Theo dõi, đánh giá về tăng trưởng, tâm vận động của trẻ em đặc biệttrong 6 tháng đầu là rất cần thiết trong công tác chăm sóc và nuôi dạy trẻ.Đánh giá được sớm có thể phát hiện ra những
Trang 1VŨ THỊ NHUNG
THEO DÕI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
VÀ PHÁT TRIỂN TÂM VẬN ĐỘNG CỦA TRẺ TRONG 6 THÁNG SAU SINH TẠI HOÀI ĐỨC
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI –2015
Trang 2VŨ THỊ NHUNG
THEO DÕI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
VÀ PHÁT TRIỂN TÂM VẬN ĐỘNG CỦA TRẺ TRONG 6 THÁNG SAU SINH TẠI HOÀI ĐỨC
Chuyên ngành: Dinh dưỡng
Mã số : 60720303
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Lê Thị Hương
2 PGS.TS Trương Tuyết Mai
HÀ NỘI – 2015
Trang 3CC/T: Chiều cao theo tuổi
CN/T: Cân nặng theo tuổi
CN/CC: Cân nặng theo chiều cao
DQ: Development quotient (chỉ số phát triển tâm vận động)IQ: Intelligence quotient ( Chỉ số thông minh)
UNICEF: United Nations International Children’ Emergency Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc)
WHO: World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
TTDD: Tình trạng dinh dưỡng
TCYTTG: (Tổ chức Y tế Thế giới)
HSSHNVN: Hằng số sinh học người Việt Nam
NCHS: National Center For Health Statistics
MGRS: Multicentre Growth Reference Study
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình trạng dinh dưỡng trẻ em 3
1.1.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng 3
1.1.2 Suy dinh dưỡng ở trẻ em 4
1.1.3 Thực trạng SDD ở trẻ em trên thế giới và của Việt Nam 10
1.1.4 Tăng trưởng ở trẻ 11
1.1.5 Các nghiên cứu theo dõi về tăng trưởng cân nặng chiều cao của trẻ trong 6 tháng sau sinh 15
1.2 Phát triển tâm vận động trẻ 0-6 tháng 16
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của hệ thần kinh trong thời kỳ phôi thai 17
1.2.2 Sự phát triển của hệ thần kinh sau khi sinh 17
1.2.3 Sự phát triển tâm vận động ở trẻ từ 0-6 tháng tuổi 18
1.2.4 Đánh giá phát triển tâm vận động 21
1.2.5 Các nghiên cứu về tâm vận động ở trẻ 22
1.3 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và tâm vận động ở trẻ 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Địa điểm nghiên cứu 24
2.2 Thời gian nghiên cứu 24
2.3 Đối tượng nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4.2 Mẫu và chọn mẫu 25
2.4.3 Công cụ thu thập 25
2.4.4 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 25
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.6 Phương pháp sử lý và phân tích số liệu Sử lý số liệu 31
Trang 5Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thông tin chung 33
3.2 Đặc điểm trăng trưởng của trẻ từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi 34
3.3 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 0-6 tháng tuổi 36
3.4 Đặc điểm phát triển tâm lý – vận động của trẻ từ 1- 6 tháng 38
3.5 Mối liên quan giữa phát triển thể chất và tâm vận động 42
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 44
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 45
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 1.1: Tỷ lệ Suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc 11
Bảng 1.2: Cân nặng và chiều cao của trẻ từ 0-6 tháng 14
Bảng 3.1: Đặc điểm cơ bản của bà mẹ và hộ gia đình 33
Bảng 3.2: Tình hình Nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng 33
Bảng 3.3: Tình trạng viêm đường hô hấp và tiêu chảy của trẻ trong 6 tháng 34 Bảng 3.4: Cân nặng trung bình (kg) của trẻ em theo tuổi và theo giới tính 34
Bảng 3.5: Chiều cao trung bình (cm) của trẻ em theo tuổi và theo giới tính .35 Bảng 3.7: Mức tăng chiều cao trung bình(cm) theo tháng tích lũy 36
Bảng 3.8: TTDD của trẻ theo chỉ số Cân nặng/tháng tuổi 36
Bảng 3.9: TTDD theo Chỉ số chiều cao / tháng tuổi 37
Bảng 3.10: TTDD theo chỉ số Cân nặng/ chiều cao 37
Bảng 3.11: giá trị Z-score của trẻ dưới 6 tháng 38
Bảng 3.12: Điểm trung bình phát triển TVĐ ở 4 khu vực 38
Bảng 3.13: Tỷ lệ % trẻ thực hiện được các tiết mục ở lĩnh vực 1 39
Bảng 3.14: Tỷ lệ % trẻ thực hiện được các tiết mục ở lĩnh vực 2 39
Bảng 3.15: Tỷ lệ % trẻ thực hiện được các tiết mục ở lĩnh vực 3 40
Bảng 3.16: Tỷ lệ % trẻ thực hiện được các tiết mục ở lĩnh vực 4 41
Bảng 3.17: Tình trạng phát triển tâm vận động chung theo nhóm tuổi 42
Bảng 3.18: Điểm phát triểnTVĐ theo TTDD ở lĩnh vực 1 42
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa TTDD và phát triển TVĐ 43
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là tương lai và hi vọng của toàn thể nhân loại Việc chăm sóc,nuôi dưỡng trẻ em ngay từ những ngày đầu khi mới sinh ra là một việc làmhết sức cần thiết Thời gian trong bụng mẹ và những năm tháng đầu sau sinh
là thời gianquan trọng quyết định mọi tiềm lực về sức khỏe, sự phát triển não
bộ ở trẻ Nếu bị SDD sớm thì trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, những đứa trẻnày lớn lên sẽ kém phát triển cả về thể lực và trí tuệ, ảnh hưởng đến khả nănghọc tập và lao động và gây tổn thất lớn về kinh tế trong tương lai
Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới,các nước đang phát triển cókhoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng và hàng năm có 12,9 triệu trẻ bịchết vì bệnh tật như viêm phổi, ỉa chảy, trong đó suy dinh dưỡng là nguyênnhân trực tiếp chiếm tới 50%[1] Ở Việt Nam,theo điều tra năm 2010[2], tỷ lệSDD thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm ở trẻ dưới 6 tháng tuổi lần lượt là 7%,12% và 4,5%.Theo nghiên cứu của Lê Thi Hương và cộng sự năm 2012[3],cho thấy tỷ lệ này là 10%; 20% và 5%.Kết quả này khá cao mặc dù trong thờigian này trẻ được khuyến cáo nuôi bằng sữa mẹ.Bên cạnh đó vấn đề thừa cânbéo phì đang trở thành một thách thức lớn Tình trạng thừa cân mới xuất hiệnnhưng đã tăng nhanh ngay cả ở vùng nông thôn, theo tác giả Tạ ĐăngHưng[4], tỷ lệ béo phì ở trẻ dưới 6 tuổi ở vùng nông thôn là 9.2% Đây cũng
là một báo động cho ngành dinh dưỡng Việt Nam hiện nay
Theo dõi, đánh giá về tăng trưởng, tâm vận động của trẻ em đặc biệttrong 6 tháng đầu là rất cần thiết trong công tác chăm sóc và nuôi dạy trẻ.Đánh giá được sớm có thể phát hiện ra những bất thường giúp cho các nhàchuyên môn và cha mẹ có những can thiệp kịp thời để trẻ phát triển tốt hơn ởnhững giai đoạn sau[5]
Trong nước hiện có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả về tăng trưởngthể chất và tâm vận động ở trẻ[6],[7],[8, 9],[10],[11]qua đó đã mô tả được đặcđiểm phát triển ở từng thời kỳ của trẻ Gần đây nhất có công trình nghiên cứu
Trang 8củatác giả Nguyễn Đỗ Huy [12], Lê Thị Hương[13] và một số tác giả [4],[14],[15]tuy nhiên các nghiên cứu này đều là nghiên cứu mô tả cắt ngang và đốitượng trẻ dưới 6 tháng tuổi còn ít Do vậy cần có nhiều nghiên cứu theo dõităng trưởng và tâm vận động trên diện rộng theo chiều dọc ở đốitượngnày.Bởi vì các chỉ số nhân trắc trẻ và phát triển tâm vận động luôn thayđổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng của các yếu tố như dinh dưỡng, kinh tế,văn hóa, xã hội.
