Những tồn tại này đòi hỏi cần tiến hành một nghiên cứu nhằmxác định yếu tố nguy cơ và mức độ tác động của các yếu tố này đối với hành vibạo lực ở học sinh THCS.. Việc mô tả thực trạng, p
Trang 1Thực tế ở nước ta cho thấy rằng, bạo lực học đường đã để lại nhữnghậu quả lớnvề sức khỏe và tinh thần Những hành vi bạo lực bằng vũ lực cóthể để lại những vết thương trên thể xác và nó có thể lành theo năm tháng.Song, có những hành vi bạo lực như những lời nói, bình luận hoặc các videođược đưa lên mạng đã để lại nỗi ám ảnh về mặt tinh thần, thậm chí nhiềutrường hợp đã cướp đi những sinh mạng vô tội thì khó có thể xóa nhòa theotháng năm Để rồi, kẻ thực hiện hành vi bạo lực bị đuổi học hoặc kết án tù tộicòn người bị hại sẽ ám ảnh suốt đời, lo sợ và mất đi cơ hội phát triển củamình Từ đó, tương lai và ước mơ của các em sẽ rẽ sang một hướng kháckhông mấy khả quan.
Tại nước ta cho đến thời điểm này có rất ít nghiên cứu về bạo lực ở lứatuổi THCS Sự thiếu hụt thông tin về thực trạng cũng như nguyên nhân làmhạn chế khả năng tiến hành can thiệp hiệu quả nhằm ngăn chặn vấn nạn bạo
Trang 2lực học đường Những tồn tại này đòi hỏi cần tiến hành một nghiên cứu nhằmxác định yếu tố nguy cơ và mức độ tác động của các yếu tố này đối với hành vibạo lực ở học sinh THCS Thị trấn Quốc Oai là trung tâm kinh tế, văn hóa, chínhtrị của cả huyện Trường THCS thị trấn Quốc Oai là một trong những trường có
tỷ lệ học sinh đông nhất huyện, qua đánh giá nhanh cho thấy bạo lực thực sự làmột vấn đề cần quan tâm Tuy nhiên, những con số đánh giá nhanh chưa đủ đểđưa ra kết luận cho thực trạng bạo lực và một số yếu tố liên quan tại đây Việc
mô tả thực trạng, phân tích các yếu tố liên quan dẫn đến hành vi bạo lực sẽ giúpcung cấp thông tin cho ban giám hiệu, sở giáo dục huyện Quốc Oai cũng nhưcác ban ngành có liên quan về thực trạng BLHĐ ở trường và các nguyên nhân đểđịnh hướng được các biện pháp cần thực hiện trong thời gian tới hướng tới sựphát triển toàn diện và lành mạnh của học sinh
Chính vì lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng bạo lực học đường của học sinh trường trung học cơ sở thị trấn Quốc Oai, Hà Nội, năm 2016 và một số yếu tố ảnh hưởng”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng bạo lực học đường của học sinh trường THCS thị trấnQuốc Oai, Hà Nội năm 2016
2 Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực của học sinhtrường trung học cơ sở thị trấn Quốc Oai, Hà Nội, năm học 2016
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Định nghĩa bạo lực học đường
Bạo lực:Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Bạo lực là hành vi cố ý sử
dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chốnglại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổnthương hoặc có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâmthần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác
Bạo lực học đường:Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch
bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2011), “Bạo lực là việc cố ý sử dụng vũ lực hoặcquyền lực nhằm chống lại người khác bằng những hành vi có khả năng gâythiệt hại về thể chất hoặc tâm lý” Bạo lực học đường là trường hợp đặcbiệt của bạo lực
Ở Mỹ, bạo lực học đường còn được gọi là bắt nạt học đường Địnhnghĩa về bắt nạt được đưa ra bởi StopBullying- Một trang web của chính phủMỹ: Bắt nạt là hành vi hung hăng không mong muốn xảy ra ở trẻ trong độtuổi đến trường có liên quan đến sự mất cân bằng trong nhận thức hoặc cảmxúc Trẻ bị bắt nạt và trẻ bắt nạt đều có thể gặp những vấn đề nghiêm trọnglâu dài Bắt nạt bao gồm các hành động như đe dọa, phát tán tin đồn, tấn công
ai đó về thể chất hoặc lời nói, và loại trừ một ai đó từ một nhóm chủ đích
1.1.1 Phân loại bạo lực học đường
Có nhiều cách phân chia các hình thức bạo lực học đường Tuy nhiên,trong khuôn khổ nghiên cứu này bạo lực học đường được phân loại dựa trênmột số nghiên cứu trên thế giới Trong đó, bạo lực học đường được chia thành
3 nhóm sau
Trang 4- Bạo lực về thể chất: Bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát,dứt tóc, kéo tai, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vặt của một hay một nhóm họcsinh khác
- Bạo lực bằng lời nói: Bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh(mang nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lời nói đedọa, ép buộc một hay một nhóm học sinh khác làm theo ý mình
- Bạo lực điện tử/mạng xã hội: Bao gồm các hành vi như nhắn tin, gọiđiện để uy hiếp đe dọa/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ýmình, sử dụng email/mạng xã hội để uy hiếp, đe dọa/ép buộc một/một nhómhọc sinh làm theo ý mình
1.2 Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới
1.2.1 Bạo lực giới trẻ
