Nghiên cứu cũng chỉ ra kiến thức vàthực hành về NCBSM của các bà mẹ không tương xứng với nhau, kiến thứccủa các bà mẹ cao nhưng thực hành còn thấp [3].Như vậy, vẫn còn tồn tại một khoảng
Trang 1PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO
T×M HIÓU KIÕN THøC, THùC HµNH NU¤I CON B»NG S÷A MÑ CñA C¸C Bµ MÑ Cã CON D¦íI 6 TH¸NG T¹I PHßNG KH¸M
DINH D¦ìNG BÖNH VIÖN NHI TRUNG ¦¥NG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
KHÓA 2011 - 2015
Người hướng dẫn khoa học:
ThS NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG
HÀ NỘI - 2015 LỜI CẢM ƠN
Trang 2bệnh viện, gia đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: ThS Nguyễn Thị
Thúy Hồng, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, quan tâm, chỉ bảo và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận của mình
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, phòng Quản lý Đào tạo Đạihọc, thầy cô giáo bộ môn Nhi, cùng các thầy cô giáo của trường Đại học Y HàNội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành khóa luận.Các bác sỹ, điều dưỡng, nhân viên của Khoa dinh dưỡng và Phòng khámdinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợicho tôi trong quá trình học tập và làm khóa luận
Các thầy, cô trong hội đồng đã dành thời gian đọc và góp ý cho tôinhững ý kiến quý báu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Các bà mẹ và các em bé đã tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu này.Cuối cùng tôi xin bày tỏ tình cảm yêu quý và biết ơn tới gia đình, bạn bè,người thân đã luôn giúp đỡ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình họctập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 4 tháng 6 năm 2015Phạm Thị Phương Thảo
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài “Tìm hiểu kiến thức, thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ ở các bà mẹ có con dưới 6 tháng tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương” là đề tài do tự bản thân tôi thực hiện Các số liệu trong
bản luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng công bố ở bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 4 tháng 6 năm 2015
Phạm Thị Phương Thảo
Trang 4Lời cảm ơn
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng, hình và biểu đ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm sinh học của trẻ em dưới 6 tháng tuổi 3
1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ < 6 tháng tuổi 4
1.3 Một số khái niệm và cách phân loại tình trạng dinh dưỡng cho trẻ 6
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và NCBSM 7
1.5 Tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ 10
1.6 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trên thế giới và ở Việt Nam 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Địa điểm nghiên cứu 20
2.2 Thời gian nghiên cứu 20
2.3 Đối tượng nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Kiến thức và thực hành của bà mẹ về nuôi dưỡng trẻ 32
3.3 Một số yếu tố liên quan giữa kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ 40
Chương 4: BÀN LUẬN 45
4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 45
4.2 Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ 46
Trang 5sữa mẹ và ăn bổ sung 604.5 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng của trẻ với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu 61
KẾT LUẬN 65 KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6ABS : Ăn bổ sung
BSMHT : Bú sữa mẹ hoàn toàn
NCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ
NCBSMHT : Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn HAZ : Chiều cao theo tuổi
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
Trang 7Bảng 1.1 Nhu cầu năng lượng của trẻ bú mẹ dưới 6 tháng tuổi 4
Bảng 1.2 Nhu cầu Protid của trẻ dưới 6 tháng tuổi……… 5
Bảng 1.3 Sự khác biệt giữa sữa mẹ với các loại sữa khác 12
Bảng 3.1 Thông tin chung về các bà mẹ tham gia nghiên cứu 29
Bảng 3.2 Phân bố trẻ theo nhóm tuổi và giới 30
Bảng 3.3 Phân bố tình trạng suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi 30
Bảng 3.4 Kiến thức của bà mẹ về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ 32
Bảng 3.5 Kiến thức của bà mẹ về các tác dụng của sữa non 34
Bảng 3.6 Kiến thức của bà mẹ về thời gian bú mẹ và BSMHT 34
Bảng 3.7 Kiến thức của bà mẹ về tư thế và cách ngậm bắt vú đúng 35
Bảng 3.8 Thực hành cho trẻ ăn, uống trước lần bú đầu tiên 38
Bảng 3.9 Thực hành của bà mẹ về cách cho trẻ bú 39
Bảng 3.10 Liên quan giữa một số yếu tố của mẹ với TTDD của trẻ 42
Bảng 3.11 Liên quan giữa một số đặc điểm của trẻ với TTDD của trẻ 43
Bảng 3.12 Liên quan giữa thực hành nuôi NCBSM, ABS với TTDD của trẻ 44
Trang 8Biểu đồ 3.1 Phân bố các thể suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi 31
Biểu đồ 3.2 Kiến thức về khái niệm bú mẹ hoàn toàn 33
Biểu đồ 3.3 Kiến thức của bà mẹ về sữa non 33
Biểu đồ 3.4 Thực hành của các bà mẹ về bú sữa non và thời gian bú mẹ 36
Biểu đồ 3.5 Phân bố tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn và ăn bổ sung theo tháng tuổi 37
Biểu đồ 3.6 Thực hành cho trẻ bú hết sữa cuối 39
Biểu đồ 3.7 Kiến thức và thực hành về thời điểm cho bú sau sinh 40
Biểu đồ 3.8 Kiến thức và thực hành về thời điểm cho trẻ ăn bổ sung 41
Trang 9Hình 1.1 Sự khác nhau về lượng protein trong sữa mẹ và sữa bò 11
Hình 1.2 Phản xạ Oxytocin 14
Hình 1.3 Phản xạ Prolactin 15
Hình 2.1 Hướng dẫn đo chiều dài nằm 23
Hình 2.3 Tư thế bú đúng 27
Hình 2.4 Dấu hiệu ngậm bắt vú đúng 27
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi con bằng sữa mẹ là niềm hạnh phúc lớn cho tất cả các bà mẹ Tạohóa đã ban tặng nguồn sữa mẹ là thức ăn tuyệt vời cho trẻ không gì so sánhđược Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chứng minh nuôi conbằng sữa mẹ không chỉ mang lại lợi ích sức khỏe cho con, cho mẹ mà cònmang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng trong việc giảm gánh nặng kinh tế vàbệnh tật cho xã hội
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo và thích hợp nhất cho trẻ dưới 6tháng tuổi mà không loại thức ăn nào có thể thay thế được Trẻ được bú sữa
mẹ giảm nguy cơ tử vong trong 6 tháng đầu thấp hơn 14 lần so với trẻ khôngđược bú sữa mẹ, thêm vào đó bú sữa mẹ còn làm giảm đáng kể nguy cơ tửvong do nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính và tiêu chảy [1]
Tại Việt Nam, nuôi con bằng sữa mẹ là một tập quán tốt đẹp có từ lâuđời cần được củng cố và duy trì Tuy nhiên, hiện nay tập quán này lại gặp rấtnhiều thách thức bởi nhiều yếu tố kinh tế - xã hội như sự xuất hiện tràn lan vàquảng cáo quá mức các sản phẩm thay thế sữa mẹ trên các phương tiện thôngtin đại chúng Thêm vào đó sự thiếu hiểu biết và những quan niệm sai lầm của
bà mẹ và những thành viên khác trong gia đình về NCBSM, áp lực quay trởlại làm việc sớm của các bà mẹ khiến tỷ lệ NCBSMHT trong vòng 6 thángđầu ở mức thấp
Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ có xu hướng tăng đáng kể trong thập kỷqua Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của Tổ chức Y tế Thế giới (2009) chỉ có34,8% trẻ em trên toàn cầu được BSMHT trong 6 tháng đầu [2] Tại ViệtNam, vấn đề NCBSM cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tác giảPhạm Thị Thanh Thủy năm 2014 nghiên cứu trên 210 bà mẹ có con dưới 2tuổi vào nhập viện tại khoa Nhi Bệnh viện Saint Paul cho thấy tỷ lệ trẻ được
Trang 11bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 39%, tỷ lệ trẻ BSMHT đến 6 thángchung là 25,2%, dưới 6 tháng là 34,4% Nghiên cứu cũng chỉ ra kiến thức vàthực hành về NCBSM của các bà mẹ không tương xứng với nhau, kiến thứccủa các bà mẹ cao nhưng thực hành còn thấp [3].
