1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN VIỆC sử DỤNG rượu BIA của NGƯỜI dân tại HUYỆN QUỐC OAI năm 2015

57 448 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 357,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm cung cấpnhững bằng chứng cho can thiệp cộng đồng tại Quốc Oai sau này, đặc biệt là trong vấn đề sử dụng rượu, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan v

Trang 1

NGUYỄN THỊ TRANG

THùC TR¹NG Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN VIÖC Sö DôNG R¦îU BIA CñA NG¦êI D¢N

T¹I HUYÖN QUèC OAI N¡M 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA

Khóa 2010 - 2016

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Th.S VĂN ĐÌNH HÒA PGS.TS HOÀNG VĂN MINH

Hà Nội - Năm 2016LỜI CẢM ƠN

Trang 2

lý đào tạo Trường Đại học Y Hà Nội, Phòng Đào tạo Viện đào tạo Y học dựphòng và Y tế công cộng, Bộ môn Dịch tễ học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để em có thể hoàn thànhkhóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, tạo điều kiện của Trung tâm y

tế huyện Quốc Oai và sự tham gia nhiệt tình, trách nhiệm của nhóm điều traviên là các cộng tác viên y tế và nhân viên y tế huyện Quốc Oai

Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc của người học trò, em xinbày tỏ lòng biết ơn tới PGS Hoàng Văn Minh và Ths Văn Đình Hòa – nhữngngười Thầy kính mến đã dạy dỗ, tận tình chỉ bảo, định hướng và giúp đỡ emhoàn thành khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị nhân viên của Trung tâm nghiêncứu Sức khỏe cộng đồng trường đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ em rấtnhiều trong quá trình hoàn thành khóa luận này

Và cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn

bè đã luôn bên cạnh dành cho em mọi sự động viên, khích lệ và hỗ trợ để emvượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu

Hà nội, ngày 16 tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Thị Trang

Trang 3

Kính gửi:

 Phòng Quản lý Đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội

 Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

 Phòng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học Viện Đào tạo Y học dự phòng và

Y tế công cộng

 Bộ môn Dịch Tễ Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng

 Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu,cách xử lý, phân tích số liệu là hoàn toàn trung thực và khách quan Các kếtquả nghiên cứu này chưa được công bố ở trong bất kỳ tài liệu nào

Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà nội, ngày 17 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Thị Trang

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan 3

1.1.1 Khái niệm về rượu bia 3

1.1.2 Phân loại rượu/bia 3

1.1.3 Đơn vị rượu/cốc/chén chuẩn 4

1.1.4 Mức an toàn trong sử dụng rượu bia 5

1.1.5 Sử dụng rượu bia 5

1.1.6 Lạm dụng rượu/bia 5

1.1.7 Các mức độ sử dụng rượu 6

1.2 Ảnh hưởng của rượu/bia 7

1.2.1 Tác hại của rượu/bia đối với sức khỏe 7

1.2.2 Hậu quả đối với gia đình và xã hội 9

1.3 Thực trạng sử dụng, lạm dụng rượu/bia 10

1.3.1 Thực trạng lạm dụng rượu bia trên thế giới 10

1.3.2 Thực trạng sử dụng, lạm dung rượu bia tại Việt Nam 12

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng, lạm dụng rượu bia 14

1.4.1 Giới 15

1.4.2 Tuổi 15

1.4.3 Trình độ học vấn 15

1.4.4 Tác động của người xung quanh 16

1.4.5 Truyền thống văn hóa và chuẩn mực hành vi 16

1.4.6 Áp lực, căng thẳng 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 18

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18

Trang 5

2.2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu 19

2.2.4 Biến số/chỉ số nghiên cứu 20

2.2.5 Thu thập số liệu 22

2.2.6 Quản lý, xử lý và phân tích dữ liệu 22

2.2.7 Sai số và cách khắc phục 23

2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 25

3.1 Một số đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu 25

3.2 Thực trạng sử dụng, lạm dụng rượu bia 29

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng rượu bia của người dân huyện Quốc Oai 36

