Mức độ ra huyết trong các chu kỳ kinh nguyệt của đối tượng nghiên cứu trước khi vào viện...37 Bảng 3.14.. So sánh mức độ ra huyết trong các chu kỳ kinh nguyệt của đối tượng nghiên cứu tr
Trang 1HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Trang 2BC Bạch cầu
FSH Follicle stimulating hormon
HATB Huyết áp trung bình
HATT Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
HDL_c High density lipoprotein cholesterol
LDL_c Low density lipoprotein cholesterol
LPHTT Liệu pháp hormon thay thế
N1 Ngày đầu tiên khi vào viện
N20 Ngày thứ 20 của đợt điều trị thứ nhất
N40 Ngày thứ 20 của đợt điều trị thứ hai
Trang 31.1.2 Cơ sở sinh lý hiện tượng tiền mãn kinh 5
1.1.3 Nguyên nhân của tiền mãn kinh 7
1.1.4 Các biến đổi về sinh lý và nguy cơ bệnh lý của thời kỳ TMK 7 1.1.5 Điều trị 10
1.1.6 Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về TMK và MK 11 1.2 Theo Y học cổ truyền 13
1.2.1 Nguyên nhân 13
1.2.2 Triệu chứng [17],[18],[26] 14
1.2.3 Điều trị [18],[26] 16
1.3 Tổng quan về bài thuốc Hắc tiêu dao 16
1.3.1 Xuất xứ bài thuốc[28] 16
1.3.2 Thành phần bài thuốc [28] 16
1.3.3 Chủ trị [17][28] 16
1.3.4 Phân tích ý nghĩa bài thuốc theo y học cổ truyền [18][28] 16
CHƯƠNG 2 18
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Chất liệu nghiên cứu 18
2.1.1 Thuốc nghiên cứu 18
2.1.2 Đặc điểm nguyên phụ liệu [6] 18
2.1.3 Dạng bào chế 20
2.2 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 20
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân 21
2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2015-07/2015 22
- Địa điểm nghiên cứu bệnh viện YDCT&PHCN Gia Lai 22
Trang 42.3.2 Phương pháp nghiên cứu trên bệnh nhân 22
2.3.3 Phương pháp đánh giá kết quả 23
2.4 Xử lý số liệu 25
2.5 Khía cạnh đạo đức của đề tài 25
- Nghiên cứu được chấp thuận của lãnh đạo Học Viện Y Dược Cổ Truyền Việt Nam, lãnh đạo bệnh viện YDCT&PHCN Gia Lai 25
- Bệnh nhân tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào 25
- Nghiên cứu có phản hồi kết quả 26
- Các thông tin này do đối tượng nghiên cứu phải giữ bí mật 26
- Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân,
không nhằm mục đích nào khác 26
CHƯƠNG 3 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 27
trị 41 3.3.3 Thay đổi điểm số trung bình sau từng đợt điều trị 41
3.3.4 Phân bố độ rối loạn hội chứng tiền mãn kinh sau từng đợt điều trị 42
3.3.5 Thay đổi các triệu chứng lâm sàng theo YHCT trước và sau điều trị: 43
3.4 Tác dụng của bài thuốc hắc tiêu dao lên một số các triệu chứng lâm sàng khác và cận lâm sàng 43
3.4.1 Sự thay đổi một số triệu chứng lâm sàng 44
3.5 Đánh giá kết quả chung 45
3.5.1 Kết quả chung 45
Trang 5CHƯƠNG 4 48
BÀN LUẬN 48
4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 48
4.1.1 Độ tuổi 48
4.1.3 Tuổi tiền mãn kinh trunh bình 48
4.1.4 Trình độ văn hoá và nghề nghiệp 49
4.1.5 Điều trị trước khi tới viện 49
4.2 Kết quả tác dụng của bài thuốc trên lâm sàng theo thang điểm Blatt – Kupperman 50
4.2.1 Tác dụng của thuốc tới các triệu chứng cơ năng 50
4.2.2 Tác dụng của thuốc tới mạch, huyết áp 57
4.2.3 Tác dụng của thuốc tới các trị số sinh hóa máu 58
4.2.4 Đánh giá tác dụng chung của bài thuốc Hắc tiêu dao 58
4.2.5 Tác dụng của thuốc đối với thể bệnh can uất huyết hư theo Y học cổ truyền 59 4.3 Phân tích và đánh giá chung về bài thuốc Hắc tiêu dao 59
4.4 Tác dụng không mong muốn của thuốc 61
KẾT LUẬN 63
KIẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 6
Bảng 2.1 Cách cho điểm các triệu chứng của hội chứng TMK 23
(theo Blatt - Kuperman) 23
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá mức độ bị bệnh của hội chứng TMK 24
(theo Blatt - Kuperman) 24
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 27
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm nghề nghiệp 28
Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm trình độ học vấn 29
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân 30
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi lần đầu có kinh 30
Bảng 3.6 Tiền sử sản khoa của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.7 Tiền sử mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.8 Đặc điểm về kinh nguyệt (Chu kỳ kinh; số ngày có kinh; Lượng kinh) 31
Bảng 3.9 Phân bố thời gian rối loạn kinh nguyệt của đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.10 Tỷ lệ bệnh nhân áp dụng các phương pháp điều trị .34
Bảng 3.11 Phân bố bệnh nhân theo các triệu chứng cơ năng theo 35
thang điểm của Blatt-Kupperman 35
Bảng 3.12 Phân bố mức độ bị rối loạn của đối tượng đối tượng nghiên cứu theo thang điểm của Blatt-Kupperman 36
Bảng 3.13 Mức độ ra huyết trong các chu kỳ kinh nguyệt của đối tượng nghiên cứu trước khi vào viện 37
Bảng 3.14 Phân bố bệnh nhân theo nhóm huyết áp trước điều trị 38
Bảng 3.15 Các triệu chứng cơ năng theo YHCT (qua vọng, văn, vấn, thiết) 38
Bảng 3.16 Sự thay đổi các triệu chứng cơ năng sau từng đợt điều trị (theo thang điểm Blatkuperman) (n = 37) 39 Bảng 3.17 Sự thay đổi theo mức độ (nặng, nhẹ) các triệu chứng cơ năng
Trang 7Bảng 3.19 Phân bố độ rối loạn hội chứng tiền mãn kinh sau từng đợt điều trị 42 Bảng 3.20 Các triệu chứng cơ năng theo YHCT trước và sau điều trị 43 Bảng 3.21 So sánh mức độ ra huyết trong các chu kỳ kinh nguyệt của đối tượng nghiên cứu trước và sau khi điều trị 44 Bảng 3.22 Thay đổi huyết áp (mmHg) sau từng đợt điều trị 44 Bảng 3.23 Thay đổi tần số tim sau các đợt điều trị (SD) 45 Bảng 3.24 Sự thay đổi một số chỉ số sinh hóa máu trước và sau điều trị 45 Bảng 3.25 Kết quả chung 45 Bảng 3.26 Kết quả không mong muốn 46 Bảng 3.27 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học trước và sau điều trị 46 Bảng 3.28 Sự thay đổi của chức năng gan, thận trước và sau điều trị 47
Trang 8