Như vậy, vẫn còn tồn tại một khoảng cách lớn giữa kiến thức và thựchành của các bà mẹ về vấn đề NCHTBSM và chính điều này làm tăng nguy
cơ SDD ở trẻ nhỏ, ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của trẻ trong tương lai.Theo thống kê của Viện dinh dưỡng, tình hình SDD ở trẻ em nước ta có xuhướng giảm nhưng vẫn còn ở mức cao (2014) Tỷ lệ trẻ bị SDD thể thấp còi
nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu kiến thức, thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ
ở các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương” với 2 mục tiêu sau:
1 Tìm hiểu kiến thức, thực hành về nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ của các
bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi
2 Mô tả mối tương quan giữa thực hành nuôi con bằng sữa mẹ với tình trạngdinh dưỡng của trẻ
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm sinh học của trẻ em dưới 6 tháng tuổi [5],[6]
1.1.1 Các giai đoạn phát triển của trẻ
* Giai đoạn sơ sinh:
Đặc điểm sinh học chủ yếu của thời kỳ này là sự thích nghi với môitrường bên ngoài Sự khác biệt rất lớn khi trẻ đột ngột chuyển từ môi trường
tử cung sang môi trường bên ngoài khi trẻ ra đời
Phản xạ bú nuốt là một phản xạ không điều kiện, xuất hiện sớm trongthời kỳ bào thai và phản xạ này được phát huy rõ ràng nhất ngay sau khi sinh
* Giai đoạn từ 1 đến 5 tháng tuổi:
Trong thời kỳ này, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất là trong 3 tháng đầu
do đó nhu cầu dinh dưỡng cao, trong khi đó chức năng bộ máy tiêu hóa và cácmen tiêu hóa còn kém nên trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa và dẫn đến suy dinhdưỡng nếu nuôi dưỡng không đúng cách Vì vậy, thức ăn tốt nhất cho trẻtrong giai đoạn này là sữa mẹ
1.1.2 Các cửa sổ cơ hội (giai đoạn then chốt đối với sức khoẻ của trẻ)
* Thời kỳ bà mẹ mang thai (280 ngày): đây là cửa sổ cơ hội đầu tiên cũng là
giai đoạn nguy hiểm đối với sức khỏe của trẻ bởi dinh dưỡng tốt cho bà mẹtrong giai đoạn này sẽ giúp đặt nền tảng vững chắc cho sức khỏe của đứa trẻsau sinh
* Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu (180 ngày):
Là cửa sổ cơ hội thứ 2 vô cùng quan trọng bởi lẽ trong giai đoạn này tốc
độ tăng trưởng của trẻ nhanh nhất và mạnh nhất, đặc biệt trong 3 tháng đầu do
đó nhu cầu dinh dưỡng cao, quá trình đồng hóa mạnh hơn quá trình dị hóa
Trang 13Bên cạnh đó, chức năng các cơ quan và bộ phận chưa hoàn thiện đặcbiệt là chức năng tiêu hóa, tình trạng miễn dịch thụ động (IgG từ mẹ truyềnsang giảm nhanh trong khi khả năng tạo globulin miễn dịch còn yếu) chính vìthế trẻ dễ bị nhiễm khuẩn.
* Giai đoạn ăn bổ sung từ 6 đến 24 tháng (540 ngày): là cửa sổ cơ hội thứ 3
trong giai đoạn 1000 ngày đầy nguy hiểm Đây là giai đoạn trẻ phải làm quenvới thức ăn mới trong khi đó miễn dịch của mẹ cho con đã giảm dần Vì thế,nếu nuôi dưỡng không hợp lý sẽ dễ làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng
1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ < 6 tháng tuổi
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với trẻ em khi mà cơ thể đanglớn và phát triển, giúp trẻ phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần
1.2.1 Nhu cầu năng lượng
Đối với trẻ nhỏ dưới 6 tháng, theo nhu cầu khuyến nghị trẻ cần được bú
mẹ hoàn toàn và sữa mẹ hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu năng lượngcủa trẻ trong độ tuổi này [7]
Bảng 1.1 Nhu cầu năng lượng của trẻ bú mẹ dưới 6 tháng tuổi
Tháng tuổi
Nhu cầu năng lượng (Kcal/ngày)
Sữa mẹ g/ngày Năng lượng
(Kcal/ngày)
1.2.2 Nhu cầu về nước
Trong 6 tháng đầu đời, bú mẹ hoàn toàn có thể đáp ứng hoàn toàn nhucầu dinh dưỡng và nước cho trẻ Sữa mẹ có 88% là nước, vì vậy trẻ bú sữa mẹhoàn toàn trong 6 tháng đầu không cần bổ sung thêm nước [7]
Trang 141.2.3 Nhu cầu protid
Bảng 1.2 Nhu cầu Protid của trẻ dưới 6 tháng
Tuổi (tháng) Nhu cầu protid trung bình (g/kg/ngày)
1.2.4 Nhu cầu lipid
Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi thì nhu cầu năng lượng từ lipid trên tổngnăng lượng cả ngày là 45-50%, tối đa là 60% Ở trẻ đang bú mẹ, 50-60% nănglượng ăn vào là do chất béo của sữa mẹ cung cấp nên trẻ bú sữa mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu được cung cấp đầy đủ chất béo [8]
1.2.5 Nhu cầu glucid
Năng lượng do glucid cung cấp nên chiếm 61-70% tổng nhu cầu nănglượng cả ngày Sữa mẹ có thành phần glucid nhiều hơn sữa bò nên cung cấpnhiều năng lượng và glucid sữa mẹ chủ yếu là β lactose, một số trong ruộtđược chuyển thành acid lactic giúp tăng hấp thu calci và muối khoáng [8]
1.2.6 Nhu cầu các vitamin và muối khoáng [9]
Nhu cầu canxi: nhu cầu hàng ngày của trẻ là 400-600 mg/ngày, với tỷ
lệ thích hợp Ca/P là 2:1, tỷ lệ này phù hợp với thành phần trong sữa mẹ
Nhu cầu về sắt: trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Trang 15được đáp ứng đủ nhu cầu về sắt.
