Bảng phân loại thừa cân béo phì của WHOBảng 1.2 Nguyên nhân tử vong ở những người từ 60 tuổi trở lên,theo mức thu nhập quốc gia, 2004 Tỷ lệ %… Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiê
Trang 1NGUYỄN THỊ DUYÊN
THỰC TRẠNG VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
MẮC MỘT SỐ BỆNH MẠN TÍNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI
HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI NĂM 2014
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2THỰC TRẠNG VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MẮC MỘT SỐ BỆNH MẠN TÍNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI NĂM 2014
Chuyên ngành : Y tế công cộng
Mã số : 60720301
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ VĂN HỢI
HÀ NỘI - 2015
Lời cảm ơn
Trang 3nhiều thời gian giúp đỡ, dày công rèn luyện cho em ngày càng trưởng thành hơn trong học tập cũng như trong cuộc sống Hơn tất cả các Thầy đã dạy cho
em những phương pháp, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, đó là tài sản quý giá mà em có được và sẽ giúp ích cho em trong những chặng đường tiếp theo.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới :
• Đảng ủy, Ban Giám hiệu, phòng Đào Tạo Sau đại học và Ban lãnh đạo Viện Đào tạo YHDP & YTCC, Trường Đại học Y Hà Nội.
Đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Em xin trân trọng cám ơn các Thầy/Cô trong hội đồng chấm đề cương luận văn tốt nghiệp, các Thầy/Cô đã cho em nhiều ý kiến quý báu giúp em hoàn thiện luận văn này một cách tốt nhất.
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Hà nội, ngày tháng năm 2015.
Trang 4-*** -LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: - Phòng Đào tạo sau Đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tự bản thân tôi thực hiện.Các số liệu trong bản luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Người viết luận văn
Nguyễn Thị Duyên
Trang 5STT TỪ VIẾT TẮT NỘI DUNG
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Bảng phân loại thừa cân béo phì của WHO
Bảng 1.2 Nguyên nhân tử vong ở những người từ 60 tuổi trở lên,theo mức thu nhập quốc gia, 2004 (Tỷ lệ %)…
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Phân bố NCT theo điều kiện KT
Bảng 3.3 Phân bố người cao tuổi theo tình trạng hút thuốc
Bảng 3.4 Phân bố người cao tuổi theo tình trạng uống rượu/bia
Bảng 3.5 Phân bố NCT theo chiều cao, cân nặng
Bảng 3.6 Phân bố NCT theo số bệnh mạn tính
Bảng 3.7 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu theo
tình hình mắc bệnh mạn tính
Trang 7Bảng 3.9 Phân bố tình hình mắc bệnh mạn tính người cao tuổi theo tình trạng uống rượu/bia
Bảng 3.10 Phân bố tình hình mắc bệnh mạn tính NCT
theo chiều cao, cân nặng
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của một số đặc điểm nhân khẩu học
Trang 8Biểu đồ1.3 Tỷ lệ NCT theo mức độ bệnh hoặc độ phụ thuộc và người
chăm sóc 16 Biểu đồ 3.1 Phân bố NCT theo tình hình mắc bệnh mạn tính……….39 Biểu đồ 3.2: Phân bố NCT theo Cơ sở y tế chẩn đoán mắc bệnh mạn tính….44
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Tháp dân số hiện tại, dự kiến của Việt Nam, tháp dân số Nhật Bản và Thụy
Điển 6
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Già hóa dân số (DS) đang diễn ra trên tất cả các khu vực và các quốc gia, tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển, bao gồm cả các nước có nhóm DS trẻ [1].Theo ước tính của Liên Hợp Quốc năm 2010, NCT sống ở các nước đang phát triển chiếm khoảng 65% và đến năm 2050 con số này là 80%[2][3]
Việt Nam cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới Tỷ lệ NCT ở nước
ta cũng gia tăng nhanh chóng trong 3 thập kỷ qua, năm 1989 là 7,2%; năm 1999
là 8,3% và năm 2009 là 9,5% [4]
Tuổi thọ tăng từ 66 lên 72 tuổi trong giai đoạn 1990- 2006, và dự kiến tăng lên 80,3 tuổi vào năm 2050 [5]
Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi
so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [5], [6]
Tuổi thọ được nâng cao là một trong những thành tựu của xã hội phát triển Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế [7]
Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức về mặt xã hội, kinh
tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng trên toàn cầu, và là một trong những lý do làm tăng tỷ lệ một số bệnh mạn tính [8]
NCT Việt Nam đang mang gánh nặng bệnh tật kép do xu hướng bệnh
chuyển từ lây nhiễm sang không lây nhiễm và các bệnh mãn tính, đồng thời các bệnh mới đang xuất hiện cùng với sự thay đổi trong cách sống đang ngày càng trở nên phổ biến như bệnh ung thư, căng thẳng và trầm cảm về tâm thần Tỷ lệ
Trang 11NCT mắc bệnh mãn tính có chiều hướng tăng nhanh, gần gấp đôi sau 10 năm từ 42,3% (1999) lên 70% (2009) [9].