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 27 Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 28 Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh nhân theo trình độ học vấn 29 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bệnh nhân áp dụng các biện pháp trước khi vào viện 34 Biểu đồ 3.5 Điểm số trung bình của các bệnh nhân qua từng đợt điều trị 42 Biểu đồ 3.6 Phân bố độ rối loạn hội chứng tiền mãn kinh sau từng đợt điều trị 43 Biểu đồ 3.7 Đánh giá kết quả chung sau điều trị 46
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Phụ nữ bước vào giai đoạn tiền mãn kinh ở những giai đoạn rất khác nhau, ở độ tuổi 40 hoặc thậm chí ngay đầu những tuổi 30 có thể đã nhận thấy nhưng thay đổi gây ra những dấu hiệu Trong thời kì này, hiện tượng mãn kinh xảy ra như tất yếu của cuộc sống nữ giới với các biểu hiện như rối loạn kinh nguyệt dẫn đến hết kinh vĩnh viễn, ngừng phóng noãn, cùng với nồng độ hormon sinh dục giảm thấp [3],[11] Những thay đổi này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ
Hiện tượng bất bình thường về chu kỳ kinh nguyệt trong thời kì này là
do buồng trứng giảm sản xuất hai hormone sinh dục nữ estrogen và progesteron làm thay đổi chuyển hóa dẫn đến thay đổi về tâm sinh lý một cách rõ ràng Những thay đổi đó gồm các triệu chứng như cơn bốc hỏa, vã mồ hôi, khô âm đạo…lâu dài người phụ nữ lứa tuổi này còn phải đối mặt với nguy cơ tim mạch, loãng xương, alzheimer [16],[19],[20] Ước tính khoảng 75- 90% phụ nữ tuổi trên 40 xuất hiện các triệu chứng trên, trong đó 5-10% cần được điều trị [14],[34]
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phát triển của y khoa và ngành phụ khoa nói riêng đã có một số công trình điều trị các rối loạn trên, một trong những công trình đó là liệu pháp hormone thay thế, tuy nhiên cũng
có những trường hợp không sử dụng được hormone thay thế, khi dùng kéo dài thì biến chứng sẽ cao
Bên cạnh y học hiện đại, y học cổ truyền cũng có những phương pháp không dùng thuốc (châm cứu, xoa bóp, dưỡng sinh) hoặc dùng thuốc (một bài thuốc hay một số vị thuốc) để điều trị chứng bệnh này, và mang lại kết quả đáng nghi nhận Trong đó có bài thuốc cổ phương “hắc tiêu dao” dùng để điều trị hội chứng tiền mãn kinh, nhưng chưa có nghiên cứu đầy đủ
Trang 10Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác dụng
bài thuốc Hắc tiêu dao trong điều trị hội chứng tiền mãn kinh” nhằm
hai mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng của bài thuốc Hắc tiêu dao lên triệu chứng lâm
sàng và một số chỉ số cận lâm sàng trong hội chứng tiền mãn kinh thể can uất huyết hư.
2 Nhận xét tác dụng không mong muốn của bài thuốc.
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Quan niệm y học hiện đại về tiển mãn kinh (TMK)
1.1.1 Đại cương về TMK
1.1.1.1 Tiền mãn kinh
Tiền mãn kinh là khoảng thời gian có rối loạn kinh nguyệt trước khi xảy ra mãn kinh, người phụ nữ có rối loạn hoặc hết kinh nguyệt, không còn phóng noãn, nồng độ hormone sinh dục giảm thấp [12],[18],[20]
1.1.1.2 Tuổi mãn kinh
Theo công bố của WHO năm 1996, thì tuổi mãn kinh trung bình của các nước công nghiệp phát triển khoảng 51 tuổi và ở các nước đang phát triển thì thấp hơn 120 Tại Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về độ tuổi mãn kinh như:
Phạm Thị Minh Đức và công sự nghiên cứu hơn 10.000 phụ nữ trong phạm vi 7 vùng sinh thái cho kết quả tuổi MK của phụ nữ Việt Nam thập kỷ
90 thế kỷ XX là 47,3 ± 3,2 và cứ 10 năm tuổi mãn kinh lại muộn lại 2 năm từ thập kỷ 70 [14]
Theo Trần Xuân Hoan tuổi trung bình của phụ nữ TMK là 47,0 ± 2,7 tuổi [15]
1.1.1.3 Các triệu chứng TMK
Rối loạn kinh nguyệt: Kinh mau, kinh thưa, vòng kinh ngắn, lượng kinh
ít dần, chu kì kinh nguyệt đến sớm muộn thất thường lượng ít hoặc có khi rất nhiều, băng kinh hoặc ngừng kinh đột ngột [1],[2],[4],[12]
Rối loạn vận mạch: Cơn bốc hỏa: Các phụ nữ qua cơn bốc hoả họ nói rằng hiện tượng này xẩy đến rất bất ngờ, không có báo trước, bất thần họ cảm thấy một cảm giác ấm hay nóng bừng ở mặt hoặc là từ ngực lan dần lên tới
Trang 12cổ, đầu rồi tới mặt (Cảm giác này có thể kéo dài một vài giây tới một vài phút) và thường hay có kèm theo một cơn đỏ mặt, đôi khi sau cơn bốc hoả lại rùng mình Bệnh nhân thường vã mồ hôi sau cơn bốc hoả Một số người than phiền thấy có choáng váng chóng mặt, đánh trống ngực, nhức đầu, buồn nôn ngay sau khi bị bốc hoả và sự kết thúc của triệu chứng khó chịu này cũng đột ngột như khi nó xuất hiện Tất cả giai đoạn này kéo dài khoảng vài phút [4],[19].
Rối loạn về thần kinh: Hay lo lắng , hồi hộp, nhiều khi tim đập nhanh, giảm trí nhớ, hay quên, không tập trung tử tưởng, thay đổi tính tình, cáu giận, hờn giận, mất bình tĩnh, mất tự tin dề buồn nản, lâm vào tình trạng trầm cảm
và bắt đầu xuất hiện triệu chứng của bệnh Alzheimer [4]
Rối loạn về sinh dục tiết niệu: Niệu đạo ngắn, trương lực cơ bàng quang kém, yếu nên dễ bị són tiểu, nước tiểu lắng đọng ở bàng quang dễ gây viêm đường tiết niệu, do thiếu estrogen nên biểu mô vùng tam giác của bàng quang bị teo dế bị kích thích nên có thể gây đái dắt, đái buốt Cơ vòng niệu đạo, cỏ bàng quang bị teo nhỏ, yếu, nên dễ bị hở gây són đái, đái không tự chủ hoặc bí đái [4]
Tử cung nhỏ dần, nội mạc tử cung mỏng, teo đét,mô liên kết ở dưới biểu mô niêm mạc bị teo mỏng, khiến lòng âm đạo hẹp hơn nữa biểu mô âm đạo mỏng tuyến nhờn âm hộ và âm đạo teo nên chế tiết ít hoặc không chế tiết chất nhờn Âm đạo tử cung có nhiều mạch máu nên khi biểu mô âm đạo bị teo mỏng khiến lòng âm đạo rất dễ bị tổn thương khi va chạm và gây chảy máu [3],[9]
Dấu hiệu về xương khớp: Đến độ tuổi mãn kinh người phụ nữ mất 6- 12% xương/năm Vì mất canxi trong xương đồng thời lượng canxi hấp thu kém đi [4],[11],[12],[13]
Hệ thống tim mạch: Mạch bị xơ vữa làm giảm tính đàn hồi của thành mạch, tăng sức cản ngoại vi, làm tim phải tăng cường hoạt động để chống lại
Trang 13sức cản ngoại vi nên huyết áp có xu hướng tăng lên Theo thống kê của WHO bệnh tim mạch là nguy cơ gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới 90’’ Nghiên cứu của Đặng Quang Vinh có 8,2% phụ nữ mãn kinh có nguy cơ suy động mạch vành [21].
