát nước mưa có một số chỉ tiêu gây ônhiễm Điều này có thể gây hậu quả xấu tới môi trường trong khu vực và cácvùng phụ cận
Trang 10- Nước thải sinh hoạt:
Chiếm thành phần chủ yếu trong nước thải của khu công nghiệp Nước thảisinh hoạt có nguồn gốc phát sinh từ bếp ăn của các căn tin trong khu chế
xuất, từ các nhà vệ sinh của các nhà máy được thải ra hệ thống cống thoát
chung cùng với nước thải trong quá trình sản xuất được đưa về nhà máy xử
lý nước thải tập trung Nhìn chung nước thải sinh hoạt có hàm lượng các
chất hữu cơ dễ bị phân hủy khá cao gồm các chất hữu cơ thực vật như cặn bã
thực vật, rau, hoa quả, giấy ; các chất hữu cơ động vật như chất thải bài
tiết của con người và động vật, xác động vật; các chất vô cơ như đất sét, cát,
muối, axít, dầu khoáng, ; một lượng lớn vi sinh vật như vi khuẩn, vi rút,
rong tảo, nấm, trứng giun sán, có khả năng gây nên dịch bệnh
- Nước thải sản xuất.
Phát sinh từ các công đoạn sản xuất của một số nhà máy, có thể chứa
các kim loại, các hợp chất vô cơ, hữu cơ khó phân hủy bằng vi sinh trong
thời gian ngắn Vì tính chất và đặc điểm phức tạp về thành phần, tính chất và
lưu lượng của dòng thải mà
nước thải sản xuất được quan tâm nhiều nhất trong các nguồn thải của khu
công nghiệp Mỗi loại hình công nghiệp đều có những đặc trưng về thành
phần, tải lượng ơ nhiễm, mức độ độc hại với môi trường nên việc xử lý phải
Trang 11- Các quy trình để xử lý nước cống rãnh hoặc nước thải công
Bể lắng cát
Lắng sơ cấp
Bể sục khí
Lắng thứ cấp
Bể chứa clorine
Cô bùn
Bể kỵ khí Nén bùn
bùn
Đã
xử lý
p
pp
p
Trang 12V Mục đích
1 Thuyết minh quy trình công nghệ:
Nước thải từ khu công nghiệp và khu dân cư được thu gom và dẫn về bểchứa của nhà máy Nước thải được dẫn qua lược rác thô để loại bỏ cặn rắn
Nước hoàn lưu
Bể thu gom
Trang 13nước thải sẽ tự chảy qua bể thu gom Nước tại bể thu gom sẽ được bơm nângđến bể lắng sơ cấp Bể lắng sơ cấp có nhiệm vụ lắng các hạt cặn lơ lửng cósẵn trong nước thải Nước thải tiếp tục chảy qua bể phản ứng sinh học , tạiđây nước thải được sử lý theo công nghệ AAO, trải qua 3 quá trình : yếmkhí, thiếu khí, hiếu khí.
+Quá trình yếm khí :ứng dụng quá trình sinh trưởng của vi sinh vật trong điều kiện yếm khí để làm giảm đáng kể Hydrocacbon (BOD, COD, giảm khoảng 50%-55% so với nước thải đầu nguồn phát thải, Phốt pho tổng giảm 60%-70%, Sunfua (H2S) giảm không đáng kể là khoảng 30%, Nitơ tổng gầnnhư ít giảm và chuyển hóa thành Amoni (NH4)
+ Quá trình thiếu khí : ứng dụng quá trình sinh trưởng của vi sinh vật trong điều kiện thiếu khí (hàm lượng oxy hòa tan gần bằng không) để phân hủy chuyển hóa các liên kết nitơ trong nước thải bằng quá trình Nitrat hóa và khử Nitrat hóa Việc kiểm soát thời gian sục khí trong bước 1 để điều chỉnh hiệu suất khử Nitơ ở mức cao nhất
+ Quá trình hiếu khí :ứng dụng quá trình sinh trưởng của vi sinh vật hiếu khí(bao gồm vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn hiếu khí tùy tiện, nấm, tảo, động vật nguyên sinh) – dưới tác động của oxy được cung cấp từ không khí qua các máy sục khí và được hòa tan vào trong nước thải nhờ các máy làm thoáng chìm – sẽ giúp cho vi sinh vật thực hiện quá trình phân hủy các chất hữu cơ, chuyển hóa chúng thành CO2, H2O, các sản phẩm vô cơ khác và các tế bào sinh vật mới
Quá trình này nhằm giảm hàm lượng BOD, chuyển hóa NH4 ->NO3 và tạo
cơ chế hồi lưu NO3 lỏng (hòa tan trong nước thải) và một phần bùn họat tính
về ngăn thiếu khí để khử Nitơ
Sau quá trình hiếu khí với đệm vi sinh di động, bùn họat tính được bám giữ trong ngăn hiếu khí Các giá thể này cho phép tăng mật độ vi sinh lên đến 8000-14000 g/m3 Với mật độ này các quá trình Oxy hóa để khử BOD, COD và NH4 diễn ra nhanh hơn rất nhiều
Bùn hoạt tính lơ lửng sẽ được chuyển sang bể lắng thứ cấp Ở đây một phần bùn được giữ lại để đưa về ngăn chứa và xử lý bùn thừa; một phần nhỏ bùn được theo bơm hồi lưu đưa về bể phản ứng sinh học
Sau thời gian lắng, phần nước trong bể lắng thứ cấp sẽ được dẫn sang bể khửtrùng để trộn đều với Javen diệt khuẩn trước khi xả ra môi trường
Để hiệu quả xử lý của AAO ổn định, lượng bùn vi sinh trong bể luôn được duy trì
ở một giá trị nhất định Phần bùn dư được lấy ra và được xử lý trong các công đoạn xử lý bùn trước khi trả về môi trường
Về công tác xử lý bùn: Bùn dư từ các quá trình xử lý sẽ được bơm vào bể