1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu các yếu tố LIÊN QUAN THÚC đẩy tái PHÁT của rối LOẠN cảm xúc LƯỠNG cực ở BỆNH NHÂN điều TRỊ nội TRÚ tại VIỆN sức KHỎE tâm THẦN

38 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 261,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có bằng chứng cho thấy, với các giai đoạn rối loạn lưỡng cực táiphát, sự suy thoái dần về chức năng hoạt động có thể xảy ra [4],[5] Thực tế những giai đoạn cấp của rối loạn cảm xúc lưỡng

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.DƯƠNG MINH TÂM

Hà Nội - 2016 MỤC LỤC

Trang 2

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ QUAN NIỆM RỐI LOẠN CẢM XÚC

LƯỠNG CỰC 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Lịch sử bệnh và các quan niệm phân loại 3

1.1.3 Dịch tễ học 4

1.1.4 Cơ chế bệnh sinh 5

1.1.5 Đặc điểm lâm sàng của RLCXLC 11

1.1.6 Giai đoạn trầm cảm 12

1.1.7 Các công cụ sàng lọc 13

1.1.8 Phân loại rối loạn cảm xúc lưỡng cực 14

1.1.9 Điều trị 16

1.1.10 Tiến triển 17

1.1.11 Những yếu tố thúc đẩy sự tái phát 19

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.2 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu 21

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 21

2.3.2 Cỡ mẫu 21

2.3.3 Các phương pháp thu thập thông tin 22

2.3.4 Công cụ dùng trong nghiên cứu 23

2.3.5 Các biến số nghiên cứu 23

Trang 3

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 25

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU 25

3.1.1 Đặc điểm chung về tuổi, giới 25

3.1.2 Phân loại theo tuổi 25

3.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CHUNG 27

3.3 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÁI PHÁT BỆNH 30

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 31

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 31

DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Bảng 3.1: Đặc điểm chung về tuổi 25

Bảng 3.2: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.3: Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.4: Phân bố các thể bệnh theo giới: 27

Bảng 3.5: Phân bố tuổi, giới phát bệnh lần đầu 28

Bảng 3.6: Tuổi giới tái phát bệnh lần thứ hai 28

Bảng 3.7: Số cơn đã mắc 28

Bảng 3.8: Đặc điểm số cơn tái phát đến thời điểm nghiên cứu 29

Bảng 3.9: Đặc điểm giai đoạn khởi phát 29

Bảng 3.10: Thời gian trung bình một giai đoạn hưng cảm, trầm cảm 29

Bảng 3.11: So sánh sử dụng thuốc chỉnh khí sắc và thời gian ổn định 29

Bảng 3.12: Thời gian ổn định theo thể bệnh 30

Bảng 3.13: Các yếu tố liên quan tới tái phát bệnh ở giai đoạn nghiên cứu 30

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn cảm xúc rất phổ biến, đứng hàng thứ hai trong các rối loạntâm thần.Ở các nước châu Âu, châu Mỹ tỷ lệ rối loạn cảm xúc chiếm trên10% trong dân số Trong các hình thái rối loạn cảm xúc, rối loạn cảm xúclưỡng (RLCXLC) rất thường gặp nhưng rất tỷ lệ rất khác nhau giữa các khuvực, cộng đồng, cách đánh giá và thời điểm Ở Los Angeles, theo Karno vàcộng sự (1987) tỷ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 1% Theo Wells và cộng

sự (1989) tỷ lệ RLCXLC là 0,7% ở New Zealand Nghiên cứu tại Hàn Quốc,Lee và cộng sự(1990) đã đưa ra tỷ lệ rối loạn lưỡng cực là 0,4% [1] TheoKessler và cộng sự (1994) tỷ lệ rối loạn lưỡng cực tại 48 bang ở Mỹ là 1,6%.Tyrer O (2002) nghiên cứu tỷ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực được thống kêhàng năm ở Anh cho thấy tỷ lệ mắc từ 1,2-1,3%

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực có khuynh hướng tái phát, thời gian thuyêngiảm ngắn dần, gây các hậu quả tâm lý xã hội đáng kể cho người bệnh và cóthể gây ảnh hưởng tàn phá trên đời sống cá nhân, nghề nghiệp, và gia đình[2] Những người mắc rối loạn lưỡng cực có tỷ lệ ly dị cao gấp hai đến ba lần

và suy giảm chức năng nghề nghiệp gấp hai lần so với những người khôngmắc [3] Có bằng chứng cho thấy, với các giai đoạn rối loạn lưỡng cực táiphát, sự suy thoái dần về chức năng hoạt động có thể xảy ra [4],[5]

Thực tế những giai đoạn cấp của rối loạn cảm xúc lưỡng cực được thúcđẩy bởi nhiều yếu tố liên quan như việc sử dụng chất gây nghiện, sang chấntâm lý, những hiểu biết về bệnh của bản thân bệnh nhân và gia đình… do tínhchất phổ biến, mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với cuộc sống gia đình,nghề nghiệp xã hội của bệnh nhân, RLCXLC đã trở thành vấn đề lớn ảnhhưởng đến sức khỏe cộng đồng và là một vấn đề đang được quan tâm nghiêncứu trên nhiều lĩnh vực về hình thái lâm sàng, chẩn đoán, điều trị Tuy nhiên,