Nhu cầu các VTM và muối khoáng khác: sữa mẹ với hàm lượng vàthành phần các VTM, muối khoáng thích hợp đáp ứng đầy đủ nhu cầu của trẻtrong 6 tháng đầu
1.3 Một số khái niệm và cách phân loại tình trạng dinh dưỡng cho trẻ 1.3.1 Khái niệm nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa non: là loại sữa mẹ đặc biệt, được hình thành từ tuần thứ 14-16 của
thai kì và được tiết ra 1-3 ngày đầu sau đẻ Sữa non sánh đặc, có màu vàngnhạt chứa nhiều năng lượng, protein hơn sữa trưởng thành [7]
Sữa trưởng thành: sau 3-7 ngày, sữa non chuyển dần sang sữa trưởng
thành Sữa trưởng thành bao gồm sữa đầu và sữa cuối [7]
Sữa đầu: là sữa được tiết ra đầu bữa bú của trẻ Sữa đầu bữa số lượng
nhiều và cung cấp nhiều protein, lactose, nước và các chất dinh dưỡng khác
Sữa cuối: là sữa được tiết ra cuối bữa bú của trẻ Sữa cuối có màu
trắng, cung cấp nhiều năng lượng, chất béo cho trẻ nên điều quan trọng là cần
để cho trẻ bú hết sữa cuối, không để trẻ nhả vú quá sớm
Nuôi con bằng sữa mẹ: là đứa trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, trực
tiếp bằng bú mẹ hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra [10]
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: là nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ
(bao gồm bú sữa từ vú mẹ và sữa từ vú mẹ vắt ra) và không ăn hay uống bất
cứ thức ăn nước uống nào kể cả nước trắng [11]
Bú nhân tạo hoàn toàn: là cách nuôi dưỡng nhân tạo và không cho trẻ
bú sữa mẹ hay sữa mẹ vắt ra [12]
1.3.2 Khái niệm về ăn bổ sung
Ăn bổ sung: Trẻ vừa được bú sữa mẹ vừa được ăn thức ăn dạng đặc
hoặc gần đặc [10]
Ăn bổ sung hợp lý: khi trẻ được ăn các loại thức ăn cung cấp đủ năng
Trang 16lượng (có thể ước tính qua số bữa ăn trong ngày kết hợp với khối lượng củamỗi bữa ăn) và đủ chất dinh dưỡng (thể hiện bằng sự kết hợp các nhóm thựcphẩm bổ sung cho trẻ) [11].
Cai sữa: là ngừng không cho trẻ bú mẹ, đây chính là sự chuyển giao
vai trò cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng từ sữa mẹ (ở giai đoạn đầu)tơí vai trò của các thực phẩm trong bữa ăn gia đình [10]
1.3.3 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng: Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu
protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sựphát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ SDD protein năng lượngthường kèm theo là các bệnh nhiễm khuẩn [13]
Suy dinh dưỡng bào thai: là những trẻ sinh đủ tháng có cân nặng dưới
2500 gram [13]
Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân: cân nặng thấp hơn so với mức tiêu chuẩn
của trẻ cùng tuổi và giới, sử dụng ngưỡng cân nặng theo tuổi (WAZ) dưới -2
độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo của WHO [14]
Suy dinh dưỡng thể thấp còi: khi chiều cao theo tuổi (HAZ) dưới -2 độ
lệch chuẩn so với quần thể tham khảo của WHO SDD thể thấp còi phản ánhtình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ bịthấp còi [14]
Suy dinh dưỡng thể gầy còm: là hiện tượng cơ và mỡ cơ thể bị teo đi,
thường được coi là SDD cấp tính vì thường biểu hiện sau một thời gian bị thiếu
ăn ví dụ thiên tai, lũ lụt, chiến tranh, được xác định khi cân nặng theo chiều cao(WHZ) dưới -2 độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo của WHO [14]
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và NCBSM 1.4.1 Chăm sóc dinh dưỡng bà mẹ khi có thai và cho con bú
Khi mang thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy đủcác chất dinh dưỡng cho thời kỳ mang thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai
Trang 17nhi Nhiều nghiên cứu thấy rằng các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cânnặng thấp trước tiên là tình trạng dinh dưỡng kém của người mẹ, chế độ ăn khôngcân đối, không đủ năng lượng hoặc thiếu các vi chất cần thiết khi có thai [15].
1.4.2 Kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ
Theo khuyến nghị của WHO, trẻ cần được bú sớm trong vòng 1 giờđầu sau đẻ, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu (không nước,không sữa bột hay bất cứ thức ăn nào khác) Thực hành cho trẻ bú theo nhucầu ít nhất 8 lần/24 giờ, bú cả ngày lẫn đêm, cho trẻ bú kiệt một bên rồi mớichuyển sang vú khác để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo [7]
Tuy nhiên do nhiều yếu tố ảnh hưởng như thiếu kiến thức hay các yếu
tố kinh tế xã hội khác tác động khiến các bà mẹ mắc phải những sai lầm vềnuôi dưỡng trẻ nhỏ Sai lầm phổ biến nhất là tình trạng trẻ không được bú mẹ
đủ về số lượng và chất lượng và tình trạng trẻ ăn bổ sung sớm khi trẻ chưatròn 6 tháng Trẻ ăn bổ sung quá sớm khiến trẻ bú mẹ ít đi, mẹ tiết ít sữa vàkhó khăn hơn trong việc đáp ứng nhu cầu của trẻ, trẻ nhận được ít yếu tố miễndịch từ sữa mẹ khiến nguy cơ mắc bệnh tăng lên, thức ăn mới thường ít chấtdinh dưỡng hơn sữa mẹ
Trong một nghiên cứu ở Ethiopia cho thấy những trẻ không được bú
mẹ hoàn toàn có nguy cơ bị SDD cao gấp 5 lần những trẻ được bú mẹ hoàntoàn [16] Một số nghiên cứu ở trong nước cũng chỉ ra mối liên quan giữaSDD và thực hành NCBSM và ABS của các bà mẹ Theo nghiên cứu của tácgiả Chu Thị Phương Mai (2014) khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một sốyếu tố ảnh hưởng đến dinh dưỡng của trẻ từ 6-24 tháng tuổi tại Phòng khámdinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy nhóm trẻ SDD thể nhẹ cân
có tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn đủ 6 tháng (13,6%) thấp hơn nhiều so với nhóm trẻkhông SDD và tỷ lệ ABS khi đủ 6 tháng tuổi (18,3%) thấp hơn hơn nhóm trẻ
Trang 18không SDD (25%) [17].
