Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinhdưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế [7].Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra những
Trang 1NGUYỄN THỊ DUYÊN
T×NH H×NH T¡NG HUYÕT ¸P Tù KHAI B¸O Vµ øNG Xö
VÒ PHßNG, CH÷A BÖNH T¡NG HUYÕT ¸P ë NG¦êI CAO TUæI
T¹I 3 X· HUYÖN BA V×, Hµ NéI, N¡M 2014
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2T×NH H×NH T¡NG HUYÕT ¸P Tù KHAI B¸O Vµ øNG Xö
VÒ PHßNG, CH÷A BÖNH T¡NG HUYÕT ¸P ë NG¦êI CAO TUæI
T¹I 3 X· HUYÖN BA V×, Hµ NéI, N¡M 2014
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 60720301
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ VĂN HỢI
HÀ NỘI – 2015 DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
Trang 4Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới Tỷ lệ NCT ởnước ta cũng gia tăng nhanh chóng trong 3 thập kỷ qua, năm 1989 là 7,2%;năm 1999 là 8,3% và năm 2009 là 9,5% [4] Tuổi thọ tăng từ 66 lên 72 tuổitrong giai đoạn 1990- 2006, và dự kiến tăng lên 80,3 tuổi vào năm 2050 [5].Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi sovới tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân sốViệt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [5], [6] Tuổi thọ được nâng cao là một trong những thành tựu của xã hội pháttriển Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinhdưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế [7].Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức về mặt xã hội, kinh tế
và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng trên toàn cầu, và làmột trong những lý do làm tăng tỷ lệ một số bệnh mạn tính [8]
Theo kết quả các nghiên cứu ở Việt Nam trong 10 năm trở lại đây,khoảng 80% NCT có bệnh mạn tính không lây như: tăng huyết áp (THA), đáitháo đường (ĐTĐ), rối loạn lipid máu, bệnh xương khớp, bệnh về mắt…trong đó bệnh THA là bệnh phổ biến nhất và nguy hiểm nhất [9]
Kết quả điều tra dịch tễ học về tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế
và xã hội của NCT Việt Nam do Viện Lão khoa công bố năm 2007 cho thấy
tỷ lệ NCT mắc bệnh THA là 45,6% [10]
Trang 5Mặc dù THA là nguy hiểm nhưng nếu được phát hiện sớm, theo dõi vàkiểm soát hiệu quả thì tỷ lệ tử vong cũng như biến chứng giảm đáng kể Tuynhiên, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc hiện nay trên thế giới chỉ đạtkhoảng 25 – 40% [11].
Huyện Ba Vì – Hà Nội là một điểm nghiên cứu dịch tễ học thực địa củaTrường Đại học Y Hà Nội và đồng thời là một địa bàn của Việt Nam nằmtrong Hệ thống giám sát nhân khẩu học quốc tế Tỷ lệ NCT của huyện Ba Vì
là 9,1% (2007) gần tương đương với tỷ lệ NCT chung của cả nước 9,5%(2009) [5]
Nhằm điều tra và ứng xử về phòng, chữa THA ở người cao tuổi tại
huyện Ba Vì, Hà Nội nghiên cứu “Tình hình THA tự khai báo và ứng xử về phòng, chữa THA ở người cao tuổi tại 3 xã của huyện Ba Vì, Hà Nội, năm 2014” được tiến hành với các mục tiêu:
1 Tỷ lệ THA tự khai báo ở NCT tại 3 xã của huyện Ba Vì, Hà Nội, năm 2014.
2 Sự khác biệt của tự khai báo so với thực tế đo được trong nghiên cứu về tình hình THA của người cao tuổi tại 3 xã của huyện Ba Vì, Hà Nội, năm 2014.
3 Ứng xử về phòng và chữa THA của người cao tuổi 3 xã của huyện Ba Vì,
Hà Nội, năm 2014.