Theo kết quả các nghiên cứu ở Việt Nam trong 10 năm trở lại đây, khoảng 80% NCT có bệnh mạn tính không lây như: tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ), rối loạn lipid máu, bệnh xương khớp, bệnh về mắt [10]
Người già ít khi chỉ mắc một bệnh mà thường có nhiều bệnh đồng thời, nhất
là các bệnh mạn tính [11] Trung bình, một người cao tuổi mắc 2,69 bệnh [12] Tuy nhiên việc tiếp cận với các dịch vụ y tế của NCT thường bị hạn chế bởi khả năng đi lại và không có khả năng chi trả cho các dịch vụ CSSK, đặc biệt
là đối với các chăm sóc kéo dài [13] NCT ở khu vực nông thôn ít tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) hơn là người ở khu vực thành thị [14].Theo các tài liệu gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), yếu tố hành vi, lối sống ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và phát triển các bệnh mạn tính nhất là ở người cao tuổi Một phần ba các bệnh tật liên quan đến hành vi lối sống, các bệnh này chủ yếu là các bệnh mạn tính Các hành vi nguy cơ ảnh
hưởng tới sức khoẻ NCT ở tất cả các quốc gia trên thế giới được xác định là: Hút thuốc lá; sử dụng rượu bia quá mức (lạm dụng rượu, bia), ít hoạt động thể lực, dinh dưỡng không hợp lý và thừa cân béo phì [15]
Sức khỏe NCT đang ngày càng được quan tâm, đặc biệt là các bệnh mạn tính ở người cao tuổi và các yếu tố ảnh hưởng
Huyện Ba Vì – Hà Nội là một điểm nghiên cứu dịch tễ học thực địa của Trường Đại học Y Hà Nội và đồng thời là một địa bàn của Việt Nam nằm trong
Hệ thống giám sát nhân khẩu học quốc tế Tỷ lệ NCT của huyện Ba Vì là 9,1% ( 2007) gần tương đương với tỷ lệ NCT chung của cả nước 9,5% (2009) [5]
Trang 12Nhằm góp phần cung cấp những kết quả mô tả ban đầu về tình hình mắc một số bệnh mạn tính ở người cao tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng , từ đó làm
cơ sở cho những nghiên cứu phân tích hay can thiệp sâu hơn Do đó, Đề tài
“Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến mắc một số bệnh mạn tính ở người cao tuổi tại huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2014” được đề xuất thực hiện với
mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ mắc một số bệnh mạn tính ở người cao tuổi tại huyện Ba Vì,
Hà Nội năm 2014.
2. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc bệnh mạn tính ở người cao tuổi tại huyện Ba Vì, Hà Nội.
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 131.1 Sơ lược tình hình NCT
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay các khu vực trên thế giới vẫn chưa thống nhất tiêu chí về NCT, tuy nhiên Liên hợp quốc đã nhất trí lấy mốc những người từ 60 tuổi trở lên được xếp vào nhóm NCT [16]
Tại Việt Nam, quy định NCT là những công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên [17]
1.1.1 Sơ lược tình hình NCT trên thế giới
Tính đến tháng 12/2012, thế giới có khoảng 810 triệu người trên 60 tuổi Ước tính đến năm 2022, thế giới sẽ có 1 tỷ người ngoài 60 tuổi và đến năm 2050
sẽ là 2 tỷ người [18]
Hiện nay, có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi; trong khi đó 5 năm trước đây, chỉ có 19 quốc gia đạt con số này Hiện nay, Nhật Bản là quốc gia duy nhất có trên 30% dân số già; nhưng đến năm 2050, dự tính sẽ có 64 nước có trên 30% dân số già như Nhật Bản [19]
Già hóa DS đang diễn ra trên tất cả các khu vực và các quốc gia, tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển, bao gồm các nước có nhóm DS trẻ [18]
Tuổi thọ được nâng cao là một trong những thành tựu của xã hội phát triển Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinh dưỡng,
vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dôc và đời sống kinh tế [7]
Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng trên toàn cầu,
và là một trong những lý do làm tăng tỷ lệ một số bệnh mạn tính [8]
Trang 14Biểu đồ 1.1: Số người từ 60 tuổi ở các nước phát triển và đang phát triển [20]
• Các nước phát triển
• Các nước đang phát triển
1.1.2 Sơ lược về tình hình NCT ở Việt Nam
Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi
so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 [5], [6]
Xu hướng già hóa dân số nhanh chóng đã được quan sát trong những thập niên gần đây Tỷ lệ người dân từ 60 tuổi trở lên tăng từ 6,7% vào năm 1979 đến 8,9% vào năm 2009 Tỷ lệ này được dự báo là 26,1% vào năm 2050 Tuổi thọ tăng từ 66 lên 72 tuổi trong giai đoạn 1990- 2006, và dự kiến tăng lên 80,3 tuổi vào năm 2050 [5]
Chỉ số già hóa dân số của Việt Nam đã tăng từ 18,2% năm 1989 lên 24,3% năm 1999 [21] và đạt 37% năm 2007 [22] Chỉ số này cao hơn con số trung bình 30% của các nước Đông Nam Á [21] Tỷ số phụ thuộc của NCT tăng từ 0,13%
Trang 15năm 1989 lên 0,14% năm 1999 và 0,15% năm 2007 [22] Dự kiến đến năm 2050, tháp dân số của Việt Nam sẽ giống tháp dân số hiện nay của các nước phát triển như Nhật Bản và Thụy Điển, với tỷ lệ NCT ở mức cao (Hình 1.1) [5].
Hình 1.1 Tháp dân số hiện tại, dự kiến của Việt Nam, tháp dân số Nhật Bản và
Thụy Điển
Tỷ lệ NCT ở khu vực nông thôn tăng từ 7,4% năm 1989 [23] lên 8,2% năm
1999 [24], 9,8% năm 2004, 10,3% năm 2006 và 10,9% năm 2008 [25] Số NCT
ở các khu vực nông thôn chiếm 77,7% tổng số NCT năm 1993 và 73,3% năm
2004 [26]
Trong số những NCT, phụ nữ đông hơn nam giới Ở nhóm người càng cao tuổi hiện tượng mất cân bằng giới tính này càng rõ Năm 1999, tỷ số giới tính của nhóm người trên 60 tuổi là 0,7 và của nhóm người trên 80 tuổi là 0,48
Tỷ lệ biết chữ trong nhóm NCT là 76,3%, trong khi tỷ lệ số người hoàn thành bậc tiểu học chiếm 33,7% và hoàn thành bậc phổ thông cơ sở và phổ thông trung học chiếm 19,3% [24]
Trang 16Tỷ lệ NCT sống dưới chuẩn nghèo quốc gia thường thấp hơn một chút
so với tỷ lệ chung của cả quần thể hoặc của nhóm những người trẻ hơn Tỷ lệ
đó của NCT giảm từ 57,2% xuống 19,3% trong giai đoạn từ 1992 – 2004
Tỷ lệ NCT sống dưới chuẩn nghèo cao nhất ở Tây Bắc và thấp nhất ở Đông Nam bộ Tỷ lệ này ở khu vực Đồng bằng sông Hồng giảm từ 54,8% năm 1992/93 xuống còn 16,3% năm 2004 [26]
1.2 Bệnh mạn tính ở người cao tuổi
1.2.1 Một số định nghĩa
Bệnh mạn tính là bệnh tiến triển kéo dài hoặc hay tái phát, thời gian bệnh từ 3 tháng trở lên Bệnh mạn tính không thể ngừa bằng vắc xin, không thể chữa khỏi hoàn toàn và cũng không tự biến mất Bệnh mạn tính phần lớn là bệnh không lây nhiễm, không do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm gây nên
Bốn loại bệnh không lây nhiễm chính là bệnh tim mạch (như nhồi máu cơ tim và đột quỵ), ung thư, bệnh hô hấp mạn tính (như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản) và đái tháo đường [27]
Đột quị (Tai biến mạch máu não) là một bệnh xảy ra khi việc cung
cấp máu lên một phần bộ não bị đột ngột ngừng trệ [11]
Tai biến mạch máu não có hai loại: nhồi máu não (do tắc mạch) hoặc chảy máu não (do vỡ mạch) Các triệu chứng thần kinh trung ương khu trú biểu hiện nhanh, ngay tức thì khi tổn thương mạch máu não xảy ra [11]
Đái tháo đường: (Bệnh tiểu đường) là một dạng bệnh nội tiết do rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể
- Bệnh tiểu đường gồm 2 tuýp: tiểu đường tuýp 1 là dạng phụ thuộc isulin, tuýp 2 dạng không phụ thuộc isulin
Trang 17Đục thủy tinh thể: Là hiện tượng đục mờ thủy tinh thể Sự đục mờ này ngăn không cho tia sáng lọt qua, kết quả là võng mạc không thu được hình ảnh và thị lực bệnh nhân suy giảm dẫn đến mù lòa.