1.4.3 Tình trạng nhiễm trùng và một số yếu tố nguy cơ [18]
Nhiễm trùng tiên phát: trẻ bị sởi, lỵ, tiêu chảy kéo dài đều là nguyênnhân dẫn đến suy dinh dưỡng Trẻ bị SDD bào thai, đẻ non, thấp cân, mắc các
dị tật bẩm sinh, điều kiện môi trường sống,…là những yếu tố thuận lợi thúcđẩy tình trạng SDD
Giữa nhiễm trùng và suy dinh dưỡng có một vòng xoắn bệnh lý, khi trẻ
bị SDD dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn làm SDD nặng hơn
1.4.4 Yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ
Nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã chỉ ra nhiều yếu tố liênquan đến NCBSM gồm có yếu tố nhân khẩu học, sinh học, xã hội và tâm lý.Các yếu tố nhân khẩu học bao gồm đặc điểm của mẹ gồm chủng tộc, tuổi,tình trạng hôn nhân, giáo dục, tình trạng kinh tế xã hội, đặc điểm của trẻ (tuổi,giới, thứ tự trong gia đình, tình trạng lúc sinh) Một số yếu tố sinh học khácảnh hưởng đó là tình trạng thiếu sữa của bà mẹ, vấn đề sức khỏe ở trẻ sơ sinh,vấn đề hút thuốc lá ở người mẹ, số lần sinh, phương pháp đẻ Một số yếu tố
xã hội có thể kể đến là vấn đề quay trở lại làm việc của bà mẹ, sự hỗ trợ củagia đình và đội ngũ nhân viên y tế [19]
Các yếu tố liên quan có sự khác biệt giữa các nước phát triển và cácnước đang phát triển Một nghiên cứu tiến hành ở Malaysia cho thấy các yếu
tố liên quan đến NCBSM hoàn toàn là khu vực cư trú, dân tộc, nghề nghiệpcủa người mẹ, số lần sinh đẻ, tình trạng hút thuốc lá của người mẹ, tuổi thaitrẻ sơ sinh và sự hỗ trợ từ gia đình đặc biệt là từ người chồng Cụ thể các bà
mẹ sinh sống ở khu vực nông thôn có khả năng cho con bú hoàn toàn cao hơncác bà mẹ ở thành thị Các bà mẹ không phải đi làm có khả năng cho con búhoàn toàn cao gấp 3,5 lần so với các bà mẹ phải đi làm, các bà mẹ đẻ con thứ
Trang 19hai trở lên có tỷ lệ NCBSMHT cao gấp 2 lần so với bà mẹ đẻ lần đầu tiên.Các bà mẹ có trẻ đủ tháng có gấp đôi khả năng NCBSMHT so với các bà mẹ
có trẻ sơ sinh non tháng Các bà mẹ có chồng hỗ trợ khả năng NCBSMHTcao gấp 4 lần so với nhóm còn lại [20]
Tại một số nước phát triển như Singapore thì yếu tố ảnh hưởng chính đếnviệc dừng cho con bú vào khoảng thời gian từ 2 đến 6 tháng là vấn đề quay trởlại việc làm của người mẹ Yếu tố này không ảnh hưởng đến tỷ lệ bú sớm sau đẻnhưng ảnh hưởng đến thời gian bú mẹ hoàn toàn Khoảng 31% các bà mẹ không
đi làm cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu so sánh với tỷ lệ này ở các bà mẹ
đi làm là 20% [21] Một nghiên cứu khác tại Úc năm 2000 cho thấy có sự tỷ lệnghịch giữa tỷ lệ NCBSM với sự phát triển kinh tế xã hội [22]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự(1984-1985) cho thấy thiếu sữa mẹ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếnNCBSM [23] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Yến, Mai Thị Tâm (2009)cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và nghềnghiệp của bà mẹ với kiến thức và thực hành NCBSM [24]
1.5 Tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ mang lại lợi ích to lớn cho trẻ mà cònbảo vệ sức khỏe bà mẹ và đem lại lợi ích to lớn đối với gia đình và xã hội
1.5.1 Lợi ích cho con
* Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo dễ tiêu hóa và hấp thu: Sự khácbiệt giữa các thành phần trong sữa mẹ với các loại sữa khác
Protein: sữa bò có hàm lượng protein nhiều hơn sữa mẹ tuy nhiênlượng protein trong sữa bò khiến thận của trẻ khó bài tiết sản phẩm chuyểnhóa của protein Protein trong sữa bò chủ yếu là casein khi vào dạ dày kết tủathành thể tích lớn khó tiêu hóa trong khi đó lượng casein trong sữa mẹ ít và dễtiêu hóa Lượng lớn đạm whey trong sữa mẹ chứa α lactalbumin giúp trẻchống lại các bệnh nhiễm trùng Sữa bò và sữa công thức trong thành phầnthiếu hụt cystein và taurine là 2 amino acid cần cho sự phát triển trí não củatrẻ trong những năm đầu đời Các protein trong sữa mẹ giúp chống lại bệnh
Trang 20nhiễm trùng bao gồm lactoferrin (là protein gắn sắt cản trở sự phát triển vikhuẩn cần sắt) và lysozyme, globulin miễn dịch (nhất là IgA) giúp trẻ chốnglại bệnh tật ở đường tiêu hóa [25].