Trang 6

ở nước ta vẫn chưa có nghiên cứu nào về các yếu tố nguy cơ liên quan thúcđẩy tái phát của bệnh lý này một cách hệ thống, với mong muốn nhận thứccác yếu tố có thể gây tái phát của rối loạn này nhằm phòng ngừa các giai đoạnbệnh và kéo dài thời gian ổn định, tôi chọn vấn đề “ Nghiên cứu các yếu tốliên quan thúc đẩy tái phát của rối loạn cảm xúc lưỡng cực ở bệnh nhân điềutrị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần”

Với mục tiêu nghiên cứu

1 Mô tả các yếu tố liên quan đến sự tái phát rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ QUAN NIỆM RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

1.1.1 Khái niệm.

Rối loạn khí sắc đã được biết đến từ thời xa xưa Các thuật ngữ mô tảrối loạn khí sắc như thao cuồng (mania) và sầu uất (melancholia) được sửdụng từ thời hyppocrates Đến đầu thế kỷ thứ XVIII hai trạng thái này vẫnđược xem như hai trạng thái bệnh tồn tại riêng biệt và sự xen kẽ nhau trêncùng một người bệnh chỉ được xem như là sự ngẫu nhiên (Pinel và Esquirol)

Đến năm 1854 Falret J.P lần đầu tiên mô tả hai trạng thái rối loạn nàytrên cùng một người bệnh trong một bệnh cảnh chung và gọi là loạn thần tuầnhoàn, loạn thần hai dạng Năm 1899 Kraepelin mô tả thao cuồng và sầu uất làhai hình thái đối lập nhau trong một bệnh cảnh và đặt tên là: loạn thần hưngtrầm cảm “Psychose Manico – Depressive” [6],[7]

Hiện nay các nhà tâm thần học cho rằng rối loạn cảm xúc lưỡng cựcđược đặc trưng bằng các giai đoạn rối loạn cảm xúc lặp đi lặp lại với giaiđoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ, có phối hợp với các giai đoạn rối loạntrầm cảm trong quá trình tiến triển của bệnh[8] Những người bị rối loạn cảmxúc lưỡng cực thường mất nhiều năm tìm kiếm sự trợ giúp của các nhàchuyên môn và có thể có ba đến bốn chẩn đoán của các thầy thuốc trước khi

có một chẩn đoán xác định.Chẩn đoán sớm là rất quan trọng, nó có thể làmgiảm bớt tác hại của bệnh

1.1.2 Lịch sử bệnh và các quan niệm phân loại.

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hay bệnh loạn thần hưng trầm cảm đượcthừa nhận từ thời Hyppocrates, những bệnh nhân được ông mô tả như là

Trang 8

“hưng cảm” và “sầu muộn” Năm 1950 Kleist phân ra hai thể loạn thần hưngtrầm cảm lưỡng cực và đơn cực Quan điểm này được chấp nhân cho đến năm

1962 khi Leonhard và cộng sự đề xuất sự phân loại thành ba nhóm: Trầm cảmđơn cực, hưng cảm đơn cực và những bệnh nhân bị cả rối loạn trầm cảm vàhưng cảm (lưỡng cực)[9]

Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống chẩn đoán chủ yếu định rõ rốiloạn cảm xúc lưỡng cực đó là: Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 của Tổ chức

Y tế Thế giới năm 1992 và của Hội Tâm thần học Mỹ 1994 (DSM – IV) [10]Theo quan điểm của ICD-10 triệu chứng của rối loạn cảm xúc lưỡng cực gầngiống như “loạn thần hưng trầm cảm” Các giai đoạn hưng cảm và rối loạntrầm cảm thường xảy ra sau các stress Tuy nhiên stress không nhất thiết phải

có để chẩn đoán Rối loạn hưng cảm xen kẽ rối loạn trầm cảm có thể tuần tựhoặc có vài pha rối loạn hưng cảm mới có một pha rối loạn trầm cảm hoặcngược lại Giai đoạn rối loạn hưng cảm có khuynh hướng kéo dài hơn, thờigian trung bình khoảng 6 tháng, hiếm khi kéo dài đến 1 năm[6], [11],[12].Tần số các giai đoạn bệnh với sự thuyên giảm rất đa dạng, nhưng thờigian thuyên giảm có khuynh hướng ngày càng ngắn hơn

1.1.3 Dịch tễ học

Tỷ lệ RLCXLC chiếm 1% dân số, giữa hai giới không có sự khácbiệt.Tuổi khởi phát thường thấp hơn rối loạn trầm cảm điển hình.Klerman;Weissman (1989); Kessler và cộng sự (1994) đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc rối loạnlưỡng cực có xu hướng gia tăng Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ rối loạn lưỡng cực là 1-1,6% trong suốt cuộc đời Trong đó, 0,8% RLCXLC I và 0,5% RLCXLC II.RLCXLC I hoặc RLCXLC II với chu kì nhanh chiếm tới 5-15% trong sốnhững người mắc RLCXLC [13], [10]

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng họ hàng cùng huyết thống thế hệ thứnhất của các bệnh nhân RLCXLC II có tỷ lệ 1-5% bị RLCXLC II Đối với họ

Trang 9

hàng cùng huyết thống thế hệ thứ nhất của các bệnh nhân RLCXLC I có tỷ lệ4-24% bị RLCXLC I Các nghiên cứu trẻ sinh đôi cho thấy có ảnh hưởng rõrệt của gen di truyền đến RLCXLC[14],[15],[16].