1.1.2 Cơ sở sinh lý hiện tượng tiền mãn kinh
1.1.2.1 Trục dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng
Vùng dưới đồi và hormone GnRH: Vùng dưới đồi là một cấu trức thuộc não trung gian, trung tâm điều khiển chức năng sinh dục, bài tiết ra hormone kích dục tố GnRH, kích thích tế bào thùy trước tuyến yên tiết cả FSH và LH
GnRH là hormone đầu tiên cho trục dưới đồi – tuyến yên- buồng trứng [4],[12],[14]
1.1.2.2 Tuyến yên và hormone kích thích tuyến sinh dục FSH và LH
FSH và LH đều được bài tiết từ thùy trước tuyến yên Trên buồng trứng FSH và LH có tác dụng:
FSH: Kích thích nang noãn của buồng trứng phát triển và phối hợp với
LH kích thích sự trưởng thành của nang noãn đặc biệt kích thích tăng sinh lớp
tế bào hạt để từ đó tạo thành lớp vỏ của nang noãn
LH: Phối hợp FSH làm phát triển nang noãn đến chin và gây hiện tượng phóng noãn Kích thích tế bào hạt và lớp vỏ còn lại phát triển thành hoàng thể, đồng thời duy trì sự tồn tại của hoàng thể, kích thích bài tiết estrogen và progesterol của hoàng thể
Điều hòa bài tiết FSH và LH theo cơ chế feedback âm tính và dương tính của estrogen và progesterol [4]
Tác dụng ức chế của inhibin: Inhibin do tế bào hạt của hoàng thể bài tiết có tác dụng ức chế bài tiết FSH
1.1.2.3 Buồng trứng và các hormone sinh duc nữ
Mỗi phụ nữ có 2 buồng trứng, kích thước mỗi buồng trứng trưởng thành là 2,5 x 5 x 2,1 cm và nặng từ 4 - 8g Các nang noãn của nang trứng
Trang 14ngày càng bị thoái triển khiến số lượng nang noãn ngày càng giảm đi theo thời gian (theo tuổi già), những nang chưa bị teo thì dần dần cũng giảm nhạy cảm với FSH và LH của tuyến yên.
Hormone estrogen: Estrogen có nguồn gốc chủ yếu từ buồng trứng do các tế bào hạt lớp áo trong nang trứng bài tiết vào nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt
và nửa sau do hoàng thể bài tiết Một lượng rất nhỏ còn có nguồn gốc từ vỏ thượng thận, khi có thai rau thai bài tiết một lượng lớn estrogen
Tác dụng làm xuất hiện và bảo tồn các đặc tính sinh dục nữ thứ phát từ tuổi dậy thì Bao gồm làm: phát triển các cơ quan sinh dục, phát triển lớp mỡ dưới da, giọng nói trong, dáng mềm mại, cách mọc lông, tóc [1],[3],[12]
Tác dụng lên tử cung: làm các tế bào biểu mô của niêm mạc tử cung bài tiết một lớp dịch nhầy loãng và mỏng
Tác dụng lên vòi trứng: làm tăng sinh mô tuyến của niêm mạc ống dẫn trứng, các tế bào biểu mô lông rung
Tác dụng lên âm đạo: làm thay đổi biểu mô âm đạo dạng khối thành dạng tầng, giúp tăng khả năng chống đỡ với các chấn thương và nhiễm khuẩn, kích thích các tuyến âm đạo bài tiết dịch a xít
Tác dụng lên tuyến vú: làm phát triển hệ thống ống tuyến mô đệm, tăng lắng đọng mỡ ở vú
Tác động lên chuyển hoá: tăng tổng hợp protein, tăng lắng đọng mỡ dưới da, giảm nồng độ cholesterol toàn phần
Tác dụng lên xương: làm tăng hoạt động của tế bào tạo xương
Điều hoà bài tiết estrogen: estrogen bà tiết nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nồng độ LH, LH tăng sẽ kích thích lớp áo trong nang trứng bài tiết estrogen
Hormon Progesteron [1],[12].
Progesteron được bài tiết chủ yếu từ hoàng thể trong nửa sau của chu
kỳ kinh nguyệt Nang trứng ở nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt và tuyến vỏ thượng thận bài tiết rất ít progesteron, rau thai bài tiết một lượng lớn progesteron
Trang 15Progesteron là một hợp chất steroid được tổng hợp từ cholesteron hoặc từ acetyl- coenzym A
Tác dụng lên tử cung: kích thích các tuyến của niêm mạc tử cung phát triển và bài tiết glycogen, làm giảm co bóp tử cung
Tác dụng lên cổ tử cung: Làm các tế bào biểu mô của niêm mạc cổ tử cung bài tiết một lớp dịch nhầy, quánh và dầy
- Tác dụng lên vòi trứng: Kích thích niêm mạc vòi trứng bài tiết dịch chứa chất dinh dưỡng để nuôi dưỡng trứng đã thụ tinh
- Tác dụng lên tuyến vú: Làm phát triển thuỳ tuyến
- Tác dụng tái hấp thu ion Na+, Cl- và nước ở ống lượn xa
- Tác dụng lên thân nhiệt: làm tăng nhiệt độ cơ thể, do vậy ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt thân nhiệt người phụ nữ thường cao hơn nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt 0,3 - 0,5 độ C
- Điều hoà bài tiết: sự bài tiết progesteron chịu ảnh hưởng điều khiển trực tiếp của hormone LH Nồng độ LH tăng trong máu, hoàng thể sẽ được nuôi dưỡng và bài tiết nhiều progesteron
1.1.3 Nguyên nhân của tiền mãn kinh
Nguyên nhân của rối loạn TMK là sự suy giảm chức năng của buồng trứng Với sự suy giảm dần chức năng và dần dẫn đến là sự “kiệt quệ” của buồng trứng Vào thời điểm này, số nang noãn nguyên thuỷ khoẻ mạnh ở buồng trứng còn ít, sự đáp ứng của nang noãn với kích thích của FSH và LH giảm, dẫn đến lượng estrogen giảm dần đến mức thấp nhất, với hàm lượng này, estrogen không đủ để tạo một cơ chế feedback âm gây ức chế bài tiết FSH và LH, đồng thời cũng không đủ để tạo cơ chế feedback dương gây bài tiết đủ lượng FSH và LH cần thiết làm phóng noãn [1],[2],[4],[12]