Hình 1.1 Sự khác nhau về lượng protein trong sữa mẹ và sữa bò [7]
Lipid: sữa mẹ có các acid béo cần thiết như acid linoleic (omega 3),acid linolenic (omega 6) cần thiết cho sự phát triển của não, mắt và sự bềnvững thành mạch máu của trẻ mà sữa bò và sữa công thức không có được.Lipid của sữa mẹ dễ tiêu hóa vì có men lipase [25]
Lactose: hàm lượng lactose trong sữa mẹ có nhiều hơn trong sữa bò,cung cấp thêm nguồn năng lượng cho trẻ Một số lactose vào ruột chuyểnthành acid lactic giúp cho sự hấp thu calci, sắt và muối khoáng [25]
Vitamin: sữa mẹ có nhiều vitamin A và vitamin C hơn sữa bò Chính vìvậy trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ không cần thiết phải uống thêm nướchoa quả để bổ sung vitamin C Hầu hết các vitamin nhóm B trong sữa bò cóhàm lượng cao hơn trong sữa mẹ từ 2-3 lần nhưng hàm lượng cao các vitaminnhóm B trong sữa bò nhiều hơn nhu cầu mà trẻ cần [25]
Muối khoáng: canxi trong sữa mẹ ít hơn trong sữa bò nhưng dễ hấp thu
và thỏa mãn nhu cầu của trẻ Sắt trong sữa bò chỉ được hấp thu 10% trong khi
Trang 21đó tỷ lệ hấp thu ở sữa mẹ là 50% Vì vậy, trẻ bú sữa mẹ ít bị còi xương vàthiếu máu thiếu sắt [25].
Bảng 1.3 Sự khác biệt giữa sữa mẹ với các loại sữa khác [12].
2,4-3,6%, không đủacid béo cần thiết
Muối khoáng (mg/l)
Calcium (mg/l)
Sodium (mg/l)
331543(thích hợp)
12558103(quá nhiều)
Ít hơn sữa bò
dễ hấp thu
Lượng nhỏ, khóhấp thu
Được thêm vào từbên ngoài và khóhấp thu
Được thêm vào từbên ngoài và khóhấp thu
pha chế không đúng
* Sữa mẹ chứa nhiều yếu tố giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng:
Trang 22Sữa mẹ có nhiều bạch cầu, một lượng lớn các yếu tố bảo vệ chống lại sựnhiễm trùng Một lượng lớn kháng thể có trong cơ thể người mẹ được truyền chotrẻ qua sữa mẹ giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng Globulin miễn dịch chủyếu là IgA tiết (chiếm 95%) còn lại là IgM và IgG không được hấp thu qua niêmmạc ruột mà hoạt động tại niêm mạc ruột giúp trẻ chống lại bệnh tật ở đườngtiêu hóa [25].
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến mối liên quan giữa
bú mẹ hoàn toàn và bệnh tật của trẻ Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽgiảm nguy cơ mắc và tử vong do các bệnh tiêu chảy và nhiễm trùng đường hôhấp cấp là hai bệnh thường gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi Một nghiên cứu ởPhilippines (1990) trên những đứa trẻ 0-2 tháng so sánh nguy cơ bị tiêu chảy
ở trẻ bú mẹ hoàn toàn và bú mẹ không hoàn toàn Kết quả cho thấy nhữngđứa trẻ ăn nhân tạo hoàn toàn có tỷ lệ bị tiêu chảy cao gấp 17 lần những đứatrẻ bú mẹ hoàn toàn, những đứa trẻ vừa bú mẹ vừa sử dụng các loại thức ănnhân tạo khác có nguy cơ bị tiêu chảy thấp hơn những đứa trẻ ăn nhân tạonhưng vẫn cao gấp 13,3 lần những đứa trẻ bú mẹ hoàn toàn [26] Một nghiêncứu khác tại Scotland (1990) nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng đường
hô hấp ở những đứa trẻ từ 0-13 tuần tuổi cho kết quả tỷ lệ mắc các bệnhnhiễm trùng đường hô hấp ở những đứa trẻ uống sữa công thức là 39% trongkhi tỷ lệ này ở những đứa trẻ bú mẹ chỉ là 23% [27]
Nghiên cứu năm 2012 của tổ chức Alive & Thrive nghiên cứu tỷ lệmắc bệnh theo thực hành bú mẹ hoàn toàn ở trẻ dưới 6 tháng cho thấy trẻkhông bú mẹ hoàn toàn có tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cao gấp 2 lần trẻ bú mẹhoàn toàn Trẻ không bú mẹ hoàn toàn có tỷ lệ bị các bệnh đường hô hấp là11,6% trong khi tỷ lệ này ở trẻ bú mẹ hoàn toàn chỉ là 8,1% [28]
* Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng:
Trang 23Trong sữa mẹ có IgA tiết cùng với đại thực bào có tác dụng chống dịứng Trẻ được nuôi nhân tạo có nguy cơ không dung nạp với protein trong sữađộng vật Trẻ có nguy cơ mắc các bệnh như ỉa chảy, đau bụng, phát ban haycác triệu chứng khác do trẻ phải dung nạp nhiều loại protein khác nhau Hơnnữa trẻ được nuôi bằng sữa công thức hay sữa bò có nguy cơ cao hơn mắc cácbệnh dị ứng như eczema hay hen suyễn Tình trạng dị ứng này có thể xảy rangay trong những ngày đầu đời khi trẻ được nuôi dưỡng bằng các loại sữa này
dù với một lượng rất ít [12], [25]
* Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não tối ưu nhất:
Trẻ bú mẹ được cung cấp Taurine là thành phần quan trọng trong các mô
tế bào nói chung và tế bào não nói riêng Đồng thời các acid béo thiết yếu nhưomega 3 và omega 6 là tiền tố DHA và ARA sẽ tham gia vào quá trình hìnhthành màng tế bào não và võng mạc giúp trẻ thông minh và có thị lực tốt [11]
1.5.2 Lợi ích cho bà mẹ
* Cho con bú sớm sau đẻ có tác dụng giúp co hồi tử cung cho bà mẹ:
Cho trẻ bú sớm ngay sau đẻ là biện pháp cầm máu giúp cho bà mẹ đềphòng thiếu máu sau đẻ và nhanh hết sản dịch do động tác bú của trẻ kíchthích tiết oxytocin giúp co cơ tử cung Vì vậy, cho trẻ bú sớm sau đẻ và búthường xuyên là rất quan trọng [12], [29]
Hình 1.2 Phản xạ Oxytocin [7].
* Giảm nguy cơ mắc bệnh:
Trang 24Những bà mẹ cho con bú sẽ giảm nguy cơ mắc ung thư vú và ung thư
tử cung, buồng trứng [29]
* Sớm lấy lại vóc dáng ban đầu:
Nuôi con bằng sữa mẹ giúp bà mẹ sớm lấy lại vóc dáng sau khi sinh do
sự tiêu hao tích cực nguồn năng lượng [29]
* Giảm nguy cơ có thai ngoài ý muốn:
Cho trẻ bú đúng (hoàn toàn và thường xuyên bất cứ khi nào trẻ muốn,
bú ít nhất 8 lần trong 24 giờ và khoảng cách giữa các bữa bú không quá 6tiếng) giúp bà mẹ chậm có thai do cho con bú làm kinh nguyệt chậm trở lại vàprolactin tiết ra khi trẻ bú ức chế quá trình rụng trứng [12], [29]
Hình 1.3 Phản xạ Prolactin [7].
