1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan

69 463 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 436,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dịch vụ y tế là một loại hìnhdịch vụ rất đặc thù, người sử dụng dịch vụ sẽ biết ít thông tin về dịch vụ màmình được cung cấp mà bị lệ thuộc hoàn toàn vào người cung cấp dịch vụ.Người bện

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dịch vụ y tế là dịch vụ đặc biệt bao gồm các hoạt động của nhân viên y

tế như khám, chữa bệnh phuc vụ người bệnh và gia đình Trong dịch vụ nàythì người sử dụng dịch vụ (người bệnh) sẽ ít có khả năng đánh giá chất lượngdịch vụ một cách chính xác mà họ chỉ đánh giá qua sự chăm sóc của nhânviên y tế, qua trang thiết bị và cơ sở vật chất Dịch vụ y tế là một loại hìnhdịch vụ rất đặc thù, người sử dụng dịch vụ sẽ biết ít thông tin về dịch vụ màmình được cung cấp mà bị lệ thuộc hoàn toàn vào người cung cấp dịch vụ.Người bệnh phải thực hiện đầy đủ những yêu cầu của bác sĩ về phương phápđiều trị, thời gian điều trị và họ chỉ được lựa chọn nơi điều trị

Ở Việt Nam hiện nay, tình trạng quá tải ở các cơ sở y tế đặc biệt là cácbệnh viện đầu ngành đang trở nên rất phổ biến Theo báo cáo của viện chiếnlược và chính sách y tế,TLSD giường thường xuyên trên 100% và dao động

từ 120% đến 150%, thậm chí tới 200% ở một số bệnh viện lớn như BV BạchMai, BV K và BV Ung bướu TP Hồ Chí Minh[1] Dựa trên số liệu khảo sát,tình trạng quá đông người bệnh xuất hiện cả ở khu vực phòng khám lẫn khuvực điều trị nội trú: 2-3 người bệnh/1 giường, 1 bác sỹ phòng khám phảikhám 60 - 100 người bệnh/ngày là phổ biến Báo cáo đã chỉ ra rằng một trongnhững nguyên nhân chính gây ra quá tải là do nhu cầu chữa bệnh của ngườibệnh ngày càng tăng trong khi số giường bệnh và bác sĩ không tăng hoặc tăng

ít không đáp ứng đủ nhu cầu của người bệnh Hậu quả của quá tải trong các

cơ sở y tế là không đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cũng như sự

an toàn của người bệnh đặc biệt với các người bệnh là trẻ em, người già, phụ

nữ có thai Rất nhiều các trường hợp lây nhiễm chéo, nhiễm trùng bệnh viện

đã xảy ra do sự quá tải này Không những thế, do số lượng người bệnh quáđông nên thời gian khám cho từng người bệnh ở khoa khám bệnh không đượcđảm bảo Trước tình trạng này, Bộ Y tế đã đưa ra một số giải pháp chống quá

Trang 2

tải bệnh viện, trong đó có việc khuyến khích các cơ sở y tế làm việc vào ngàythứ 7, chủ nhật trong tuần và ngoài giờ hành chính[2] Nhiều bệnh viện đã bốtrí thêm ca trực, làm ngoài giờ để đáp ứng nhu cầu của người bệnh làm ảnhhưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế và chất lượng dịch vụ.

Bệnh viện Phổi Trung Ương là một bệnh viện đầu ngành về chuyênkhoa hô hấp Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầunăm 2013, quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013 là 500 giường.Côngsuất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là 108,9%[3] Các dịch vụchăm sóc sức khỏe theo yêu cầu sẽ giúp giảm bớt sự quá tải cho bệnh viện,tăng chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh, đảm bảo quyền và lợi ích chongười bệnh, mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn hơn trong việc khámchữa bệnh Nghiên cứu này nhằm cung cấp những bằng chứng giúp cho Ban Lãnhđạo và quản lý của Bệnh viện Phổi Trung Ương lập kế hoạch và triển khai cungcấp các loại hình dịch vụ theo yêu cầu này Để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của

người bệnh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu : “ Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ

y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương năm 2015

và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu

1 Mô tả mức độ nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương.

2 Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương.

Trang 3

Chương 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU CHƯƠNG 1 Khái quát về dịch vụ y tế theo yêu cầu

CHƯƠNG 2 Khái niệm và tính chất của dịch vụ y tế theo yêu cầu

Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sảnphẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việcchuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đờisống sinh hoạt của con người C Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nềnkinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏimột sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngàycàng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển"[5]

Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hànghóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình vànhững sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sảnphẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dịch vụ[4]

Dịch vụ y tế theo yêu cầu cũng là một loại dịch vụ Đây là một trongnhững loại dịch vụ phổ biến nhất trong xã hội nhằm cung cấp nhu cầu vềchăm sóc sức khỏe cho người dân nhưng nó cũng sẽ có một số điểm khác biệt

so với dịch vụ y tế, vì dịch vụ y tế theo yêu cầu sẽ phục vụ một bộ phận ngườibệnh và người nhà có yêu cầu được chăm sóc sức khỏe cao hơn so với bìnhthường Họ muốn được sử dụng trang thiết bị, thuốc men với chất lượng cao,muốn được khám và chữa bệnh bởi những bác sĩ mà họ được chọn lựa vớithời gian khám được họ lựa chọn … Đây là dẫn chứng của một số dịch vụ y tếtheo yêu cầu phổ biến

Dịch vụ y tế theo yêu cầu có một số tính chất sau

a, Tính không mất đi:

Sau khi cung ứng dịch vụ thì kĩ năng dịch vụ sẽ không bị mất đi Ví dụnhư là sau khi thực hiện xong một ca phẫu thuật thành công thì bác sĩ sẽ

Trang 4

không bị mất đi khả năng của mình Đây là một tính chất quan trọng thể hiệntính lâu dài và liên tục của dịch vụ y tế

b, Tính vô hình và phi vật chất :

Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ takhông thể cầm, nắm sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đolường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọnglượng giống như người bệnh không thể biết trước kết quả khám bệnh trướckhi đi khám bệnh

c, Tính không thể phân chia:

Qúa trình tiêu thụ và sản xuất ra dịch vụ diễn ra đồng thời Trong dịch

vụ y tế, phải luôn có sự đồng hành giữa người bệnh và người cung cấp dịch

vụ Hai nhóm này phải gắn bó tạo thành một khối thống nhất Người cungcấp phải luôn lắng nghe ý kiến của người bệnh để có thể hoàn thiện dịch vụcủa mình Người bệnh và gia đình phải tôn trọng và tuyệt đối tuân thủ nhữngyêu cầu của người cung cấp dịch vụ vì dịch vụ y tế là một loại hình dịch vụđặc biệt có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Khác với sản xuấtvật chất, sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêuthụ đặc biệt là dịch vụ y tế Đây là loại hình dịch vụ thiết yếu cần đảm bảotính liên tục và liên tục được cải tiến qua từng ngày

Dịch vụ y tế luôn phải được gắn bó với nguồn gốc của nó Ở đâynguồn gốc chính là người cung cấp dịch vụ có thể là bệnh viện hoặc một tổchức hợp pháp nào đó hoạt động trong ngành y tế Người cung cấp khôngchỉ cung cấp dịch vụ mà còn phải bảo đảm chất lượng dịch vụ phải tuân thủcác quy định của Bộ Y Tế cũng như thực thi đúng pháp luật Không nhữngthế, nước ta đang hòa nhập cùng với bạn bè quốc tế, các nhà cung cấp dịch

vụ còn phải luôn nâng cấp chất lượng dịch vụ, áp dụng những thành tựukhoa học mới nhất vào thực tiễn

d, Tính không ổn định và khó xác định chất lượng:

Trang 5

Chất lượng dịch vụ thường dao động trong một biên độ rất rộng, tùythuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địađiểm cung ứng phục vụ) Đây là một tính chất đặc thù của dịch vụ y tế.Người bệnh biết rất ít thông tin liên quan đến dịch vụ y tế phục vụ cho chínhbản thân họ Họ lựa chọn nơi để điều trị dựa trên rất nhiều nguồn thông tinkhác nhau như là theo danh tiếng của bệnh viện, theo lời khuyên của ngườibệnh khác hay người quen, thậm chí một số người bệnh hoàn cảnh khó khăncòn phải lựa chọn nơi điều trị theo mức viện phí mà họ có thể chi trả Ở một

số nơi hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhiều người bệnh sử dụng các dịch vụ y

tế tại địa phương mặc dù những nơi khám chữa bệnh cho họ có trang thiết bịnghèo nàn, tay nghề bác sĩ chưa cao dẫn đến nhiều trường hợp người bệnhđiều trị chưa dứt điểm được bệnh, đến lúc đưa lên tuyến trên thì bệnh đã cónhiều biến chứng Nhiều nơi có trình độ văn hóa lạc hậu, vùng đồi núi cáchbệnh viện hay trạm xá đến mấy quả đồi, nhiều người đã không đến bệnhviện hay trạm xá mà lại tin tưởng các thầy cúng dẫn để chữa bệnh mang lạinhững ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người bệnh Các thí dụ trên chothấy hoàn cảnh tạo ra dịch vụ y tế đóng vai trò thiết yếu đến chất lượng dịchvụ

e, Dịch vụ không thể lưu giữ được:

Cũng giống như các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế không thể lưu giữđược Chúng ta không thể mua các dịch vụ y tế như khám chữa bệnh rồi đểdành lúc nào cần thì dùng Đặc điểm này không phải là vấn đề quá lớn nếunhu cầu là ổn định và có thể dự báo trước như là vào mùa nóng thì các bệnhtruyền nhiễm như sốt rét, sốt siêu vi trùng … tăng đột biến nên nhu cầu vềthuốc và dịch vụ y tế liên quan đến các bệnh này sẽ tăng rõ rệt Nhưng thựctiễn nhu cầu dịch vụ y tế thường không ổn định, luôn dao động nên nhà cungứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ

sở vật chất kỹ thuật Do vậy nhà cung cấp dịch vụ y tế cần phải nghiên cứu

Trang 6

thật cẩn thận nhu cầu về dịch vụ để cân đối được vấn đề sử dụng các nguồnlực sao cho hợp lí, tránh lãng phí.

f, Dịch vụ y tế cần đến hàm lượng chất xám rất lớn:

Đây là lợi thế cũng như trở ngại lớn nhất cho những người làm trongngành y tế Do là một công việc đặc thù liên quan đến sức khỏe con ngườinên việc tuyển chọn nhân lực rất khắt khe Không chỉ phải có năng lựcchuyên môn, những người làm nghề y cần có lòng thương người như Bác Hồ

đã có lời tuyên dương với ngành y: “Lương y như từ mẫu“ Ngành Y làngành rất vinh quang nhưng đi kèm với nó là trách nhiệm Trách nhiệm vớisức khỏe người bệnh, trách nhiệm với xã hội, hơn thế nữa là trách nhiệm vớilương tâm của người thầy thuốc Tuy nhiên để thu hút những cá nhân ưu tútham gia vào sự nghiệp cứu người thì các nhà cung cấp dịch vụ y tế cần cóchế độ đãi ngộ hợp lí để những người thầy thuốc có thể an tâm hành nghề

CHƯƠNG 3 Khái niệm về nhu cầu và phương pháp nghiên cứu xác định nhu cầu CSSK

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mongmuốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và pháttriển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh

lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.

Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhậnđược Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấpbách thì khả năng chi phối con người càng cao

Trang 7

Nhu cầu có các đặc điểm sau :+ Không ổn định, luôn biến đổi theo từng hoàn cảnh

+ Năng động thích nghi với hoàn cảnh

+ Không bao giờ thỏa mãn một lúc nhiều nhu cầu

+ Nhu cầu không bao giờ có giới hạn

- Phương pháp nghiên cứu xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe là cách thứctiến hành những nghiên cứu tìm hiểu về những yêu cầu và nguyện vọngngười dân vềcác nhu cầu chăm sóc sức khỏe như nhu cầu về khám chữabệnh, nhu cầu sử dụng thuốc chất lượng cao …

- Nghiên cứu xác định nhu cầu chăm sóc sức khỏe là một loại hình nghiêncứu rất phổ biến, mang tính thực tế cao, đem lại nhiều ích lợi cho người sửdụng dịch vụ y tế cũng như người cung cấp dịch vụ y tế Nhờ có ý kiến,phản hồi từ người dân mà người cung cấp dịch vụ có thể hoàn thiên vànâng cao chất lượng của các loại hình chăm sóc sức khỏe, cung cấp đầy đủ

và kịp thời những nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của người dân

1.1.3 Nguồn gốc, phân loại và lợi ích của các dịch vụ y tế theo yêu cầu :

Trong những năm qua do có chính sách mở cửa và cải cách đến từngành y tế, nền y tế Việt Nam ngày càng phát triển Sau đây là một số biếnđổi rõ nét

+ Phân hóa trong thu nhập, khiến nhu cầu về dịch vụ y tế cũng phânhóa Thu nhập bình quân tăng, khiến yêu cầu về chất lượng dịch vụ y tế, đặcbiệt là chất lượng của cơ sở vật chất nâng cao Người bệnh mong muốn khôngchỉ thầy thuốc giỏi mà họ còn muốn được sử dụng những trang thiết bị, cáctiện nghi khác như điều hòa nhiệt đồ, ti vi, tủ lạnh …

+ Bệnh viện công lập chuyển từ không thu viện phí sang thu một phầnhoặc thu đủ viện phí rồi một số nơi có khuynh hướng tiến đến tự chủ hoàntoàn về kinh tế để đảm bảo nguồn ngân sách ổn định cho bệnh viện Do khôngcòn là dịch vụ miễn phí nên yêu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ y tế

Trang 8

cũng tăng lên, người bệnh chấp nhân trả tiền viện phí nên họ có quyền đượchưởng dịch vụ có chất lượng tốt nhất Việc tự chủ về kinh tế giúp giảm lệthuộc vào ngân sách cùa nhà nước nhưng cũng là thử thách rất lớn cho cácbệnh viện Bệnh nhân là người sử dụng các dịch vụ y tế, họ có quyền lựa chọn

và sử dụng dịch vụ ở những nơi mà họ cho là có chất lượng tốt nhất, phù hợpvới hoàn cảnh cũng như điều kiện kinh tế của họ Nếu các bệnh viện khôngthường xuyên nâng cao tay nghề bác sĩ cũng như nâng cấp cơ sở vật chất thì

có thể xảy ra hiện tượng mất cân bằng thu-chi trong bệnh viện

+ Cơ sở y tế tư nhân ngày càng phát triển, các bệnh viện tư xuất hiệncàng nhiều Các bệnh viện tư với lợi thế về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộtốt đã thu hút được rất nhiều bác sĩ có tay nghề cao Hơn thế nữa, khi dân sốtăng lên nên nhu cầu về dịch vụ y tế ngày càng lớn mà các cơ sở y tế của nhànước không phát triển đáp ứng đủ nhu cầu này dẫn đến thực trạng quá tải chocác cơ sở y tế công lập đặc biệt là tuyến trung ương Các cơ sở y tế tư nhân đãxuất hiện và giải quyết một phần bài toán này Một số người bệnh có điềukiện đã lựa chọn khám chữa bệnh ở nước ngoài Điều này cho thấy ngườibệnh ngày càng có nhiều sự lựa chọn Họ có quyền lựa chọn nhũng dịch vụtốt và phù hợp nhất với họ

Trên thực tế hiện nay có rất nhiều dịch vụ y tế theo yêu cầu đã đượcthực hiện và đã có những kết quả đáng kể Sau đây em xin giới thiệu một vàidịch vụ y tế theo yêu cầu Đó là dịch vụ chữa bệnh và dịch vụ người chămsóc hộ của người bệnh

A, Dịch vụ chữa bệnh của người bệnh:

Cũng như các bệnh viện tuyến trung ương khác, hàng năm bệnh việnPhổi trung ương có hàng ngàn lượt người bệnh đến khám và điều trị Dovậy, tình trạng quá tải đã xảy ra thường xuyên ở khu vực khám bệnh cũngnhư khu vực nội trú, việc 2-3 người bệnh/1 giường bệnh đã trở nên phổ biếntại bệnh viện Nguyên nhân của tình trạng này là do sự tin tưởng của người

Trang 9

bệnh vào uy tín và chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện Không chỉngười bệnh ở Hà Nội mà người bệnh ở các khu vực phía Bắc cũng cố gắngđến bệnh viện để khám và điều trị Nhu cầu của người bệnh ngày càng lớntrong khi số giường bệnh và bác sĩ tăng ít dẫn đến không đáp ứng đủ nhucầu của người bệnh Điều này dẫn đến rất nhiều hệ quả không tốt cho ngườibệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện Việc quá tải khiến cho chấtlượng dịch vụ khám chữa bệnh không được đảm bảo do có quá đông ngườibệnh nên thời gian khám của từng người bệnh sẽ rút ngắn lại Do đặc thù củacác bệnh liên quan đến đường hô hấp, nếu tập trung nhiều người bệnh tạimột địa điểm thì việc lây nhiễm chéo là hoàn toàn có thể xảy ra ảnh hưởngtiêu cực đến sức khỏe của người bệnh đặc biệt là người già, trẻ em, ngườitàn tật và phụ nữ có thai Nhu cầu của người bệnh quá lớn nên bệnh việnphải bố trí thêm ca trực, làm ngoài giờ ảnh hưởng đến sức khỏe của nhânviên y tế Không những thế, việc đứng xếp hàng quá lâu của người bệnh haylàm việc dưới áp lực cao của bác sĩ khiến cho cả người bệnh và bác sĩ đềumệt mỏi và căng thẳng.