RLCXLC có tỷ lệ tự sát cao hơn so với quần thể dân số chung Khoảng25- 50% trường hợp RLCXLC có ý tưởng tự sát, 11% toan tự sát Tự sátthành công chiếm tỷ lệ 10-15% tổng số bệnh nhân RLCXLC I và II[10] Tỷ lệ

tự sát thành công ở RLCXLC II thường xảy ra ở giai đoạn trầm cảm điển hình

do liên quan đến sự thất bại trong học tập, trong công việc hay trong lĩnh vựchôn nhân

RLCXLC I tái phát chiếm tỷ lệ cao 90%, trong đó giai đoạn hưng cảmchiếm tới 60-70 %, nhiều hơn đáng kể so với giai đoạn trầm cảm[6-17] 60-70% các giai đoạn hưng cảm nhẹ của RLCXLC II xuất hiện ngay trước hoặcsau một giai đoạn trầm cảm điển hình 5-15% bệnh nhân RLCXLC II có một

số các giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ hoặc trầm cảm điển hình xuấthiện trong vòng một năm sau khi bị bệnh Giữa các giai đoạn bệnh, phần lớncác bệnh nhân RLCXLC II sẽ hồi phục các chức năng tâm thần gần như bìnhthường Một số trường hợp tiếp tục có biểu hiện khí sắc không ổn định và khókhăn trong giao tiếp, trong học tập, lao động

Các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ rối loạn khí sắc chu kỳ trong toàn bộcuộc đời từ 0,4%-1% trong dân số

Trang 10

nghiên cứu gần đây đưa ra tỷ lệ khoảng 40% đối với trẻ sinh đôi cùng trứng

và dưới 10% đối với trẻ sinh đôi khác trứng[14], [15]

Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong RLCXLC I hơn rối loạntrầm cảm 50% bệnh nhân RLCXLC I có ít nhất một cha hoặc mẹ bị rối loạnkhí sắc, thường là trầm cảm nặng Nếu một trong cha hoặc mẹ bị RLCXLC I

sẽ có 25% con bị rối loạn khí sắc Nếu cả cha và mẹ đều bị thì con của họ cónguy cơ bị rối loạn khí sắc 50-70% Ở trẻ sinh đôi cùng trứng tỷ lệ bịRLCXLC I là 33-90% , trong khi trẻ sinh đôi khác trứng chỉ từ 5-25%.[16],[10],[11]

Theo Michael E và Thase M.D.(2005), rối loạn khí sắc liên quan đếngia đình đã rõ ràng, hơn nữa còn có sự đóng góp của môi trường tự nhiên và

xã hội tác động đã được tranh luận trong mười thập kỷ qua Ngày nay, điềunày đã được chứng minh RLCXLC là có tính di truyền lớn hơn và tính ditruyền tăng lên với sự biến đổi gen.[18]

Trang 11

Theo Mann và CS (1986), nghiên cứu não bệnh nhân tự sát thấy tăng đậm độserotonin ở não vùng trán.[19],[20],[9]

Norepinephrin: Sự tương quan được chỉ ra bởi các nghiên cứu giữa sự

điều chỉnh bên dưới của thụ cảm β- adrenergic và những đáp ứng lâm sàngcủa thuốc chống trầm cảm gần như là chắc chắn, một phần của dữ liệu hướngđến vai trò của hệ thống noradrenergic trong trầm cảm Bằng chứng kháccũng thấy có sự liên quan đến khớp thần kinh thụ thể β2 – adrenergic trongtrầm cảm như làm hoạt hóa thụ thể này, kết quả là làm giảm bớt lượng phóngthích norepinephrine Hiệu quả lâm sàng các thuốc chống trầm cảm đối vớinoradrenergic như Venlafaxine (Effexor) làm tăng cường vai trò củanorepinephrine trong sinh lý bệnh của các triệu chứng trầm cảm

Serotonin: tác dụng ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin như

fluoxetine (Prozac) có tác dụng trong điều trị trầm cảm, serotonin trở thànhchất dẫn truyền thần kinh sinh học liên quan với trầm cảm Đã phát hiện cácloại thụ thể serotonin chọn lọc làm tăng dẫn truyền với sự phát triển của cácthuốc điều trị trầm cảm đặc hiệu Hơn nữa ức chế tái hấp thu chọn lọcSerotonine (SSRIs) và các thuốc chống trầm cảm khác giải phóng serotonincũng có hiệu quả trong điều trị chống trầm cảm, các dữ liệu khác cho thấyserotonin liên quan đến sinh lý bệnh của trầm cảm Giảm serotonin có thể làmsuy nhược cơ thể nặng thêm và một số bệnh nhân có ý tưởng thôi thúc tự sát,

có sự giảm dịch não tủy tập trung vào các chất chuyển hóa serotonin và giảmtập trung ở vị trí hấp thụ serotonin trên tiểu cầu