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, bạo lực ở giới trẻ là một trongnhững hình thức bạo lực dễ thấy nhất trong xã hội và ngày càng gia tăng trongnhững thập niên gần đây Trên thế giới, báo chí và các phương tiện truyềnthông đề cập hàng ngày thông tin về bạo lực của các băng nhóm, trong trườnghọc và của giới trẻ trên đường phố Các nạn nhân và thủ phạm chính của bạolực ở khắp mọi nơi, có thể là trẻ vị thành niên hoặc thanh thiếu niên trẻ tuổi.Những cái chết hoặc những cuộc tấn công liên quan đến bạo lực đã góp phầnlàm gia tăng tỉ lệ chết trẻ, bị thương và tàn tật trên toàn cầu Bạo lực ở giới trẻliên quan đến những hành vi có hại có thể bắt đầu từ rất sớm và tiếp tục vàotuổi trưởng thành Một thanh niên có thể là nạn nhân, là người phạm tội hoặcngười chứng kiến bạo lực Bạo lực ở giới trẻ bao gồm các hành vi khác nhau.Chẳng hạn như bắt nạt, tát hoặc đánh, có thể gây ra thiệt hại về tình cảmnhiều hơn thiệt hại về mặt thể chất Một số hành vi khác như cướp hoặc sửdụng vũ lực (có hoặc không có vũ khí ) có thể dẫn đến chấn thương nghiêmtrọng hoặc thậm chí tử vong
Trang 5Trên toàn thế giới ước tính khoảng 200 000 vụ giết người xảy ra trongthanh niên 10-29 tuổi mỗi năm, và là nguyên nhân tử vong hàng thứ tư chongười ở nhóm tuổi này Tỷ lệ giết người ở thanh niên khác nhau đáng kể giữacác nước Trên toàn cầu, 83% nạn nhân vụ giết người ở thanh niên là namgiới, và trong tất cả các nước thủ phạm là nam giới cũng chiếm đa số Hầu hết
ở khắp mọi nơi tỷ lệ giết người ở thanh niên là nữ giới thấp hơn nhiều so với
tỷ lệ ở nam giới Trong những năm 2000-2012, tỷ lệ giết người ở thanh niêngiảm ở hầu hết các quốc gia, ở các nước có thu nhập cao việc giảm lớn hơn sovới ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình
Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1994, bạo lực dẫn đến tử vong tăngnhanh ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở độ tuổi từ 10-24 tuổi Nghiêncứu của WHO đã chỉ ra một số đặc trưng sau: hiện tượng này xảy ra ở độtuổi từ 15-19 và 20-24 nhiều hơn là độ tuổi từ 10-14 tuổi; xảy ra ở namnhiều hơn nữ; xuất hiện ở các nước đang phát triển và có những thay đổi vềtình hình kinh tế xã hội Ở Nga, giai đoạn 1985- 1994, tỉ lệ này ở độ tuổi từ
10 – 24 tuổi tăng hơn 150%, tỉ lệ là từ 7 người/100.000 dân lên đến 18người/100.000 dân
Một chú ý nữa đó là tỉ lệ gia tăng tử vong do bạo lực ở giới trẻ liênquan đến gia tăng sử dụng súng Liên quan đáng chú ý trong xu hướng giếtngười ở thanh niên trong giai đoạn 1985-1994 đã được quan sát trên khắp lụcđịa Hoa Kỳ Tại Canada, nơi có khoảng một phần ba số vụ tử vong ở giới trẻliên quan đến súng, tỉ lệ này giảm 9,5%, trung bình từ 2,1 người chết/ 100.000dân- 1,9 người/ 100.000 dân Tại Hoa Kỳ, xu hướng lại ngược lại, với hơn70% số vụ giết người ở độ tuổi thanh thiếu niên liên quan đến súng và ở giaiđoạn này có tốc độ tăng là 77%, từ 8,8 người/100.000 dân đến 15,6người/100.000 dân
Trang 6Bên cạnh những hậu quả dẫn đến chết người, bạo lực ở giới trẻ cũngxảy ra ở những hành vi như bắt nạt, tát, hoặc sử dụng vũ lực dẫn đến bịthương Ở trường hợp này, bạo lực xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới Mộtnghiên cứu ở Eldoret, Kenya cho thấy tỉ lệ nạn nhân là nam giới so với nữgiới là 2,6:1 Một nghiên cứu khác ở Jamaica là 3:1 và ở Na Uy là 4,5:1 Tỉ lệbạo lực gây chấn thương có xu hướng tăng nhanh ở độ tuổi từ thanh thiếuniên đến thanh niên
Vấn đề bạo lực ở giới trẻ không thể nhìn nhận tách biệt với các vấn đề
về hành vi khác Bạo lực ở thanh thiếu niên thường có dấu hiệu vi phạm phápluật ở một phạm vi nào đó Chúng thường đồng thời thể hiện các tệ nạn khác
ở giới trẻ như: bỏ học, sử dụng chất kích thích, đua xe và tỷ lệ mắc bệnh lâytruyền qua đường tình dục cao Mặc dù vậy, không phải thanh thiếu niên nàotham gia bạo lực cũng đều có mắc các tệ nạn và ngược lại không phải tất cảthanh thiếu niên có các vấn đề trên nhất thiết có sử dụng bạo lực
Có hai quỹ đạo khởi phát chung cho bạo lực thanh niên - một một sớm,trong đó bạo lực bắt đầu trước tuổi dậy thì, và một muộn, trong đó bạo lực bắtđầu ở tuổi vị thành niên Những người trẻ bảo lực trước 13 tuổi thường phạmnhiều tội ác, và những tội ác nghiêm trọng hơn, trong thời gian dài hơn.Những người trẻ này thể hiện tính chất tăng dần bạo lực qua thời thơ ấu, vàđôi khi họ tiếp tục bạo lực của họ đến tuổi trưởng thành
1.2.2 Bạo lực học đường
Năm 2013, một nghiên cứu được thực hiện tại Mỹ do Trung tâm Kiểmsoát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) thực hiện với đối tượng học sinh từ lớp9- 12 cho thấy rằng: 7,1% báo cáo rằng họ đã không đi học trên một hoặcnhiều ngày trong vòng 30 ngày trước khi khảo sát bởi vì họ cảm thấy không
an toàn ở trường hoặc trên đường đến trường hoặc từ trường về nhà 9% báocáo là bị đe dọa hoặc bị thương do vũ khí vào nhà trường một hoặc nhiều lần
Trang 7trong 12 tháng trước điều tra.và 14,8% cho biết bị bắt nạt bằng điện tử trong
12 tháng trước điều tra mẫu đại diện quốc gia của thanh niên.Trong 12 thángtrước điều tra, 14,8% đã từng bị bắt nạt bằng điện tử, và 8,0% đã cố gắng tự
tử Trong năm học 2010- 2011, có 11 vụ giết người của độ tuổi đi học lứa tuổi
từ 5-18 Các vụ giết ở độ tuổi thanh thiếu niên, số vụ xảy ra ở trường học íthơn 1% và tỉ lệ này cũng khá ổn định trong vòng 1 thập kỷ qua