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược tình hình NCT
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay các khu vực trên thế giới vẫnchưa thống nhất tiêu chí về NCT, tuy nhiên Liên hợp quốc đã nhất trí lấy mốcnhững người từ 60 tuổi trở lên được xếp vào nhóm NCT [16]
Một cách qui định khác cũng khá phổ biến trên thế giới là người cao tuổilấy mốc từ 65 tuổi trở lên và phân chia theo 3 nhóm độ tuổi như sau: 65 – 74tuổi; 75 – 84 tuổi; > 84 tuổi [17]
Tại Việt Nam, quy định NCT là những công dân nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên [18]
1.1.1 Sơ lược tình hình NCT trên thế giới
Tính đến tháng 12/2012, thế giới có khoảng 810 triệu người trên 60 tuổi.Ước tính đến năm 2022, thế giới sẽ có 1 tỷ người ngoài 60 tuổi và đến năm
2050 sẽ là 2 tỷ người [1]
Hiện nay, có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi;trong khi đó 5 năm trước đây, chỉ có 19 quốc gia đạt con số này Hiện nay,Nhật Bản là quốc gia duy nhất có trên 30% dân số già; nhưng đến năm 2050,
dự tính sẽ có 64 nước có trên 30% dân số già như Nhật Bản [19]
Già hóa DS đang diễn ra trên tất cả các khu vực và các quốc gia, tăngnhanh nhất ở các nước đang phát triển, bao gồm các nước có nhóm DS trẻ [1].Tuổi thọ được nâng cao là một trong những thành tựu của xã hội pháttriển Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinhdưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dôc và đời sống kinh tế [7] Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức về mặt xã hội,kinh tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng trên toàn
Trang 7cầu, và là một trong những lý do làm tăng tỷ lệ một số bệnh mạn tính [8].
Biểu đồ 1.1: Số người từ 60 tuổi ở các nước phát triển và đang phát triển [20]
Các nước phát triểnCác nước đang phát triển
1.1.2 Sơ lược về tình hình NCT ở Việt Nam
Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người caotuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, haydân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [5],[6]
Xu hướng già hóa dân số nhanh chóng đã được quan sát trong nhữngthập niên gần đây Tỷ lệ người dân từ 60 tuổi trở lên tăng từ 6,7% vào năm
1979 đến 8,9% vào năm 2009 Tỷ lệ này được dự báo là 26,1% vào năm
2050 Tuổi thọ tăng từ 66 lên 72 tuổi trong giai đoạn 1990- 2006, và dự kiếntăng lên 80,3 tuổi vào năm 2050 [5]
Chỉ số già hóa dân số của Việt Nam đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên24,3% năm 1999 [21] và đạt 37% năm 2007 [22] Chỉ số này cao hơn con sốtrung bình 30% của các nước Đông Nam Á [21] Tỷ số phụ thuộc của NCTtăng từ 0,13% năm 1989 lên 0,14% năm 1999 và 0,15% năm 2007 [22] Dựkiến đến năm 2050, tháp dân số của Việt Nam sẽ giống tháp dân số hiện naycủa các nước phát triển như Nhật Bản và Thụy Điển, với tỷ lệ NCT ở mức cao(Hình 1.1) [5]
Trang 8Hình 1.1 Tháp dân số hiện tại, dự kiến của Việt Nam, tháp dân số
Tỷ lệ NCT sống dưới chuẩn nghèo quốc gia thường thấp hơn một chút sovới tỷ lệ chung của cả quần thể hoặc của nhóm những người trẻ hơn Tỷ lệ đócủa NCT giảm từ 57,2% xuống 19,3% trong giai đoạn từ 1992 – 2004