Ngày nay, nước ta đang hòa nhập và mở cửa với thế giới, ngành y tếcũng không ngoại lệ Bệnh viện tư xuất hiện càng nhiều, một số ngườibệnhcòn lựa chọn ra nước ngoài để khám chữa bệnh Người bệnh càng ngàycàng có nhiều sự lựa chọn để sử dụng các dịch vụ y tế Tiêu chí để lựa chon củangười bệnh không chỉ là năng lực điều trị của bác sĩ mà còn ở trang thiết bị, cơ

sở vật chất của cơ sở y tế Nhu cầu này đặc biệt rõ rệt ở các người bệnh-nhữngngười phải ở tại bệnh viện lâu dài Dịch vụ chữa bệnh theo yêu cầu sẽ giải quyếtmột phần cho nhu cầu này

Dịch vụ chữa bệnh theo yều cầu bao gồm dịch vụ lựa chọn bác sĩ, lựachọn thời gian chữa bệnh và làm các thủ thuật, lựa chon kĩ thuật công nghệcao , lựa chọn thuốc và vật tư tiêu hao chất lượng cao

Trang 10

Dịch vụ này như tên gọi mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn

về bac sĩ sẽ điều trị cho họ Người bệnh hoàn toàn có thể dựa trên học vị hay

sự giới thiệu của người quen để lựa chọn bác sĩ mà họ tin tưởng Dịch vụnày thể hiện sự dân chủ và khách quan trong quá trình khám chữa bệnh vớiphương châm lấy người bệnh làm trung tâm Đây là dịch vụ đã được ápdụng vào thực tế tại rất nhiều bệnh viện lớn và đã được nhiều kết quả mangtính khả quan

b. Dịch vụ lựa chọn thời gian chữa bệnh và tiến hành thủ thuật:

Trong thời buổi kinh tế thị trường, thời gian là vàng bạc Trên thực tế,

để được khám và tiến hành thủ thuật, người bệnh sẽ phải đứng xếp hàng rấtlâu Sự quá tải của bệnh viện đã khiến cho người bệnh mất rất nhiều thờigian để chờ đợi Điều này gây thiệt hại rất lớn cho người bệnh về tiền bac,sức khỏe và cả tâm lí Dịch vụ lựa chon thời gian sẽ giúp giải quyết mộtphần sự quá tải đó Người bệnh có thể chủ động đặt lịch hẹn khám và tiếnhành thủ thuật với bác sĩ và đến đúng thời gian hẹn thì người bệnh đến khám

và thực hiện thủ thuật Dịch vụ này giúp giảm các tiêu cực trong bệnh viện

và sẽ giúp người bệnhthoải mái về tâm lí, giảm thiệt hại về thời gian, côngviệc …

chất lượng cao:

Y tế là một trong những ngành được chính phủ và nhà nước quan tâmđặc biệt Do đó ngành y tế trong những năm vừa qua đã có những bước tiếnvượt bậc, tiếp thu được rất nhiều thành tựu công nghệ tiên tiến nhất từ bạn

bè quốc tế Những người được hưởng lợi nhiều nhất từ những thành quả đóchính làngười bệnh Họ càng ngày càng có nhiều sự lựa chọn Trong số đó,dịch vụ lựa chon kĩ thuật công nghệ cao cũng như thuốc và vật tư chất lượngcao giúp người bệnh tùy vào hoàn cảnh có thế lựa chọn cho họ những kĩthuật, thuốc và vật tư phù hợp nhất Hiện nay trên thị trường trôi nổi rất

Trang 11

nhiều thuốc và vật tư được quảng cáo đến từ nước ngoài nhưng thực chấtchúng không rõ xuất xứ với chất lượng kém Dịch vụ này sẽ giúp ngườibệnh an tâm về chất lượng và giá cả của thuốc và vật tư chất lượng cao.

B Dịch vụ người chăm sóc hộ đối với người bệnh:

Xã hội ngày nay bận rộn hơn bao giờ hết Khi trong gia đình có mộtngười thân phải điều trị trong bệnh viện, thì tất cả các thành viên trong giađình đều phải có trách nhiệm chăm sóc người ốm Họ phải chia nhau thờigian để trông nom, chăm sóc người ốm Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thờigian, công việc, sức khỏe của người nhà người bệnh Dịch vụ người chămsóc hộ đối với người bệnh sẽ giúp giải quyết một phần vấn đề này Dịch vụnày sẽ cung cấp cho người nhà người bệnh nhiều sự lựa chọn về nguồn gốcngười chăm sóc, tuổi của người chăm sóc, trình độ của người chăm sóc.Không những thế, bạn có thể lựa chọn thời gian của người chăm sóc, có thểchăm sóc bán thời gian hoặc cả ngày, cách ngày hoặc cả tuần Những ngườichăm sóc hộ sẽ giúp chăm sóc người bệnh những công việc hàng ngày như

ăn uống, tắm rửa, vệ sinh sạch sẽ, giúp đỡ người bệnh đi lại

CHƯƠNG 4 Một số nghiên cứu về dịch vụ y tế trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài :

- Shipman C & Dale J (1996) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹđối với nhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâmsinh lý và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh 66% các yêu cầu khámbệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý và xãhội và 10.7% các trường hợp là không xác định được mối liên quan [6]

- Salisbury (2002) xem xét các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ khámbệnh ngoài giờ của bác sỹ ở nước Anh cho thấy tất cả các dịch vụ ngoài giờđều tính thêm chi phí gia tăng ( night visit fees), mức tăng tùy thuộc vào từngkhu vực, trình độ của bác sĩ [7]

Trang 12

- Kajal & Guibo (2003) tiến hành nghiên cứu phân tích nhu cầu dịch vụchăm sóc sức khỏe ngoại viện của các cựu chiến binh được hỗ trợ bởiMedicare phát hiện rằng số tiền chênh lệch sau khi được Medicare hỗ trợ vàkhoảng cách từ nhà đến bệnh viện làm giảm khả năng lựa chọn dịch vụ chămsóc ngoại viện Một số yếu tố khác như thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phươngtiện đi lại, công việc, sức khỏe và tình trạng các chẩn đoán cũng ảnh hưởngđến quyết định lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện [8]

- Eric và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu về nhu cầu khám, chămsóc và điều trị ngoài giờ trong dịch vụ khám bệnh và cấp cứu ở Hà Lan thấyrằng bác sỹ tiếp nhận 88% thăm khám ngoài giờ, trong khi đó bộ phận cấpcứu chỉ phải tiếp nhận 12% các dịch vụ này Phần lớn các nhu cầu khámngoài giờ của các đối tượng nam giới trưởng thành là các chấn thương, trong

đó có 19% là các chấn thương gẫy xương [9]