Viêm khớp: Viêm khớp là một dạng rối loạn tại khớp được đặc trưng bởi hiện tượng viêm Viêm khớp thông thường được hiểu là viêm một hay nhiều khớp Viêm khớp thường có kèm triệu chứng đau khớp[11]
THA: Là bệnh mạn tính trong đó áp lực máu hệ thống động mạch tăng cao Khi huyết áp của bạn thường xuyên cao hơn mức bình thường (huyết áp tâm thu và/hoặc tâm trương) Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA của Bộ Y tế, mắc THA là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg [28]
Viêm phế quản mạn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng trong một năm và ít nhất là 2 năm liền [29]
Định nghĩa này loại trừ các bệnh gây ho khạc mạn tính khác: lao phổi, giãn phế quản
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh lý hô hấp mạn tính có đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phải ứng viêm bất thường của phổi với các phân tử hoặc khí độc hại, trong đó có khói thuốc đóng vai trò hàng đầu Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thể dự phòng và điều trị được [29]
Hen phế quản (HPQ) là một bệnh có đặc điểm là viêm mạn tính niêm mạc phế quản làm tăng phản ứng của phế quản thường xuyên với nhiều tác
Trang 18nhân kích thích, dẫn đến co thắt lan tỏa cơ trơn phế quản Sự co thắt phế quản không cố định, thường có thể hồi phục tự nhiên hoặc sau khi dùng thuốc giãn phế quản.[29]
- BMI (Body Mass Index): chỉ số khối cơ thể = cân nặng (kg)/ bình phương chiều cao (m) [30]
Bảng 1.1 Bảng phân loại thừa cân béo phì của WHO
Phân loại BMI (kg/m 2 )
Bình thường 18,5-24,9
Thừa cân Tiền béo phì 25 - 29,9
Béo phì độ 1 30 – 34,9 Béo phì độ 2 35 – 39,9 Béo phì độ 3 ≥ 40
1.2.2 Thực trạng mắc bệnh mạn tính ở người cao tuổi Trên Thế giới
Bệnh mạn tính hiện nay là nguyên nhân tử vong và tàn tật chính trên thế
giới Các bệnh mạn tính không lây nhiễm chính như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh đường hô hấp chiếm 57% trong 59 triệu tử vong hàng năm và 46% gánh nặng bệnh tật toàn cầu
Mỗi năm, nhồi máu cơ tim gây chết 7,2 triệu người, đột quỵ (nhồi máu não
và xuất huyết não) gây chết 5,5 triệu người còn tăng huyết áp và các bệnh tim khác gây chết 3,9 triệu người
Ước tính có 177 triệu người đái tháo đường, phần lớn là đái tháo đường túyp
2 và hai phần ba người đái tháo đường sống tại các nước đang phát triển
Khoảng 75% bệnh tim mạch do các yếu tố chính sau gây ra: loạn mỡ máu, tăng huyết áp, ít ăn rau và trái cây, ít vận động thân thể và hút thuốc lá
Trang 19Năm trong số 10 yếu tố nguy cơ gánh nặng bệnh tật toàn cầu theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2002: béo phì, tăng huyết áp, loạn mỡ máu, uống rượu và hút thuốc lá là nguyên nhân gây bệnh mạn tính.
Thống kê Hoa Kỳ cho thấy người từ 65 tuổi trở lên, có 75% bị ít nhất một bệnh mạn tính và 50% bị ít nhất 2 bệnh mạn tính
Tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm giảm và tăng ở các bệnh KLN (bệnh tim mạch, đột quỵ và ung thư ) Trong số những người lớn tuổi, bệnh KLN là nguyên nhân chính gây tử vong và phần lớn gánh nặng bệnh tật, thậm chí ảnh hưởng tới thu nhập quốc gia Năm 2004, bệnh KLN gây ra ước tính khoảng 86% các ca tử vong người từ 60 tuổi trở lên trên toàn thế giới, chiếm 77% ca tử vong ở các quốc gia thu nhập thấp, 89% ở các quốc gia thu nhập trung bình, và 91% ở các quốc gia thu nhập cao[31]
Bảng 1.2: Nguyên nhân tử vong ở những người từ 60 tuổi trở lên,theo mức thu nhập quốc gia, 2004 (Tỷ lệ %)[31].