Dopamine: Mặc dù norepinephrine và serotonin là các amin sinh học

liên quan chủ yếu với bệnh sinh của trầm cảm, dopamine cũng có vai trò pháttriển tới hoạt động này Các dữ liệu chỉ ra rằng hoạt động của dopamine cóthể làm giảm tình trạng trì trệ và làm tăng hưng cảm Khám phá các kiểu thụthể dopamine mới và gia tăng sự hiểu biết về hoạt động trước synap và sau

Trang 12

synap điều chỉnh quá trình phân chia tế bào có chức năng giải phóngdopamine có vai trò của vitamin khi tiến hành nghiên cứu mối liên quan giữadopamine và các rối loạn khí sắc Các thuốc làm giảm độ tập trung dopamine

ví dụ như Reserpine (Serpasil) và các bệnh giảm dopamine như bệnhParkinson có sự liên quan với các triệu chứng trầm cảm Trong sự tương táccác thuốc làm tăng độ tập trung dopamine như tyrosine, amphetamine vàbupropion (wellbutrin), làm giảm các triệu chứng của trầm cảm Hai thuyếtgần đây về dopamine và tình trạng sầu uất là thuyết dẫn truyền trung gian hệviền có thể hoạt động khác thường trong trầm cảm và thuyết thu thể D1

dopamine có thể giảm quá trình hoạt động trong trầm cảm

Các yếu tố hóa học thần kinh khác: mặc dù các số liệu cho đến nay

vẫn chưa thuyết phục, acid amin chất dẫn truyền thần kinh (đặc biệt là aminobutyric acid) và hoạt động các peptid thần kinh (vasopressin và cácopiate nội sinh) liên quan đến bệnh sinh của các rối loạn khí sắc Các nhànghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống điều chỉnh thông tin thứ hai như adenylatecyclase, phosphatidylinositol và calcium cũng có thể vừa là nguyên nhân vừa

γ-là hậu quả.Các acid amin glutamate và glycine sau này như chất kích thíchdẫn truyền thần kinh chủ yếu trong hệ thống trung tâm thần kinh Glutamate

và glycine tập trung ở vị trí liên kết với thụ thể N-Methyl-D- Aspartate(NMDA) và khi thừa quá có thể gây hậu quả nhiễm độc thần kinh Khi hồi hải

mã có sự tập trung cao thụ thể NMDA, thêm vào đó là glutamate cùng vớichất trung gian hypercortisolemia gây ảnh hưởng khả năng nhận thức trongstress mạn tính [21],[19],[22]

1.1.4.3 Những bất thường về thần kinh nội tiết

Các rối loạn cảm xúc có thể thấy ở những bệnh nhân mắc một số bệnhnội tiết, đặc biệt trong bệnh phù niêm và hội chứng Cushing.Các hệ trục dướiđồi tuyến yên – tuyến giáp (HPT), dưới đồi – tuyến yên – thượng thận (HPA)

Trang 13

và Hormone tăng trưởng (GH) đã được quan tâm nghiên cứu nhiều Mặc dùchỉ 0,7% bệnh nhân trầm cảm có suy giáp, còn lại phổ biến là bất thườngdưới lâm sang Khoảng 4% bệnh nhân rối loạn cảm xúc có tăng nồng độ TSH,hơn nữa TSH đáp ứng với TRH giảm ở 25% bệnh nhân và tăng ở 15% bệnhnhân Sự bài tiết GH tăng về đêm và giảm trong ngày, GH giảm đáp ứng vớiClonidine và Apomorphine xảy ra ở các bệnh nhân trầm cảm Michael E;Thase M.D (2005)[23], nghiên cứu hệ trụ HPA bao gồm Cortisol huyết tươngtrong 24 giờ, yếu tố giải phóng Cortisol vào máu CRF, test kích thích ACTH

và CRF, đã chỉ ra rằng tăng Cortisol máu và trục HPA tăng hoạt động xảy ra

ít nhất ở 50% số bệnh nhân trầm cảm Test giảm Dexamethasone cho kết quảthất thường ở bệnh nhân hưng cảm và rõ hơn ở trầm cảm có sầu uất[24],[25],[9],[10] Theo Cecil K.M và CS (2002)[26], thấy có sự khác nhau ở thùy tráncủa những bệnh nhân RLCXLC được nghiên cứu bằng cộng hưởng từ quangphổ proton.Sự khác nhau rõ ở độ tập trung của chuyển hóa ở chất xám so vớinhững đối tượng mạnh khỏe.Mức độ ảnh hưởng lớn nhất là giảm tập trung N– Acetyl Aspartate (NAA) và Choline.Sự giảm tập trung của NAA trong chấtxám của các bệnh nhân đã gợi ý đến rối loạn chức năng thầnkinh.Phospholipid bị biến đổi cho thấy sự giảm tập trung choline.Trong chấttrắng nhận thấy có sự tập trung các amino acid chứng tỏ có sự biến đổi về dẫntruyền thần kinh