1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

-Trần Thanh Long ( 2011) đã tiến hành khảo sát nhu cầu về dịch vụchăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người sử dụng dịch vụ tại BệnhViện Đại Học Y Hà Nội Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đã từng khám tại bệnhviện chiếm tỷ lệ cao nhất ở nhóm người đến khám bệnh (57,5%) và thấp nhất

ở nhóm người bệnh ngoại trú (14,5%) Phần lớn người bệnh đều cho rằngbệnh viện nên và rất nên triển khai dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại nhà, trong

đó khám ngày Thứ 7 & Chủ nhật và ngoài giờ ngày thường có tỷ lệ cao nhất(72,9% & 18,5% và 72,9% & 14,7%) Đối với người bệnh ngoại trú, hầu hếtngười bệnh ngoại trú đều cho rằng bệnh viện nên triển khai dịch vụ CSSKngoài giờ và tại nhà, trong đó khám ngoài giờ ngày thường và buổi chiềungày thường có tỷ lệ cao nhất (62,1% & 9,9% và 62,7% & 12,5%).[10]

-Hoàng Văn Minh và Kim Bảo Giang nghiên cứu về tỷ lệ hiệnmắc, mô hình sử dụng dịch vụ y tế và chi phí điều trị một số bệnh mạn tínhcủa người dân Thành phố Hà Đông, Hà Nội năm 2009 Kết quả cho thấy tỉ lệ

Trang 13

hiện mắc của bệnh mãn tính rất cao là 28.7% Trong lần gần đây nhất có nhucầu chăm sóc, điều trị, phần lớn (57,8%) những người mắc bệnh mạn tính đã

tự điều trị tại nhà, 17.8 % người bệnh đến bệnh viện tỉnh, 11,4 % người bệnhđến bệnh viện tuyến TƯ [11]

-Theo Báo Cáo về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tếtuyến xã tại tỉnh Điện Biên của UNICEF, Tỷ lệ người được hỏi đánh giá thái

độ của cán bộ y tế xã ở mức quan tâm chu đáo khi cung cấp dịch vụ KCBchiếm 74,0% Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đánh giá nhân viên y tế có thái độquan tâm chu đáo khi cung cấp dịch vụ khám thai chiếm 73,8%, khi cung cấpdịch vụ CSBMTE trong và sau sinh chiếm 68,5%, khi cung cấp dịch vụ tiêmchủng chiếm 73,5% Phần lớn người sử dụng dịch vụ đánh giá chất lượng của

5 dịch vụ cung cấp bởi trạm y tế ở mức khá và tốt Có rất ít người đánh giáchất lượng dịch vụ ở mức kém hoặc trung bình Tỷ lệ người sử dụng dịch vụđánh giá chất lượng dịch vụ ở mức tốt đối với dịch vụ KCB chiếm 65,0%, đốivới dịch vụ khám thai chiếm 70,8%, đối với dịch vụ CSSKBMTE trong vàsau sinh chiếm 57,3%, đối với dịch vụ tiêm chủng chiếm 72,6% [12]

-Bùi Thùy Dương (2010) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhu cầuchăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người bệnh và người nhà ngườibệnh tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy người bệnh và ngườinhà người bệnh đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ và tạinhà (53.3% - 90.3%), nhất là dịch vụ khám vào ngày thứ 7 và chủ nhật.[13]

CHƯƠNG 5 Thông tin về Bệnh viện Phổi Trung Ương

CHƯƠNG 6 Thông tin chung về bệnh viện

Bệnh viện Phổi Trung ương tiền thân là Viện Chống Lao Trung Ương,được thành lập ngày 26/4/1957 theo Nghị định số 273/TTg của Thủ tướngChính phủ Đây là một trong những viện nghiên cứu được thành lập sớm nhấtcủa ngành Y tế Viện có nhiệm vụ nghiên cứu về bệnh lao, chữa cho ngườibệnh lao tại Viện và điều trị ngoại trú, tổ chức an dưỡng cho người bệnh lao,

Trang 14

phát hiện bệnh lao trong cộng đồng, giáo dục ý thức về phòng lao và đào tạocán bộ chuyên khoa

Từ khi thành lập tới nay Viện đã có 3 lần đổi tên phù hợp với chứcnăng nhiệm vụ theo từng giai đoạn Năm 1985, Viện được đổi tên thành ViệnLao và Bệnh Phổi đảm nhận nhiệm vụ rộng hơn, là Viện chuyên khoa đầungành về Lao và Bệnh Phổi

Năm 2003, Viện đổi tên lại là Bệnh viện Lao và Bệnh phổi TrungƯơng Cơ chế hoạt động đã chuyển từ Viện nghiên cứu có giường bệnh sangbệnh viện chuyên khoa cao nhất của cả nước về Lao và Bệnh phổi

Năm 2009, để phù hợp với nhiệm vụ mới với mục đích tập trung nghiêncứu sâu hơn và toàn diện hơn về các bệnh phổi, bệnh viện đổi tên thành Bệnh việnPhổi Trung ương, là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế theo quyếtđịnh số 4449/QĐ-BYT ngày 13/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế Bệnh viện PhổiTrung ương là bệnh viện chuyên khoa tuyến cao nhất về Lao và Bệnh phổi Bệnhviện là đơn vị thường trực điều hành và là đầu mối hợp tác quốc tế của Dự ánphòng chống lao, Chương trình chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em, và là

cơ sở thực hành đào tạo đại học và sau đại học trong lĩnh vực chuyên khoa [15]

1.3.2 Mục tiêu của bệnh viện

1 Tăng cường các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng: Ápdụng các kỹ thuật phát hiện sớm bệnh lao, quản lý tốt và điều trị ngoại trú cóhiệu quả, phát hiện sớm các bệnh phổi như ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽnmãn tính, bệnh hen phế quản Xây dựng đường lối chiến lược hướng dẫn,chẩn đoán và điều trị phòng bệnh thống nhất trên toàn quốc những bệnh lao

và bệnh phổi ngoài lao

2 Triển khai các kỹ thuật mũi nhọn về chẩn đoán, điều trị và phụchồi chức năng

3 Quản lý theo dõi sức khoẻ thực hiện các kỹ thuật phục hồi chức năng

cho người bệnh sau điều trị nội ngoại khoa trong bệnh viện [18]