Trong năm 2012, có khoảng 749.200 vụ bạo lực không gây tử vongdiễn ra ở trường học giữa các học sinh từ 12 đến 18 tuổi Khoảng 9% giáoviên cho biết họ đã từng bị đe dọa tấn công bởi học sinh trong trường Trongnăm 2011, khoảng 18% học sinh lứa tuổi 12-18 cho biết các băng nhóm đã cómặt tại trường của họ trong năm học vừa qua
Ở Châu Á, bạo lực học đường cũng trở thành vấn đề nhức nhối củangành giáo dục nói chung và toàn xã hội nói riêng.Tổ chức phát triển cộngđồng tập trung vào trẻ em Plan International và Trung tâm nghiên cứu quốc tế
về phụ nữ (ICRW) vừa công bố báo cáo về tình trạng bạo lực trong cáctrường học ở châu Á Báo cáo dựa trên kết quả nghiên cứu và khảo sát thực tếvới 9.000 học sinh ở lứa tuổi 12-17, các giáo viên, hiệu trưởng, phụ huynh tại 5 quốc gia Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan và Nepal Theo báocáo này, tình trạng bạo lực trong các trường học châu Á đang ở mức báođộng Trung bình cứ 10 học sinh thì có 7 em từng trải nghiệm bạo lực họcđường Quốc gia có số học sinh hứng chịu nạn bạo lực cao nhất là Indonesia(84%); thấp nhất là Pakistan với 43% Chỉ tính trong 6 tháng (10/2013-3/2014), số học sinh bị bạo lực (ở mọi hình thức: tinh thần, thể xác ) tạitrường học của Indonesia là 75%, Việt Nam đứng thứ hai với 71%
1.2.3 Thực trạng bạo lực học đường tại Việt Nam
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước Liên HiệpQuốc về quyền trẻ em năm 1990 và thời gian qua đất nước ta có nhiều thành
Trang 8tựu qua việc đổi mới quản lý giáo dục Tuy nhiên, môi trường giáo dục hiệnnay vẫn phải đổi mặt với nhiều vấn đề, trong đó phải kể đến hiện tượng bạolực học đường xảy ra ngày càng nhiều và phổ biến.Bạo lực học đường đangtrở thành mối lo của phụ huynh học sinh, ngành giáo dục và toàn xã hội Nódiễn ra cả ở thành thị và nông thôn; cả với học sinh nam và học sinh nữ Bạolực học đường không những gây ra những tác động xấu đến mối quan hệ giữathầy với trò, trò với trò, mà còn gây hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe,tinh thần, thái độ học tập của học sinh, chất lượng dạy học, giáo dục; và nhiềuhậu quả nghiêm trọng khác Bạo lực học đường hầu như xảy ra ở các cấp họcnhưng tập trung nhất là ở lứa tuổi cuối cấp THCS và đầu cấp THPT.
Theo Báo cáo của Bộ GD&ĐT, trong năm 2009-2010, trên toàn quốc
đã xảy ra khoảng 1598 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong và ngoài trườnghọc Các nhà trường đã xử lý kỷ luật, khiển trách 881 học sinh, cảnh cáo 1558học sinh, buộc thôi học có thời gian học có thời hạn (3 ngày, 1 tuần, 1 nămhọc) 735 học sinh Tính bình quân, cứ 11.111 học sinh thì có 1 em bị buộc kỷluật thôi học có thời hạn vì đánh nhau
Không chỉ gia tăng về số lượng và tính chất nguy hiểm của các vụ bạolực trong học sinh cũng ngày càng nghiêm trọng Kết quả điều tra quốc gia vềthanh niên và vị thành niên Việt Nam năm 2009 (SAVY 2) đã cho thấy tỷ lệthanh thiếu niên từng mang hung khí là 2,8%, trong khi đó tỷ lệ này ở SAVY
1 là 2,6% [18] Bên cạnh đó, tình hình lập băng nhóm và đánh nhau có sựtham gia của các đối tượng bên ngoài trường học hay tổ chức đánh nhau từngnhóm có hung khí trong giới học sinh cũng ngày càng phổ biến, đặc biệt nguyhiểm là án mạng trong lứa tuổi học đường đã xảy ra ở nhiều tỉnh, thành phốtrên cả nước
Trang 91.3 Một số yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của học sinh
1.3.1 Yếu tố cá nhân
Ở mức độ cá nhân, liên quan đến bạo lực trong giới học sinh chủ yếu làcác yếu tố về tuổi, giới, tâm sinh lý sự phát triển và một số hành vi nguy cơcủa trẻ
Hành vi bạo lực xuất hiện phổ biến hơn và mức độ nghiêm trọng hơn ởnhóm nam sinh so với nữ sinh, tỷ lệ nam giới có ít nhất 1 hình thức bạo lực là77,9% cao hơn so với nữ giới (chiếm tỷ lệ 58,5%)
Theo Chen, Astor , những học sinh có khả năng kiểm soát bản thân kém
có hành vi bạo lực tăng gấp 0,57 lần đối với học sinh nam và tăng gấp 0,46 lầnđối với học sinh nữ so với những học sinh có khả năng kiểm soát bản thân tốt(p<0,01) Những người không thể kiềm chế được cơn giận dữ của mình khi bịngười khác có những hành vi tác động đến bản thân thường giải quyết vấn đềbằng cách sử dụng bạo lực Việc chứng kiến bạo lực tại trường học hoặc là nạnnhân của bạo lực ở trường đều có ảnh hưởng cùng chiều lên hành vi bạo lực(học sinh đã từng chứng kiến bạo lực có hành vi bạo lực cao gấp 2,9 lần so vớihọc sinh chưa từng chứng kiến bạo lực Học sinh là nạn nhân của bạo lực cónguy cơ sử dụng bạo lực để đáp trả Hơn nữa, trở thành nạn nhân của bạo lựchọc sinh có thể bị tổn thương tâm lý dẫn đến trầm cảm, tự ti, cô đơn, có thể dễ
bị kích động và có thái độ hung hăng khi gặp phải vấn đề.Môi trường xã hộixung quanh rất quan trọng cho việc hình thành nhân cách của vị thành niên Cổnhân có câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” Việc chứng kiến bạo lựcngày càng nhiều có nhiều tác động đến trẻ em Nó có thể khiến trẻ em nghĩrằng bạo lực đã trở nên bình thường đối với tất cả mọi người, và mọi người sửdụng bạo lực hàng ngày, do đó bạo lực cũng là một cách thông dụng để giảiquyết vấn đề Mặt khác, đối với những trẻ em có tâm lý không ổn định, yếu thế,
Trang 10việc chứng kiến bạo lực có thể làm cho các em thấy lo lắng, sợ sệt, từ đó ảnhhưởng đến sức khỏe tinh thần và hành vi của trẻ.