Nguyên nhân gây tử
vong
Thế giới Nước thu
nhập cao
Nước thu nhập trung bình
Nước thu nhập thấp
Trang 201.2.3 Thực trạng mắc bệnh mạn tính ở người cao tuổi tại Việt Nam
NCT Việt Nam đang mang gánh nặng bệnh tật kép do xu hướng bệnh
chuyển từ lây nhiễm sang không lây nhiễm và các bệnh mãn tính, đồng thời các bệnh mới đang xuất hiện cùng với sự thay đổi trong cách sống đang ngày càng trở nên phổ biến như bệnh ung thư, căng thẳng và trầm cảm về tâm thần Tỷ lệ NCT mắc bệnh mãn tính có chiều hướng tăng nhanh, gần gấp đôi sau 10 năm từ 42,3% (1999) lên 70% (2009) [9]
Người già ít khi chỉ mắc một bệnh mà thường có nhiều bệnh đồng thời, nhất
là các bệnh mạn tính
Trong nhân dân: Người từ 60 tuổi trở lên thì bệnh nội khoa thường gặp là: bệnh hô hấp (19,63%), bệnh tiêu hóa (18,25%), tim mạch (13,32%), tiết niệu – thận (1,64%), máu và cơ quan tạo máu (2,29%), cơ xương khớp (57,69%) Nhìn chung nhiều bệnh tăng tỷ lệ thuận với tuổi và một người thường mắc nhiều bệnh Phân loại sức khỏe thấy đa số sức khỏe kém (62,71%), loại trung bình ít
(36,52%), loại tốt rất hiếm (0,75%)
Tại các cơ sở điều trị: tại khoa nội bệnh viện Bạch Mai thấy nhiều nhất là bệnh tim mạch (59,3%), sau đó là bệnh tiêu hóa (39%), hô hấp (35,6%), tiết niệu sinh dục (10,8%), thần kinh (4,8%), máu và cơ quan tạo máu (4,1%), nội tiết dinh dưỡng (1,38%), bệnh khác (15,6%) [11]
Những bệnh phổ biến nhất là đau đầu, ho, chóng mặt, và đau lưng Các bệnh mạn tính phổ biến nhất là các bệnh về tim mạch, tiểu đường, các bệnh thận và ung thư [13] Phụ nữ thường mắc các bệnh cấp tính (37%) và mạn tính (29%) nhiều hơn nam giới (30% và 24%) Tuy nhiên, tỷ lệ người mắc bệnh lại không khác biệt giữa hai giới ở người trên 80 tuổi
NCT thường mắc một số bệnh như sau: Bệnh xương, khớp có tỷ lệ cao nhất
là 56,2%; Bệnh tim mạch và huyết áp cũng tương đối cao (45,4%); Các bệnh về
Trang 21mắt, nhìn mờ (42,6%); Mất ngủ (41,8%); Đau đầu, chóng mặt (41,6%) và kém trí nhớ, lẫn (30,4%).
Bệnh tim mạch: Nổi bật là bệnh tăng huyết áp (HA ≥ 140/90 mmHg), tỷ lệ mắc bệnh THA là 45,6% Không có sự khác biệt giữa nam và nữ Tỷ lệ THA ở nhóm tuổi ≥ 75 là 54,6%, cao hơn một cách rõ rệt so với nhóm 60-74 là 42,0%
Tỷ lệ THA tâm thu đơn độc là 24,8% Có 18,5% người cao tuổi bị tụt huyết áp tư thế Thứ hai là bệnh mạch vành: 9,9% người cao tuổi có bệnh mạch vành, biểu hiện bằng đau ngực trên lâm sàng và thay đổi trên điện tâm đồ Tỷ lệ suy tim là 6,7%, chủ yếu ở những người có THA, suy vành, bệnh van tim
Bệnh tâm thần kinh: Nổi bật là tình trạng sa sút trí tuệ (dementia) Tỷ lệ SSTT là 4,9% Nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới, 5,7% so với 3,9%,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Nhóm >= 75 tuổi có tỷ lệ SSTT là 9,8%, cao hơn hẳn so với tỷ lệ 3,9 % ở nhóm 60-74 Các bệnh tâm thần kinh khác hay gặp