Trang 15

CHƯƠNG 7 Sơ lược về quá trình khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầu năm

2013, hoạt động khám, chữa bệnh của bệnh viện vẫn được duy trì với chất lượngcao mặc dù số người bệnh điều trị nội trú nhiều, công suất sử dụng giường bệnh

ở mức cao Đặc biệt là ở một số khoa tình trạng quá tải cũng thường xuyênxảy ra tại khu vực điều trị như: khoa Lao, Bệnh Màng phổi, khoa Ung bướuvới tỉ lệ quá tải từ 130 – 150%.Quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013

là 500 giường, công suất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là108,9% tăng 2,1% so với 6 tháng đầu năm 2012 So sánh với số liệu của 6tháng đầu năm 2012 cho thấy hoạt động khám bệnh nói chung của bệnh viện khátốt với số lần khám bệnh tăng 2,5%, Số người khám bệnh tăng 4,5%, Số xétnghiệm theo dõi chức năng hô hấp giảm 6,6 %, Số XN Sinh hóa giảm 1,4%, Số

XN chụp phim thường quy giảm 5,1%, Số XN Siêu âm giảm 6,0% Nguyênnhân của vấn đề này có thể là do nhu cầu khám chữa bệnh của người dânngày càng cao, khả năng tiếp cận các dịch vụ ở tuyến trên dễ dàng hơn (dogiao thông được cải thiện, mức thu nhập tăng, số người có thu nhập cao tănglên), ngoài ra mức viện phí giữa bệnh viện các tuyến chênh nhau không nhiềunên người dân dồn vào các tuyến trên [14]

Hoạt động khám bệnh là một chuỗi các công việc diễn ra tại khoaKhám bệnh và có liên quan đến nhiều đơn vị trong bệnh viện như bộ phận thuviện phí, các phòng XN và bộ phận đón tiếp người bệnh nhập viện Khoakhám bệnh có nhiệm vụ tiếp nhận người bệnh, khám bệnh, làm các thủ tụcnhập viện, điều trị ngoại trú Đây là nơi đầu tiên người bệnh tiếp cận với bệnhviện, cũng là nơi có ảnh hưởng nhiều nhất đến tâm lý của người bệnh, gópphần quan trọng tác động đến chất lượng điều trị, chăm sóc, chẩn đoán đúng,sát bệnh Nếu chỉ định xét nghiệm đúng sẽ tiết kiệm chi phí cho người bệnh.Nếu khám bệnh đúng thì sẽ tiết kiệm thời gian cho người bệnh Về nhân lực

Trang 16

phục vụ cho hoạt động khám bệnh, trong 6 tháng đầu năm 2013, bệnh việnvẫn duy trì 06 phòng khám chuyên khoa với 05 bác sĩ, 14 điều dưỡng Bộphận thu viện phí có 09 nhân viên làm việc tại 12 cửa phục vụ Các cửa đượcphân chia rõ ràng từ cửa số 1 đến cửa số 3 phục vụ người bệnh có BHYT, từcửa số 4 đến cửa số 6 phục vụ người bệnh đến khám tự nguyện, từ cửa số 7đến cửa số 9 phục vụ người bệnh nhập viện, từ cửa số 10 đến cửa số 12 phục

vụ người bệnh thanh toán ra viện, đóng dấu XN

CHƯƠNG 8 Các văn bản pháp luật liên quan tới chăm sóc sức khỏe

Luật Khám bệnh, chữa bệnh (Luật số 40/2009/QH12) đã được Quốchội khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 Luật nàygồm 9 chương và 91 điều Đây là đạo luật đầu tiên về khám bệnh, chữa bệnhbảo đảm, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bệnh, Nâng cao chất

Trang 17

lượng khám bệnh, chữa bệnh, Giảm phiền hà cho người bệnh, Xác định nềntảng cho sự phát triển y học thực chứng vì quyền lợi của người bệnh, và là cơ

sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người bệnh với người hành nghề và

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Điều 43 về điều kiện cấp giấy phép hoạt độngđối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với phòng khám chuyên khoa hoặcbác sỹ gia đình thì phải đủ các điều kiện sau:

• Đáp ứng các quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành

• Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn

• Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh,chữa bệnh phải có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 36tháng

• Và có chuyên môn phù hợp với loại hình hành nghề [16]

Thông tư số 30/TT-BYT, ngày 23/12/1987 quy định về tổ chức khámbệnh ngoài giờ có quản lý đã đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh củanhân dân, giảm bớt số người bệnh nằm viện, mở rộng việc chữa bệnh ngoạitrú, giảm số người bệnh phải chờ đợi ở phòng khám, những người có khảnăng mua thuốc theo đơn thầy thuốc tự trả tiền và cải thiện một cách chínhđáng, hợp lý cho cán bộ ngành y tế với các nội dung sau:

- Khám và chữa tất cả các chuyên khoa

- Phẫu thuật thì hạn chế trong mức độ tiểu phẫu thuật

- Các dịch vụ kỹ thuật khác (như nạo thai, hút điều hoà kinh nguyệt, đặtvòng, truyền dịch) hoặc các phẫu thuật khác như nạo V.A, cắt Amiđan kể cảcác phẫu thuật cao hơn cũng có thể làm nhưng phải có giấy phép đặc biệt của

Sở Y tế và ý kiến chủ nhiệm khoa bệnh viện tỉnh thuộc chuyên khoa đó củađịa phương đồng ý Mục đích là để phát triển chữa ngoại trú nhưng phải bảođảm điều kiện chất lượng về cán bộ cũng như cơ sở vật chất

Trang 18

- Các dịch vụ thuộc chức năng điều dưỡng, kỹ thuật viên được khuyếnkhích thực hiện tại nhà và ngay cả trong bệnh viện nhưng đều có quản lý và

có quy định theo hợp đồng cụ thể với nhân dân Ví dụ: Đo huyết áp tại nhà,tiêm tại nhà, xoa bóp bấm huyệt tại nhà, thay băng, săn sóc bổ sung tại bệnhviện ngoài giờ, hướng dẫn tập luyện tại nhà v.v