1.3.2 Yếu tố gia đình và bạn bè
Gia đình luôn là chỗ dựa quan trọng đối với học sinh - tuổi vị thànhniên với những biến đổi thể chất và tâm lý Sự quan tâm, giám sát của cha mẹđóng một vai trò rất quan trọng nhằm kiểm soát những hành động có nguy cơcao của trẻ em Trẻ em tiếp xúc với bên ngoài mà không được sự quan tâm,giám sát của cha mẹ dễ có những hành vi không kiểm soát Nghiên cứu củaPhan Đình Nhân cho thấy; tỷ lệ cha mẹ đồng ý với ý kiến “cha mẹ chưa thực
sự quan tâm hoặc chưa giáo dục đúng mức cho con em mình về tác hại củabạo lực học đường chiếm 66,2%
Các mối quan hệ bạn bè của học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến hành vibạo lực của học sinh Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo cho thấy,việc tiếp xúc với những bạn bè không tốt có hành vi bạo lực cao gấp 0,24 lần
so với những học sinh không tiếp xúc với bạn bè có tốt [21]
Trang 11CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 12/2015 đến 6/2016
Địa điểm: Nghiên cứu được thực hiện trường THCS thị trấn Quốc Huyện Quốc Oai- Thành phố Hà Nội
Oai-2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh THCS đang học tại Trường THCS thịtrấn Quốc Oai- Huyện Quốc Oai- Thành phố Hà Nội
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:
Đối tượng là những học sinh có thái độ hợp tác, là học sinh thuộc trườngTHCS thị trấn Quốc Oai, đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:
Đối tượng không có thái độ hợp tác, không phải là học sinh thuộc trườngTHCS thị trấn Quốc Oai, không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
2.3.2.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu: Uớc lượng một tỷ lệtrong quần thể
Trong đó:
n: Số học sinh cần điều tra
p: Giá trị ước lượng của đặc tính nghiên cứu trong quần thể Tác giả lấyp= 0,3 từ nghiên cứu của tác giả Đỗ Hiếu Lễ thực hiện tại trường THCS PhạmVăn Hai thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95%) thì giá trị của
Khoảng sai lệch tương đối mong muốn = 0,2
Thay số vào công thức trên ta có cỡ mẫu là 225 học sinh Để dự phòngcác trường hợp không gặp hoặc từ chối tham gia vào nghiên cứu (10%) thì cỡmẫu của nghiên cứu tăng thêm là: 225 × 0,1 = 23 học sinh
Cỡ mẫu nghiên cứu là: 225 + 23 = 248 học sinh Trên thực tế, đã phát
256 phiếu, sau khi loại trừ các đối tượng không thể tham gia nghiên cứu vàkhông đồng ý tham gia nghiên cứu và các phiếu sai số phiếu thu về là 250
2.3.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu
Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu cụ thể như sau: Trường THCS thị trấnQuốc Oai có tổng số 20 lớp, bao gồm: 6 lớp 6, 6 lớp 7, 4 lớp 8 và 4 lớp 9.Trong đó tổng số học sinh khối 6 là 217 học sinh, khối 7 có 205 học sinh,khối 8 có 135 học sinh và khối 9 có 163 học sinh Từ đó tính được tỷ lệ theocác khối như sau: khối 6: khối 7: khối 8: khối 9= 1,5: 1,5: 1: 1,2 Cỡ mẫu cầnlấy là 250 học sinh Vậy số lượng học sinh của từng khối như sau: 75 học sinhkhối 6, 75 học sinh khối 7, 40 học sinh khối 8 và 60 học sinh khối 9
Chọn ngẫu nhiên các lớp của từng khối để đạt được đủ cỡ mẫu
Bảng 2.1 Bảng danh sách các lớp điều tra
TT Tên lớp Sĩ số Từ chối, không có mặt tại
buổi thực hiện nghiên cứu
Đưa vào mẫu
Trang 132.3.3 Các chỉ số/biến số trong nghiên cứu
2.3.3.1 Các chỉ số/biến số cho mục tiêu 1 “Mô tả thực trạng bạo lực học đường của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai năm học 2015- 2016”
Bảng 2.2 Các chỉ sô/biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
4 Kết quả học tâp Xếp loại kết quả học tập kỳ 1: Trung bình,
3 Tốt nghiệp trung cấp/cao đẳng
4 Tốt nghiệp đại học/sau đại học
Bảng 2.3 Các biến số/chỉ số về thực trạng bạo lực học đường ở học sinh
THCS thi trấn Quốc Oai
1 Tỷ lệ học sinh đánh bạn
khác
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
2 Tỷ lệ học sinh dùng các
vật nguy hiểm để đeo dọa
uy hiếp bạn khác
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
3 Tỷ lệ học sinh đánh nhau
gây chấn thương
((Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
4 Tỷ lệ học sinh đe dọa
bằng lời nói
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
5 Tỷ lệ học sinh chửi (Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi
Trang 14Stt Biến nghiên cứu Định nghĩa
7 Tỷ lệ học sinh chế nhạo
làm bạn tổn thương
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
8 Tỷ lệ học sinh gán/ gọi
biệt danh xấu
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
9 Tỷ lệ học sinh tạo/phát
tán tin đồn xấu
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
10 Tỷ lệ học sinh nhắn tin,
gọi điện để uy hiếp đe
dọa
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
11 Tỷ lệ học sinh sử dụng