1.1.4.5 Thay đổi về giấc ngủ

Chứng mất ngủ ở cả giai đoạn đầu, giai đoạn cuối, giữa giấc, chứngngủ nhiều thường thấy là các triệu chứng kinh điển của trầm cảm và cũngnhận thấy một số trường hợp tăng nhu cầu ngủ gặp trong hưng cảm Trong rốiloạn cảm xúc lưỡng cực, giai đoạn hưng cảm cấp bệnh nhân có sự giảm rõ rệtthời gian ngủ Những nghiên cứu về giấc ngủ trong giai đoạn hưng cảm cóliên quan đến sự thay đổi ở giai đoạn chuyển động nhanh nhãn cầu (REM) và

Trang 14

giai đoạn sóng chậm tương tự như thấy trong trầm cảm Theo Wehr và cộng

sự (1987) việc điều hòa giấc ngủ một cách hợp lý ở những bệnh nhânRLCXLC rất quan trọng vì những vấn đề về mất ngủ có thể làm phát sinhnhững giai đoạn hưng cảm đồng thời ngăn cản sự ổn định cảm xúc [13],[27],[28]

1.1.4.6 Các yếu tố tâm lý xã hội

Hầu hết các giả thuyết về hưng cảm xem các giai đoạn hưng cảm như

là một biện pháp phòng thủ của trầm cảm nằm bên dưới Karl Abraham chorằng các giai đoạn hưng cảm có thể phản ánh một sự mất khả năng chịu đựngsau một thảm kịch như mất người thân Trạng thái hưng cảm cũng có thể làhậu quả từ sự hung hãn bên trong bản thân bệnh nhân mà không thể tự phêphán sau đó được thay thế bằng sự phởn phơ tự mãn Bertram Lewin cho làlòng tự trọng của bệnh nhân hưng cảm bị lấn át bởi cơn bốc đồng Klein cũngxem hưng cảm như là một sự phản ứng tự bảo vệ chống trầm cảm Phản ứnghưng cảm để tự vệ như là một sức mạnh vô hạn mà con người khai thác tựđánh lừa là vô cùng lớn [19]

Những bằng chứng cho thấy người có nhân cách lo âu, phụ thuộc, ámảnh, phô trương thì hay bị trầm cảm.Ngược lại trầm cảm cũng có thể phátsinh và ảnh hưởng tới bất kỳ loại nhân cách nào Stress thường là yếu tốnguyên nhân hoặc yếu tố khêu gợi trạng thái trầm cảm nhẹ như trầm cảmphản ứng, cũng có thể gặp stress là nguyên nhân và là yếu tố làm nặng thêmcác trường hợp trầm cảm nặng.[29],[30]Di truyền hoặc khí chất nằm dướitrầm cảm có thể là những yếu tố quan trọng Stress là một trai nghiệm cá nhân

và những gì người này có thể thấy căng thẳng thì người khác lại không[28].Paykel và Brown cùng cộng sự thấy nguy cơ phát bệnh trầm cảm tăng 6 lầntrong 6 tháng kể từ khi trải qua những sự kiện tác động đáng sợ của cuộcsống, đặc biệt là những mất mát do chết chóc, chia ly hoặc tổn thất lớn về

Trang 15

kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt[31] Có khoảng 75-80% các bệnh nhân bịrối loạn cảm xúc lưỡng cực lạm dụng rượu và lạm dụng chất Các tác giả chorằng lạm dụng rượu là tình trạng sử dụng rượu theo thói quen hoặc để tuânthủ tập tục dẫn đến gây hại cho sức khỏe của bản thân Tình trạng hôn nhântan vỡ, thất nghiệp kéo dài và tự sát cũng là phổ biến Các báo cáo từ nhiềuquốc gia đã cho thấy có 8-20% những người rối loạn cảm xúc nghiện rượu kếtthúc cuộc sống của họ bằng tự sát (Ritson 1977)[32] Có khi có những hành vi

vi phạm pháp luật từ nhẹ như gây rối trật tự xã hội đến những hành vi nguyhiểm như giết người

1.1.5 Đặc điểm lâm sàng của RLCXLC

RLCXLC được đặc trưng bằng sự lặp đi lặp lại các giai đoạn hưngcảm hoặc hưng cảm nhẹ xen kẽ với các giai đoạn trầm cảm điển hình trongquá trình phát triển của bệnh

1.1.5.1 Giai đoạn hưng cảm

Giai đoạn hưng cảm bắt đầu với bệnh nhân có cảm giác khoan khoái dễchịu, đầy sinh lực Hưng cảm điển hình xuất hiện với:

Cảm xúc hưng phấn: Khí sắc tăng không tương xứng với hoàn cảnhriêng của đối tượng Thế giới bên ngoài đối với bệnh nhân rực rỡ tươi vui.Bệnh nhân có thể đánh giá cao bản thân, có thể có ý tưởng tự cao