- Các hợp đồng quản lý sức khoẻ có thù lao theo chế độ thầy thuốcriêng, điều dưỡng riêng cũng được khuyến khích

Không được phép làm các dịch vụ ngoài 5 điều quy định trên đây [17]

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 12/05/2015 đến ngày 19/05/2015tại Bệnh viện Phổi Trung Ương

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.1.Tiêu chuẩn lựa chọn

Người bệnh đang điều trị tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

2.3.2.Tiêu chuẩn loại trừ

- Những người không đồng ý tham gia vào nghiên cứu sau khi đượcgiải thích rõ mục đích và mục tiêu của nghiên cứu

- Người bệnh sức khỏe yếu, không có khả năng tự điền phiếu trả lời

n: cỡ mẫu cần thiết

α: Mức ý nghĩa thống kê (Chọn a = 0,05 ứng với độ tin cậy 95% thayvào bảng ta được Z(1 – α/2) = 1,96)

p = 0,5: ước tính tỷ lệ nhu cầu về dịch vụ y tế theo yêu cầu là 50%

e = 0,1 sai số mong muốn giữa mẫu nghiên cứu và quần thể

Thay vào công thức ta được: n = 384

Trang 20

Áp dụng công thức hiệu chỉnh cỡ mẫu cho quần thể hữu hạn:

n1= n.N/(n+N)Trong đó:

n1: cỡ mẫu được rút ra từ quần thể này

n: cỡ mẫu tính theo quần thể vô hạn(n=384)

N: tổng số NB trong thời gian nghiên cứu (N=800)

Thay vào công thức ta được: n1 = 260

Trên thực tế tổng số mẫu nghiên cứu là 283

Cách chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Trong thời gian

từ ngày 12/05 đến ngày 19/05, ta phát phiếu tự điền đến các khoa phòng lâmsàng trong bệnh viên và thu lại phiếu trả lời của người bệnh cho đến khi đủ cỡmẫu

2.5.Biến số và chỉ số

thu thập

Kỹ thuật thu thập

Loại biến Mục tiêu 1: Mô tả mức độ sử dụng về dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

Nhu cầu về lựa chọn

bác sĩ

1:Có 2:Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

Các khâu để lựa chọn

bác sĩ

1:Điều trị tạibuồng

2:Phẫuthuật/thủ thật

Bộ câuhỏi

Phỏng vấngiántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Danhmục

Cơ sở để lựa chọn bác

1: theo trình độbác sĩ

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câu

Danh mục

Trang 21

Biến số Định nghĩa Công cụ

thu thập

Kỹ thuật thu thập

Loại biến

2:theo l/khuyêncủa người quen3:theo l/khuyênn/viên y tế4:theo chi phí

hỏi tự trả lời

Nhu cầu về lựa chọn

thời gian chữa bệnh

1: Có 2: Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

Nhu cầu về sử dụng kĩ

thuật cao hơn so với

quy định

1: Có 2: Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

Nhu cầu về sử dụng

thuốc chất lượng cao

1: Có 2: Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

Nhu cầu về vật tư tiêu

hao chất lượng cao

1: Có 2: Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

Nhu cầu về người

chăm sóc hộ

1: Có 2: Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

Yêu cầu về trình độ

người chăm sóc hộ

1:lao động đãqua đào tạo2:điều dưỡng

sơ cấp3:điều dưỡngtrung cấp

4:tùy bệnh viện

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Thứhạng

Yêu cầu về tuổi người

chăm sóc hộ

1:20-30 tuổi2:>30-45 tuổi3:>45-55 tuổi4:tùy bệnh viện

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Thứhạng

Trang 22

Biến số Định nghĩa Công cụ

thu thập

Kỹ thuật thu thập

Loại biến

Yêu cầu về giới tính

người chăm sóc hộ

1:nam2:nữ3:tùy bệnh viện

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Danhmục

Yêu cầu về công việc

của người chăm sóc

hộ

1:Ăn uống2:đi vệ sinh3:tắm rửa4:đấmlưng,bóp taychân…

5:hỗ trợ đi lại

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Danhmục

Yêu cầu về thời gian

chăm sóc hàng ngày

1: Có 2: Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Thứhạng

Mục tiêu 2: Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

* Một số thông tin chung về người bệnh

hỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

2:Nữ

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Rời rạc

Trình độ học vấn 1:Cấp 1.2

2:Cấp 33:CĐ, ĐH trởlên

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Thứhạng

Nghề nghiệp 1:học sinh,sinh

viên2:công chức,viên chức

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Danhmục

Trang 23

Biến số Định nghĩa Công cụ

thu thập

Kỹ thuật thu thập

Loại biến

3:d/n ngoàicông lập

4:Công nhân,nông dân

5:Hưu tríThu nhập bình quân

đầu người của gia

đình

1:<5 triệu2:5-10triệu/tháng3:>10-15 triệu/

tháng3:>15triệu/tháng

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Thứhạng

Khoảng cách từ nhà

đến Bệnh viện

1:<5km2:5-10 km3:>10-15 km4:>15km

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Thứhạng

Bảo hiểm y tế 1: Có

2: Không

Bộ câuhỏi

Phỏng vấn giántiếp qua bộ câuhỏi tự trả lời

Nhịphân

2.6.Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

Số liệu sẽ được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn gián tiếp qua bộcâu hỏi tự trả lời

2.7 Quy trình thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi tự điền được soạn thảo và góp ý trực tiếp từ thầy Lê Văn Hợi.Sau khi được sự đồng ý của Ban Giám Đốc Bệnh Viện Phổi Trung Ương, bộcâu hỏi sẽ được chuyển đến các khoa lâm sàng và được phát tận tay đến người

bệnh Cuối cùng, các phiếu trả lời được tập hợp lại, làm sạch và xử lí số liệu 2.8 Sai số và cách khống chế sai số

Trang 24

Nhằm tránh một số sai số có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu: sai số nhớ lại, sai số thu thập thông tin, sai số không trả lời ta tiến hành một số biện pháp sau:

- Sai số nhớ lại: Thiết kế bộ câu hỏi chuẩn và giám sát hoạt động trongsuốt quá trình điều tra phiếu

- Sai số thu thập thông tin: Phỏng vấn thử và hoàn thiện bộ câu hỏitrước khi tiến hành nghiên cứu