Hoài Đức là một huyện ngoại thành của thành phố Hà nội, được sáp nhậpnăm 2008 Huyệngồm 19 xã và 1 thị trấn, diện tích 82,67 km2, dân số 198.424người với tổng số 48.776 hộ gia đình Từ khi sáp nhập đến nay chưa có đề tàinghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động ở trẻ em
Để đánh giá thực trạng về tăng trưởng và tâm vận động của trẻ dưới 6tháng, và góp phần bổ sung vào số liệu còn ít và luôn thay đổi chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Theo dõi tình trạng dinh dưỡng và tâm vận động
của trẻ trong 6 tháng sau sinh tại một số xã thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội” với hai mục tiêu sau:
1 Theo dõi cân nặng, chiều dài và đánh giá tăng trưởng của trẻ trong 6 tháng sau sinh tại một số xã huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 2015
2 Đánh giá tâm vận động của trẻ trong 6 tháng sau sinh tại một số xã huyện Hoài Đức bằng test DenverII.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình trạng dinh dưỡng trẻ em
1.1.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng (TTDD)
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc vàhoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Tình trạngdinh dưỡng là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể
Sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe là kết quả của tìnhtrạng dinh dưỡng tốt Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt là thểhiện có vấn đề về sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai[16] Theo TCYTTG,các số đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao) quan trọng để đánh giá TTDD vàkhuyến cáo có chỉ có 3 chỉ số nên dùng là cân nặng theo tuổi, chiều cao theotuổi và cân nặng theo chiều cao[17]
Cân nặng theo tuổi (CN/T) là chỉ số đánh giá TTDD thông dụng từnhững năm 50 của thế kỷ trước Chỉ số này được dùng để đánh giá TTDD của
cá thể hay của cộng đồng CC/T chịu ảnh hưởng của thiếu dinh dưỡng trước
đó và cả thiếu dinh dưỡng hiện tại vì vậy khó xác định được trẻ có vấn đề vềdinh dưỡng trong quá khứ hay ở hiện tại
Chiều cao theo tuổi (CC/T) phản ánh tiền sử suy dinh dưỡng (SDDtrong quá khứ), CC/T thấp là chỉ tiêu phản ánh tốt nhất ảnh hưởng tích lũy dàihạn do chế độ ăn uống không đầy đủ hoặc do mắc bệnh mang lại
Cân nặng theo chiều cao (CN/CC) là chỉ số đẻ đánh giá TTDD hiện tại.Chỉ số này để phản ánh tình trạng SDD cấp CN/CC thấp phản ánh tình trạng
Trang 10thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ hiện tại hay gần đây làm cho đứa trẻ không tăngcân hay giảm cân.
1.1.2 Suy dinh dưỡng ở trẻ em (SDD)
Năm 1966 Jelliffe đã đưa ra cách phân loại SDD và cũng dựa vào quầnthể tham khảo Harvard
Năm 1977, Warterlow và cộng sự đã đề nghị sử dụng chỉ tiêu chiều caotheo tuổi để đánh giá TTDD
Các phân loại của các tác giả trên đều có ưu điểm là dễ áp dụng, đơngiản và dễ hiểu tuy nhiên kết quả đánh giá đều dựa vào tỷ lệ % đạt được sovới giá trị trung bình của quần thể tham khảo để phân loại SDD, các ngưỡng
Trang 11phần trăm đề ra chưa tính đến phân bố chuẩn hay không chuẩn cho nên phânloại này thiếu chặt chẽ về mặt thống kê Ngoài ra cách phân loại này khôngphân biệt được thiếu dinh dưỡng vừa mới xảy ra hay đã lâu [19]
Năm 1981 Tổ chức Y tế thế giới chính thức khuyến nghị sử dụngkhoảng giới hạn từ -2SD đến +2SD để phân loại TTDD trẻ em, quần thể thamkhảo được sử dụng là NCHS (National Center For Health Statistics)
Từ năm 1994 Hội đồng Y tế thế giới đã thông qua đề nghị của WHO ápdụng chuẩn tăng trưởng mới MGRS(Multicentre Growth Reference Study)bắt đầu thực hiện từ năm 1997 đến 2005
Từ năm 2006, WHO đã khuyến cáo áp dụng chuẩn tăng trưởng mớiMGRS hay WHO 2005 để đánh giá TTDD ở trẻ em và đề nghị áp dụng trêntoàn thế giới, các chỉ tiêu để đánh giá TTDD cũng dựa vào điểm ngưỡng -2
độ lệch chuẩn (-2SD) so với quần thể tham khảo[20] Cho tới nay đây làthang phân loại được chấp nhận rộng rãi trên thế giới
Dựa vào Z-Score (điểm –Z) tính theo công thức:
Z-score = kích thước đo được – số trung bình của quần thể chuẩn
độ lệch chuẩn của quần thể chuẩnTình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá theo quần thể tham chiếuWHO 2006 với 3 chỉ tiêu dựa vào Z- score là cân nặng/tuổi, chiều cao/ tuổi,cân nặng/chiều cao[21]
Nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố ảnh hưởng đên SDD:
Trang 12gia đình Mô hình này nói lên nguyên của SDD gồm nguyên nhân trực tiếp,nguyên nhân tiềm tàng và nguyên nhân cơ bản[22].