Tư duy hưng phấn: Dòng tư duy phi tán, liên tưởng mau lẹ, nói chuyện

ví von, giàu hình tượng nhưng nội dung nông cạn Có thể xuất hiện hoangtưởng tự cao, nội dung hoang tưởng thường cụ thể gắn liền với thực tế nhưngđược thổi phồng quá mức

Hoạt động hưng phấn: không ngủ hoặc ít ngủ, luôn náo động, thích canthiệp vào công việc của người khác Làm nhiều việc nhưng không việc nàođến nơi đến chốn Có nhiều kế hoạch, sáng kiến nhưng không thực hiện được

Trang 16

Đôi khi gặp những yếu tố bất lợi bên ngoài có thể có kích động, hành vikhó hiểu Có thể có ảo giác, không tập trung chú ý, nhớ giả, nhớ nhầm, hồi ứcdồn dập.Cơ thể gầy sút, tăng thân nhiệt, mạch nhanh, ra nhiều mồ hôi.

7 triệu chứng phổ biến của trầm cảm: giảm sút sự tập trung chú ý; giảmsút tính tự trọng và lòng tin; những ý tưởng bị tội, không xứng đáng; nhìn vàotương lai thấy ảm đạm bi quan; ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát; rốiloạn giấc ngủ; ăn ít ngon miệng

Các triệu chứng cơ thể của trầm cảm: Một số các triệu chứng cơ thểthường gặp trong trầm cảm như: mất quan tâm ham thích những hoạt độngthường ngày gây thích thú; không có phản ứng cảm xúc với những sự kiện vàmôi trường xung quanh; thức giấc sớm ít nhất 2 giờ so với bình thường; Trầmcảm nặng đi đôi với hoang tưởng, ảo thanh mang tính chất buộc tội, sám hối,miệt thị, chê bai; chậm chạp tâm lý vận động hoặc kích động, có thể sững sờ;không ăn hoặc từ chối ăn uống; sút cân (thường lớn hơn hoặc bằng 5% trọng

Trang 17

lượng cơ thể so với tháng trước); mất dục năng rõ rệt, rối loạn kinh nguyệt ởphụ nữ; khám lâm sàng và cận lâm sàng thường không tìm thấy một bệnh cơthể nào giải thích được là nguyên nhân của các triệu chứng Đây là các lý do

mà bệnh nhân có rối loạn trầm cảm thường đi khám tại các chuyên khoa khác

mà không đi khám tại chuyên khoa tâm thần Do không được điều trị đúngnên các triệu chứng cơ thể ít thuyên giảm Khi bệnh nhân được điều trị bằngcác thuốc chống trầm cảm phù hợp, rối loạn trầm cảm và các triệu chứng cơthể thuyên giảm nhanh

1.1.7 Các công cụ sàng lọc

1.1.7.1 Thang trầm cảm BECK

Thang trầm cảm BECK(BDI) đã được giới thiệu vào năm 1961 và đã

trở thành một trong những thang đánh giá trầm cảm được sử dụng rộng rãi nhất.Đây là một thang tự đánh giá gồm 21 mục, mất khoảng 10 phút để hoàn thành.Thang này bao gồm một loạt các triệu chứng về cơ thể, nhận thức, cảm xúc, vàhành vi liên quan đến trầm cảm Thang có thể được sử dụng như một công cụsàng lọc và đã cho thấy giúp phân biệt được một cách hiệu quả những bệnh nhântrầm cảm và không trầm cảm Thang rất hữu ích để theo dõi đáp ứng điều trị,nhưng ít hiệu quả để đánh giá độ nặng của một giai đoạn trầm cảm

1.1.7.2 Thang đánh giá hưng cảm YOUNG (YMRS)

Thang đánh giá hưng cảm YOUNG(YMRS) là một thang đánh giá

đáng tin cậy được thực hiện bởi bác sỹ gồm 11 mục, được sử dụng để đánhgiá độ nặng của hưng cảm cho cả mục đích lâm sàng và nghiên cứu Thangđược cho điểm bởi người phỏng vấn dựa trên lời khai chủ quan của bệnhnhân, kết hợp với quan sát riêng của người phỏng vấn về hành vi của ngườibệnh trong quá trình phỏng vấn Các hạn chế chính của thang này đó là chỉđánh giá các triệu chứng hưng cảm (không có các mục đánh giá trầm cảm),khó thực hiện ở những bệnh nhân bị rối loạn tư duy nặng, và có thể không

Trang 18

nhạy cảm đối với các thể nhẹ của hưng cảm, như là hưng cảm nhẹ Tuy nhiên,thang này đã trở thành biện pháp đo lường chuẩn cho các thử nghiệm lâmsàng trong hưng cảm.