1.1.4 Các biến đổi về sinh lý và nguy cơ bệnh lý của thời kỳ TMK
1.1.4.1 Các biến đổi về hệ thống nội tiết- sinh dục- tiết niệu
Ở thời kỳ TMK có sự thay đổi lớn về nội tiết mà hiện tượng chính là sự tụt giảm estrogen Trong thời kỳ sinh sản, buồng trứng chế tiết chủ yếu
Trang 16estradiol và một lượng nhỏ estriol, còn lại hầu hết estron được hình thành từ
mô đích của nguồn androgen do vỏ thượng thận và lớp vỏ của nang noãn chế tiết Estrogen cũng có thể biến đổi từ dạng này sang dạng khác, như sự chuyển dạng qua lại của estrogen và estron, trước khi MK 95% estradiol từ sự chuyển hoá estron [1],[4]
Thời kỳ TMK có sự thay đổi về estrogen, chủ yếu là hàm lượng, nguồn gốc và các dạng estrogen lưu hành Nồng độ estradiol và estron giảm rõ trong
12 tháng đầu của thời kỳ này và tiếp tục giảm chậm hơn trong một vài năm sau đó Có khoảng 90% phụ nữ, buồng trứng không còn chế tiết estradiol, estron trở thành chất estrogen tuần hoàn chủ yếu Nguồn gốc đều từ quá trình thơm hoá androstenedion, 95% chất này được chế tiết ra từ tuyến thượng thận
và 5% từ buồng trứng Sau đó chuyển đổi estron ở mô ngoại vi là nguồn gốc chính của estradiol trong thời kỳ MK Thời kỳ sinh sản nồng độ estradiol đạt giá trị cao nhất vào giữa chu kỳ kinh (dao động từ 725,18 pmol/l đến 925,28 pmol/l) [3]
Vào những năm cuối của đời sống sinh sản, nồng độ estradiol là 550 pmol/l và tụt xuống 80 pmol/l ở thời kỳ MK Điều này cho thấy trong thời kỳ TMK và MK có sự sụt giảm rất lớn nồng độ estradiol Sự tụt giảm này đã gây
ra những rối loạn tâm sinh lý cho người phụ nữ trong thời kỳ TMK và MK
Nồng độ FSH huyết thanh liên quan chặt chẽ với thời kỳ MK Khi nồng
độ FSH huyết thanh tăng lên trên 40 IU/l là dấu hiệu cận lâm sàng đáng tin cậy nhất để xác định MK Vào giai đoạn TMK đã có sự thay đổi nồng độ FSH
và LH Khoảng 2 - 3 năm sau kỳ kinh cuối, hàm lượng FSH có thể gia tăng từ
10 - 20 lần, giá trị FSH có thể đạt tới 20 - 140 IU/l Nồng độ LH cũng gia tăng nhưng ít đột ngột hơn, điển hình là tăng khoảng 3 - 5 lần
Các cơ quan sinh dục như tử cung, cổ tử cung, âm hộ, âm đạo teo nhỏ Thành âm đạo mỏng, hẹp, ngắn, kém đàn hồi, ít tiết dịch, pH của dịch âm đạo
ít acid hơn, vì vậy dễ bị chấn thương và dễ bị nhiễm khuẩn đồng thời gây đau
Trang 17khi giao hợp Vú trở nên phẳng và nhẽo do teo các mô đệm và ống dẫn sữa, giảm mô mỡ ở xung quanh xương mu, lông thưa hơn, giảm ham muốn tình dục do khô âm đạo, mụn trứng cá, tóc rụng, mệt mỏi kinh niên, lông mặt mọc rậm, da khô, nhám, nhăn nheo do mất dần lớp mỡ dưới da, giọng nói bị ồ
Tiểu són, tiểu khó, tiểu đêm là kết quả của việc mất đi khả năng co kết quả của những sợi cơ vân quanh niệu đạo, niệu đạo teo và ngắn lại, giảm lượng collagen trong mô liên kết quanh niệu đạo, niệu đạo bị xơ cứng
1.1.4.2 Các biến đổi về hệ thống cơ - xương- khớp và nguy cơ loãng xương
Hệ thống xương bao gồm một khuôn hữu cơ dài và các sợi collagen Các muối canxi phosphat lắng đọng trên khuôn hữu cơ này đã làm cho xương được bền vững Khối lượng xương tối đa của một người đạt được ở giai đoạn trưởng thành ở thời kỳ TMK, nhịp độ mất xương xảy ra nhanh và dẫn tới bệnh loãng xương Loãng xương diễn biến âm ỷ thường không được chẩn đoán cho tới khi gãy xương xảy ra Rất rõ ràng cả nam và nữ đều mất khối chất khoáng của xương khi quá 50 tuổi nhưng phụ nữ mất khối xương với tốc
độ lớn hơn nam giới sau 50 tuổi Phụ nữ sau 50 tuổi tốc độ gãy xương cẳng tay tăng theo đường thẳng và tốc độ gãy xương chậu tăng theo luỹ thừa [10]
Loãng xương TMK chủ yếu do có sự gia tăng hoạt động của hủy cốt bào, suy giảm các tạo cốt bào trong xương, làm sự hủy xương nhiều hơn Nguyên nhân tăng sự hủy xương là do thiếu hụt estrogen, vì estrogen có tác dụng kiềm chế tác động của nội tiết tố cận giáp (PTH) do PTH có tác dụng gây tăng phóng thích canxi và phosphat từ xương vào máu, làm xương bị mất chất khoáng, nhờ estrogen hiện tượng này bị ức chế giúp cân bằng canxi trong máu và trong xương
Ngược lại với PTH là canxitonin do tuyến giáp tiết ra
Canxitonin làm tăng vận chuyển canxi từ máu vào tế bào và xương, vì vậy nó làm tăng hàm lượng chất khoáng trong xương
Trang 181.1.4.3 Các biến đổi về chuyển hoá lipid và nguy cơ xơ vữa động mạch.
Hệ mạch được xem là mô đích quan trọng của estrogen, vì estrogen có tác dụng chống lại sự thành lập và phát triển mảng xơ vữa trong động mạch, giảm cholesterol toàn phần, LDL- cholesterol, và ngăn cản oxy hoá LDL- cholesterol đồng thời có tác dụng tăng HDL- cholesterol [12],[15],[16]
Trong thời kỳ TMK do sự suy giảm estrogen nên có sự gia tăng nồng
độ cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, triglycerid và giảm HDL- cholesterol trong máu Những thay đổi này làm tăng nguy cơ các bệnh tim mạch [12],[16]