Nguyên nhân trực tiếp: Thiếu ăn hay nói rộng hơn là đói nghèo là
nguyên nhân trực tiếp của SDD Theo tổng điều tra dinh dưỡng năm 2010[2]thì có sự khác biệt có ý ngĩa thống kê về tỷ lệ trẻ SDD theo mức kinh tế hộ
Trang 13gia đình, theo đó, tỷ lệ nhẹ cân ở trẻ dưới 60 tháng tuổi ở hộ gia đình nghèonhất cao gấp 3,4 lần so với trẻ ở nhóm gia đình giàu nhất Cũng theo điều tranày tỷ lệ SDD ở nhóm thành phố lớn thấp hơn rất nhiều (5,5%) so với các xãnghèo (24.8%) Nghiên cứu của Lê Thị Hương tiến hành ở Phường TrầnHưng Đạo tỉnh Hà Nam cho thấy tỷ lệ SDD tại đây (4,3%) thấp hơn rất nhiều
so với tỷ lệ chung toàn tỉnh (15,9%)[13] Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Huycho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống về tỷ lệ SDD của những đứa controng những gia đình ở vùng nông thôn là nơi có điều kiện kinh tế khó khăn
và thành thị nơi có điều kiện hinh tế hơn tại Hải Dương[12] Còn theo tác giả
Tạ Đăng Hưng[4] thì có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ SDD cả ba thể giữa 2 vùngthành thị, nông thôn Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tại phườngTrần Hưng Đạo là 4.3%;7.1%;7.1% thấp hơn rất nhiều so với kết quả ở XãKim Bảng là 10.4%;27.8%;9.8% Các bệnh nhiễm trùng đặc biệt là tiêu chảyảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng dinh dưỡng của đứa trẻ Nhiễm trùng dẫnđến các tổn thương đường tiêu hóa do đó làm giảm hấp thu các chất dinhdưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm cảm giác ngon miệng Bên cạnh đó, nhiễmkhuẩn đường hô hấp cũng ảnh hưởng đáng kể đến tình trang dinh dưỡng củatrẻ Theo nghiên cứu của tác giả Cao Thị Thu Hương[23] cho thấy những trẻtiêu chảy có nguy cơ bị thấp còi cao hơn 1,5 lần so với trẻ không bị tiêu chảy.Cũng theo tác giả thì có mối liên quan giữa tần xuất tiêu chảy với thấp còi, trẻ
có tần xuất tiêu chảy nhiều hơn 3 lần thì nguy cơ thấp còi cao hơn 1,5 lần sovới trẻ có tần xuất tiêu chảy <3 lần với tỷ xuất chênh OR = 1,5 Theo tác giảAmy L Ricce, Lisa và cs nhận thấy có mối liên quan giữa SDD và bệnh tật, trẻ
bị SDD khi bị tiêu chảy tình trạng bệnh nặng hơn và nguy cơ tử vong cao hơn,trẻ bị SDD nguy cơ tử vong tăng gấp 2-3 lần[24]
- Nguyên nhân tiềm tàng: Đó là sự yếu kém trong dịch vụ chăm sóc bà
mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình,
Trang 14các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo,mất vệ sinh, tình trạng đói nghèo, lạc hậu Nhiều nghiên cứu cho thấy trình độhọc vấn, nghề nghiệp, số con trong gia đình có liên quan đến tỷ lệ SDD ở trẻ
em [10, 14], [13] Theo tác giả Kiên, có mối liên quan không có ý nghĩa thống
kê giữa tỷ lệ SDD ở trẻ có mẹ với trình độ >cấp 3 và < cấp 3 với OR là 1,4 và
có liên quan giữa viêc ABS dưới 6 tháng và trên 6 tháng.Còn theo tác giả LêThị Hương [25]số con trong gia đình, nghề nghiệp của bà mẹ có liên quan có
ý nghĩa thống kê đến tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi Theo tác giả ởnhững trẻ sống trong gia đình có 2 con trở lên thì nguy cơ mắc suy dinhdưỡng gấp 4,5 lần so với trẻ ở những gia đình có từ 1 - 2 con, trẻ của những
bà mẹ có nghề nghiệp không phải cán bộ viên chức thì nguy cơ mắc suy dinhdưỡng gấp 2,5 lần so với trẻ của những bà mẹ là cán bộ viên chức Trình độhọc vấn, nghề nghiệp của bà mẹ, của trẻ có liên quan đến tình trạng suy dinhdưỡng thể gầy còm Ngoài ra việc thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổsung chưa tốt cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ SDD Theo tác giả Trần Thị TuyếtMai[26] tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu còn thấp37,3%, cho trẻ ăn bổ sung sớm <6 tháng là 29,% Theo tổng điều tra dinhdưỡng 2010[2] thì tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu rấtthấp chỉ là 19,6% Đây là một yếu tố nguy cơ của SDD
- Nguyên nhân cơ bản: Đó là kiến trúc thượng tầng, chế độ xã hội, chính
sách, nguồn tiềm năng Cùng với sự phát triển kinh tế, sự phân hóa giàu nghèongày càng gia tăng, tác động đến xã hội ngày càng sâu sắc, đặc biệt khủnghoảng kinh tế làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực và khả năng cung cấpcác dịch vụ y tế, dinh dưỡng trở nên khó khăn hơn Đây chính là nguyên nhânlàm cho suy dinh dưỡng là gánh nặng sức khỏe ở nhiều nước đang phát triển
Tỷ lệ trẻ em trước tuổi đi học bị SDD chiếm từ 20-50%, Khu vực Nam Á có tỷ
lệ mắc khá cao 40-50% Số liệu từ các cuộc điều tra nhân khẩu học và sức khỏe
Trang 15của 11 quốc gia cho thấy hầu hết ở nước này, nhóm trẻ thuộc tầng lớp nghèo có
tỷ lệ thấp còi cao gấp đôi so với nhóm trẻ thuộc lớp giàu[27]
Hậu quả của SDD:
-Tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi: Theo tài liệu của TCYTTG, trong số
11,6 triệu trường hợp tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trong năm 1999 ở các nướcđang phát triển thì có tới 6,3 triệu( 54%) có liên quan đến SDD vừa và nhẹ[28]
- Tăng nguy cơ mắc bệnh: Suy dinh dưỡng là điều kiện thuận lợi để các