1.1.8 Phân loại rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (ICD-10), RLCXLC có đặcđiểm là những giai đoạn lặp đi lặp lại ít nhất 2 lần, trong đó các mức độ khísắc và hoạt động của bệnh nhân bị rối loạn đáng kể Điểm đặc trưng là bệnhthường hồi phục hoàn toàn giữa các giai đoạn

Tiêu chuẩn chung: lặp đi lặp lại những rối loạn khí sắc (ít nhất là hailần); trong đó khí sắc và hoạt động bị rối loạn đáng kể (hưng cảm hoặc trầmcảm, hưng cảm nhẹ hoặc hỗn hợp); thường phục hồi hoàn toàn giữa các giaiđoạn: phải có ít nhất trong tiền sử một giai đoạn hưng cảm nhẹ, hưng cảmhoặc hỗn hợp (nếu giai đoạn hiện tại là hưng cảm thì trong tiền sử có thể làtrầm cảm)

Tùy theo giai đoạn hiện tại để chẩn đoán phù hợp với một loại rối loạnkhí sắc đã được biệt định ở các thể sau

F31.0 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ

Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho hưng cảm nhẹ (F30.0).Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ,hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trước đây

F31.1 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm không cótriệu chứng loạn thần

Hiện tại phải có đầy đủ tiêu chuẩn của hưng cảm không có các triệuchứng loạn thần (F30.1)

Ít nhất có giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ, hưng cảm,trầm cảm hoặc hỗn hợp) trong quá khứ

Trang 19

F31.2 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hưng cảm có triệuchứng loạn thần.

Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của hưng cảm có cáctriệu chứng loạn thần (F30.2)

Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác (hưng cảm nhẹ,hưng cảm, trầm cảm hoặc hỗn hợp) trong quá khứ

F31.3 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc

vừa(không có triệu chứng cơ thể và có triệu chứng cơ thể)

Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầmcảm nhẹ hoặc vừa (F32; F32.1)

Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảmhoặc hỗn hợp trong quá khứ

F31.4 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không cócác triệu chứng loạn thần

Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của một giai đoạn trầmcảm nặng không có các triệu chứng loạn thần (F32.2)

Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảmhoặc hỗn hợp trong thời gian trước đây

F31.5 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện giai đoạn trầm cảm nặng có triệuchứng loạn thần

Giai đoạn hiện tại phải có đầy đủ các tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầmcảm nặng có các triệu chứng loạn thần (F32.3)

Phải có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm nhẹ, hưng cảmhoặc hỗn hợp trong quá khứ

F31.6 Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn hỗn hợp

Bệnh nhân có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc hưng cảm, hưngcảm nhẹ hoặc hỗn hợp trong quá khứ