1.1.4.4 Các biến đổi về tinh thần kinh và nguy cơ rối loạn trí nhớ, tâm thần.
Các biến đổi về tinh thần kinh của phụ nữ thời kỳ TMK như trạng thái trầm cảm, dễ kích thích, hay quên, kém tập trung Sự suy giảm trí nhớ ở phụ
nữ TMK có liên quan với sự thiếu hụt estrogen Thí nghiệm trên loài vật đã ghi nhận chất dehydroepiandrosteron sẽ được chuyển hoá thành estrogen, làm cải thiện chức năng trí nhớ Nhiều nghiên cứu về bệnh nhân Alzheimer thấy nồng độ dehydroepiandrosteron thấp hơn người bình thường
Trạng thái trầm cảm của phụ nữ thời kỳ TMK thường liên quan đến sự thiếu hụt các chất truyền đạt thần kinh do rối loạn trục hệ viền - dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng Trạng thái này liên quan do sự thiếu hụt estrogen [25]
1.1.4.5 Các biến đổi về hình thể và dinh dưỡng
Phụ nữ thời kỳ TMK và MK có một số biến đổi về tầm vóc và hình thái như giảm chiều cao do sự hẹp lại của các đĩa đệm vì tình trạng loãng xương
do giảm estrogen, kèm theo có sự phân bố lại lớp mỡ dưới da, chủ yếu tích
mỡ ở trung tâm, đặc biệt là lớp mỡ bụng Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Đức cho thấy có sự phân bố lại lớp mỡ dưới da của phụ nữ MK và chiều cao giảm dần theo thời gian MK [13]
1.1.5 Điều trị
Các phương pháp điều trị nhằm giải quyết nguyên nhân chính của các rối loạn do sự thiếu hụt estrogen buồng trứng gây ra
Trang 19- Dùng liệu pháp hormon thay thế:
+ Liều estrogen và progestogen cố gắng càng thấp càng tốt nhằm tránh chảy máu tử cung, khi siêu âm nội mạc tử cung ≤ 5 mm
+ Khi sử dụng liệu pháp nội tiết thay thế kéo dài phải khám bệnh định
kỳ, đo huyết áp, xét nghiệm máu, thăm dò chức năng gan, làm phiến đồ âm đạo, cổ tử cung, khám vú hàng năm
Đối với phụ nữ bình thường nên dùng thêm progestogen để bảo vệ nội mạc tử cung với các chế phẩm:
Thuốc Utrogestan: Là loại chế phẩm progestogen thiên nhiên, bao gồm
thuốc tiêm và thuốc uống (Loại thuốc progestogen thiên nhiên không đối kháng lại tác dụng của estrogen, có thể cải thiện lượng mỡ trong máu)
Thuốc progestogen tổng hợp: Dydrogesteron, Crinon và Estracombi
đều đã qua thử nghiệm lâm sàng
- Các estrogen thảo dược: Các loại estrogen này có mặt tự nhiên trong một số loại thực phẩm Thường gặp 2 loại: Isoflavon (trong đậu nành, đậu xanh và nhiều loại đậu khác); và lignan (trong dầu hạt lanh, mầm lúa và một
số loại rau quả)
1.1.6 Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về TMK và MK
1.1.6.1 Các nghiên cứu nước ngoài:
Nghiên cứu Burger và CS đã tiến hành định lượng FSH và estradiol ở phụ
nữ TMK - MK cho thấy nồng độ estrogen trung bình giảm khoảng hai năm trước khi MK, giảm rất nhanh vào thời điểm MK và có trạng thái cao nguyên ảo sau khi MK hai năm Ngược lại, nồng độ trung bình của FSH tăng nhanh trong hai năm trước MK, tăng rất nhanh trong 10 tháng trước MK và trạng thái cao nguyên ảo khoảng hai năm sau MK [31]
Smith đã tiến hành nghiên cứu dọc ở 1178 phụ nữ TMK- MK, thấy tỷ lệ cơn bốc hỏa là 10% ở giai đoạn TMK, 30% ở giai đoạn quanh MK, 50% trong giai đoạn MK và giảm đi một cách có ý nghĩa sau MK hai năm, chỉ còn 20% sau
MK bốn năm [32]
Trang 201.1.6.2 Các nghiên cứu trong nước:
- Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Đức về thực trạng sức khoẻ sinh sản của phụ nữ Việt Nam tuổi MK và đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng sống của phụ nữ lứa tuổi này ở 7 vùng trong cả nước cho thấy có 55,8% phụ nữ có biến động kinh nguyệt trước khi MK thực sự Thời gian biến động kinh nguyệt là 10,2 ± 9,9 tháng Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 11 triệu chứng cơ năng trong thời kỳ TMK; đó là đau đầu, hay cáu gắt, cơn bừng nóng, cảm giác buồn bực, hay quên, mất ngủ, hay hồi hộp, tê buồn chân tay, buồn ngủ ban ngày, cảm giác buồn chán và tê lạnh sống lưng và bàn tay, bàn chân Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng này rất khác nhau giữa các vùng Tỷ lệ mắc
ở phụ nữ Hà Nội và Thái Bình cao hơn hẳn so với phụ nữ Thái Nguyên, Huế, Bình Định, Cần Thơ Với các biểu hiện của thời kỳ MK hay gặp nhất là đau mỏi lưng (80,7%), hay quên (69,6%), thay đổi cân nặng (69,9%), mất ngủ ban đêm (57,5%), hay hồi hộp (52,9%), cơn bừng nóng (44,5%); Các biểu hiện khác có tỷ
lệ thấp hơn, thời gian kéo dài triệu chứng từ 1 - 5 năm [14]
- Một điều tra dịch tễ học của Nguyễn Thị Ngọc Phượng và CS vào các năm 1998, 2003 và 2006 cho thấy: triệu chứng về cơ xương khớp chiếm tỷ lệ cao nhất là 67%; Rối loạn vận mạch chiếm tỷ lệ 40%; Rối loạn về tiết niệu, sinh dục chiếm tỷ lệ 30%- 35% [20],[21]
- Theo nghiên cứu của Lê Thị Thanh Vân trên 503 bệnh nhân rong kinh trong thời kỳ TMK có 38% rong kinh rong huyết cơ năng, bệnh nhân trước khi rong kinh thường có rối loạn vòng kinh, chủ yếu là vòng kinh dài hơn [24]
- Theo nghiên cứu của Phạm Gia Đức là 60,5% phụ nữ tuổi MK có rối loạn vận mạch [10]
- Theo Trần Đức Thọ, Vũ Đình Chính [27], khi tiến hành áp dụng điều trị liệu pháp hormon thay thế (estrogen và progesteron) cho 30 phụ nữ có rối loạn TMK và MK cho kết quả: sau điều trị các triệu chứng như bốc hoả, chóng mặt
Trang 21giảm 100%; Nhức đầu giảm 78,5%; Dấu hiệu chuột rỳt giảm 82,14%; Tờ tay chõn giảm 80,76%; Đau cột sống giảm 43,75% Hoang tưởng 3/3; Cường giỏp trạng 2/2
- Theo nghiên cứu của Trần Thu Trang [23] sử dụng Nhĩ châm các điểm Thần môn, Giao cảm, Nội tiết, trong 30 ngày liên tục và đợc thay hạt dán 4 lần trong liệu trình điều trị trên 30 bệnh nhân với kết quả đạt loại tốt là 36,7%, loại khá là 60% và chỉ có 3,3% không đạt kết quả Kết quả nh nhau với hai thể Can Thận âm h và Âm h hỏa vợng
1.2 Theo Y học cổ truyền
1.2.1 Nguyờn nhõn
Theo Y học cổ truyền: con gỏi 7 tuổi thận khớ thịnh, răng thay, túc dài,
14 tuổi thiờn quý đến, mạch thỏi xung thịnh, bắt đầu cú kinh, kinh kỳ cứ mỗi thỏng một lần Chu kỳ kinh 28 ngày/lần