Tỷ lệ NCT sống dưới chuẩn nghèo cao nhất ở Tây Bắc và thấp nhất ởĐông Nam bộ Tỷ lệ này ở khu vực Đồng bằng sông Hồng giảm từ 54,8%năm 1992/93 xuống còn 16,3% năm 2004 [26]
1.3 Khái quát cơ bản về bệnh tăng huyết áp
THA là bệnh mạn tính trong đó áp lực máu hệ thống động mạch tăngcao Khi huyết áp của bạn thường xuyên cao hơn mức bình thường (huyết áptâm thu và/hoặc tâm trương) Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA của
Bộ Y tế, mắc THA là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâmtrương ≥ 90mmHg [10]
Trang 9Phân loại THA:
Huyết áp thường được phân loại dựa trên huyết áp tâm thu và huyết áptâm trương Huyết áp tâm thu là áp lực máu trong lòng mạch trong khi timđập Huyết áp tâm trương là áp lực máu trong khoảng thời gian giữa hai lầnđập của tim Khi huyết áp tâm thu hay tâm trương cao hơn giá trị bình thườngtheo tuổi thì được phân loại là tiền THA hoặc THA theo các mức độ
Bảng 2.4: Phân độ tăng huyết áp [10]
Phân độ huyết áp
Huyết áp tâm thu (mmHg)
Huyết áp tâm trương (mmHg)
Huyết áp bình thường 120 – 129 và/hoặc 80 – 84Tiền tăng huyết áp 130 – 139
và/hoặc
và/hoặc 85 – 89
Tăng huyết áp độ 1 140 – 159 và/hoặc 90 – 99Tăng huyết áp độ 2 160 – 179 và/hoặc 100 – 109
Tăng huyết áp tâm thu
đơn độc
Nguyên nhân:
THA được phân loại thành nguyên phát hay thứ phát:
Có khoảng 90–95% số ca được phân loại " THA nguyên phát", dùng đểchỉ các trường hợp không tìm thấy nguyên nhân gây THA (vô căn)
Chỉ có khoảng 5–10% số ca là THA thứ phát gây ra bởi các bệnh tạicác cơ quan khác như thận, động mạch, tim, và hệ nội tiết
Triệu chứng:
Phần lớn THA không có triệu chứng hoặc dấu hiệu nhận biết mang tínhđặc hiệu Các dấu hiệu thường gặp khi bị THA ở mức độ nhẹ là nhức đầu,
Trang 10chóng mặt, choáng váng, buồn nôn, nôn mửa, mỏi mệt…Những triệu chứngnày cũng có thể gặp phải ở một số bệnh khác.
Khi có triệu chứng THA, thường lúc này đã là biến chứng hoặc tìnhtrạng THA đã nặng
Biến chứng gặp phải:
Biến chứng THA xảy ra chủ yếu ở tim, não, thận, mắt, mạch máu.Tại tim, THA gây bệnh Tim lớn (lâu ngày gây suy tim), bệnh mạchvành gồm thiếu máu cơ tim im lặng, cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim vàđột tử
Bảng 2.5: Phân tầng nguy cơ tim mạch [10].
Tại não, THA gây những cơn thiếu máu não thoáng qua, làm suy giảmnhận thức và sa sút trí tuệ, đặc biệt nguy hiểm THA là nguyên nhân gây ranhững cơn đột quỵ (tai biến mạch máu não) gồm nhồi máu não (nhũn não) vàxuất huyết não (chảy máu não, đứt mạch máu não) Ngoài ra, biến chứngTHA còn là nguyên nhân gây bệnh não do THA (nôn mửa, chóng mặt, cogiật, hôn mê…)
Trang 11Ở thận, biến chứng THA gây bệnh thận giai đoạn cuối và dẫn đến suy thận.Tại mắt, gây mờ mắt, mù gọi là bệnh lý võng mạc do THA.
Trong mạch máu, THA gây phồng lóc động mạch chủ, xơ vữa độngmạch, viêm tắc động mạch chân
Tất cả biến chứng này về mặt sức khỏe làm bệnh nặng dần, tàn tậtnhiều (62% đột quỵ và 49% đau thắt ngực do THA) và gây chết hoặc đột ngộthoặc từ từ hoặc chết sớm (THA gây giảm tuổi thọ từ 10 đến 20 năm), làmtăng chi phí tài chính của gia đình và xã hội[10]
Sơ đồ 2.1: Quy trình điều trị Tăng huyết áp.