là trầm cảm (1,2%); Bệnh Parkinson (1,3%)
Bệnh nội tiết – chuyển hoá: Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường chung là 5,3%
Tỷ lệ có rối loạn đường huyết đói (Impaired Fasting Glucose) là 6,8% Nếu tính gộp cả hai loại này thì tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ là 12,1% Tỷ lệ có rối loạn lipid máu (bất thường một trong bốn thành phần CT toàn phần, triglycerid, LDL-C và HDL-C) là 45% Nữ giới có tỷ lệ rối loạn lipid máu cao hơn nam giới, 48,1% so với 40,3%, p< 0,01 Tỷ lệ béo phì (BMI ≥ 23) là 18,3%
Bệnh thận tiết niệu: Tỷ lệ nam giới bị u tuyến tiền liệt (chẩn đoán dựa vào siêu âm) là khá cao: 63,8% 35,7% có rối loạn tiểu tiện dựa vào thang điểm
“Đánh giá triệu chứng u tuyến tiền liệt của hội niệu khoa Hoa kỳ” 3,3% các cụ
có viêm đường tiết niệu, sỏi thận là 3,5%
Trang 22Bệnh tiêu hoá hay gặp là: Loét dạ dầy tá tràng: 15,4%, viêm đại tràng: 9,7%; nuốt nghẹn: 10,2% và táo bón: 16,1%, tỷ lệ táo bón ở nhóm tuổi 60-74 là 14,1%, tăng lên 21,3% ở nhóm tuổi ≥ 75, p<0,01 Nữ giới hay bị táo bón hơn nam giới, 18,5% so với 12,3%, p<0,01.
Bệnh hô hấp: Hay gặp là bệnh phổi phế quản tắc nghẹn mãn tính (COPD): 12,6%, tỷ lệ nam giới mắc bệnh này cao hơn hẳn so với nữ giới, 16,8% so với 10%, p<0,001 Tuổi càng tăng, tỷ lệ này càng cao: 10,8% ở nhóm tuổi 60-74, tăng lên tới 17,2% ở nhóm tuổi ≥ 75, p<0,01 Tỷ lệ mắc bệnh lao phổi là 3,6%, hen phế quản là 2,5%
Bệnh xương khớp: Bệnh xương khớp hay gặp nhất là thoái khớp : 33,9%
Nữ giới hay mắc bệnh thoái khớp hơn nam giới, 42,2% so với 20,8%, p<0,001
Tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp là 9% Loãng xương là 10,4% Nữ giới bị loãng xương nhiều hơn nam giới, 14,4% so với 4,2%
Bệnh về giác quan: Kiểm tra thị lực cho thấy có tới 76,7% các cụ có giảm thị lực Tuổi càng cao thì tỷ lệ giảm thị lực càng tăng, 70,3% ở nhóm tuổi 60-74 tăng lên tới 93% ở nhóm tuổi ≥ 75, p<0,001 Tỷ lệ đục thuỷ tinh thể là 57,9% (49,3% ở nhóm tuổi 60-74 và 79,6% ở nhóm tuổi ≥ 75) Tỷ lệ có giảm thính lực
là 40,1% [12]
Kết quả khảo sát về người cao tuổi ở Việt Nam Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội năm 2007 cho thấy: Phần lớn NCT đều có bệnh, 90% NCT mắc ít nhất
1 bệnh (trong đó 75,6% mắc 1 bệnh, 14,1% mắc 2 bệnh, 1,1% mắc 3 bệnh trở lên) và không có sự phân biệt về số bệnh tật mắc phải ở mỗi độ tuổi [32]
Tuy nhiên 1 nghiên cứu khác của ThS Hoàng Thị Tâm và cộng sự cho kết quả khác là tỉ lệ NCT mắc 01 bệnh chiếm tỉ lệ 19,8%; tỷ lệ NCT mắc 02 bệnh chiếm 18,8% và tỷ lệ mắc 03 bệnh chiếm tỉ lệ cao nhất 56% [33]
Trang 23Người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh đồng thời Trung bình, một người cao tuổi mắc 2,69 bệnh [12].