- Sai số không trả lời: Hướng dẫn cho người được phỏng vấn mục đíchnghiên cứu, động viên đối tượng hợp tác nghiên cứu

2.9.Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

Số liệu sau khi được thu thập làm sạch và nhập vào máy tính bằng phầnmềm Epidata 2.1 Phần mềm thống kê Stata 10 được sử dụng trong phân tích

số liệu Cả thống kê mô tả và suy luận sẽ được thực hiện Mức ý nghĩa thống

kê α=0,05 sẽ được sử dụng trong thống kê suy luận

2.10.Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung củanghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấpnhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu

- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các sốliệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, khôngphục vụ cho mục đích nào khác

- Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi được Ban Giám Đốc Bệnh việnPhổi Trung ương thông qua

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢNGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của người bệnh tại tại Bệnh viện Phổi Trung Ương

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Trang 26

50.88 49.12

Phân bố về giới của người bệnh

Nam Nữ

Biểu đồ 3.2 Sự phân bố của người bệnh theo giới

Doanh nghiệp ngoài công lập 40 14,13

Trang 27

Biểu đồ 3.3 Khoảng cách từ nhà người bệnh đến bệnh viện

Biểu đồ 3.4 Nhu cầu sử dụng bảo hiểm y tế của người bệnh

Nhận xét:

Trang 28

- Có đến 84,45% người bệnh sử dụng bảo hiểm y tế và chỉ có 15,55 %không sử dụng bảo hiểm y tế.

3.2.Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ theo yêu cầu

3.2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh

84.81

15.19

Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh

Có nhu cầu Chưa có nhu cầu

Biểu đồ 3.5 Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh của người bệnhNhận xét:

- Đa số người bệnh có nhu cầu sử dụng (84,81%) dịch vụ lựa chọn bác sĩ

Trang 29

Bảng 3.2 Những khâu mà người bệnh muốn được lựa chọn bác sĩ

và cơ sở để người bệnh lựa chọn bác sĩ

Tiến hành phẫuthuật hoặc thủthuật

Cơ sở để lựa

chọn bác sĩ

Theo trình độ (Phógiáo sư, tiến sĩ,thạc sĩ, bác sĩ

Trang 30

3.2.2 Nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiện phẫu thuật/thủ thuật

86.97

13.03

Nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiện phẫu thuật/ thủ thuật sớm hơn thông thường

Có nhu cầu Chưa có nhu cầu

Biểu đồ 3.6 Nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiện phẫu thuật/ thủ thuậtsớm hơn thông thường

Nhận xét

- Đa số người bệnh (86,97%) có nhu cầu lựa chọn thời gian thực hiệnphẫu thuật/thủ thuật

Trang 31

3.3.3 Nhu cầu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc, vật tư có chất lượng cao hơn so với mức thông thường

Bảng 3.3 Nhu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc, vật tư có

chất lượng cao hơn so với mức thông thường

Đặc điểm Người bệnh (n=283)

Nhận xét :

- Đa số người bệnh có nhu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc,vật tư có chất lượng cao hơn so với mức thông thường ( 84,51% với kĩ thuậtcao, 89,08% với lựa chọn thuốc, 85,92% với vật tư )

Trang 32

3.3.4 Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà

32.39

67.61

Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà

Có nhu cầu Chưa có nhu cầu

Biểu đồ 3.7 Nhu cầu về người chăm sóc hộ thay người nhà của người bệnh

Nhận xét :

- Gần 1/3 người bệnh (32,39%) có nhu cầu về người chăm sóc hộ thayngười nhà

Bảng 3.4 Yêu cầu của người bệnh về tuổi tác, giới tính và trình độ

của người chăm sóc hộ Đặc điểm

Yêu cầu về giới

Lao động đã được đào tạo các

kĩ năng về chăm sóc ngườibệnh

Nhận xét:

Trang 33

- Đa số người nhà người bệnh (62,24% với tuổi tác, 78,26% với giới,56,52% với trình độ) không có yêu cầu đặc biệt về tuổi tác, giới, trình độ Họchấp nhận sự phân công của bệnh viện.

Bảng 3.5 Yêu cầu của người bệnh đối với người chăm sóc hộ về

công việc hàng ngày

Bảng 3.6 Yêu cầu của người bệnh đối với người chăm sóc hộ về

thời gian chăm sóc hàng ngày

Trang 34

3.4 Mối liên quan giữa một số đặc điểm củangười bệnh với nhu cầu dịch

vụ y tế theo yêu cầu

3.4.1 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu dịch vụy tế theo yêu cầu

Các đặc điểm của người bệnh được được đưa vào mô hình phân tíchhồi quy đơn biến logistic để tìm mối liên quan với nhu cầu về dịch vụ y tếtheo yêu cầu bao gồm các các yếu tố nhân khẩu học (giới, trình độ, nghềnghiệp….), nơi sinh sống, sử dụng bảo hiểm y tế

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với

nhu cầu về dịch vụ lựa chọn bác sĩ theo yêu cầu

Ngày đăng: 01/07/2016, 11:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Đặc điểm về trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức thu nhập - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.1 Đặc điểm về trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức thu nhập (Trang 25)
Bảng 3.2 Những khâu mà người bệnh muốn được lựa chọn bác sĩ - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.2 Những khâu mà người bệnh muốn được lựa chọn bác sĩ (Trang 27)
Bảng 3.3 Nhu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc, vật tư có - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.3 Nhu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc, vật tư có (Trang 29)
Bảng 3.4 Yêu cầu của người bệnh về tuổi tác, giới tính và trình độ - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.4 Yêu cầu của người bệnh về tuổi tác, giới tính và trình độ (Trang 30)
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với (Trang 32)
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với  nhu cầu về dịch vụ lựa chọn thời gian thực hiện thủ thuật - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về dịch vụ lựa chọn thời gian thực hiện thủ thuật (Trang 33)
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về  dịch vụ lựa chọn kĩ thuật với chất lượng cao hơn so với quy định - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về dịch vụ lựa chọn kĩ thuật với chất lượng cao hơn so với quy định (Trang 35)
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu - Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ y tế theo yêu cầu của người bệnh tại bệnh viện phổi trung ương năm 2015 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w