1.3.1 Tăng huyết áp ở NCT trên thế giới
Trang 12Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh mạn tính phổ biến nhấtđặc biệt ở NCT bởi vì tuổi càng cao thì nguy cơ THA càng cao [28] Việc xácđịnh tỷ lệ hiện mắc THA phụ thuộc vào tiêu chuẩn được sử dụng để phân loại,cách đo và nhóm đối tượng Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các quốc gia đều sửdụng thống nhất về cách đo trong các cuộc điều tra và sử dụng tiêu chuẩn củaJNC VII để phân loại tăng huyết áp cụ thể là: một người được chẩn đoán làTHA khi chỉ số huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg 30 và/hoặc huyết áp tâmtrương ≥ 90 mmHg[33] Theo kết quả nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thếgiới thì hơn một nửa người cao tuổi mắc bệnh THA Tỷ lệ THA ở NCT củacác nước phát triển cao hơn các nước đang phát triển [14] Kết quả nghiêncứu của WHO ở 6 quốc gia (Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Nam Phi, Mexico và
Ghana) trong khoảng thời gian 2007-2010 cho thấy THA là bệnh mạn tính
phổ biến nhất ở lứa tuổi từ 50 trở lên [26]
Fotoula Babatsikou và Assimina Zavitsanou tiến hành nghiên cứu dịch tễhọc THA ở NCT dựa trên các số liệu sẵn có cho kết quả, tỷ lệ NCT bị THA ở
Mỹ và châu Âu dao động trong khoảng 53% - 72% [26]
Kết quả nghiên cứu của các tác giả ở trên thế giới và trong khu vực giaiđoạn 2000 - 2010 đều cho thấy tỷ lệ THA ở NCT ≥ 50%
Tăng huyết áp là nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh tim mạch, đột quỵ[38], [36] Theo ước tính của WHO, biến chứng của THA liên quan tới 9,4triệu ca tử vong mỗi năm, THA gây nên 45% ca tử vong do các bệnh timmạch và ít nhất 51% số ca tử vong do đột quỵ Đáng chú ý là gần 80% các ca
tử vong do bệnh tim mạch tập trung ở các nước có thu nhập thấp [48] Người
bị THA giai đoạn II trở lên có nguy cơ đột quỵ tăng gấp 4 lần so với người cóhuyết áp bình thường [30]
Ngoài những yếu tố về tuổi, giới có liên quan đến tình trạng THA ở NCT
đã được chứng minh thì những hành vi nguy cơ như hút thuốc lá, lạm dụng
Trang 13rượu, chế độ ăn nhiều muối, nhiều chất béo, ít hoạt động thể lực được xem làcác yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp [38] Hơn nữa, tình trạng thừa cân,béo phì, rối loạn lipid máu và đái tháo đường cũng là các yếu tố mà hầu hếtcác nghiên cứu đều khẳng định có liên quan chặt chẽ với tình trạng tăng huyết
áp [36],[37]
WHO ước tính chi phí điều trị các bệnh không lây của các nước thu nhậpthấp và trung bình giai đoạn 2011 – 2025 khoảng 500 tỷ UDS mỗi năm, mộtnửa số đó là chi phí điều trị các bệnh tim mạch, trong đó có bệnh THA [38].Mặc dù THA là nguy hiểm nhưng nếu được phát hiện sớm, theo dõi vàkiểm soát hiệu quả thì tỷ lệ tử vong cũng như biến chứng giảm đáng kể Tuynhiên, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc hiện nay trên thế giới chỉ đạtkhoảng 25 – 40% Do đó, bên cạnh việc sử dụng thuốc kiểm soát huyết áp,cần phải thay đổi những thói quen có nguy cơ như hút thuốc lá, lạm dụngrượu, dinh dưỡng không hợp lý và ít hoạt động thể lực [38]