* Gắn bó tình cảm mẹ con:
NCBSM giúp gắn bó tình cảm mẹ con, sự tiếp xúc gần gũi giữa mẹ vàcon là yếu tố tâm lý quan trọng Bà mẹ cảm thấy thư giãn và giảm căng thẳngmệt mỏi khi cho con bú còn trẻ sẽ khóc ít hơn khi được gần mẹ và bú mẹ.Người mẹ qua sự quan sát tinh tế của mình sẽ phát hiện sớm nhất, chính xácnhất những thay đổi bình thường hoặc bệnh lý của trẻ [29]
* Thuận tiện, sạch sẽ và rẻ tiền:
Trang 25Nuôi con bằng sữa mẹ thuận tiện Trẻ bú trực tiếp sữa mẹ mà bà mẹkhông phải mất nhiều thời gian trong việc đến cửa hàng để mua sữa, tiệt trùngbình sữa, vú sữa trước mỗi lần sử dụng, đun nước sôi để pha sữa khi bà mẹnuôi con bằng sữa công thức [12], [29].
1.5.3 Lợi ích đối với gia đình và xã hội
NCBSM giúp trẻ có sức đề kháng tốt, chống lại bệnh tật nên giảm các chiphí về y tế cho GĐ, giảm thời gian phải nghỉ việc của bà mẹ để chăm sóc trẻ ốm
NCBSM cũng đem lại lợi ích to lớn về kinh tế không chỉ cho gia đình
mà còn cho toàn xã hội Một nghiên cứu ở Mỹ năm 2011 cho thấy nếu 90%
bà mẹ cho con bú sữa mẹ theo đúng khuyến cáo của TCYTTG thì nền kinh tế
sẽ tiết kiệm được 3,7 tỷ đô la Mỹ cho các chi phí y tế trực tiếp và gián tiếpchữa bệnh ở trẻ và tiết kiệm được 3,9 tỷ đô la Mỹ tiền mua sữa công thức[30] Nghiên cứu khác ở Việt Nam cho thấy nếu tất cả trẻ sinh ra được bú mẹhoàn toàn sẽ tiết kiệm được 549 triệu đô la Mỹ/năm Nếu nuôi trẻ nhân tạomỗi gia đình tốn bình quân 800.000-1.200.000 đồng/tháng cho mỗi trẻ để muacác loại sữa, chiếm 50-70% thu nhập bình quân hàng tháng [31]
NCBSM cũng có lợi ích trong việc bảo vệ môi trường và bảo vệ cácnguồn tài nguyên đang bị suy giảm nghiêm trọng đó là nước Để chuẩn bị chotrẻ 3 tháng tuổi uống sữa công thức cần khoảng 1 lít nước mỗi ngày cho việcpha sữa, 2 lít nước để rửa bình và vú sữa hơn nữa sữa pha có nguy cơ bịnhiễm khuẩn nếu bà mẹ sử dụng nguồn nước không sạch và vệ sinh bìnhkhông sạch Thêm vào đó rác thải từ bình sữa còn gây nên ô nhiễm môitrường nếu nó không được tái chế [12]
1.6 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trên thế giới và ở Việt Nam
1.6.1 Trên thế giới
Theo báo cáo WHO (2013), trên thế giới chỉ có 38% trẻ em dưới 6tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn, 74% tiếp tục bú mẹ đến 1 tuổi và tỷ lệ
Trang 26này giảm xuống 49% khi trẻ được 2 tuổi Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàntoàn trong 6 tháng đầu cũng khác nhau giữa các khu vực: dao động từ 25%các nước ở khu vực châu Âu, 47% ở khu vực Đông Nam Á và có đến hơn60% các nước trên thế giới thống kê cho thấy tỷ lệ NCBSMHT trong 6 thángđầu ở mức thấp Duy nhất chỉ có các nước trong khu vực Đông Nam Á là tỷ lệNCBSMHT ở mức độ trung bình [32].
Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ đã có cải thiện trong 10 năm trở lạiđây trên toàn cầu và trong khu vực trong đó các nước kém phát triển có sự giatăng đáng kể Tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu của các bà mẹ trongkhoảng thời gian 2000-2012 tăng đáng kể từ 38% lên đến 50% Ngược lại, sựgia tăng ở khu vực châu Á là không đáng kể (từ 47% lên 49%) Hiện nay cácnước có tỷ lệ NCBSM cao phải thể kể đến đó là: Urugoay, Peru, Campuchia[32] Về tỷ lệ cho bú sớm sau đẻ có tới 40% các nước trên thế giới báo cáo tỷ
lệ ở mức cao trong đó phần lớn các nước ở vùng Địa Trung Hải và Châu Âu
có tỷ lệ cao trong khi đó tỷ lệ trẻ bú sớm sau đẻ lại gặp tỷ lệ thấp ở các nướckhu vực Đông Nam Á [33]
Theo số liệu thống kê của WHO (2010) về thực hành nuôi dưỡng trẻnhỏ, ở Ấn Độ chỉ có gần một phần tư trẻ được bú sớm, gần một nửa số trẻđược bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tại Philippines tỷ lệ bú sớm sau đẻ
là 46% và bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ có 34% [34]
Tại Trung Quốc, một nghiên cứu cắt ngang năm 2010 trên 2354 trẻdưới 2 tuổi tại 26 xã nông thôn nghèo tại 12 tỉnh trung tâm phía Tây TrungQuốc cho kết quả 59,4% số trẻ được bú sớm sau đẻ, 28,7% số trẻ dưới 6tháng được bú mẹ hoàn toàn [35] Nghiên cứu năm 2011 tại Thái Lan chothấy tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 3 tháng đầu là 78,6%, bú mẹ hoàn toàn trong
6 tháng là 38,1% [36]
Trang 27Tại một số nước phát triển ở Châu Âu tỷ lệ cho con bú sớm sau đẻ làkhá cao nhưng tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu lại thấp Theo mộtnghiên cứu ở Anh thì có đến hơn 4/5 số trẻ được bú sớm sau sinh nhưng theothời gian thì tỷ lệ các bà mẹ còn cho con bú, bú sữa mẹ hoàn toàn giảm rõ rệt.Đến 6 tuần sau sinh tỷ lệ các bà mẹ còn cho con bú là 57% và đến 6 tháng tỷ
lệ này là 36% Tỷ lệ cho bú hoàn toàn lúc 6 tuần là 24% và đến 4 tháng giảmcòn 13% [37]
Một nghiên cứu khác tại Australia năm 2004-2005 cho kết quả tỷ lệ búsớm sau đẻ là khá cao (87,8%), tỷ lệ bú mẹ giảm dần theo tháng tuổi của trẻ,lúc 3 tháng là 64,4%, 6 tháng là 50,4% [38]
1.6.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam từ đầu năm 1980, các nghiên cứu về tập quán và thực hànhnuôi con của các bà mẹ đã được tiến hành bởi nhiều tác giả và ở nhiều vùngtrên cả nước Tác giả Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự (1984-1985) đã nghiêncứu tập quán NCBSM của 640 bà mẹ có con dưới 24 tháng tại miền Bắc ViệtNam, kết quả cho thấy tỷ lệ các bà mẹ cho con bú muộn sau 24 giờ là khá caodao động từ 55,5% ở nhóm các bà mẹ ở nông thôn đến 81,1% ở nhóm các bà
mẹ là cán bộ y tế Tỷ lệ cho bú sữa mẹ giảm dần theo nhóm tuổi, ở thời điểm
3 tháng tỷ lệ này là 100% đến 6 tháng tỷ lệ này là 99,5% Nghiên cứu cũngchỉ ra các bà mẹ cho ăn bổ sung sớm chủ yếu từ 3-4 tháng tuổi [23]
Trong một nghiên cứu của tác giả Cao Thu Hương, Phạm Thúy Hà vàcộng sự (2003) đã nghiên cứu 611 bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi ở cácvùng sinh thái khác nhau, kết quả cho thấy tỷ lệ các bà mẹ cho con bú sớmđạt có 8,4%, tỷ lệ bú muộn sau 24 giờ vẫn còn cao chiếm 37,1%, đặc biệt ởBắc Giang tỉ lệ này là 47% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu
Trang 28là 44%, 56% các bà mẹ có con dưới 4 tháng đã cho ăn bổ sung vì nhiều lý dotrong đó lý do chính là mẹ thiếu sữa [39].