Chương 4: BÀN LUẬN 38

4.1 Thực trạng sử dụng rượu bia 38

4.2 Một số yếu tố liên quan tới thực trạng sử dụng rượu bia của người dân Quốc oai, Hà Nội năm 2015 40

KẾT LUẬN 44

KHUYẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.2: Tỉ lệ đối tượng từng uống rượu bia trong nghiên cứu 29

Bảng 3.3: Tỉ lệ đối tượng từng uống rượu bia và có uống rượu bia trong 1 năm qua 30

Bảng 3.4:Tỉ lệ có uống rượu trong 1 tháng trước thời điển nghiên cứu ở những người có uống rượu tỏng 1 năm qua 30

Bảng 3.5: Lượng rượu trung bình mỗi ngày 30

Bảng 3.6: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo giới tính 32

Bảng 3.7: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo giới tính 33

Bảng 3.8: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo giới tính 33

Bảng 3.9: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo trình độ học vấn 34

Bảng 3.10: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo giới tính 35

Bảng 3.11: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo giới tính 35

Bảng 3.12: Bảng hồi quy đa biến mối liên quan giữa việc sử dụng rượu bia và các yếu tố nhân khẩu học của người dân huyện Quốc Oai năm 2015 36

Trang 7

Biểu đồ 3.1: Phân bố đối tượng theo giới tính 25Biểu đồ 3.2: Phân bố đối tượng theo dân tộc 26Biểu đồ 3.3: Trình độ học vấn cao nhất đã hoàn thành của đối tượng nghiên cứu 27Biểu đồ 3.4: Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 28Biểu đồ 3.5: Điều kiện sống của đối tượng theo đánh giá của chính quyền địa phương 29Biểu đồ 3.6: Tỉ lệ lạm dụng rượu bia ở người dân Quốc Oai năm 2015 31Biểu đồ 3.7: Tần suốt uống rượu của những người uống rượu trong 1 tháng

trước nghiên cứu 32

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng rượu/bia là một thói quen mang đậm nét văn hóa truyềnthống tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.Ở liều thấp rượu/bia là thứcuống có khả năng gây hứng phấnhệ thần kinh, liều càng cao tác dụngcàngcao, tuy nhiên khi sử dụng quá ngưỡng, rượu/bia còn có tác dụng lên các cơquan khác như hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, hệ nội tiết gây nên những bệnh lý tạicác cơ quan đó [1]

Theo TCYTTG hiện có khoảng 1/3 dân số thế giới có sử dụngrượu/bia và khoảng 77 triệu người lạm dung rượu/bia[2] Nghiện rượu/bia xếphàng thứ 5 trong số 10 nguy cơ hàng đầu với sức khỏe Lạm dụng rượu/biachiếm4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, chỉ sau sử dụng thuốc lá (4,1%) vàtăng huyết áp (4,4%) Ngoài rarượu còn là nguyên nhân khiến con ngườikhông làm chủ đượchành vi của mình, dẫn đến các vấn đề xã hội như bạo lực,TNGT tự tử, [2]

Tại việt Nam, trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới

và phát triển kinh tế, xã hội đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, xuhướng sử dụng rượu bia ngày càng tăng và thiếu sự kiểm soát Báo cáo xuhướng sử dụng đồ uống có cồn của tổ chức Lương thực Nông nghiệp Liênhiệp quốc (FAO) cho thấy việc tiêu thụ rượu bia của VN đã tăng lên rõ rệttrong 2 thập kỷ qua Từ mứctiêu thụtrung bình năm 1989 là khoảng 0,8l/người/năm đã tăng mức1,4l/người/năm vào năm 2003 “ Điều tra quốc gia

về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” (SAVY) năm 2004 kết luận tỷ lệthanh thiếu niên (14 -25) sử dụng rượu bia khá cao, 69% nam thanh niên và28,1% nữ thanh niên có uống rượu bia [3].Tuy nhiên, tương tự như nhiềunước đang phát triển, ở Việt Nam các số liệu liên quan đến mức độ sử dụng,lạm dụng cũng như các yếu tố kiên quan còn nhiều hạn chế