Các kết quả các nghiên cứu còn cho thấy có tới 1/3 số người cao tuổikhông biết mình bị tăng huyết áp; có khoảng hơn 70% người bị THA có dùngthuốc hạ huyết áp và hiệu quả điều trị tăng huyết áp (đưa chỉ số huyết áp vềngưỡng < 140/90 mmHg) chỉ đạt khoảng 40% NCT ở các nước phát triển cónhận thức về bệnh THA, tuân thủ điều trị và hiệu quả kiểm soát huyết áp caohơn ở các nước đang phát triển, tuy nhiên sự khác biệt đó không có ý nghĩathống kê và khoảng cách đó đang dần dần thu hẹp [27], [38]
Sonia Hammami nghiên cứu ở Tuynizia năm 2011 cho kết quả có 81%nhận thức được mình bị tăng huyết áp, 78,4% NCT bị THA có điều trị, tuynhiên chỉ có 30,7% là điều trị đúng [34]
Theo kết quả của A Triantafyllou nghiên cứu tại Hy Lạp năm 2010 có89,1% NCT điều trị THA [25] Tỷ lệ NCT tăng huyết áp có điều trị trongnghiên cứu của M Prencipe tiến hành ở Ý (năm 2000) là 59,5% [38]
Trang 14Tỷ lệ NCT mắc bệnh tăng huyết áp không điều trị ở Singapore là 32%[106], khoảng một nửa số NCT ở Ấn Độ (2008) không biết bị tăng huyết áp
và chỉ có 39% NCT điều trị khi được chẩn đoán tăng huyết áp [40],[41] Kếtquả nghiên cứu của Y Porapakkham Thái Lan (2008) cho thấy, có 56,1%NCT không biết mình bị tăng huyết áp và chỉ có 36,1% trong số những NCT
bị tăng huyết áp có điều trị [117]
1.3.2.Tăng huyết áp ở NCT tại Việt Nam
Nếu như ở các nước phát triển, THA đã trở thành vấn đề y tế công cộng từnhiều năm nay thì ở Việt Nam, một nước đang phát triển, THA cũng đã vàđang gia tăng rất nhanh, tiến gần tới ngưỡng của các nước phát triển [40] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Khuê và cộng sự năm 1982, tỷ lệTHA của NCT là 9,2% [40] Kết quả điều tra Y tế quốc gia năm 2001 – 2002cho thấy, tỷ lệ THA ở nhóm tuổi 65 – 74 là 50,0% ở nam giới và nữ giới là49,2%; ở lứa tuổi ≥ 75 tỷ lệ THA là 55,8% ở nam giới và 62,3% ở nữ giới[13] Tác giả Hoàng Khánh và Tạ Tiến Dũng (2006) nghiên cứu tại Long Ancho thấy có khoảng 53,8% NCT bị tăng huyết áp [30] Tỷ lệ THA ở NCTtrong nghiên cứu của tác giả Trương Tấn Minh, Lê Tấn Phùng (2008) tạiKhánh Hòa là 48,1% [36]
Như vậy, từ những kết quả nghiên cứu trong khoảng từ năm 2000 – 2008 tạiViệt Nam thì tỷ lệ THA của NCT ở nước ta dao động trong khoảng trên dưới50%, tỷ lệ này cũng tương tự như kết quả những nghiên cứu tại cộng đồng ởcác nước đang phát triển khác như Ấn Độ, Thái Lan… [20],[39]
Tỷ lệ THA ở NCT Việt nam cũng có các đặc điểm như các quốc gia khác trênthế giới đó là: tỷ lệ mắc ở nữ giới cao hơn; người cao tuổi sống ở thành thị có
tỷ lệ mắc cao hơn ở nông thôn, nhóm tuổi từ 75 trở lên có tỷ lệ mắc cao hơnnhóm tuổi từ 60 -74; tỷ lệ THA có mối quan hệ với tiền sử gia đình, tình trạngthừa cân béo phì, uống rượu, hút thuốc lá và đái tháo đường [41],[49],[59]
Trang 15Nhận thức của người cao tuổi về bệnh THA là một trong những yếu tố quantrọng trong việc triển khai các biện pháp dự phòng và kiểm soát huyết áp Kếtquả các nghiên cứu trong thời thời gian gần đây ở nước ta cho thấy kiến thức
về các biện pháp phòng, chống THA của NCT vẫn có những khoảng trốngđặc biệt là những người chưa bị THA [22],[30],[36]
Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về nhận thức và tuân thủ điều trị THA