email/mạng xã hội để uy
hiếp đe dọa
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
12 Tỷ lệ học sinh lập/tham
gia hội trên mạng cô lập
bạn
(Số học sinh trả lờicó ít nhất 1 hành vi ĐTNC)*100
Bảng 2.4 Các chỉ số/biến số về một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực học
đường của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
1 Nạn nhân của bạo lực
Tỷ lệ đối tượng là nạn nhân của các hìnhthức bạo lực theo mức độ 1: Chưa baogiờ
2: 1-2 lần3: > 2 lần
2 Thái độ đối với bạo lực Tỷ lệ đồng ý, không đồng ý, bình
thường theo các tiểu mục
Trang 153 Kiểm soát bản thân Tỷ lệ đồng ý, không đồng ý, bình
thường theo các tiểu mục
4 Chứng kiến bạo lực Tỷ lệ đồng ý, không đồng ý, bình
thường theo các tiểu mục
5 Mức độ quan tâm của
cha mẹ
Tỷ lệ đồng ý, không đồng ý, bình thường theo các tiểu mục
6 Hoạt động ngoại khóa Tỷ lệ chơi theo mức độ chưa bao giờ,
1-60 phút, >1 tiếng cho các tiểu mục
7 Mối quan hệ bạn bè Tỷ lệ đồng ý, không đồng ý, bình
thường theo các tiểu mục
Biến số/chỉ số cho mục tiêu 2: “Mô tả một số yếu tố liên quan đến hành vi
bạo lực của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai, HàNội năm 2016”
Nhóm các biến số về mối liên quan giữa hành vi bạo lực của học sinh với nạnnhân của bạo lực, thái độ với bạo lực, kiểm soát bản thân, chứng kiến bạo lực,mức độ quan tâm của cha mẹ, mối quan hệ bạn bè, chơi game, xem phim cóyếu tố bạo lực và nhóm yếu tố nhân khẩu học
2.3.4 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin
Phương pháp thu thập thông tin được sử dụng là: Phỏng vấn bằng bộcâu hỏi tự điền Đối tượng tự đọc câu hỏi, và khoanh vào các đáp án mìnhchọn Ngôn ngữ sử dụng trong bộ câu hỏi dễ hiểu, không dùng các thuật ngữchuyên ngành Tiến hành thu thập số liệu theo từng lớp theo sự giám sát củanghiên cứu viên để đảm bảo các em không sao chép kết quả của nhau, đảmbảo tính riêng tư cho các em
Bộ câu hỏi tự điền được xây dựng chủ yếu dựa trên tham khảo thang đocủa Chen và một phần câu hỏi của Jin Wang Trong đó, thang đo của Chen
đã được tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo thực hiện nghiên cứu kiểm địnhnhân tố trên đối tượng học sinh THCS và THPT tại TP.Hồ Chí Minh năm
2012
Trang 162.3.5 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập liệu trên phần mềm epidata 3.1, sau đó được làmsạch và chuyển sang phần mềm stata 12 để phân tích Nghiên cứu sử dụng cácphép thống kê mô tả được sử dụng cho các biến số: Đặc điểm nhân khẩu họccủa ĐTNC, thực trạng bạo lực, nạn nhân của bạo lực, thái độ với bạo lực, khảnăng kiểm soát bản thân, chứng kiến bạo lực, mối độ quan tâm của cha mẹ,mối quan hệ bạn bè, hoạt động giải trí
Phép thống kê kiểm định Liên quan khi bình phương giữa thực trạngbạo lực với đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC, thực trạng bạo lực, nạn nhâncủa bạo lực, thái độ với bạo lực, khả năng kiểm soát bản thân, chứng kiến bạolực, mối độ quan tâm của cha mẹ, mối quan hệ bạn bè, chơi game có hìnhthức bạo lực, xem TV/video có yếu tố bạo lực
Phép kiểm định mối tương quan Pearson giữa thực trạng bạo lực với nạn nhâncủa bạo lực, thái độ với bạo lực, khả năng kiểm soát bản thân, chứng kiến bạolực, mối độ quan tâm của cha mẹ, mối quan hệ bạn bè, chơi game có hìnhthức bạo lực, xem TV/video có yếu tố bạo lực
2.3.6 Sai số và cách hạn chế sai số
- Sai số trong quá trình đi thu thập số liệu: do học sinh điền sai hoặc bị
ảnh hưởng lẫn nhau khi lựa chọn câu trả lời hoặc hiểu sai câu hỏi Cách khắcphục: Trực tiếp tập huấn cho 8 điều tra viên trước buổi điều tra để các điều traviên hiểu bộ câu hỏi và giải thích ngay tại lớp cho từng học sinh Trường hợpđiều tra viên không giải thích được hướng dẫn điều tra viên liên lạc vớinghiên cứu viên chính để được giải đáp ngay lúc đó Giám sát chặt chẽ quátrình thu thập số liệu và hướng dẫn học sinh trả lời theo ý kiến cá nhân khôngtrao đổi hoặc chép kết quả điền phiếu của nhau
- Sai số trong quá trình nhập liệu: Do quá trình mã hóa, nhập thông tin
và xử lý số liệu sai Cách khắc phục: Nghiên cứu viên là người nhập liệuchính, sau đó chuyển cho một nghiên cứu viên khác nhập liệu, sau đó kiểm trachéo 2 bản nhập bằng phần mềm Epidata để tìm ra lỗi sai
Trang 172.3.7 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được sự đồng ý của ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
- Được sự đồng ý của các thầy cô trong bộ môn Y đức- Y xã hội học
- Được sự đồng ý của ban giám hiệu trường THCS thị trấn Quốc Oai,huyện Quốc Oai, Hà Nội
- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể
về mục đích và nội dung nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi nhậnđược sự tự nguyện chấp thuận tham gia của đối tượng nghiên cứu Đối tượng