Trang 9

Huyện Quốc Oai là một huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miềnnúi và đồng bằng, nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội Diện tích của huyện là

147, 01 km2 và dân số vào khoảng 156.800 người (2009) Trong những nămgần đây, kinh tế xã hội của Quốc Oai có những bước phát triển đáng kể, kéotheo nó là nhiều vấn đề phức tạp về y tế, xã hội, giáo dục… Nhằm cung cấpnhững bằng chứng cho can thiệp cộng đồng tại Quốc Oai sau này, đặc biệt là

trong vấn đề sử dụng rượu, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan việc sử dụng rượu bia của người dân tại huyện Quốc Oai Hà Nội năm 2015”với các mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng sử dụng rượu/bia của người dân ở huyện Quốc Oai

Hà Nội năm 2016.

2 Mô tảmột yếu tố liên quan giữa tình trạng sử dụng rượu/biatrong

cộng đồng người dân huyện Quốc Oai.

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan

1.1.1 Khái niệm về rượu bia

Theo định nghĩa trong từ điển Oxford

- Rượu là một hợp chất hóa học hữu cơ có tên khoa học là ethyl

alcohol được tổng hợp từ quá trình lên men của đường và tinh bột

- Bia là loại đồ uống có cồn với lượng cồn 4-8%

- Theo mục đích sử dụng:

- Rượu dùng để sản xuất (dung môi, chất tẩy…) đư

1.1.2 Phân loại rượu/bia

Có thể phân loại rượu theo các tiêu chí khác nhau như sau:

+ Rượu sản xuất với khối lượng lớn, giá thành rẻ

+ Rượu dùng để uống

- Theo nguyên liệu và cách thức chế tạo: Đồ uống có cồn được chia

theo nồng độ cồn có bên trong đồ uống, gồm 5 loại như sau:

+ Brandy: chưng cất từ nước hoa quả, có nồng độ từ 40-50%

+ Bia được sản xuất từ ngũ cốc, có nồng độ từ 4-8% [109]

Ở Việt Nam có rượu “tự nấu” hay còn gọi là “rượu trắng”, “rượu quốclủi”, “rượu nút lá chuối”, được chưng cất thủ công từ gạo, ngô, khoai,sắn, có nồng độ từ 30-50%

Trang 11

- TCYTTG phân loại đồ uống có chứa cồn được chế biến qua quá trình

lên men và chưng cất thành 3 loại:

+ Bia: nồng độ cồn 5%

+ Rượu nhẹ nồng độ cồn 12-15%

+ Rượu nặng có nồng độ cồn khoảng 40%

1.1.3 Đơn vị rượu/cốc/chén chuẩn

“Đơn vị rượu” là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại rượu

bia với nhiều nồng độ khác nhau.Hiện chưa có quy uớc hay thỏa thuận nào vềviệc xác định một “đơn vị cốc chuẩn” chung cho mọi quốc gia,tuy nhiên gầnđây các nước trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn “đơn vị rượu” thường có từ8-14 gram rượu nguyên chất chứa trong dung dịch đó [4] Đơn vị rượu (1 unit

of alcohol) hay được áp dụng nhất là đơn vị tương đương với 10g rượunguyên chất chứa trong dung dịch uống Như vậy, 1 đơn vị rượu (sẽ tươngđương: 1 lon bia 330ml 5%, 1 cốc rượu vang 125ml nồng độ 11%, 1 ly rượuvang mạnh 75ml nồng độ 20%, 1 chén rượu mạnh 40ml nồng độ 40%)

[4].Việt Nam và một số nước hiện đang áp dụng “đơn vị rượu” theo khuyến

cáo của TCYTTG: 1 đơn vị rượu bằng 10 gram rượu nguyên chất

Bảng 1.1: “Đơn vị rượu” ở các quốc gia

Quốc gia/Lãnh thổ Đơn vị rượu chuẩn (gram)