ở người trưởng thành nói chung đặc biệt ở NCT Theo kết quả nghiên cứu củaBùi Thị Hà thực hiện nghiên cứu nhận thức, theo dõi và tuân thủ điều trị củangười bệnh tăng huyết áp tại Hải Phòng cho thấy có 64,62% người bệnhkhông uống thuốc điều trị [21] 33
Trang 16Vương Thị Hồng Hải nghiên cứu nhận thức và sự tuân thủ điều trị của bệnhnhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Trung ương TháiNguyên chỉ ra rằng còn 55% người bệnh chưa nhận thức được cần phải điềutrị bệnh lâu dài và có 27,6% người bệnh chưa tuân thủ điều trị [22]
Năm 2005, Đàm Viết Cương và cộng sự tiến hành nghiên cứu đánh giá tìnhhình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam cho thấy có 45%NCT không biết gì về cách phòng chống bệnh THA [17]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt (2006) cho thấy chỉ có 34,6% người
bị THA biết mình có bệnh còn 65,4% không biết mình bị THA Có 24,9% đốitượng nghiên cứu sử dụng thuốc điều trị bệnh Kiến thức của người dân vềcác yếu tố nguy cơ bệnh tăng huyết áp dao động từ 35% - 85,6% Kiến thứccủa người dân về biến chứng của bệnh tăng huyết áp dao động từ 52 % -84,7% [40]
Nguyễn Tuấn Khanh nghiên cứu kiến thức, thực hành về phòng ngừa, điều trịTHA ở NCT tại thành phố Mỹ Tho năm 2011cho thấy, kiến thức của NCT vềnguy cơ của bệnh THA cụ thể là: 78,1% biết cách phát hiện THA; 66,6%NCT biết rằng nếu bị bệnh mà không điều trị thì có thể có biến chứng [31] Năm 2012, báo cáo tổng kết 10 năm triển khai mô hình quản lý, theo dõi vàđiều trị có kiểm soát bệnh tăng huyết áp tại 12 bệnh viện đa khoa và 10 bệnhviện huyện (tổng cộng có 54.500 bệnh nhân) của Đồng Văn Thành cho thấy:
Đa số các bệnh nhân THA đều có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ như rối loạnchuyển hoá lipid chiếm 29,2%, đái tháo đường 11,2%, thừa cân và béo phì7,9%, tổn thương thận 7,7%, bệnh nhân bị TBMN (xuất huyết não và nhũnnão) 5,1%, bệnh mạch vành chiếm 9,8%, hút thuốc 23,5% và uống nhiềurượu, bia 19,6% Vẫn còn 14,9% người bệnh THA chưa được quản lý tốt,nguyên nhân chính của việc quản lý người bệnh THA chưa được quản lý tốt
là do nhận thức của người bệnh chưa tốt (59,5%) Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu
Trang 17trong nhóm được quản lý tốt là 66,8% Tỷ lệ bệnh nhân THA có biến cố phảinhập viện điều trị như TBMMN, NMCT, cơn đau thắt ngực chiếm 4,8% Tácgiả khuyến nghị cần có chương trình tuyên truyền giáo dục sức khoẻ rộng và
đủ để nâng cao sự hiểu biết của người dân về bệnh THA, phát hiện sớm bệnh
để điều trị kịp thời [37]
Như vậy, ở nước ta tỷ lệ bệnh nhân THA không biết bị bệnh, hoặc biết bịbệnh nhưng chưa được điều trị hoặc điều trị chưa đúng chiếm gần 70% Hầuhết các bệnh
nhân THA chỉ điều trị khi thấy khó chịu và thường khi thấy con số huyết áp
về bình thường là tự ý bỏ thuốc, hoặc chỉ điều trị một đợt, không khám lại…
Tỷ lệ bệnh nhân phải tái nhập viện, tàn phế hoặc tử vong do bệnh gây ra vẫnngày càng gia tăng Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do nhận thứccủa người dân về bệnh THA còn hạn chế Để góp phần hạn chế gánh nặng củabệnh điều quan trọng là cần phải tăng cường truyền thông giáo dục sức khoẻcho bệnh nhân bị THA nói riêng và cho cộng đồng nói chung đặc biệt là NCTmột cách thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm giúp mọi người dân thựchiện lối sống tích cực, hạn chế tỷ lệ bị THA đồng thời phát hiện sớm bệnh vàtuân thủ điều trị để kiểm soát được huyết áp