bệnh như viêm đường hô hấp cấp, tiêu chảy…xảy ra và kéo dài Khi trẻ bịmắc các bệnh này dẫn đến ăn uống kém, nhu cầu năng lượng tăng cao vì vậylại làm cho tình trạng SDD càng trở nên trầm trọng hơn Theo tác giả Cao ThịThu Hương [23] tỷ lệ trẻ thấp còi có tần xuất bị tiêu chảy ≥ 3 lần trong 3tháng qua cao hơn có ỹ ngĩa thống kê so với tỷ lệ này ở nhóm không thấpcòi.Người ta ước tính khoảng 50-60% trẻ dưới 5 tuổi tử vong do nguyên nhântiềm ẩn là SDD, trong đó 50-70% gánh nặng bệnh tật của tiêu chảy, sởi, sốtrét, nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em toàn thế giới là do sự góp mặt củaSDD[29] Bên cạnh đó các bệnh như tim mạch, đái tháo đường, rối loạnchuyển hóa ở người tưởng thành có thể có nguồn gốc từ SDD bào thai TheoBaker, Hale và CS thì có mối liên quan giữa kích thước nhân trắc học mớisinh và lúc 1 tuổi với bệnh tim và coi đó như là một yếu tố nguy cơ[30]
- Chậm phát triển thể chất: Gần đây nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở
giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi giai đoạncủa chu kỳ vòng đời Những trẻ bị SDD bào thai khi sinh ra là những đứa trẻ
bị SDD lúc bé, lớn lên sẽ thành trẻ vị thạnh niên thấp bé, trẻ vị thành niênthấp bé sẽ thành những bà mẹ có tầm vóc nhỏ bé, những bà mẹ này dễ sinh ranhững đứa trẻ có cân nặng sơ sinh thấp Hầu hết những đứa trẻ có cân nặng sơsinh thấp bị suy dinh dưỡng nhẹ cân hoặc thấp còi ngay trong năm đầu[31]
Trang 16- Chậm phát triển tâm thần: SDD ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ,
hành vi, khả năng học hành của đứa trẻ Với sự hiểu biết hiện nay người ta nhậnthấy SDD sớm trong bào thai và những năm đầu của cuộc đời có ảnh hưởng xấuđến phát triển trí tuệ ít nhất suốt cả thời niên thiếu bởi vì khi trẻ bị thiếu dinhdưỡng đồng nghĩa với việc thiếu các chất dinh dưỡng cân thiết cho sự phát triểnnão bộ và trí tuệ Trẻ bị SDD thường chậm chạp, lờ đờ, giao tiếp xã hội kém[32].Theo tác giả Lahiri SK và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ở 72 trẻ từ 3 - 6 tuổisống tại một vùng nông thôn Ấn Độ, các trẻ này được đánh giá tình trạng thể lực
và đánh giá chỉ số IQ: tỷ lệ trẻ không suy dinh dưỡng và trẻ suy dinh dưỡng độ I
có mức IQ bình thường là 77,3% và 75%, trong khi đó chỉ có 57,1% trẻ suy dinhdưỡng độ II và 20% trẻ suy dinh dưỡng độ III có mức IQ bình thường Sự khácbiệt này rất có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [33]
1.1.3 Thực trạng SDD ở trẻ em trên thế giới và của Việt Nam.
Trên thế giới:
Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 2008về thực hiện các mục tiêuthiên niên kỷ và Báo cáo của UNICEF cho thấy trong khoảng 16 năm(1990-2006) tỷ lệ SDD thể nhẹ cân trên toàn thế giới giảm từ 33% xuống còn 26%,tuy nhiên trong khoảng 146 triệu trẻ bị SDD thì có tới 73% trẻ sống ở 10 nướcđang phát triển, trong đó có Việt Nam[34, 35] Gần đây theo số liệu củaUNICEF(2009), trên thế giới có tới 129 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở các nướcđang phát triển bị SDD nhẹ cân trong đó 10% bị SDD nặng, và có khoảng 195triệu trẻ em <5 tuổi bị SDD thể thấp còi trong đó 90% trẻ em sống ở khu vựcChâu Phi và Châu Á[36]
Tại Việt Nam:
Ở nước ta qua số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ SDD đã giảm rõ rệt, từmức SDD nhẹ cân trên 50% vào thập kỷ 80 đến nay (2014) chỉ còn 14,5%,
Trang 17mức giảm trung bình 1,5-2%/ năm Mặc dù vậyViệt Nam vẫn là một nước có
tỷ lệ SDD cao trên thế giới Theo UNICEF năm 2009, Việt Nam là một trong
24 quốc gia có tỷ lệ SDD thấp còi cao và có số lượng lớn trong tổng số 195triệu trẻ thấp còi trên toàn Thế giới[36].Tuy nhiên cũng theo UNICEF ViệtNam là một trong các quốc gia giảm SDD liên tục và bền vững
Bảng 1.1 Tỷ lệ Suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc(2007-2014)
Nguồn:
http://www.nutrition.org.vn/news/vi/106/61/0/a/so-lieu-thong-ke-ve-tinh-trang-dinh-duong-tre-em-qua-cac-nam.aspx[37]
Mặc dù tỷ lệ SDD chung cả nước giảm tuy nhiên mức giảm này khôngđồng đều giữa các vùng sinh thái, nhiều địa phương tỷ lệ SDD miền núi caohơn hẳn vùng đồng bằng, nông thôn cao hơn thành thị Tại các vùng nôngthôn tỷ lệ SDD thấp còi vẫn còn ở mức cao[38] Theo nghiên cứu của Lê ThịHương ở trẻ dưới 5 tuổi tại vùng dân tộc Mường cho thấy tỷ lệ SDD vẫn cònkhá cao: thể nhẹ cân là 52,2%, thấp còi là 23,5%[39]
1.1.4 Tăng trưởng ở trẻ
Trang 18Thuật ngữ tăng trưởng biểu hiện sự tăng về số lượng và kích thước của
tế bào dẫn đến sự thay đổi khích thước của từng bộ phận và của cơ thể Quátrình tăng trưởng diễn ra một cách liên tục từ khi trứng được thụ thai đến khitrưởng thành Quá trình này diễn biến theo những giai đoạn khác nhau, có giaiđoạn tăng trưởng nhanh, có giai đoạn tăng trưởng chậm[40]
Quá trình tăng trưởng của trẻ em bao gồm cả sự tăng trưởng thể chất và
sự phát triển tâm lý, vận động Nghiên cứu sự tăng trưởng thể chất là nghiêncứu sự phát triển của các kích thước nhân trắc của cơ thể bao gồm chiều cao,cân nặng và một số chỉ số khác như kích thước, chu vi các vòng Tuy nhiênchỉ số về chiều cao và cân nặng là chỉ số cơ bản mà bất cứ nghiên cứu nào vềtăng trưởng cũng sử dụng