Số lượng 50-100 ml/lần, hành kinh 3-5 ngày, màu kinh lỳc đầu đỏ nhạt, sau đỏ sẫm, sau cựng nhạt, khụng đụng, khụng cú cục, khụng loóng, khụng đặc [1],[8],[9],[10]
Dựa theo thiờn “Thượng Cổ Thiờn Chõn Luận” (Tố Vấn), YHCT cho rằng hoạt động sinh lý của phụ nữ bắt đầu suy giảm từ tuổi 42 (tuổi lục thất, tam dương suy, da mặt khụ, túc bạc…) đến tuổi 49 (tuổi thất thất, mạch Xung Nhõm suy, Thiờn quý kiệt…) và như vậy ở khoảng tuổi này là phụ nữ hết sinh
đẻ, chức năng tạng phủ suy dần mà chủ yếu là Thận khớ suy, người phụ nữ bắt đầu thời kỳ TMK, Thận suy chủ yếu là tinh huyết suy gõy nờn õm dương mất cõn bằng, ảnh hưởng đến sự hoạt động bỡnh thường của cỏc tạng phủ khỏc và
là nguyờn nhõn chớnh của hội chứng TMK [5],[26]
Theo YHCT quá trình sinh trởng, phát dục, trởng thành và giảm chức năng sinh sản ở nữ giới có liên quan mật thiết giữa tạng Thận và 2 mạch Xung, Nhâm Khi chức năng các cơ quan tạng phủ này suy giảm khiến âm d-
ơng mất cân bằng, khí huyết không điều hoà, gây nên các rối loạn của thời kỳ
Trang 22TMK Thận âm h, nội nhiệt phát sinh ra bên trong cơ thể, dẫn đến chứng bệnh
âm h nội nhiệt, h nhiệt sinh ra bốc lên thành bốc hỏa, mạch Nhâm trống rỗng, mạch Xung suy làm ảnh hởng đến Huyết hải, bể huyết bị tổn thơng sẽ dẫn đến kinh nguyệt bị rối loạn và hết kinh Mặt khác hoạt động sinh lý giữa các tạng phủ luôn có mối liên quan mật thiết với nhau nh Thận thuỷ và Tâm hỏa để giữ cân bằng âm dơng Nếu Thận âm h không giao hoà đợc với Tâm hỏa sẽ dẫn
đến hội chứng Tâm Thận bất giao, dẫn đến mất ngủ, hay quên, hồi hộp
Bình thờng Can Thận là hai tạng ất quí đồng nguyên, nếu Thận âm h, tinh suy tổn, không hóa thủy sẽ dẫn đến hội chứng Can Thận âm h, Can âm h không giữ đợc cân bằng với Can dơng và trên lâm sàng biểu hiện là hội chứng
Âm h Can vợng, dẫn đến dễ tức giận, bản thân h không nuôi dỡng đợc xơng tủy làm xơng mềm yếu, dễ gãy
Nh vậy, từ góc độ bệnh nguyên, bệnh sinh theo y lý của YHCT cho thấy các rối loạn TMK và MK đều bắt đầu từ Thận và sự mất cân bằng âm dơng của Thận sẽ làm ảnh hởng tới chức năng của các tạng phủ khác mà cụ thể là hai tạng có mối quan hệ chặt chẽ với Thận là Can và Tâm [18],[26]
Ngoài ra cũn một số cỏc yếu tố thuận lợi khỏc cú thể làm cho cỏc triệu chứng rối loạn TMK tăng lờn bao gồm:
- Ngoại nhõn: Thường do cảm nhiễm phải cỏc tà khớ vỡ thời kỳ TMK chớnh khớ hư suy nờn dễ cảm nhiễm phải tà khớ nếu người phụ nữ khụng chỳ ý quan tõm tới sức khỏe
- Nội nhõn: Do sự biến đổi bảy thứ tỡnh chớ (Vui, lo lắng, buồn, ưu, kinh, khủng… quỏ mức) làm ảnh hưởng tới chức năng cỏc tạng phủ, hoạt động của tạng phủ khụng điều hoà, từ đú mà dễ phỏt sinh bệnh tật
- Bất nội ngoại nhõn: Do ăn uống, sinh hoạt khụng điều độ hoặc làm việc quỏ sức kốm theo chức năng của cỏc tạng phủ suy giảm, làm ảnh hưởng đến tõm sinh lý trong cơ thể, từ đú dễ phỏt sinh bệnh tật [5],[17]
1.2.2 Triệu chứng [17],[18],[26]
Trang 23Y học cổ truyền cho rằng, gốc bệnh là từ thận suy, âm dương của thận không điều hòa, chức năng hai mạch xung nhâm rối loạn, ảnh hưởng đến tạng tâm can tỳ từ đó phát sinh hàng loạt sự biến hóa bệnh lý Xuất hiện nhiều chứng hậu, nhưng vì phụ nữ phải có kinh nguyệt, mang thai, chửa đẻ, sinh nở, đều có liên quan tớí huyết, tương ứng với trạng thái “Âm thường bất túc Dương thường hữu dư ” cho nên lâm sàng phần nhiều là thận âm hư, can uất hóa hỏa, bao gồm:
1.2.2.1 Chứng can uất huyết hư
Kinh nguyệt rối loạn, tính tình bứt rứt nóng nẩy, dễ cáu gắt, mắt khô mờ, chóng mặt, đau đầu, ngực sườn đau tức, chân tay run tê rần hoặc cảm giác kiến bò, lưỡi tía đỏ (rìa đỏ), mạch huyền tế
1.2.2.2 Chứng âm hư nội nhiệt
Kinh nguyệt đến sớm, lượng kinh ít hoặc trễ ra nhiều hoặc tắt kinh đột ngột, đau đầu chóng mặt, bốc hỏa ra mồ hôi, mồm khô, tiểu vàng, táo bón, lưng gối nhức mỏi, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác
1.2.2.3 Chứng tâm thận bất giao
Rối loạn kinh nguỵêt người nóng ra mồ hôi, hồi hộp hay quên, mất ngủ hay mộng, tư tưởng không tập trung hay buồn vô cớ, lưỡi thon đỏ, ít rêu mạch
tế sác
1.2.2.4 Chứng tinh cạn huyết khô
Trước sau mãn kinh lưng gối đau mỏi, cốt tủy đau nhức, nóng trong xương, đầu choáng váng (mắt hoa) nảy đom đóm mắt, tai ù như ve kêu thậm chí răng lung lay rồi rụng, mất ngủ, kinh nguyệt sau kỳ lượng ít rồi kinh nguyệt chấm dứt, chất lưỡi đỏ, mạch tế nhược
1.2.2.5 Thận dương hư
Kinh nguyệt ra nhiều hoặc đến sớm, người mập, chân tay lạnh mát, sợ lạnh, mệt mỏi hoặc phù, tiểu trong hoặc són tiểu, lưỡi sắc nhợt, rêu trắng, mạch trầm nhược, tế nhược
1.2.2.6 Thận dương thận âm đều hư
Trang 24Đầu đau chóng mặt, mắt hoa, tai ù, hay mơ, lúc lạnh lúc nóng, ra mồ hôi
sợ gió, mặt nóng từng lúc ,lưng lạnh, lưỡi nhạt hoặc đỏ, mạch trầm nhược
1.2.3 Điều trị [18],[26]
Y học cổ truyền điều chỉnh sự mất cân bằng của toàn cơ thể và làm lưu thông huyết mạch ở vùng bụng dưới, lập lại sự cân bằng âm dương giữa các tạng phủ và toàn cơ thể Dùng các bài thuốc tùy theo thể bệnh như: Hữu qui thang phối hợp lý trung hoàn, lục vị, tiêu dao
1.3 Tổng quan về bài thuốc Hắc tiêu dao
1.3.1 Xuất xứ bài thuốc[28]
Hắc tiêu dao là bài thuốc cổ phương trích từ Hòa tễ cục phương
Bài này bắt nguồn từ bài “Tứ nghịch tán” (gồm các vị sài hồ, bạch thược, chỉ thực, cam thảo) trong Thương hàn luận gia giảm thành bài Tiêu dao tán sau
đó bài Tiêu dao tán gia thêm vị Thục địa trở thành bài Hắc tiêu dao
1.3.4 Phân tích ý nghĩa bài thuốc theo y học cổ truyền [18][28]
Bài thuốc này chính là bài “Tứ nghịch tán” trong Thương hàn luận của Trương Trọng Cảnh, gia giảm thành bài “Tiêu dao tán” rối từ bài tiêu dao tán gia thêm thục địa để thành bài “Hắc tiêu dao” để tăng cường lực cho dưỡng huyết chữa chứng huyết hư mà can uất Sơ can lý tỳ trong phương này có
Trang 25đương quy, bạch thược, để dưỡng huyết nhu can Sài hồ để sơ can giải uất, một ít bạc hà để giúp sức cho sài hồ Bạch truật, cam thảo để bồi bổ tỳ thổ, sinh khương, đương quy, bạch thược kết hợp lại đều dùng để điều hòa khí huyết, thục địa để tư âm dưỡng huyết