Một nghiên cứu của Lê Văn Hợi và cộng sự cho thấy ở người cao tuổi tại Ba Vì
ch thấy viêm khớp, mất răng và bệnh tim mạch là 3 bệnh NCT hay mắc nhất (tương ứng là 34,69%; 22,49%; 17,93%) Thấp nhất là các bệnh về đái tháo đường (0,45%); ung thư (0,10%) và trầm cảm (0,03%) Phân bố các loại bệnh mạn tính của NCT được biểu diễn trong biểu đồ 1.2
Tỷ lệ NCT bị đột quỵ và đau thắt ngực trong nhóm đã từng được phát hiện có CHA từ trước (tương ứng là 7,5% và 9,7%) luôn cao hơn đáng kể so với nhóm không có tiền sử bị CHA (tương ứng là 1,2% và 2,6%) [34]
Biểu đồ 1.2 Bệnh mạn tính của NCT theo dữ liệu tự khai báo
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến mắc bệnh mạn tính ở Người cao tuổi
Tình trạng hôn nhân và các điều kiện sống có liên quan đến sức khỏe người già Những người có gia đình ít mắc bệnh hơn là những người ở góa, ly thân, ly
dị hay những người độc thân Những người già sống cùng với NCT khác thường hay mắc bệnh hơn (67%) hơn là những người sống chung với người không thuộc nhóm cao tuổi (53%) Số ca bệnh trung bình trong số những người già sống chung với NCT khác cao hơn (3,2 lần/năm) so với người sống với người không thuộc nhóm NCT (2,2 lần/năm)
Lối sống có liên quan nhiều đến sức khỏe NCT Số ca mắc bệnh trung bình
ở những NCT có tham gia các hoạt động thể chất (2,1 lần/năm) thấp hơn ở
Trang 24những người không tham gia (2,6 lần/năm) Những người trong nhóm hoạt động
ít mắc các bệnh cấp tính hơn là những nhóm có lối sống ít hoạt động [14]
Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ NCT theo mức độ bệnh hoặc độ phụ thuộc và người chăm sócTheo dữ liệu tự báo cáo năm 2005, số lượng NCT mắc bệnh mạn tính chiếm 69,8% Tỷ lệ NCT mắc bệnh mạn tính trong các nhóm phân theo đặc điểm kinh
tế xã hội được cho thấy NCT thuộc nhóm tuổi từ 60-69 có tỷ lệ mắc bệnh mạn tính thấp hơn so với các nhóm tuổi còn lại (p<0,05), NCT nữ có tỷ lệ mắc bệnh mạn tính (71,8%) cao hơn nam giới (66,4%) Tỷ lệ mắc bệnh mạn tính ở nhóm NCT có học vấn cấp 1 và cấp 2 là thấp nhất (66,1%), khác biệt có ý nghĩa thống
kê với các nhóm còn lại (p<0,05), tỷ lệ NCT bị bệnh mãn tính sống cùng con cái (68,0%) thấp hơn so với người không sống cùng, trong khi có xu hướng ngược lại ở những người sống cùng vợ/chồng
Trang 25Tỷ lệ nữ giới có sức khỏe không tốt cao hơn là ở nam giới Tỷ lệ người tự báo cáo có sức khỏe không tốt tăng lên từ 50% ở độ tuổi 65 – 74 tuổi lên 81% ở người trên 85 tuổi Hơn một phần năm mắc các bệnh cấp tính trong khi hơn một phần tư mắc các bệnh mạn tính NCT ở khu vực nông thôn có cùng mô hình bệnh tật giống như của cả cộng đồng NCT [14].
Theo các tài liệu gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), yếu tố hành vi, lối sống ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và phát triển các bệnh mạn tính nhất là ở người cao tuổi Một phần ba các bệnh tật liên quan đến hành vi lối sống, các bệnh này chủ yếu là các bệnh mạn tính Các hành vi nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ NCT ở tất cả các quốc gia trên thế giới được xác định là: Hút thuốc lá; sử dụng rượu bia quá mức (lạm dụng rượu, bia), ít hoạt động thể lực, dinh dưỡng không hợp lý và thừa cân béo phì [15]
Những người thừa cân béo phì có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn người bình
thường Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng khi chỉ số BMI tăng, người béo có nguy cơ bị tăng huyết áp cao gấp 2,5 lần người không béo, tăng 29% nguy cơ bệnh mạch vành và 46% nguy cơ đột quị Nguy cơ đái tháo đường
không phụ thuộc insulin tăng khi BMI tăng, tỷ lệ bệnh đái tháo đường tăng gấp 3,5 lần tỷ lệ chung Có mối liên quan chặt chẽ giữa thừa cân béo phì và bệnh ung thu đặc biệt là ung thư vú và ung thư đường ruột [35]
Theo công bố của Tổng hội Y khoa Hoa kỳ (2010), khói thuốc lá chứa
7.000 hóa chất, trong đó có 70 chất gây ung thư WHO đã xếp thuốc lá là nguy
cơ thứ 2 trong 10 nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân ở các nước đang phát triển Các bệnh có liên 27 quan tới thuốc lá bao gồm: ung thư phổi (90%), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (75%), bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim (25%) [36] Kết quả nghiên cứu trên 2160 NCT nam giới của tác giả X J Tan và cộng sự tại
Trang 26Trung Quốc (2011) chỉ ra rằng tỷ lệ NCT hút thuốc lá bị rối loạn Lipid máu cao hơn NCT không hút thuốc lá hoặc đã bỏ thuốc lá [37] Theo báo cáo của WHO (2004), 12% tử vong của người từ 30 tuổi trở lên trên phạm vi toàn cầu được quy cho có liên quan đến thuốc lá (tỷ lệ này ở nam giới cao hơn nữ giới) [38].