Cân nặng ở trẻ từ 0-6 tháng tuổi:
Cân nặng là số đo thường được tiến hành trong tất cả các công trìnhđiều tra cơ bản cũng như thường ngày Đây là số đo không thể thiếu trongđánh giá về mặt thể lực, dinh dưỡng, sự tăng trưởng, ngoài ra đây cũng là kíchthước phổ cập, dễ áp dụng và tiến hành[41]
Cân nặng của người nói lên khối lượng và trọng lượng hay độ lớn tổnghợp của toàn bộ cơ thể, nó có liên quan đến mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thu
và tiêu hao Trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ tăng cân, do đó việc theo dõi cânnặng ở trẻ phần nào nói lên tình trạng thể lực, dinh dưỡng của trẻ
Cân nặng lúc đẻ phụ thuộc vào tuổi thai, giới, con so hay con dạ vàchủng tộc Các nghiên cứu về tăng trưởng trước đây cho thấy trẻ trai thường
có cân nặng cao hơn trẻ gái ở mọi lứa tuổi khoảng từ 50-100g và con so nặnghơn con dạ[42],[9].Theo hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975[43] thìcân nặng lúc đẻ trẻ trai là 3070±320g, của trẻ gái là 3020±350 Sau 20 năm thìcân nặng lúc đẻ của trẻ trai là 3110±350g, của trẻ gái là 3060±340[44] điều đó
Trang 19cho thấy có sự tăng trưởng thế tục ở trẻ em qua thời gian Còn theo nghiêncứu về cân nặng sơ sinh theo tuổi thai của tác giả Đỗ Thị Đức Mai nghiên cứutrên 3847 trẻ từ 1/5/2000 đến 30/4/2001[42]cho thấy khi trẻ đẻ thiếu tháng thìcân nặng thấp hơn với trẻ đủ tháng và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.Theo tác giả, cân nặng sơ sinh của trẻ đủ tháng là 3194,8± 346,8g, có sự khácbiệt giữa cân nặng sơ sinh của trẻ trai 3224,1g ± 345,1g và trẻ gái là3161,2±345,8, kết quả này cũng cao hơn cân nặng sơ sinh trẻ em việt namthập kỷ 90 Ngoài ra cân nặng của trẻ còn phụ thuộc vào yếu tố giống nòi Trẻ
em Việt Nam có cân nặng thấp hơn quần thể tham chiếu NCHS ở mọi thời kỳ
Trong năm đầu, một trong các đặc điểm quan trọng về tăng trưởng vềcân nặng ở trẻ là trẻ càng nhỏ thì mức độ tăng cân càng nhiều Theo nghiêncứu của Hàn Nguyệt Kim Chi[9], cân nặng của trẻ tăng rất nhanh trong 6tháng đầu, đặc biệt là chỉ trong vòng 3 tháng đầu trẻ trai đã tăng được 3,39kg,trung bình tăng 1.13kg/ 1 tháng và tăng gấp đôi cân nặng sơ sinh sau 3 tháng.Trẻ gái thì tăng ít hơn so với trẻ trai, sau 3 tháng trẻ tăng được 2,56kg Từ 3-6tháng thì mức tăng của cả 2 giới đều giảm, ở trẻ trai tăng 1,49kg trung bìnhmỗi tháng tăng 49,7g, ở trẻ gái tăng 1,4kg trung bình mỗi tháng tăng 47g
Chiều cao ở trẻ 0-6 tháng tuổi:
Chiều cao ở trẻ là một trong những kích thước cơ bản nhất trong cáccuộc điều tra về nhân trắc[41] Chiều cao nói lên chiềudài của toàn thân Do
đó nó được dùng để đánh giá sức lớn của trẻ em, hình thái, tầm vóc của ngườitrưởng thành
Chiều cao là số đo rất trung thành của hiện tượng tăng trưởng, chiềucao phản ánh tố cuộc sống quá khứ và là bằng chứng của sự dinh dưỡng Trẻthiếu dinh dưỡng kéo dài sẽ làm chậm phát triển chiều cao
Trang 20Theo HSSH của người Việt Nam(1975)[43] thì chiều dài lúc mới đẻ củatrẻ trai là 48,64±1,22cm, của trẻ gái là 48,35±1,22cm, Sau 20 năm [44], chiềudài sơ sinh của trẻ trai là 50,01±1,61cm, của trẻ gái là 49,79±1,46cm Theonghiên cứu của Hàn Nguyệt Kim Chi[9] thì chiều dài sơ sinh của trẻ trai là50,17±2,29cm, còn của trẻ gái là 49,40±1,52cm Theo tác giả Đỗ Thị Đức Mai[42] thì chiều dài sơ sinh trẻ trai là 50,55±1,28 và trẻ gái là 50,41±1,46 Điều
đó cho thấy sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ thể hiện rất rõ nét và phù hợp vớiđặc điểm, quy luật phát triển chung của trẻ lứa tuổi 0-72 tháng là chiều cao liêntục đi lên ở cả trẻ trai và gái, trẻ trai cao hơn trẻ gái ở mọi lứa tuổi
Cũng giống như tăng trưởng cân nặng, tăng trưởng chiều cao cũng cóđặc điểm là trẻ càng nhỏ thì mức độ tăng trưởng càng nhiều ba tháng đầu tiênchiều cao của trẻ tăng rất nhanh, sau 3 tháng đầu chiều cao của trẻ tăng từ 9-12cm Trung bình khoảng trên 3cm/1 tháng, ba tháng tiếp theo mức tăng íthơn khoảng 2cm/1 tháng
Nghiên cứu trên trẻ em nước ngoài, một số tác giả nhận thấy trẻ sơ sinhnước ngoài dài hơn trẻ em nước ta ở cả hai giới và trẻ trai dài hơn trẻ gái sơsinh[45, 46]
Bảng 1.2 Cân nặng và chiều cao của trẻ từ 0-6 tháng(2005)[47]
Trang 211.1.5 Các nghiên cứu theo dõi về tăng trưởng cân nặng chiều cao của trẻ trong 6 tháng sau sinh
Ở nước ngoài, nghiên cứu về tăng trưởng theo chiều dọc bắt đầu từ rấtsớm ngay từ những năm 1759-1777 bởi tác giả người Pháp PhilibertbMontbeilard, ông đã theo dõi liên tục chiều cao của con trai mình trong 18năm liên tục, mỗi năm đo 2 lần cách nhau 6 tháng Đây là một nghiên cứuđược đánh giá cao, và được trích dẫn trong các nghiên cứu tăng trưởng suốtthế kỷ XIX[48] Từ các số liệu của Philibertb Montbeilard, được ArayThomson thể hiện bằng đồ thị chiều cao tính theo cm/năm, từ đó ông đưa rakhái niệm đầu tiên về tốc độ tăng trưởng và coi hai đại lượng cân nặng vàchiều cao như là những chỉ tiêu về sức khỏe để sử dụng trọng các nghiên cứu
về tăng trưởng[48] Một nghiên cứu khác tại cộng hòa Sec được Bouchalovatiến hành từ năm 1961 -1982 trên 55 trẻ từ sơ sinh đến 18 tuổi về quá trìnhtăng trưởng cân nặng, chiều cao…và các yếu tố ảnh hưởng như điều kiện kinh