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Chất liệu nghiên cứu
2.1.1 Thuốc nghiên cứu
Công thức bài thuốc gồm 09 vị thuốc sau [5],[28]
Phục linh 12g
2.1.2 Đặc điểm nguyên phụ liệu [6]
TT Tên nguyên liệu Bộ phận dùng Tên khoa học của cây thuốc
1 Sài hồ bắc Radix Bupleuri
(rễ)
Bupleurum chinensis DC Họ hoa tán Apiacceae
2 Đương quy Radix Angclicea
Trang 274 Bạch truật Rhizoma
Atractylodis(rễ củ)
Atractylodes macrocephalaKoidz., họ Cúc (Asteraceae)
Glycyrrhiza Wralensis Fisch họ đậu (Fabraceae)
Zingiberis(rễ, củ)
Zingiber Offcinale Rose họ gừng (Zingiberaceae)
Herba Menthae(thân, lá, cành)
Menthear vensis L họ hoa môi Lamiacceace
Trang 289 Thục địa (Radix
Rehmaniae)Rễ
(Radix Rehmaniae Praeparatus Libosch) họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae)
2.1.3 Dạng bào chế
Thuốc theo hàm lượng trên sắc 01 thang/03 lần/ngày Mỗi lần lấy 250ml uống ấm
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 37 phụ nữ tiền mãn kinh tuổi đời từ 40-55 tuổi trở lên có hội chứng tiền mãn kinh được khám và điều trị nội ngoại trú tại Bệnh viện YDCT&PHCN Gia Lai, tự nguyện tham gia nghiên cứu, từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 7 năm 2015
2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
2.2.1.1 Bước 1: chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn của Y học hiện đại
Chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn của Blatt - Kupperman:
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định có hội chứng rối loạn TMK theo tiêu chuẩn của Blatt - Kupperman, bao gồm 11 triệu chứng [29]
1 Cơn bốc hỏa, vã mồ hôi
Trang 299 Nhức đầu.
10 Đau nhức xương khớp
11 Cảm giác kiến bò ở da
- Bệnh nhân còn kinh nguyệt, kinh nguyệt biểu hiện rối loạn cơ năng, không có tổn thương thực thể
- Bệnh nhân trong lứa tuổi 40 - 54 tuổi
- Bệnh nhân không có u sinh dục và các tổn thương thực thể tại đường sinh dục
2.2.1.2 Bước 2: Trên cơ sở các bệnh nhân nghiên cứu được chọn theo
YHHĐ Chứng can uất huyết hư: Kinh nguyệt rối loạn, tính tình bứt rứt nóng nẩy, dễ cáu gắt, mắt khô mờ, chóng mặt, đau đầu, ngực sườn đau tức, chân tay run tê rần hoặc cảm giác kiến bò, lưỡi tía đỏ (rìa đỏ), mạch huyền tế
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân.
* Theo y học hiện đại:
- Có các tổn thương thực thể hoặc có các dị dạng ở bộ phận sinh dục kể
cả nguyên phát hay thứ phát
- Có kèm theo đái tháo đường, Basedow, u tuyến yên, u tuyến thượng thận
- Có hình ảnh siêu âm (ở bộ phận sinh dục) bất thường
- Rối loạn TMK không phải theo tự nhiên mà do phẫu thuật cắt tử cung, buồng trứng, sau điều trị hoá chất, tia xạ
- Đã sử dụng liệu pháp hormon thay thế
- Tiền sử không có kinh
* Theo YHCT:
- Không điều trị bệnh cho phụ nữ lứa tuổi TMK thuộc các thể:
+ Thể âm hư nội nhiệt+ Thể tinh cạn huyết khô+ Tâm thận bất giao+ Thể thận dương hư+ Thể thận dương thận âm đều hư
Trang 30- Các đối tượng nghiên cứu tự động dùng các loại thuốc khác trong thời gian nghiên cứu, không làm đủ các xét nghiệm theo yêu cầu, bỏ uống thuốc quá 3 ngày trong đợt điều trị.
2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2015-07/2015
- Địa điểm nghiên cứu bệnh viện YDCT&PHCN Gia Lai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Loại thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng, chọn bệnh nhân có chủ ý, nghiên cứu theo phương pháp mở, đối chiếu so sánh trước và sau điều trị, so sánh tự thân
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trên bệnh nhân
- Điều trị trong 2 đợt liên tục (2 tháng): dùng trong thời gian 20 ngày liên tục là một đợt điều trị, đợt sau cách đợt trước là 10 ngày
- Các chỉ số bệnh trên lâm sàng được đánh giá vào ngày thứ nhất (N1), ngày thứ hai mươi của đợt điều trị thứ nhất (N20), ngày thứ hai mươi của đợt điều trị thứ hai (N40)
- Bệnh nhân được theo dõi kết quả và tác dụng không mong muốn của thuốc Nếu có ghi rõ ngày xuất hiện thứ bao nhiêu sau khi dùng thuốc, mức
độ biểu hiện, cũng như phương pháp xử trí
- Các chỉ số cận lâm sàng được đánh giá vào ngày N1 của đợt đầu và ngày thứ hai mươi của đợt điều trị thứ hai (N40)
Xét nghiệm (kiểm tra trước và sau điều trị) để so sánh
+ Để đánh giá tác dụng của thuốc bao gồm các xét nghiệm sau: Sinh hóa
máu (Cholesterol, Triglycerid , glucose, AST, ALT, Ure, Creatinin), điện tâm đồ.
+ Để đánh giá tác dụng không mong muốn của thuốc bao gồm các xét
nghiệm sau: Công thức máu (Số lượng hồng cầu, định lượnh huyết sắc tố,
Định lượng Hematocrit, số lượng bạch cầu [BC], số lượnh tiểu cầu [PLT]),
nước tiểu toàn phần
Trang 31+ Để kiểm tra trước điều trị bao gồm các xét nghiệm sau: Siêu âm kiểm tra cơ quan sinh sản, XQ tim phổi kiểm tra vùng ngực, trước điều trị để đánh giá giúp lựa chọn bệnh nhân trong nghiên cứu
- Tất cả bệnh nhân nghiên cứu đều có phiếu theo dõi và ghi chép đầy đủ
2.3.3 Phương pháp đánh giá kết quả
2.3.3.1 Về lâm sàng
Theo dõi qua thang điểm của Blatt-Kupperman bao gồm 11 triệu chứng đại diện cho hội chứng TMK, hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá kết quả thử nghiệm của thuốc trên thế giới Chỉ số TMK của Blatt-Kupperman [29] được đánh giá trên một thang điểm dựa vào mức độ của triệu chứng cùng với hệ số của các triệu chứng
Bảng 2.1 Cách cho điểm các triệu chứng của hội chứng TMK
(theo Blatt - Kuperman)
Mức độ của các triệu chứng được đánh giá bằng cách cho điểm:
- Bình thường = 0 điểm (Không có biểu hiện gì)
- Nhẹ = 1 điểm Sự cảm nhận về thay đổi ở mức độ nhẹ không đáng để lưu ý hoặc thỉnh thoảng, (đôi khi) xuất hiện 1 - 2 lần/tuần, mỗi lần kéo dài dưới 30 giây
Trang 32- Trung bình = 2 điểm Sự cảm nhận về thay đổi (rối loạn) nhiều hơn, đáng để lưu ý hoặc khá thường xuyên Thường xuất hiện 3 - 5 lần/1 tuần, mỗi lần kéo dài từ 30 giây đến gần 1 phút.