Theo số liệu được WHO công bố, lạm dụng rượu là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 8 và là yếu tố nguy cơ gây bệnh và tàn phế đứng thứ ba Tác hại của rượu đối với sức khỏe con người là rất trầm trọng, lạm dụng rượu có thể dẫn đến rối loạn tâm thần, xơ gan, viêm tuỵ, đái tháo đường, tăng huyết áp, đột quỵ, chấn thương chủ định hoặc không định chủ, ung thư Hơn nữa, lạm dụng rượu còn ảnh hưởng tới sức khỏe của người khác và sự phát triển kinh tế, văn hóa và
xã hội Tuy nhiên, mức tác hại của rượu đối với sức khỏe con người phụ thuộc vào số lượng rượu sử dụng mỗi ngày và cách các cá thể sử dụng rượu như thế nào [39]
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 272.1 Đối tượng nghiên cứu
Người có tuổi từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống trên địa bàn 3 xã Tây Đằng, Phú Châu, Minh Quang được lựa chọn vào nghiên cứu, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo tính vào năm 2014
* Tiêu chuẩn chọn mẫu:
− Tiêu chuẩn lựa chọn: Đưa vào nghiên cứu các trường hợp sau
ĐTNC có đủ tư cách pháp nhân
ĐTNC có mặt tại thời điểm nghiên cứu
ĐTNC tự nguyện và hợp tác tham gia nghiên cứu
− Tiêu chuẩn loại trừ: Không đưa vào nghiên cứu các trường hợp có 1 trong các
đặc điểm sau
ĐTNC không sống ở địa điểm nghiên cứu từ 6 tháng trở lên
ĐTNC không có đủ tư cách pháp nhân
ĐTNC không có mặt tại thời điểm nghiên cứu
ĐTNC không tự nguyện hay không hợp tác trong quá trình nghiên cứu
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu:
2.2.1. Địa điểm: huyện Ba Vì, Hà Nội
Huyện Ba Vì, Thành phố Hà nội cách trung tâm Thủ đô khoảng 60km nằm
về phía Tây Bắc, tổng diện tích của huyện là 424km2, dân số năm 2014 là 279.290 người, bao gồm 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao Toàn huyện có 31 xã, thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông Hồng Phía Đông của huyện giáp thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ
Trang 28và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng khác nhau: vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sông Hồng Thu nhập chính của người dân từ nông nghiệp và chăn nuôi (chiếm 80%) Theo nghiên cứu về thực trạng sức khỏe của NCT tại huyện Ba Vì năm 2007 của Lê Văn Hợi và cs, tỷ lệ NCT của huyện Ba Vì là 9,1%
Ba Vì được chọn là Điểm nghiên cứu dịch tễ học thực địa (FILABAVI) của Trường Đại học Y Hà Nội (ĐHYHN) và là thành viên của Mạng lưới giám sát nhân khẩu học và sức khỏe quốc tế (INDEPTH) từ năm 1999 đến nay
Hình 2.1 Bản đồ huyện Ba Vì – Hà Nội
2.2.2. Thời gian: từ tháng 2/2015 đến tháng 6/2016
Trang 292.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.4 Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu
2.4.1 Cách chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn được áp dụng, trong đó:
Giai đoạn 1: phân tầng các xã/thị trấn làm ba khu vực: đồng bằng, miền núi và đô thị; chọn ngẫu nhiên đơn mỗi khu vực một xã/thị trấn
Giai đoạn 2: lập danh sách hộ gia đình có NCT trong mỗi xã/thị trấn; chọn ngẫu nhiên 120 hộ trong danh sách của mỗi xã/thị trấn
- Tất cả NCT ở trong các HGĐ đã chọn được mời tham gia nghiên cứu
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu điều tra cho điều tra chọn mẫu tính dựa trên ước lượng tỷ lệ:
p là ước tính tỷ lệ NCT mắc bệnh mạn tính : 69,8% [34]
(p.ε) là sai số tương đối, với ε = 10%
Theo công thức này,