tế, xã hội, môi trường sống, bệnh tật…, còn ở Hoa Kỳ, có công trình củaH.P.Bowditch(1840-1911), hiệu trưởng đầu tiên của khoa Y trường đại họcHarvard, ông đã đưa ra chuẩn tăng trưởng của trẻ em Hoa Kỳ và lần đầu tiên
sử dụng hệ thống bách phân vị trong nghiên cứu[49] Một ứng dụng khác củatăng trưởng đã được các nhà lâm sàng dùng trong nghiên cứu người bệnh,ngay từ những năm 1800, cân nặng và chiều cao của bệnh nhân đã được đođạc thường quy trong bệnh viện ở Paris
Ở nước ta cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tăng trưởng trẻ emnhưng chủ yếu vẫn là các điều tra ngang[50], các số liệu đã được tập hợptrong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” xuất bản năm 1975[43] Đếnđầu những năm 80 đã có một số các công trình nghiên cứu về tăng trưởngtheo chiều dọc như của tác giả Lê Thị Hợp từ 1981-1984[6]đã theo dõi sựtăng trưởng của trẻ từ sơ sinh đến 60 tháng tuổi Tiếp theo có tác giả Bùi Thị
Trang 22Như Thuậnvà CS[8]đã theo dõi chiều cao, cân nặng và sức khỏe của trẻ từ
0-72 tháng, sau đó có công trình do Nguyên Thu Nhạn và CS theo dõi trong 2năm 1987-1989 về các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao, bệnh tật của trẻ từ 0-24tháng[7] Đến năm 1992, Nguyễn Hữu Cần đã tiến hành nghiên cứu các chỉtiêu nhân trắc ở trẻ sơ sinh Hà Nội đã đưa ra tiêu chuẩn về cân nặng, chiềucao ở trẻ sơ sinh đủ tháng[51] Một công trình nữa cũng là của tác giả Lê ThịHợp(1996-1997) đã nghiên cứu 400 trẻ từ sơ sinh đến 24 tháng để so sánh sựtăng trưởng và TTDD với nhóm trẻ đã nghiên cứu trong giai đoạn 1981-1984[52] Một công trình điều tra cơ bản về nhân trắc với quy mô lớn triểnkhai trên quy mô toàn quốc đã được Lê Nam Trà và CS công bố năm1997[44] Tất cả các công trình trên đã công bố kết quả điền tra về cân nặng,chiều cao và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ như dinhdưỡng, bệnh tật, trình độ văn hóa của mẹ…và ứng dụng trong chăm sóc sứckhỏe và các lĩnh vực khác Sau đó có các công trình cấp Bộ cũng đã nghiêncứu về tăng trưởng ở trẻ giai đoạn 0-36 tháng và 0-72 tháng, qua đó đã làm rõhơn về bức tranh tăng trưởng ở trẻ em Việt Nam
1.2 Phát triển tâm vận động trẻ 0-6 tháng
Tâm vận động(Psychomotor) được ghép từ Psycho(tâm lý) vàmotor(vận động), lý do là ở thời kỳ thơ ấu cho tới 5-6 tuổi thì sự phát triểntâm lý và vận động ở trẻ có liên quan mật thiết với nhau Tâm vận động làhoạt động của các giác quan, cơ bắp dưới sự điều khiển ủa não bộ Tùy vàomức độ trưởng thành của não bộ mà nó chỉ đạo các hoạt động vận động của
cơ thể Theo tác giả Nguyễn Thị Nhất, thần kinh phát triển đến đâu vận độngphát triển đến đó, kết hợp với luyện tập và chịu sự chi phối của tình cảm, vậnđộng dần dần phù hợp với ý đồ mục tiêu Trong thời thơ ấu phát triển của vậnđộng và trí khôn gắn liền với nhau[53]
Trang 231.2.1 Sự hình thành và phát triển của hệ thần kinh trong thời kỳ phôi thai[54].
Hệ thần kinh phát triển vào ngày thứ 18 của phôi Ống thần kinh đượchình thành từ sự dày lên của phần ngoại bì ở phía lưng của phôi, phần ngoại
bì lõm xuống thành rãnh Hai bờ rãnh gắn lại với nhau thành ống thần kinh, ởgiữa là ống nội tủy, đầu dưới của ống sẽ trở thành tủy sống, đầu trên pháttriển rất to trở thành não Hệ thần kinh bao gồm các tế bào thần kinh gọi làcác nơron thần kinh Trẻ đủ tháng có khoảng 100 tỷ nơron, sau này sẽ khôngtăng thêm nữa Điều quan trọng là mỗi nơron chết đi sẽ không được thay thế,mặt khác mỗi tế bào thần kinh được cấu tạo vào một thời điểm nhất định vànếu bị tổn thương thì khó có khả năng hồi phục Thời kỳ chu sinh và nhữngtháng đầu của cuộc sống có nguy cơ bị đe dọa nhất
Sự tăng trưởng của não: não được tạo thành bởi sự gắn liền não trước
và gian não Não trước tăng trưởng thành hai bán cầu đại não Sự cuộn lại củacác bán cầu dẫn đến hình thành các thùy thái dương, rãnh Sylvius, vùngSylvius và thùy đảo
Sự phát triển của vỏ não: Vỏ não bao phủ mặt ngoài và chùm xuống tậnbán cầu não Tới tháng thứ 5 của phôi, vỏ não vẫn có cấu trúc sơ sài, sau đócấu trúc của nó được hình thành nhưng vẫn không có một hoạt động nào Trẻmới sinh chỉ có phản xạ tự động và những phản ứng thuần túy thuộc về bảnnăng dưới vỏ Trong quá trình vỏ não mở rộng các nối tiếp của nó, các chuỗinơron bắt đầu hoạt động, các phản ứng giác quan được thiết lập, các hoạtđộng tâm lý được phát triển
1.2.2 Sự phát triển của hệ thần kinh sau khi sinh.
Khi mới sinh các tổ chức vỏ não chưa hoạt động, não sơ sinh nặngkhoảng 300-400g Khi sinh ra hệ thần kinh kém phát triển nhất so với các cơ
Trang 24quan khác, sự trưởng thành được tiếp tục trong 3 năm đầu Trẻ sơ sinh nãochưa trưởng thành vì chưa được myelin hóa Sự tiến triển của hệ thần kinh,của não khi sinh ra cơ bản là sự myelin hóa các cấu trúc thần kinh và nhữngbiến đổi ở vỏ não Myelin hóa có sự liên quan đến sự chín muồi trưởng thànhcủa hệ thần kinh, song song với sự phát triển chung của cơ thể Hiện tượngmyelin hóa bắt đầu vào tháng thứ 4 của phôi[54].