- Nặng = 3 điểm Sự cảm nhận về thay đổi (rối loạn) mạnh, xuất hiện thường xuyên hơn rất đáng để lưu ý, xuất hiện trên 5 lần/1 tuần, mỗi lần kéo dài từ 1 - 2 phút
Giá trị điểm của mỗi triệu chứng bằng giá trị hệ số của triệu chứng đó nhân với mức độ nghiêm trọng của triệu chứng đó
Tổng giá trị điểm của 11 triệu chứng bằng tổng giá trị điểm của các triệu chứng [29].Dựa vào số điểm của thang điểm Blatt- Kuperman mà phân ra các mức
độ của hội chứng TMK như sau [36]
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá mức độ bị bệnh của hội chứng TMK
(theo Blatt - Kuperman)
Mức độ bị bệnh Điểm theo triệu chứng Điểm theo hệ số
Điểm Blatt-Kuperman (chỉ số TMK) = tổng điểm theo hệ số của 11 triệu chứng Chỉ số TMK tối thiểu là 0 điểm, tối đa là 51 điểm
Dựa vào đó phân ra 3 mức độ rối loạn của hội chứng TMK như sau:
Thiết kế bảng câu hỏi về 11 triệu chứng cơ năng của Blatt-Kupperman theo cách cho điểm như trên (bằng mẫu sổ theo dõi bệnh nhân ở phần phụ lục)
Bảng câu hỏi này thầy thuốc điều trị giải thích rõ cho bệnh nhân và trực tiếp ghi vào sổ theo dõi
Trang 33- Các chỉ số trên lâm sàng được đánh giá vào các thời điểm N0; N20; N40.
2.2.3.3 Đánh giá tác dụng của bài thuốc sau khi điều trị
Đánh giá kết quả điều trị dựa vào chỉ số TMK (MI)[36] chênh lệch so sánh trước và sau điều trị:
2.5 Khía cạnh đạo đức của đề tài
- Nghiên cứu được chấp thuận của lãnh đạo Học Viện Y Dược Cổ Truyền Việt Nam, lãnh đạo bệnh viện YDCT&PHCN Gia Lai
- Bệnh nhân tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào
Trang 34- Nghiên cứu có phản hồi kết quả.
- Các thông tin này do đối tượng nghiên cứu phải giữ bí mật
- Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân, không nhằm mục đích nào khác
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiờn cứu
Tuổi trung bỡnh của mẫu: 47,49 ± 2,825 (tuổi)
Biểu đồ 3.1 Phõn bố bệnh nhõn theo nhúm tuổi
Nhận xét: Biểu đồ 3.1 cho thấy, tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là
47,49 ± 2,825 tuổi trong đó nhóm tuổi 45 – 49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (56,7%)
Trang 36- Theo Trần Xuân Hoan (2007) số bệnh nhân TMK trong nhóm tuổi 46 -
50 chiếm tỷ lệ 69,79%, 40 - 45 tuổi chiếm tỷ lệ 30,2% Tuổi trung bình là 47,0 ± 2,7 tuổi
- Theo Đỗ Minh Hiền (2010) số bệnh nhõn TMK nhúm tuổi 46 – 50 chiếm tỷ lệ cao nhất 56,7% Tuổi trung bỡnh là 47,5 ± 2,54 tuổi
Biểu đồ 3.2 Phõn bố bệnh nhõn theo nghề nghiệp
* Khỏc: Cụng nhõn, buụn bỏn, nội trợ
Nhận xột: Biểu đồ 3.2 cho thấy nhóm đối tợng nghiên cứu là nụng dõn
chiếm tỷ lệ cao nhất (37,8%), sau đến nhóm công chức/viên chức (35,2%), nhóm nghề khác chiếm 27%
3.1.1.3 Trỡnh độ học vấn
Trang 37Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm trình độ học vấn
Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh nhân theo trình độ học vấn
Nhận xét: Bảng 3.3 cho thấy số đối tượng có trình độ học vấn là trung
cấp, THPT chiếm tỷ lệ cao nhất 43,2%, số đối tượng có trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học là 32,5% và tiểu học chiếm tỷ lệ ít nhất là 24,3%
Trang 38Nhận xét: Bảng 3.4 cho thấy số đối tượng nghiên cứu đang có chồng
chiếm tỷ lệ cao nhất 78,4%, số phụ nữ ly dị, ly thân và góa chồng là 13,5%, độc thân chiếm tỷ lệ nhỏ nhất 8,1%
3.1.2 Tiền sử sản khoa
3.1.2.1 Tuổi có kinh lần đầu (bảng 3.5)
Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi lần đầu có kinh
Nhận xét: Bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kinh lần đầu
ở nhóm tuổi 13 - 16 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 73%, tiếp đến là nhóm bệnh nhân tuổi > 16 tuổi chiếm tỷ lệ là 13,5%; tuổi < 13 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất 13,5%
Trang 39Bảng 3.6 Tiền sử sản khoa của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ đẻ từ 2 đến 3 con là 23 trường hợp
chiếm 62% Tỷ lệ sẩy, nạo và đẻ non là 23 đối tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ 62,2%, tập trung vào nhóm có 1- 2 lần sảy hay nạo
3.1.2.3 Tiền sử bệnh tật liên quan đến rối loạn TMK
Bảng 3.7 Tiền sử mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu mắc các bệnh
về tâm thần kinh chiếm tỷ lệ 40,5% cao nhất, sau đến các triệu chứng về
cơ xương khớp (32,5%), tăng huyết áp, rối loạn kinh nguyệt chiếm tỷ lệ thấp hơn đều là 13,5%
3.1.2.4 Về tình trạng kinh nguyệt của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.8 Đặc điểm về kinh nguyệt (Chu kỳ kinh; số ngày có kinh; Lượng kinh)
Trang 40Chu kỳ KN : - Đều (có đôi lúc không đều) 12 32,4
- Không đều (không đều thường xuyên) 25 77,6
Nhận xét: Bảng 3.8 cho thấy đối tượng nghiên cứu có chu kỳ kinh
nguyệt không đều chiếm tỷ lệ cao (67,6%), trong đó vòng kinh dài chiếm tỷ lệ nhiều nhất (40,5%)
- Chu kỳ kinh trung bình là 35,86 ± 3,75 ngày
- Số ngày kinh từ 1 - 2 ngày chiếm tỷ lệ cao 76,7%
- Lượng kinh trong chu kỳ ít đi cũng chiếm tỷ lệ cao nhất là 62,2%