Trang 12

1.1.4 Mức an toàn trong sử dụng rượu bia

Mức độ an toàn trong sử dụng rượu bia được đề ra trên cơ sở các kếtquả nghiên cứu về các nguy cơ do rượu bia gây ra đối với sức khoẻ Mức độđược coi là an toàn là không quá 3 đơn vị rượu/ngày đối với nam và khôngquá 2 đơn vị rượu/ngày đối với nữ [5] Với mức độ dung nạp này hậu quả củarượu bia đối với sức khoẻ thường ở mức tối thiểu Nhiều nước trên thế giới đãtuyên truyền rộng rãi trong nhân dân những khuyến nghị về mức độ sử dụngrượu bia an toàn Mức độ này được tính theo ngày hoặc tuần, rất khác nhaugiữa các quốc gia và thường có sự khác biệt đối với nam và nữ: với nam từ20-24g/ngày (Cộng hòa Séc, Phần Lan, Nhật Bản ) đến trên 40g/ngày(Australia, Mỹ, New Zealand), với nữ từ 16-24g/ngày (Cộng hòa Séc,Australia, Italia ) đến 39- 40g/ngày (Hà Lan, New Zealand) Có hai quốc giakhông phân biệt lượng rượu sử dụng/ngày giữa nam và nữ (Hà Lan,ThụyĐiển) Những quốc gia có khuyến nghị sử dụng lượng rượu cao trong ngàythường hạn chế lượng rượu theo tuần như New Zealand (60g/ngày hoặc 210g/tuần đối với nam, 40g/ngày hoặc 140g/tuần đối với nữ ) [4]

và trên 2 đơn vị rượu mỗi lần; nam giới uống trên 21 đơn vị rượu mỗi tuần vàhơn 3 đơn vị rượu mỗi lần; người trên 65 tuổi uống trên 14 đơn vị rượu mỗituần và hơn 2 đơn vị mỗi lần được coi là người lạm dụng rượu/bia [2]

Trang 13

1.1.7 Các mức độ sử dụng rượu.

Theo một số tài liệu khi uống rượu/bia đúng cách và phù hợp thì cómột số lợi ích cho sức khỏe [7] Rượu bia có nồng độ thấp như bia hoặc rượuvang nếu uống điều độ từ 10 – 14g mỗi ngày có lợi rõ rệt như kích thích tiêuhoắ, phòng ngừa một số bệnh như tim mạch, các bệnh thoái hóa, quá trình lõahóa và một số bệnh ung thư Theo các chuyên gia liều lượng rượu/bia thíchhợp thay đổi theo cấu trúc di truyền, có người uống nhiều mà vẫn không ảnhhưởng đến sức khỏe, do vậy họ đãkhuyến cáo, liều lượng có lợi nhất cho sứckhỏe dao động từ 10g – 14g mỗi ngày và chỉ nên uống lúc ăn hoặc đã uống làphải ăn [7]

Mức độ an toàn trong sử dụng rượu/bia được đề ra theo những căn cứ

từ kết quả nghiên cứu về các nguy cơ do rượu/bia gây ra đối với sức khỏe.Với mức độ dung nạp này, những hậu quả của rượu/bia đối với sức khỏethường ở mức độ tối thiểu Lý tưởng nhất là không nên uống rượu/bia, nếuuống chỉ giữ ở mức không quá 3 đơn vị rượu/ngày đối với nam và không quá

2 đơn vị rượu/ngày đối với nữ [2]

Đối với người Việt Nam, theo nghiên cứu của GS Lê Sĩ Liêm, mức

độ an toàn khi sử dụng rượu/bia là không quá 2 đơn vị rượu/ngày (khoảng 20gram rượu nguyên chất) đối với nam và không quá 1 đơn vị rượu/ngày(khoảng 10 gram rượunguyên chất) đối với nữ [8]:

Theo WHO đã chia các mức độ sử dụng rượu trong 12 tháng và 30ngày gần nhất thành 3 mức độ: thấp, trung bình, cao

Loại 3 (cao) được định nghĩa là uống ≥60g cồn nguyên chất trungbình mỗi ngày đối với nam và ≥40 g cho phụ nữ

Loại 2(trung bình) được xác định là uống 40-59.9g cồn nguyên chấttrung bình mỗi ngày đối với nam và 20-39.9g cho phụ nữ

Trang 14

Loại 1(thấp) được định nghĩa là uống <40g cồn nguyên chất trungbình mỗi ngày đối với nam và <20 cho phụ nữ.

Với một thức uống chuẩn chứa khoảng 10g cồn nguyên chất

1.2 Ảnh hưởng của rượu/bia

1.2.1 Tác hại của rượu/bia đối với sức khỏe

Đã có nhiều nghiên cứu khoa học chứng mình tác hại của rượu/biađối vớisức khỏe Bảng sau cho thấy được tác hại của rượu/bia với sức khỏetheonồng độ cồn trong máu [9]

Bảng 2: Tác hại của rượu/bia theo nồng độ cồn

Nồng độ của rượu

trong máu (mg/dL) Biểu hiện lâm sàng

100 – 200 Đi đứng lảo đảo,không tự chủ được

200 – 300 Nôn, rối loạn phản xạ, tâm thần nhầm lẫn, say

300 – 400 Hôn mê, nguy hiểm đến tính mạng

>500 Liệt trung tâm hô hấp, ngừng tìm, chết do rượu tác

dụng lên hành não

Nguồn: Sách giáo khoa Dược lý học, nhà xuất bản Y học Hà Nội

Bảng 2 thể hiện tác dụng của rượu/bia với sức khỏe tăng lên khi nồng

độ rượu/bia trong máu tăng Khi nồng độ là 0,05g/dL, người uống thấy bớt bị

ức chế và tăng khả năng giao tiếp nhưng khi nồng độ tăng lên 0,4g/dL, ngườiuống bắt đầu lơ mơ và khi nồng độ đạt khoảng 0,5g/dL, người uống sẽ rơi vàohôn mê Còn từ 0,6g/dL trở lên thì người uống bị liệt cơ hô hấp và tử vong

Do vậy, hiện nay nồng độ rượu trong máu cho phép để lái xe tại phần lớn cánước trên thế giới là từ 0,08 – 0,1 g/dL [10]

Rượu đã được chỉ ra rằng có liên quan đến khoảng hơn 60 bênh lýkhác nhau Có thể kể ra đấy một số bệnh lý như: tổn thương hệ tiêu hóa (viêmthực quản dạ dày, loét dạ dày, viêm gan do rượu, gan nhiễm mỡ, xơ gan, xuất

Trang 15

huyết đường tiêu hóa…) Bệnh lý tim mạch như nhồi máu cơ tim, rối loạn vậnmạch, xuất huyết não, ) Tổn thương ở hệ thần kinh: viêm đã chi dưới, viêmnão kiểu Gayet – Wernicke, rối loạn định hướng…[1] Theo TCYTTG năm

2000 có đến 29% DALYs do ung thư thực quản, 19% DALYs do ung thưmiệng họng, 32% DALYs do xơ gan, 18% DALYs do ngộ độc là có liên quanđến rượu bia[11]

Theo số liệu của Bệnh viện Tâm thần Trung ương, tỉ lệ bệnh nhân tâmthần do rượu/bia chiếm từ 5 – 6% bệnh nhân tâm thần [12] Trong báo cáođánh giá chương trình mục tiêu của Bộ Y Tế cho thấy, năm 2002 – 2003, điềutra trên 67,380 người thì chi có 14,9% có biểu hiện tâm thần, trong đó 5,3%

do rượu/bia Theo một nghiên cứu của Phạm Quang Lịch, rối loạn trí nhớ ởbệnh nhân nghiện rượu mạn tính là 71,6% [7].Hay theo thống kê (1995) ởAnh có khoảng 34% trường hợp chết do TNGT, chết đuối và ngã, 47% là dogiết ng, 41% tự tử, 44% bỏng là do sử dụng rượu/bia [13]