Ngày đăng: 01/07/2016, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thase M. (2001). Clinical Aspects of Mood Disorders. Textbook Assignment Andreasen and black, Introductory Textbook of Psychiatry, 269-314 and 531-539 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TextbookAssignment Andreasen and black, Introductory Textbook of Psychiatry
Tác giả: Thase M
Năm: 2001
2. Vieta E Reinares M, Colom F (2006). What really matters to bipolar patient's caregivers: sources of family burden. J Affect Disord, 94, 157-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Affect Disord
Tác giả: Vieta E Reinares M, Colom F
Năm: 2006
3. Haykal RF Manning JS, Connor PD (1997). On the nature of depressive and anxious states in a family practice setting: the high prevalence of bipolar II and related disorders in cohort followed longitudinally. Compr Psychiatry, 32, 102-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Compr Psychiatry
Tác giả: Haykal RF Manning JS, Connor PD
Năm: 1997
4. Vieta E Marinez-Arán A, Colom F (2004). Cognitive impairment in euthymic bipolar patients: implications for clinical and functional outcome. Bipolar Disord, 6, 224-232 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bipolar Disord
Tác giả: Vieta E Marinez-Arán A, Colom F
Năm: 2004
5. McElroy SL Keck PE, Strakowski SM (1995). Outcome and comorbidity in first-episode compared with multiple episode mania. J Nerv Ment Dis, 183, 320-324 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JNerv Ment Dis
Tác giả: McElroy SL Keck PE, Strakowski SM
Năm: 1995
6. Nguyễn Viết Thiêm và Lã Thị Bưởi (2001). Rối loạn cảm xúc. Bài giảng dành cho sau Đại học- Bộ môn Tâm thần - Đại học Y Hà Nội , 51-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàigiảng dành cho sau Đại học- Bộ môn Tâm thần - Đại học Y Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Viết Thiêm và Lã Thị Bưởi
Năm: 2001
7. Trần Viết Nghị (2006). Rối loạn lưỡng cực. Hội thảo chuyên đề chẩn đoán và điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực năm 2006, 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo chuyên đề chẩnđoán và điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực năm 2006
Tác giả: Trần Viết Nghị
Năm: 2006
8. Học viện quân y - bộ môn tâm thần và tâm lý y học (2005). Các rối loạn khí sắc. Bệnh học tâm thần, 233-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học tâm thần
Tác giả: Học viện quân y - bộ môn tâm thần và tâm lý y học
Năm: 2005
9. Gelder M., Gath D. và Mayou R. (1988). Aetiology. Oxford Textbook of Psychiatry, oxford medical publications, 95-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Textbookof Psychiatry, oxford medical publications
Tác giả: Gelder M., Gath D. và Mayou R
Năm: 1988
10. American Psychiatric Association (1994). Mood disorders. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 318-390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnosticand Statistical Manual of Mental Disorders
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 1994
11. Isaac Schweitze và Gordon Parker (2001). Foundations of clinical psychiatry, 155-181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foundations of clinicalpsychiatry
Tác giả: Isaac Schweitze và Gordon Parker
Năm: 2001
12. Tổ chức y tế thế giới (1992). Rối loạn khí sắc. Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần các hành vi, 83-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại bệnh quốc tếlần thứ 10 về các rối loạn tâm thần các hành vi
Tác giả: Tổ chức y tế thế giới
Năm: 1992
13. Kaplan and sadock's (2005). Mood disorders. Concise textbook of clinican psychiatry, 173-210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concise textbook ofclinican psychiatry
Tác giả: Kaplan and sadock's
Năm: 2005
14. Tohen. M. and Angst (2002). epidemiology of Bipolar Disorder.Textbook in Psychiatric Epidemiology, p. 427-440 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Textbook in Psychiatric Epidemiology
Tác giả: Tohen. M. and Angst
Năm: 2002
15. Davé S Craddock N., and Greening J (2001). Association studies of bipolar disorder. Munksgaard,2001, Bipolar Disord 2001, 284-298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Munksgaard,2001
Tác giả: Davé S Craddock N., and Greening J
Năm: 2001
16. Trần Viết Nghị (2006). Rối loạn lưỡng cực Hội thảo chuyên đề chẩn đoán và điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực năm 2006, Trang 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo chuyên đề chẩnđoán và điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực năm 2006
Tác giả: Trần Viết Nghị
Năm: 2006
17. Cancro R. and Grebb J.A (1989). Schizophrenia: Clinical features.Comprehensive textbook of psychiatry, 4, William and Wilkins, Sydney, 757-777.752 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comprehensive textbook of psychiatry
Tác giả: Cancro R. and Grebb J.A
Năm: 1989
18. S. Marc Breedlove. Mark R. Ronenzweig., and Arnold L. Leiman (2004). Search for chemical transmitters. Biological Psychology, 88-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biological Psychology
Tác giả: S. Marc Breedlove. Mark R. Ronenzweig., and Arnold L. Leiman
Năm: 2004
19. Kaplan and sadock's (2005). Mood disorders. Concise textbook of clinican psychiatry, 9th edition, 173-210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concise textbook ofclinican psychiatry
Tác giả: Kaplan and sadock's
Năm: 2005
20. Schweitzer I. (1994). Mood Disorders. Foundations of clinical psychiatry, 128-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foundations of clinicalpsychiatry
Tác giả: Schweitzer I
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu - NGHIÊN cứu các yếu tố LIÊN QUAN THÚC đẩy tái PHÁT của rối LOẠN cảm xúc LƯỠNG cực ở BỆNH NHÂN điều TRỊ nội TRÚ tại VIỆN sức KHỎE tâm THẦN
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (Trang 28)
Bảng 3.3: Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu - NGHIÊN cứu các yếu tố LIÊN QUAN THÚC đẩy tái PHÁT của rối LOẠN cảm xúc LƯỠNG cực ở BỆNH NHÂN điều TRỊ nội TRÚ tại VIỆN sức KHỎE tâm THẦN
Bảng 3.3 Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 3.4: Phân bố các thể bệnh theo giới: - NGHIÊN cứu các yếu tố LIÊN QUAN THÚC đẩy tái PHÁT của rối LOẠN cảm xúc LƯỠNG cực ở BỆNH NHÂN điều TRỊ nội TRÚ tại VIỆN sức KHỎE tâm THẦN
Bảng 3.4 Phân bố các thể bệnh theo giới: (Trang 29)
Bảng 3.5: Phân bố tuổi, giới phát bệnh lần đầu - NGHIÊN cứu các yếu tố LIÊN QUAN THÚC đẩy tái PHÁT của rối LOẠN cảm xúc LƯỠNG cực ở BỆNH NHÂN điều TRỊ nội TRÚ tại VIỆN sức KHỎE tâm THẦN
Bảng 3.5 Phân bố tuổi, giới phát bệnh lần đầu (Trang 29)
Bảng 3.6: Tuổi giới tái phát bệnh lần thứ hai. - NGHIÊN cứu các yếu tố LIÊN QUAN THÚC đẩy tái PHÁT của rối LOẠN cảm xúc LƯỠNG cực ở BỆNH NHÂN điều TRỊ nội TRÚ tại VIỆN sức KHỎE tâm THẦN
Bảng 3.6 Tuổi giới tái phát bệnh lần thứ hai (Trang 30)
Bảng 3.13: Các yếu tố liên quan tới tái phát bệnh ở giai đoạn nghiên cứu. - NGHIÊN cứu các yếu tố LIÊN QUAN THÚC đẩy tái PHÁT của rối LOẠN cảm xúc LƯỠNG cực ở BỆNH NHÂN điều TRỊ nội TRÚ tại VIỆN sức KHỎE tâm THẦN
Bảng 3.13 Các yếu tố liên quan tới tái phát bệnh ở giai đoạn nghiên cứu (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w