có quyền từ chối tham gia nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu không cóbất cứ điều gì gây áp lực tới việc tham gia tự nguyện của đối tượng
- Phiếu điều tra không ghi tên đối tượng nghiên cứu, thông tin đối tượngnghiên cứu được đảm bảo giữ kín và chỉ sử dụng với mục đích nghiên cứu
- Kết quả thu được nhằm mục đích nghiên cứu đề tài: thực trạng bạo lựchọc đường và một số yếu tố liên quan đến bạo lực của học sinh trường THCS thịtrấn Quốc Oai, năm 2016, không sử dụng cho mục đích nào khác
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 18Nhận xét: Trong tổng số 250 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ học sinh nam
(54,8%) nhiều hơn học sinh nữ (45,2%) Tỷ lệ học sinh phân bố nhiều nhất ởkhối 6 và khối 7 (cùng chiếm tỷ lệ 30%), khối 9 chiếm 24%, thấp nhất là khối
8 chiếm 16% Về kết quả học tập học sinh khá chiếm tỷ lệ cao nhất (46,34%),nhấp nhất là tỷ lệ học sinh đạt danh hiệu xuất sắc và yếu (cùng chiếm 1,22%)
Về hạnh kiểm, đa số học sinh trong nghiên cứu đạt hạnh kiểm tốt (67,2%), tuynhiên còn đến 9,6% học sinh chỉ đạt hạnh kiểm trung bình
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện trình độ học vấn của bố ĐTNC
Nhận xét: Trình độ học vấn của bố đối tượng nghiên cứu chủ yếu tốt nghiệp
cấp 2 trở xuống (chiếm 79,22%), sau đó là tốt nghiệp cấp 3 chiếm 14,29%,thấp nhất là tốt nghiệp đại học/sau đại học chiếm 3,03%
Trang 19Biểu đồ 3.2 Biểu đồ thể hiện trình độ học vấn của mẹ ĐTNC
Nhận xét: Trình độ học vấn của mẹ đối tượng nghiên cứu chủ yếu tốt nghiệp
cấp 2 trở xuống (chiếm 75,11%), sau đó là tốt nghiệp cấp 3 chiếm 16,31%,thấp nhất là tốt nghiệp trung cấp/cao đẳng và tốt nghiệp đại học/sau đại học(cùng chiếm 4,29%)
3.2 Thực trạng bạo lực ở học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai, Hà Nội Bảng 3.2 Bảng thực trạng bạo lực ở học sinh trường THCS thi trấn
Quốc Oai, Hà Nội Hình thức bạo lực
Chưa bao giờ 1-2 lần > 2 lần Chung
Bạo lực
thể chất
Đánh bạn 182 72,8 56 22,4 12 4,8 68 27,2Dùng các vật
bằng lời
Đe dọa/dọa lời
nói
Trang 20Hình thức bạo lực
Chưa bao giờ 1-2 lần > 2 lần Chung
và 5,2% trên 2 lần trong 12 tháng qua Thấp nhất là hành vi dùng các vật dụng
Trang 21nguy hiểm để đánh nhau, tỷ lệ học sinh trả lời từ 1-2 lần chiếm 7,2% và trên 2lần chiếm 3,2%.
Đối với bạo lực bằng lời nói: Hành vi học sinh trong nghiên cứu thường
sử dụng đó là chửi rủa, chửi thề, sỉ nhục bạn khác (1-2 lần chiếm 26,8%, >2lần chiếm 9,6%), hành vi gán/ gọi biệt danh (1-2 lần chiếm 22%, >2 lầnchiếm 6%)
Đối với bạo lực điện tử/mạng xã hội: Đối tượng nghiên cứu sử dụng tinnhắn/gọi điện để đe dọa bạn khác từ 1-2 lần chiếm tỷ lệ cao nhất (7,2%), tuynhiên đối tượng sử dụng email/mạng xã hội để uy hiếp đe dọa chiếm tỷ lệ trên
2 lần cao nhất (5,6%)
Bảng 3.3 Học sinh là nạn nhân của bạo lực ở trường THCS thị trấn
Quốc Oai Nội dung
Chưa bao giờ 1-2 lần > 2 lần Chung
Trang 22Nội dung
Chưa bao giờ 1-2 lần > 2 lần Chung
Trang 23Nhận xét: Học sinh có ít nhất bị 1 hành vi bạo lực ít nhất 1 lần chiếm 76,4%.
Trong đó, tỷ lệ học sinh có ít nhất 1 hành vi bạo lực từ 1-2 lần chiếm tỷ lệ44%, trên 2 lần chiếm tỷ lệ 32,4%
Đối với bạo lực thể chất, có đến 19,2% học sinh cho rằng mình bị bạnkhác đánh bị thương hoặc đau từ 1-2 lần và 4% tỷ lệ học sinh trả lời bị đánhnhư vậy trên 2 lần trong vòng 12 tháng qua Tiếp theo 6,8% học sinh trả lời bịbạn khác dùng các vật dụng nguy hiểm đe dọa, uy hiếp từ 1-2 lần và 3,6%trên 2 lần trong 12 tháng qua
Đối với bạo lực bằng lời nói: Hành bị bạn khác chửi rủa, chửi thề, sỉnhục (1-2 lần chiếm 26,8%, >2 lần chiếm 14%), đối tượng bị phát tán tin đồnxấu (1-2 lần chiếm 10,8%, >2 lần chiếm 7,2%) chiếm tỷ lệ thấp nhất
Đối với bạo lực mạng xã hội: Bị bạn khác sử dụng tin nhắn,gọi điện để
đe dọa từ 1-2 lần chiếm tỷ lệ 3,6%, bị đe dọa hoặc uy hiếp bằng email/mạng
xã hội từ 1-2 chiếm tỷ lệ 4,8%
Trang 24Bảng 3.4 Thái độ với bạo lực của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Nhận xét: Không có học sinh nào đồng ý với ít nhất một tiểu mục trong thang
đánh giá thái độ của học sinh đối với bạo lực Có đến 81,6% và 80,4% làkhông đồng ý với việc cho rằng bạo lực là điều bình thường và bạo lực làcách tốt nhất để giải quyết bất kỳ rắc rối nào Vẫn còn một tỷ lệ khá lớn họcsinh lựa chọn trả lời là bình thường (lựa chọn trung tính) ở tất cả các tiểu mụccủa thang đo (từ 18,4% đến 33,2%)
Trang 25Bảng 3.5 Khả năng kiểm soát bản thân của học sinh trường THCS thị
trấn Quốc Oai
Nếu trốn khỏi trận đánh nhau, tôi là kẻ
Tôi thường phạm lỗi vì không kiềm chế
Tôi có một vài tính xấu mà tôi đã cố
gắng thay đổi nhưng chưa thay đổi được 3,17 1,29