Đặc biệt theo Muray và Lopez (1996) việc sử dụng và lạm dụnggóp phần làm cho 773600 trường hợp chết, 19,3 triệu năm sống bị mất đi(YLLs), 47,7 triệu năm sống bệnh tật (DALYs) Với các nước đang pháttriển rượu là tác nhân gây 636800 trường hợp chết, 14,6 triệu năm sống mất

đi (YLLs) , 32,3 triệu năm sống bị mất đi do bệnh tật (DALYs) Ở cácnước phát triển như Trung quốc, Ấn độ và các nước phương Tây, rượu biagóp phần vào 1,2-1,4 trường hợp chết Tỷ lệ này ở Châu Âu là 1,8%, samạc Saharan ở Mỹ là 2,1%, Châu mỹ La Tinh là 4,5% [14] Lạm dụngrượu/bia chiếm 4% gánh nặng bệnh tật toàn cấu, chỉ sai sử dụng thuốc lá(4,1%) và tăng huyết áp (4,4%) [2]

1.2.2 Hậu quả đối với gia đình và xã hội

Có thể nói sử dụng và lạm dụng rượu/bia là một hành vi không chỉảnh hướng đến sức khỏe bản thân mà còn là nguyên nhân gây nhiều vấn đề

Trang 16

trong gia đình và xã hội Theo các nghiên cứu cho thấy, những ng uống rượu/bia phần lớn lại là nam giới nhưng hậu quả mà rượu/bia đểlại thì hầu như lại

là nữ giới phải chịu Một cuộc khảo sát năm 2000-2001 ở 5109 phụ nữ ở vùngRakai của Uganda nhận thấy rằng những bà vợ có chồng uống rượu/bia phảiđương đầu với bạo lực tăng gấp 5 lần so với những bà vợ có chồng khônguống rượu/bia Một nghiên cứu ở Nepan cũng cho thấy trong những gia đình

sử dụng rượu/bia và thuốc phiện thì có 33,4% trẻ em bị bạo lực và có sựngược đãi, 28,5% trẻ em bị bỏ mặc và bị ngược đãi tinh thần, 20,2% trẻ emmất giáo dục, 11,1% xô đẩy những đứa trẻ tới việc sử dụng rượu/bia Cũngtheo báo cáo của TCYTTG WHO, ở châu Âu có đến 4,5 triệu thanh niên sốngtrong những gia đình chịu ảnh hưởng bởi rượu/bia [13], [15]

Xét về vẫn đề tài chính rượu/bia làm xã hội phải gánh chịu một khoảnchi phí kinh tế cao Ước tính thiệt hại kinh tế gây ra do rượu/bia mỗi năm ởcác nước phát triển từ 0,5 – 2,7 GDP Riêng ở mỹ năm 1994, thiệt hại kinh tế

do rượu/bia gây ra là gần 58,4 tỷ USD, trong đó thiệt hại 18,2 tỷ USD doTNGT, 35,9 tỷ USD là do phạm tội, còn là thiệt hại do bỏng, đuối nước, tựtửngộ độc do rượu/bia Đến năm1999 thiệt hại do rượu/bia gây ra ở Mỹ là 2,1GDP (Harowood etal, 1999) Thiệt hại do rượu/bia gây ra ở 1 số nước khácnhư Pháp là 1,5 GDP, ở Canada là 1,1 GDP vào khoản 7,52 tỷ USD[13],[15],[14] Hậu quả của uống rượu/biakhông chỉ tác động đến kinh tế của một quốc

mà nó còn tác động trực tiếp đến kinh tế từng gia đình Theo 1 nghiên cứu ở

11 quận ởSrilanka về mối liên quan giữa rượu/bia và sự nghèo nàn đã nhậnthấy rằng 7% những ngườiđàn ông nói rằng việc tiêu sài vào rượu/bia là lớnhơn thu nhập của họ (Baklien & Samara Singhe, 2001) Một nghiên cứu khác