Theo tác giả Nguyễn Thị Yến, Mai Thị Tâm nghiên cứu trên 500 trẻ tạiBệnh viện Nhi Trung ương (2009) cho thấy tỷ lệ bú sớm sau đẻ là 54,8%, tỷ
lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 32% [24]
Trong một nghiên cứu khác đánh giá về thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ
ở Việt Nam năm 2011 cũng cho thấy có 39,7% trẻ được bú sớm trong vòng 1giờ đầu sau đẻ, 80% trẻ được bú mẹ trong vòng một ngày đầu, 61,5% trẻ đượccho ăn uống các loại thực phẩm ngoài sữa mẹ trong vòng 3 ngày đầu sau sinh
Tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ đạt 17% và cứ 2 trẻ trong độtuổi từ 0-5 tháng thì có 1 trẻ được bú sữa mẹ là chủ yếu [40]
Theo báo cáo điều tra của Viện Dinh dưỡng 2009-2010 cho kết quả tỷ
lệ NCBSMHT ở trẻ dưới 4 tháng ở mức thấp hơn so mục tiêu 2001-2010,giảm từ 31,1% năm 2000 xuống còn 28,8% năm 2010 Tỷ lệ BSMHT trongvòng 6 tháng đầu là 19,6%, bú sớm trong vòng 1 giờ đầu đạt 76,2% [41]
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện NhiTrung ương
2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ 01/11/2014 đến 01/05/2015.
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi đến Phòng khám dinh dưỡng Bệnh việnNhi Trung ương khám và điều trị
* Tiêu chuẩn chọn đối tượng:
- Bà mẹ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
- Trẻ không mắc các bệnh bẩm sinh
- Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trẻ mắc các bệnh bẩm sinh
- Bà mẹ không hợp tác, không muốn tham gia vào nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp tiến cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:
2
2 ) 2 / 1 (
d
q p Z
Trong đó:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu
Trang 30p: tỷ lệ % bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại đồng bằngSông Hồng là 15,3% (theo báo cáo của MICS điều tra đánh giá các mục tiêutrẻ em và phụ nữ năm 2011) => p = 0,153 => q = 1 - p = 0,847
2.4.4 Công cụ thu thập thông tin
Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để phỏng vấn các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi được thử nghiệm tại Phòng khám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trungương và chỉnh sửa phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Cân trẻ: Sử dụng cân Nhơn Hòa để cân trẻ
Đo chiều dài: Sử dụng thước đo chiều dài nằm chuyên dụng để đo trẻ
2.4.5 Kỹ thuật thu thập thông tin
Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ cócon dưới 6 tháng tuổi để thu thập các thông tin về kiến thức cũng như thựchành NCBSM và ăn bổ sung của người mẹ và các đặc điểm của trẻ
Thảo luận với bà mẹ để thu thập các thông tin sâu hơn về thực hànhNCBSM và cho trẻ ăn bổ sung
Cách tính tuổi của trẻ: Tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày,
tháng, năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ và phân loại theoWHO, 2005 Đối với trẻ đẻ non thì tính tuổi của trẻ bằng cách lấy tuổi tính
Trang 31được trừ đi số tuần trẻ thiếu cho đến khi đủ tháng là 40 tuần Ví dụ: 0 thángtuổi được tính từ khi trẻ sinh ra đến khi trẻ được 29 ngày, 1 tháng tuổi là trẻ từ
30 ngày đến 59 ngày tuổi, 5 tháng tuổi là trẻ 5 tháng (150 ngày) đến 179ngày, trẻ dưới 6 tháng là trẻ dưới 180 ngày
Vậy NCBSMHT trong 6 tháng đầu là trong 179 ngày tuổi và bắt đầu ăn
bổ sung khi trẻ được 180 ngày trở đi (tròn 6 tháng) [7]
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ: Tình trạng dinh dưỡng của trẻ
(cân nặng, chiều cao) được đánh giá bằng phương pháp nhân trắc học.Phương pháp cân đo dựa trên kỹ thuật của WHO [42]
+ Cân nặng: cân trẻ bằng cân Nhơn Hòa có độ chính xác đến 0,1 kg,cân được đặt trên một mặt phẳng Khi cân trẻ được cởi bỏ quần áo, giầy dép,
mũ Đọc và ghi kết quả với một số lẻ hàng thập phân
+ Chiều cao: Sử dụng thước gỗ UNICEF với độ chính xác 0,1cm Đốivới những trẻ dưới 24 tháng tuổi được đo chiều dài nằm Trẻ nằm thẳng trênthước, đỉnh đầu chạm vào eke gỗ cố định ở vị trí 0 cm, giữ đầu gối trẻ để chânduỗi thẳng, 2 gót chân sát vào nhau, kéo eke di động áp sát vào lòng bàn chântrẻ và đảm bảo eke vuông góc với mặt của thước, đảm bảo 5 điểm: chẩm,xương bả vai, mông, bắp chân, gót chân chạm vào thước đo Đọc và ghi kếtquả một số lẻ (đơn vị là cm)
Trang 32Hình 2.1 Hướng dẫn đo chiều dài nằm [7].