Tôi thường không kiềm chế được cơn
Nhận xét: Điểm trung bình khả năng kiểm soát bản thân là 2,62 điểm, độ
lệch chuẩn 0,73 Tiểu mục “Tôi có một vài tính xấu mà tôi đã cố gắng thayđổi nhưng chưa thay đổi được” có điểm trung bình cao nhất với 3,17 điểm, độlệch chuẩn 1,29 Thấp nhất là tiểu mục “Bạo lực còn tốt hơn là thương lượng”với điểm trung bình là 1,8 điểm, độ lệch chuẩn là 1,03
Trang 26Biểu đồ 3.3 Biểu đồ thể hiện mức độ quan tâm của cha mẹ đối tượng
nghiên cứu
Nhận xét: Hơn 70% đối tượng nghiên cứu đồng ý rằng cha mẹ họ hiểu tính
cách của họ, hơn 60% cha mẹ mình biết rõ về bạn bè của mình Tuy nhiên chỉhơn 40% đối tượng đồng ý với tiểu mục “cha mẹ biết cách tôi thường đối xửvới người khác”
Trang 27Bảng 3.6 Mức độ quan tâm của cha mẹ học sinh trường THCS thị trấn
Quốc Oai Nội dung Điểm trung bình Độ lệch chuẩn
Nếu không có nhà cha mẹ biết tôi
Cha mẹ cùng tham gia hoạt động
Cha mẹ biết cách tôi thường đối xử
Nhận xét: Điểm trung bình về mức độ quan tâm của cha mẹ học sinh đều lớn
hơn 3 Tiểu mục “Cha mẹ hiểu tính cách của tôi” có điểm trung bình cao nhất3,78, độ lệch chuẩn 1,17 Tiểu mục “Nếu không có nhà cha mẹ biết tôi đang ởđâu” có điểm trung bình thấp nhất: 2,96 điểm, độ lệch chuẩn: 1,19
Bảng 3.7 Chứng kiến bạo lực ở học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai Nội dung Chưa bao
giờ
1-2 lần > 2 lần Ít nhất 1 lần
(%)
Trang 28Nhận xét: Tỷ lệ học sinh đã từng chứng kiến ít nhất 1 hình thức bạo lực trên
2 lần trước 12 tháng qua chiếm tỷ lệ 68,8%, từ 1-2 lần chiếm 24% Trong đó, hai tiểu mục “Thấy ai đó bị trộm, bị cướp” và “Thấy ai đó bị người khác đánh
do bị lôi vào trận đánh” là 2 mục được đối tượng chứng kiến 1-2 lần nhiềunhất (chiếm tỷ lệ lần lượt là 34,76% và 34,67%), thấp nhất là tiểu mục “Thấy
ai đó đe dọa bạn khác bằng vũ khí (dao, gậy, các vật nặng,,,,)” chiếm tỷ lệ
Trang 2922,8% Đối tượng chứng kiến bạo lực trên 2 lần cao nhất ở tiểu mục “Thấy ai
đó bị người khác sỉ nhục” chiếm 41,94%, thấp nhất ở tiểu mục “Thấy ai đó bịngười khác đánh do bị lôi vào trận đánh” chiếm 17
Bảng 3.8 Hoạt động giải trí của đối tượng nghiên cứu
Nội dung Chưa bao giờ 1-60 phút > 1h
Nghe radio, băng đài, CD 81 32,4 138 55,2 31 12,4
Nói chuyện hay cùng làm
việc gì đó với gia đình 39 15,6 147 58,8 64 25,6Nói chuyện hay làm việc gì
Nhận xét: Phần lớn đối tượng nghiên cứu dành thời gian cho các hoạt động
ngoại khóa từ 1-60 phút, trong đó cao nhất là đọc sách giải trí chiếm tỷ lệ 69,6%,thấp nhất là dành thời gian ở nhà 1 mình chiếm tỷ lệ 38%, Tuy nhiên, đa số đốitượng dành thời gian để làm bài tập về nhà trên 1 giờ chiếm tỷ lệ 58,8%
Trang 30Biểu đồ 3.4 Biểu đồ thể hiện tần suất xem TV hay video có nội dung bạo
lực của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng xem TV hay video có nội dung bạo lực từ 1-60
phút chiếm tỷ lệ khá cao (chiếm 42%), trên 1 giờ chiếm 13%
Biểu đồ 3.5 Biểu đồ thể hiện tần suất chơi game có yếu tố bạo lực của học
sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng chơi game có yếu tố bạo lực từ 1-60 phút chiếm tỷ
lệ 29%, trên 1 giờ chiếm 10%
Trang 31Bảng 3.9 Mối quan hệ bạn bè của đối tượng nghiên cứu
Nội dung Không đồng ý Bình thường Đồng ý
Khi tôi gặp xung đột với
người khác, bạn của tôi sẽ
giúp tôi đánh đánh họ hoặc
chiến đấu với họ
Bạn bè của tôi luôn đứng về
phía tôi cho dù tôi làm điều
Nhận xét: Tỷ lệ học sinh đồng ý với tiểu mục “Tôi có bạn đã nghỉ học vì vi
phạm nội quy của nhà trường” cao nhất trong các tiểu mục (chiếm tỷ lệ 24%),thấp nhất là tiểu mục “Bạn bè tôi và tôi thường liên quan đến các vụ đánhnhau trong hoặc ngoài trường” chiếm tỷ lệ 11,2%
Trang 323.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
3.3.1 Liên quan giữa hành vi bạo lực với một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.10 Liên quan giữa hành vi bạo lực với một số yếu tố nhân khẩu
học của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
(N=250)
Đặc điểm
chung
Bạo lực thể chất
Bạo lực lời nói
Bạo lực điện tử/mạng xã hội Bạo lực chung OR
95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI Giới
(0,2-0,6)
0,7(0,4-1,3)
0,8(0,4-1,1)
0,7
(0,4-0,9) Lớp
(0,6-1,6)
0,7(0,4-1,2)
0,47(0,2-1,1)
1,2(0,6-2,1)
0,3
(0,1-0,6)
0,7(0,4-1,3)
0,9(0,3-2,1)
1,55(0,8-2,8)
Nhận xét: Hành vi bạo lực chung ở học sinh nữ bằng 0,7 lần so với hành vi
bạo lực chung trong nhóm học sinh nam Kết quả có ý nghĩa thống kê với95% CI nằm trong khoảng 0,4-0,9
Học sinh có hành vi bạo lực chung ở nhóm học sinh hạnh kiểm khá trởxuống cao gấp 1,55 lần so với nhóm học sinh có bạo lực chung ở nhóm họcsinh có hạnh kiểm tốt Kết quả không có ý nghĩa thống kê với 95%CI nằmtrong khoảng (0,8-2,8)