ở Cameroom (1983) cho thấy chỉ uống 1 ly rượu/bia phải tiêu tốn 60-84% sốlương hàng ngày của người phụ nữa và 36-50% số lương của những ngườiđàn ông ở vùng nông thôn [15]

Trang 17

Sử dụng và sử dụng rượu/bia quá mức không chỉ là nguy cơ với antoàn giao thông, đây còn là vấn đề gay ảnh hưởng lớn tới an toàn laođộng.Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát giao thông từ năm 2004 – 2006nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông (TNGT) do rượu/bia chiếmtới 6,8% tổng số TNGT cả nước Trong năm 2004 qua phân tích nguyên nhâncủa 5588 vụ thì có tới 462 vụ (chiếm 8,3%) là do người điều khiển phươngtiện say rượu/bia Theo tài liệu cả Ủy Ban An toàn giao thông, nguyên nhângây tai nạn giao thông do sử dụng rượu/bia chiếm 6% tổng số vụ [10].Rượu/bialà nguyên nhân của 10% đến 20%số tai nạn trong công việc ở Pháp.Khoảng 25% các vụ tai nạn ở nơi làm việc và 60% những vụ tai nạn chết ng ởAnh là do sử dụng rượu/bia (Hunghes & Pellis 2000) Ước tính khoảng 20-22% số vụ tai nạn ở Chile có lien quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc sửdụng rượu/bia[15].

Việc sử dụng rượu và sử dụng rượu/bia quá chén không những ảnhhưởng trực tiếp đến bản thân người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến đời sốngcủa những người xung quanh và của toàn xã hội Theo WHO trên thế giới cókhoảng 2 tỷ người sử dụng rượu bia thì có khoảng 76,3 triệu người gây rốimất trật tự [15]

1.3 Thực trạng sử dụng, lạm dụng rượu/bia

1.3.1 Thực trạng lạm dụng rượu bia trên thế giới

Theo báo cáo của TCYTTG (WHO) , ước tính trên thế giới có khoảng

2 tỷ (1/3) dân số) sử dụng rượu bia., 140 triệu ng nghiện rượu bia, 77 triệungười lạm dụng rượu bia [16], [2] Mức tiêu thụ bình quân trên toàn cầu là5,81L/người/năm[2].Trong đó Châu Âu là khu vực có mức tiêu thụ rượu bìnhquân/người/năm cao nhất khoảng 12,11 lít/người/năm gấp 2 lần so với mứctrung bình toàn cầu Xu hướng sử dụng rượu/bia tăng ở các nước Bắc Âu vàĐông Âu, giảm ở các nước Bắc Âu Châu Mỹ và Tây Thái Bình Dương có

Trang 18

mức tiêu thụ rượu bình quân/người/năm là 5lít Trong khi đó ở khu vực ChâuPhi và Đông địa Trung Hải và khu vực Đông Nam Á có mức tiêu thụ bìnhquân/người/năm là 2 lít.

Tỷ lệ sử dụng và lạm dụng rượu bia khá cáo ở hầu hết các nước pháttriển Ở Áo có đến 90% nam giới và 75% nữ giới đã uống rượu bia, 60% namgiới và 40% nữ giới uống ít nhất 1 tuần/1 lần, 6,7% nam giới và 7,2% nữ giớilạm dụng rượu bia và có đến 15,3% nam giới, 11,6% nữ giới nghiện rượu/bia[17], [15] Cũng theo báo cáo của tổ chức YTTG ở Pháp, có đến 27,9% nam,9,7% nữ nghiện rượu bia nặng, 16,6% nam và 7,8% nữ lạm dụng rượu bia và13,3% nam và 4,1% nữ giới đã nghiện rượu Pháp cũng là nước thứ 2 trong số