Trang 18CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người có tuổi từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống trên địa bàn 3 xã TâyĐằng, Phú Châu, Minh Quang được lựa chọn vào nghiên cứu, không phânbiệt giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo tính vào năm 2014
* Tiêu chuẩn chọn mẫu:
Tiêu chuẩn lựa chọn: Đưa vào nghiên cứu các trường hợp sau:
ĐTNC có mặt tại thời điểm nghiên cứu
ĐTNC tự nguyện và hợp tác tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Không đưa vào nghiên cứu các trường hợp có 1 trong các
đặc điểm sau:
ĐTNC bỏ cuộc trong quá trình nghiên cứu
Người không có khả năng trả lời phỏng vấn (đãng trí, mất trí, điếc, rốiloạn tâm thần…)
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu:
2.2.1 Địa điểm: Huyện Ba Vì, Hà Nội
Huyện Ba Vì, Hà nội cách trung tâm Thủ đô khoảng 60km nằm
về phía Tây Bắc, tổng diện tích của huyện là 424km2, dân số năm 2014 là279.290 người, bao gồm 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao Toàn huyện có 31 xã,thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông Hồng Phía Đông củahuyện giáp thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnhPhú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc Địa hình của huyện thấp dần từphía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: vùngnúi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng Ba Vì được chọn là Điểmnghiên cứu dịch tễ học thực địa (FILABAVI) của Trường Đại học Y Hà Nội
Trang 19và là thành viên của Mạng lưới giám sát nhân khẩu học và sức khỏe quốc tế(INDEPTH) từ năm 1999 đến nay
Theo nghiên cứu về thực trạng sức khỏe của NCT tại huyện Ba Vì năm
2007 của Lê Văn Hợi và cs tỷ lệ NCT của huyện Ba Vì là 9,1%
Hình 2.1 Bản đồ huyện Ba Vì – Hà Nội
2.2.2 Thời gian: từ tháng 2/2015 đến tháng 6/2016
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Trang 202.4 Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu
2.4.1 Cách chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng, trong đó:
Chon ngẫu nhiên 3 xã/thị trấn trong huyện Ba Vì > Từ mỗi xã/thị trấnchọn ngẫu nhiên 2 thôn > Tất cả NCT ở trong các thôn đã chọn đều được mờitham gia nghiên cứu
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu điều tra chọn mẫu tính dựa trên ước lượng tỷ lệ:
Trong đó:
Tỷ lệ NCT có nhận thức đúng về bệnh tăng huyết áp Tham khảo từ kết quảnghiên cứu của Nguyễn Lân Việt và thì tỷ lệ này là khoảng 30% [31]
d : độ chính xác tuyệt đối mong muốn là 5%
Z1-α/2 = 1,96 Giá trị của phân bố chuẩn với độ tin cậy là 95% (α = 0,05)
Tính được n= 329
Sau khi hiệu chỉnh cỡ mẫu với tỷ lệ không đáp ứng của đối tượngnghiên cứu là 10%, cỡ mẫu cần thiết cho điều tra là 362
2.5 Biến số, chỉ số nghiên cứu
2.2.3 Chỉ số và biến số nghiên cứu:
Tên biến Định nghĩa biến số Loại biến Chỉ số
Công cụ thu thập số liệu
Giới tính + Nam giới
+ Nữ giới
Nhịphân
Tỷ lệ % NCTtheo giới tính
Phiếuphỏng vấn