Trang 333.3.2 Liên quan giữa hành vi bạo lực và thái độ về bạo lực lực của học
sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Bảng 3.11 Liên quan giữa hành vi bạo lực và thái độ về bạo lực lực của
học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Thái độ
với bạo
lực
Bạo lực thể chất
Bạo lực lời nói
Bạo lực điện tử/mạng xã hội
Bạo lực chung OR
95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI Không
Bình
thường
2,4(1,3-4,4)
3,1(1,7-5,5)
5,4(1,6-5,1)
3,2(1,8-5,8)
Nhận xét: Học sinh có thái độ bình thường với bạo lực có hành vi bạo lực
cao gấp 3,2 lần so với nhóm học sinh có thái độ không đồng ý với bạo lực.Kết quả không có ý nghĩa thống kê với 95%CI nằm trong khoảng 1,8-5,8.Trong đó, học sinh có thái độ bình thường với bạo lực có hành vi bạo lựcđiện tử/mạng xã hội cao gấp 5,4 lần so với học sinh có thái độ không đồng
ý với bạo lực Kết quả này không có ý nghĩa thống kê với 95%CI nằmtrong khoảng 1,6-5,1
Trang 343.3.3 Liên quan giữa hành vi bạo lực và khả năng kiểm soát bản thân của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Bảng 3.12 Liên quan giữa hành vi bạo lực và khả năng kiểm soát bản
thân của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
(N=250)
Khả năng kiểm
soát bản thân
Bạo lực thể chất
Bạo lực lời nói
Bạo lựcđiện tử/mạng xã hội
Bạo chung OR
lực-95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
Khả năng kiểm soát
1,1(0,7-2,1)
0,5(0,6-2,9)
1,7(0,5-1,1)
Nhận xét: Học sinh chưa có khả năng kiểm soát bản thân bình thường/có khả
năng kiểm soát bản thân có hành vi bạo lực chung cao gấp 1,7 lần so với họcsinh chưa chưa có khả năng kiểm soát bản thân Kết quả có không có ý nghĩathống kê với 95%CI nằm trong khoảng 0,5-1,1
Trong đó, học sinh có khả năng kiểm soát bản thân ở mức độ bìnhthường/có khả năng kiểm soát bản thân có hành vi bạo lực thể chất cao gấp1,8 lần học sinh chưa có khả năng kiểm soát bản thân Kết quả không có ýnghĩa thống kê với 95%CI nằm trong khoảng 0,8-2,2
Trang 353.3.4 Liên quan giữa hành vi bạo lực và mức độ quan tâm của cha mẹ của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Bảng 3.13 Liên quan giữa hành vi bạo lực và mức độ quan tâm của cha
mẹ của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Mức độ quan tâm
của cha mẹ
Bạo lực thể chất
Bạo lực lời nói
Bạo lực điện tử/mạng xã hội
Bạo lực chung OR
95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
Cha mẹ quan tâm
1,2(0,5-2,6)
5,9(2,7-5,1)
1,5(0,6-2,46)
Nhận xét: Nhìn chung học sinh có cha mẹ chưa quan tâm có hành vi bạo lực
chung cao gấp 1,5 lần so với học sinh có cha mẹ quan tâm ở mức bìnhthường/có quan tâm Trong đó, học sinh có cha mẹ chưa quan tâm có hành vibạo lực điện tử/mạng xã hội cao gấp 5,9 lần so với học sinh có cha mẹ quantâm bình thường/có quan tâm Tuy nhiên, mối liên quan không có ý nghĩathống kê với 95%CI đi qua 1
Trang 363.3.5 Liên quan giữa hành vi bạo lực và chứng kiến bạo lực của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Bảng 3.14 Liên quan giữa hành vi bạo lực và chứng kiến bạo lực của học
sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Chứng
kiến
bạo lực
Bạo lực thể chất
Bạo lực lời nói
Bạo lực điện tử/mạng xã hội
Bạo lực chung
OR 95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
1,5(0,1-1,2)
5,8(0,1-2,04)
Nhận xét: Học sinh chứng kến bạo lực ít nhất 1 lần có hành vi bạo lực chung
cáo gấp 5,8 lần học sinh chưa từng chứng kiến bạo lực có hành vi bạo lực.Kết quả không có ý nghĩa thống kê với 95%CI nằm trong khoảng 0,1-2,04.Trong đó, học sinh đã từng chứng kiến bạo lực ít nhất 1 lần có hành vi bạo lựcthể chất cao gấp 5,2 lần học sinh chưa từng chứng kiến bạo lực Kết quả có ýnghĩa thống kê với 95%CI nằm trong khoảng 0,1-0,9
Trang 373.3.6 Liên quan giữa hành vi bạo lực và mối quan hệ bạn bè của học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Bảng 3.15 Liên quan giữa hành vi bạo lực và mối quan hệ bạn bè của
học sinh trường THCS thị trấn Quốc Oai
Mối quan hệ bạn
bè
Bạo lực thể chất
Bạo lực lời nói
Bạo lực điện tử/
mạng xã hội
Bạo lực chung OR
95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
OR 95%CI
Không chơi với
1,4
(0,3-0,7)
Nhận xét: Học sinh chơi với nhóm bạn có ít nhất 1 hành vi không tốt có hành
vi bạo lực chung cao gấp 1,4 lần so với học sinh không chơi với nhóm bạn có
ít nhất 1 hành vi không tốt Mối liên quan có ý nghĩa thống kê với 95%CInằm trong khoảng 0,3-0,7 Trong đó, học sinh chơi với nhóm bạn có ít nhất 1hành vi không tốt có hành vi bạo lực thể chất cao gấp 1,57 lần so với học sinhkhông chơi với nhóm bạn có ít nhất 1 hành vi không tốt có bạo lực thể chất.Mối liên quan có ý nghĩa thống kê với 95%CI nằm trong khoảng 0,3-0,9