Sau khi sinh trẻ có một cuộc sống tách rời mẹ Não, bộ phận quan trọngnhất phát triển rất mạnh ở toàn bộ các diện của vỏ não Mặt khác trẻ lại tiếpxúc với môi trường bên ngoài cơ thể, ảnh hưởng trực tiếp bởi sự chăm sóc,vấn đề dinh dưỡng Do đó vấn đề nuôi dưỡng là rất quan trọng, dinh dưỡngtốt sẽ đảm bảo cho cơ thể và não phát triển tốt
1.2.3 Sự phát triển tâm vận động ở trẻ từ 0-6 tháng tuổi[5]
Trẻ dưới 1 tuổi chưa có sự kiểm soát của vỏ não nên vận động không
cố định, không chính xác, có nhiều động tác chủ yếu là do các thay đổi vềtrương lực và phản xạ Sự phát triển vận động của trẻ tuân theo quy luật cơ
bản là phát triển theo hướng đầu – đuôi,có nghĩa là phát triển từ đầu đến
chân Đầu ưu tiên phát triển trước, sau đó đến các bộ phận khác của cơ thể.Trong phát triển vận động cũng theo trình tự này: cất được đầu, giữ cứng cổ,
nâng được vai, lẫy, bò, ngồi, đứng, đi Ngoài ra còn tuân theo quy luật phát triển từ trung tâm ra ngoại vi,tức là vận động bắt đầu từ trung tâm cơ thể sau
đó đến các chi Các kỹ năng vận động cũng được xác định theo một trình tựnhất định từ đơn giản đến phức tạp Đầu tiên vận động trẻ sơ sinh chỉ là nhữngphản xạ không điều kiện, sau này sự phát triển ngày càng hoàn thiện của vỏnão đã cho phép đứa trẻ kiểm soát được nhiều loại vận động phức tạp hơn
Trẻ sơ sinh(từ 1-29 ngày tuổi)
Trang 25Trong giai đoạn này trẻ thường ngủ 16 tiếng/1 ngày, nhưng khi thứcdậy trẻ vận động khá nhiều Vận động và hoạt động chủ yếu của trẻ là cácphản xạ hoặc vận động tự phát, không có mục đích do trung tâm dưới vỏ chiphối Khi hệ thần kinh bắt đầu trưởng thành, những phản xạ này sẽ chuyểnthành những vận động có mục đích
- Vận động: vận động tự phát, không trật tự, không phối hợp, không có
mục đích, xuất hiện đột ngột cả hai bên và không giống nhau
- Phản xạ: gồm những phản xạ tự nhiên sau
+ Phản xạ bú: Phản xạ này bắt đầu xuất hiện khi trẻ 32 tuần tuổi thai vàphát triển đầy đủ khi trẻ tròn 36 tuần tuổi Trẻ đẻ non có phản xạ bú yếu hoặckhông có phản xạ bú nếu trẻ được sinh ra trước khi phát triển phản xạ này
+ Phản xạ Moro: còn gọi là phản xạ giật mình hay phản xạ bắt chộp vìphản xạ này xuất hiện khi có tiếng động hoặc cử động mạnh, trẻ giật mình,dang hai tay và chân, sau đó ôm choàng vào thân Phản xạ này có thẻ kéo dàitới khi trẻ được 5-6 tháng tuổi
+ Phản xạ nắm: Khi bị kích thích vuốt vào lòng bàn tay, trẻ nắm chặttay lại phản xạ này chỉ kéo dài 2 tahngs và biều hiện mạnh hơn ở trẻ đẻ non
+ Phản xạ Root: Khi kích thích hoặc đụng vào góc miệng trẻ, trẻ xoayđầu và há miệng theo hướng vật kích thích Phản xạ này giúp trẻ tìm được đầu
Trang 26+ Ngôn ngữ: Ngôn ngữ giao tiếp của trẻ sơ sinh là tiếng khóc Lúc đầudường như tiếng khóc mọi lúc là giống nhau, nhưng cha mẹ sóm nhận ra sự khácnhau của tiếng khóc khi trẻ đói, khó chịu, cô đơn…và nhiều khi không rõ nguyênnhân Trẻ cần được đáp lại nhanh chóng bằng sự chăm sóc, vuốt ve và những lờinói âu yếm tạo cho trẻ sự tin cậy và cảm giác được thương yêu, an toàn.
Trẻ từ 2-3 tháng:
-Hầu hết các phản xạ dần mất đi.
-Tư thế nằm sấp trẻ có thể ngẩng đầu từng lúc, khung chậu duỗi rộng,
hông duỗi gần hoàn toàn Cuối tháng thứ 3 trẻ có thể nâng ngực và ngẩng đầucao và lâu hơn
- Tư thế được giữ đúng thẳng có thể giữ thẳng đầu
- Đưa tay vào miệng, nhìn ngắm, mở và nắm bàn tay
- Trẻ biết nhìn mặt người và mỉm cười, biết hóng chuyện khi được nóichuyện, phát âm líu lo
- Tiếng khóc thể hiện những mục đíc khác nhau rõ ràng hơn
Trẻ từ 4-5 tháng
- Giữ thăng bằng đầu tốt, có thể ngồi khi được đỡ nách
- Lẫy được từ ngửa sang sấp và ngược lại
- Nhanh nhẹn hơn, thích cười đùa, cười reo thành tiếng
- Có thể phát âm được vài nguyên âm, có thể bắt trước một số âm thanh
- Hướng về, với theo đồ chơi Nhìn chăm chú các đồ vật có màu sắc
Trẻ 6 tháng
- Trẻ ngồi được nhưng chưa vững, dễ đổ, dễ ngã
- Cầm đồ vật bặng lòng bàn tay, đưa tay với đồ vật khi trông thấy
Trang 27- Bắt đầu bập bẹ âm tiết đơn như ma, ba, da…
- Nhận biết mặt mẹ, người quen
1.2.4 Đánh giá phát triển tâm vận động
Để đánh giá tâm thần và vận động của trẻ dưới 1 tuổi, trên thế giới sửdụng các phương pháp sau: Bảng kê phát triển theo Battle (BDI), thang đoBayley và test Denver
Thang đo Bayley được nhà tâm lý học Nancy Baley phát triển từ năm
1969 đến nay, dùng để đánh giá sự phát triển tâm thần cũng xác định được sựchậm phát triển nhận thức và vận động của trẻ từ 1 tháng đến 42 tháng
Test Denver tên đầy đủ là Denver Developmental Screening Test Đây
là trắc nghiệm đánh giá sự phát triển tâm lý, vận động ở trẻ nhỏ do nhóm tácgiả xây dựng là William K Pranben Burg, Josian B Doss và Alma W Fandalthuộc trung tâm Y học Denver(Hoa Kỳ) Test được áp dụng năm 1967, tên làDenverI Nó nhanh chóng được phổ biến và áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc giatrong nhiều nghiên cứu Chính vì mức độ áp dụng rộng rãi và phổ biến nhưvậy nên test đã được nghiên cứu sâu hơn và hoàn thiện thành test DenverII
Năm 2003, tổ chức Project Việt Nam tại Hoa kỳ đã gửi sang cho KhoaTâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung Ương nội dung test Denver II về hướng dẫntiến hành test và cách đánh giá kết quả Năm 2004 test đã được áp dụng thửnghiệm đánh giá cho 69 trẻ đến khám tại khoa Tâm bệnh- Bệnh viện NhiTrung Ương, sau thử nghiệm này nhóm nghiên cứu đã sửa đổi một số tiết mụccho phù hợp với văn hóa Việt Nam [55]
Test Denver II gồm 125 tiết mục, được sắp xếp thành 4 khu vực[55]
Khu vực (1): Cá nhân – xã hội: đánh giá khả năng nhận biết bản thân,chăm sóc bản thân và thiết lập quan hệ tương tác với người khác gồm
25 tiết mục.( Phụ lục 2)
Trang 28Khu vực (2): Vận động tinh tế - thích ứng: đánh giá khả năng vận độngkhéo léo của đôi tay và khả năng quan sát tinh tế của đôi mắt gồm 30tiết mục( Phụ lục 2)
Khu vực (3): Ngôn ngữ: đánh giá khả năng lắng nghe và đáp ứng với
âm thanh, khả năng phát âm, và sau cùng là khả năng phát triển ngônngữ (nghe hiểu và nói): 39 tiết mục.( Phụ lục 2)
Khu vực (4): Vận động thô: Đánh giá khả năng phát triển các vận độngtoàn thân và khả năng giữ thăng bằng của cơ thể: Bao gồm 31 tiết mục.( Phụ lục 2)