+ Sử dụng thang phân loại SDD của WHO, 2005 để đánh giá tình trạngdinh dưỡng của trẻ: các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá là cân nặng theo tuổi,chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao Trẻ bình thường khi các chỉ số cógiá trị trong khoảng từ -2 đến +2 Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ số
< -2 [14]
Trang 332.4.6 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu Biến số/Chỉ số Phương pháp thu thập Đặc điểm đối tượng NC
Thông tin
về bà mẹ
Trình độ học vấn Chia theo trình độ Phỏng vấnNghề nghiệp Chia 2 nhóm: Làm ruộng, CVC Phỏng vấn
Số con trong GĐ Chia 2 nhóm: ≤ 2 con, > 2 con Phỏng vấn
Thông tin
về trẻ
Tuổi của trẻ Chia 2 nhóm: 0-2 tháng, 3-5 tháng Phỏng vấn
Tiền sử sản khoa
- Cân nặng lúc sinh, chia 2 nhóm (< 2500 g, ≥ 2500 g)
- Tiền sử SDD bào thai: có, không
- Tuổi thai: thiếu tháng, đủ tháng, già tháng
Phỏng vấn
Tình trạng dinh dưỡng
Cân nặng: Tính bằng kg, lấy 1 số
Chiều dài nằm: Tính bằng cm, lấy
1 số thập phân sau dấu phẩy ĐoSDD thể nhẹ cân:
- Bình thường: Từ -2 đến + 2 SD
- SDD: Từ <-2 đến - 3 SD
- SDD nặng: <- 3 SD
Sử dụng chỉtiêu đánh giáTTDD(WHO, 2005)
SDD thể thấp còi:
- Bình thường: Từ -2 đến +2 SD
- SDD: Từ <-2 đến -3 SD
- SDD nặng: <-3 SDSDD thể gầy còm:
Trang 34Kiến thức
NCBSM
Phỏng vấn
Khái niệm BSMHT, sữa non
- Khái niệm bú mẹ hoàn toàn:
hiểu đúng, hiểu sai, không biết
- Khái niệm về sữa non: hiểu đúng, hiểu sai, không biết
- Tác dụng của sữa non: 3 tác dụng
Thời gian cho bú
- Thời gian bú mẹ sau sinh: ≤ 1 giờ, >1 giờ
- Thời gian bú mẹ hoàn toàn: chia
2 nhóm (6 tháng, khác)
Tư thế và cách trẻngậm bắt vú đúng
- Tư thế bú đúng (4 dấu hiệu)
- Dấu hiệu một trẻ ngậm bắt vú đúng (4 dấu hiệu)
Thực hành
NCBSM
Bú sữa non,thời gian bú mẹ
Cho trẻ bú sữa non: có, không
Phỏng vấn
Thời gian bú mẹ sau sinh: ≤1 giờ,
>1 giờ
Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu
Thực hành ăn /uống trước lần
Lý do cho ăn/uống trước lần bú đầu: mẹ chưa có sữa, mẹ đẻ mổ,
lý do khácThực hành cho
bú hết sữa cuối
2 nhóm: có, không
Thực hành cách cho bú
- Bú đúng (Tư thế và cách ngậm bắt vú đúng)
Trang 352.4.7 Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số
Bú sớm sau sinh: là trẻ được bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh [10] Sữa non là sữa mẹ được tiết ra vài ngày đầu sau sinh, chứa nhiều chất
dinh dưỡng [7]
Sữa đầu bữa: là sữa được tiết ra đầu bữa bú của trẻ Sữa đầu bữa có
màu vàng, số lượng nhiều và cung cấp nhiều protein, lactose, nước và cácchất dinh dưỡng khác [7]
Sữa cuối bữa: là sữa được tiết ra cuối bữa bú của trẻ Sữa cuối có màu
trắng vì chứa nhiều chất béo hơn sữa đầu bữa [7]
Bú mẹ hoàn toàn: là trẻ chỉ được bú mẹ mà không ăn hoặc uống bất cứ
một loại thức ăn nào khác kể cả nước trắng, trừ trường hợp trẻ ốm phải uốngthuốc [43]
Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu:
Số trẻ 0−5 tháng bú mẹ hoàntoàn Tổng số trẻ 0−5 tháng [43]
Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu:
Số trẻ 0−3 tháng đượcbú mẹhoàn toàn
Tổng số trẻ ở 0−3 tháng [43]
Trang 36Tư thế bú đúng:
a/Tư thế bú đúng b/Tư thế bú sai
Hình 2.3 Tư thế bú đúng [7].
+ Trẻ được bế sát vào lòng mẹ
+ Đầu trẻ đối diện núm vú
+ Đầu và thân trẻ nằm trên đường thẳng
+ Môi dưới hướng ra ngoài
+ Miệng trẻ ngậm sâu hết quầng đen của vú
+ Cằm trẻ tỳ vào vú mẹ
Trang 372.4.8 Sai số và cách khắc phục
Sai số nhớ lại: Khắc phục bằng cách gợi lại một số mốc liên quan đếnquá trình chăm sóc trẻ Kiểm tra số liệu ngay sau khi lấy, bổ sung thông tincòn thiếu
Sai số đo: Sử dụng một cân, thước cho quá trình đo cân nặng, chiều caocủa trẻ, chuẩn cân trước khi cân đo
2.4.10 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
Việc tiến hành nghiên cứu có xin phép và được sự đồng ý của Bệnhviện Nhi Trung ương
Giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra cho bà mẹ nhằm bảo
vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng, không nhằm mục đích nào khác
Sẵn sàng trả lời mọi thông tin liên quan đến cách chăm sóc sức khỏe vàdinh dưỡng cho trẻ khi bà mẹ cần biết sau cuộc phỏng vấn
Sau điều tra kịp thời giải thích, tư vấn cho bà mẹ những vấn đề bà mẹcòn thiếu sót trong thực hành nuôi con của mình, đặc biệt là vấn đề NCBSM
và cho trẻ ăn bổ sung
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu 200 bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi vào khám tại Phòngkhám dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ 01/11/2014đến 01/05/2015 chúng tôi thu được kết quả sau:
3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về các bà mẹ tham gia nghiên cứu
Trang 393.1.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Bảng 3.3 Phân bố tình trạng suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi
TTDD Nhóm tuổi
Trang 400-2 tháng 3-5 tháng chung 0