1.2.5 Các nghiên cứu về tâm vận động ở trẻ.
Các nghiên cứu về sự phát triển tâm vận động đã được tiến hành từ thế
kỷ XIX, ban đầu là những nghiên cứu thô sơ Bước sang thế kỷ XX nhờ cáccông trình nghiên cứu thực nghiệm và trắc nghiệm ngày một chính xác nhờ có
kỹ thuật tinh tế Từ đó các bậc thang, các hệ thống trắc nghiệm đã được xâydựng để theo dõi, đánh giá, so sánh tiến trình phát triển theo độ tuổi trên từngtrẻ Ở Việt Nam đánh giá mức độ phát triển tâm vận động dựa trên trắcnghiệm Brunet Lézine (Pháp), Denver (Hoa Kỳ) đã được vận dụng từ nhữngnăm 70.Năm 1972-1975 Vũ Thị Chín và CS đã tiến hành thăm dò sự pháttriển tâm lý vận động của trẻ từ 0-3 tuổi bằng thang đo Brunet Lézine, từ kếtquả nghiên cứu tác giả tiếp tục kiểm nghiệm lại vào năm 1976-1980 nhằmmục đích Việt Nam hóa thang đo và đến năm 1989 tác giả đã hoàn chỉnhthang đo “Brunet Lézine- Việt Nam Hóa”[56]
Năm 1977 Lê Đức Hinh đã áp dụng trắc nghiệm Denver I trong đánhgiá phát triển TVĐ cho trẻ tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai[32] Tácgiả đã viết một tài liệu đầy đủ hướng dẫn cách sử dụng trắc nghiệm này năm1990[57] Sau đó có một số tác giả cũng sử dụng trắc nghiệm DenverI [11],
Trang 29[10] và cùng với các nghiên cứu trước đã đưa ra được các mốc phát triểnTVĐ của lứa tuổi từ 0-72 tháng.
Năm 2003-2005 Bệnh viện Nhi Trung Ương đã áp dụng trắc nghiệmDenverII tiến hành nghiên cứu 1257 lứa tuổi từ 1 tháng-6 tuổi cho thấy 88,3%trẻ dưới 2 tuổi đạt sự phát triển tâm lý, vận động bình thường.Những năm gầnđây cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về tâm vận động ở trẻ dưới 6 tuổi[3,13],[4],[14] qua đó đã đánh giá được múc độ phát triển tâm vận động ở trẻ emqua các thời kỳ, góp phần bổ sung số liệu còn ít và luôn biến đổi
Năm 2012 tác giả Lê Thị Hươngvà cộng sự đãthực hiện nghiên cứu[58]trên 1023 trẻ em tại 3 khu vực miền núi, nông thôn, thành thị về sự pháttriển tâm vận động bằng test Denver II, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kêgiữa khu vực miền núi, nông thôn và thành thị về sự phát triển tâm vận động.Khu vực cá nhân – xã hội, trẻ em thành phố có tỷ lệ chậm phát triển cao hơn trẻ
em nông thôn và miền núi theo thứ tự 57,4%, 26,9% và 22% Ở khu vực vậnđộng tinh tế - thích ứng, trẻ em thành phố phát triển ở mức tiến bộ cao hơn sovới trẻ em ở vùng nông thôn và miền núi lần lượt là 68,6%, 50,8% và 22,5%.Khi thực hiện các tiết mục tại khu vực ngôn ngữ và vận động thô, trẻ miền núi
và nông thôn có tỷ lệ phát triển ở mức bình thường và tiến bộ thấp hơn so vớitrẻ em ở thành phố với p<0,05
1.3 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và tâm vận động ở trẻ.
Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động ởtrẻ nhỏ đã được chứng minh trong một số nghiên cứu [10],[4],[12] Nghiêncứu của Nguyễn Đỗ Huy và cs cho thấy suy dinh dưỡng là yếu tố nguy cơ đốivới chậm phát triển vận động và tâm lý ở trẻ nhỏ, sự phối hợp giữa suy dinhdưỡng thấp còi và nhẹ cân có liên quan rõ rệt hơn so với riêng lẻ từng thể suydinh dưỡng ở khu vực chậm phát triển ngôn ngữ[12] Theo tác giảTạ ĐăngHưng[4] thì có mối liên quan giữa suy dinh dưỡng thể thấp còi với tỷ lệ nghingờ, chậm phát triển ở khu vực cá nhân-xã hội Theo tác giả thì sự phát triển
Trang 30TVĐỞ những trẻ không bị suy dinh dưỡng ít có nguy cơ bị chậm phát triểntâm vận động ở khu vực cá nhân – xã hội so với trẻ suy dinh dưỡng 0,68lần.Tuy nhiên ở nghiên cứu tạiở hầu hết các nghiên cứu còn lại kết quả chưaphản ánh được mối liên quan giữa tình trạng SDD với sự phát triển tâm vậnđộng có thể do cỡ mẫu nhỏ và hầu hết là các điều tra ngang.
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Hoài Đức là một huyện ngoại thành của thành phố Hà nội, được sápnhập năm 2008 huyệngồm 19 xã và 1 thị trấn, diện tích 82,67 km2, dân số198.424 người với tổng số 48.776 hộ
Trong đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại 8 xã: Đức giang,Đức Thượng, Sơn Đồng, Song Phương, Yên sở, Kim Chung, Dương Liễu,Tiền Yên
2.2 Thời gian nghiên cứu
Trang 31 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trẻ mắc các bệnh bẩm sinh( thiểu năng trí tuệ, tim bẩm sinh, rối loạnchuyển hóa…)
- Bà mẹ không hợp tác
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả theo phương pháp dọc,theo dõi trẻ từ khi sinh đếntròn 6 tháng tuổi
Các xã nằm gần nhau để việc điều tra, giám sát được thuận lợi, đường
đi lại không quá khó khăn, chính quyền điạ phương và cán bộ y tế tạo điềukiện giúp đỡ
Tại mỗi địa bàn nghiên cứu, lập danh sách các bà mẹ dự sinh phù hợpvới thời gian nghiên cứu