20 nước sử dụng loại rượu nhẹ nhiều nhất thế giới với lượng tiêu thụ nhiềunhất 8,38l/ng/nam Ngoài ra Pháp là nước đứng thứ 5 về lượn rượu tiêu thụnhiều nhất 13,54l/ng/năm.(2003) [15] Ở Đức tỷ lệ lạm dụng rượu thấp hơnnghiện rượu trong đó 11,2% nam và 11,3% nữ lạm dụng rượu bia và 42,1%nam và 12,7% nữ nghiện rượu nặng [18] Tương tự như Đức, tỷ lệ nghiệnrượu ở Nhật cũng cao hơn tỷ lệ lạm dụng rượu, 38,3% nam và 30,7% nữnghiện rượu nặng; 22,7%nam và 4,9% nữ lạm dụng rượu bia [15] Về lượngrượu bia sử dụng, Uganda là nc có lượng rượu bia tiêu thụ nhiều nhất với19,47l/ng/năm (2003) Khác với tỷ lệ sử dụng rượu bia ở các nước đã nêu trênthì một số nước hồi giáo lại có xu hướng không sử dụng rượu/bia hoặc sửdụng rượu bia rất thấp Một số nghiên cứu đc tiến hành năm 2003 trên 5508

ng ở Bangladesh đã cho thấy 94% người không uống rượu bia trong đó namgiới chiếm 87,4%, nữ chiếm 99,7% [15]

Ở những nước đang phát triển tỷ lệ sử dụng rượu bia ở nhiều nước cácthấp hơn các nước phát triển tuy nhiên tỉ lệ này đang có chiều hướng gia tăng.Theo báo cáo của TCYTTG (WHO), năm 2002, Triều tiên có khoảng 63,4%người uống rượu bia trong đó tỉ lệ sử dụng ở nam giới chiếm 66,3% và ở nữ

Trang 19

giới là 57,8% Lượng rượu/bia nguyên chất mà nước này sử dụng trung bình

là 7,71l/ng/năm (2003) Triều tiên là nước đứng thứ 14 trong tổng số 20 nước

sử dụng loại rượu mạnh nhất với lượng rượu là 5,48l/ng/năm và cũng là 1trong 20 nước sử dụng loại rượu nhẹ nhiều nhất với lượng rượu trung bình là2,99 l/ng/năm Một số nước nhưLào có đến 12,3% người uống ít nhất 1 tuần 1lần 5 cốc chuẩn trong 1 lần uống trong đó năm chiếm 20,9%, nữ chiếm 4,8%(2003) Lào đứng thứ 11 trong 20nước sử dụng loại rượu mạnh nhiều nhất vớilượng rượu 6,09l/người/năm [15]

1.3.2 Thực trạng sử dụng, lạm dung rượu bia tại Việt Nam

Hành vi uống rượu trong những dịp lễ tết cưới hỏi, ma chay có ở hầuhết các địa phương trong cả nước Hành vi này đã trở thành nếp sống, phong

tự từ rất lâu ở nước ta, đối với người dân uống rượu/bia là hành vi rất bìnhthường [19], [20].Theo điều tra Y tế Quốc gia năm 2001-2002, tỷ lệ sử dụngrượu/bia ở nước ta khá cao với tỷ lê nam là 45,7%, nữ là 0,9% Ở nam tỉ lệ sửdụng rượu/bia có chiều hướng tăng theo bậc các nhóm tuổi, cao nhất ở độ tổi

từ 35-44% tuổi chiếm tỷ lệ 63,3% và có chiều hướng giảm khi về già Ở nữgiới, sử dụng rượu/bia lại có xu hướng tăng theo bậc các nhóm tuổi từ 0,0% ởnhóm tuổi 10-14 lên s đến 5,6 % ở nhóm tuổi trên 65 Tỷ lệ người từ 15 tuổitrở lên bắt đầu uống rượu/bia từ trước 19 tuổi ở nam giới là 29,7% và 13,9% ở

nữ, trong đó cao nhất ở nhóm nam giới mù chữ (42,7%) thấp nhất ở nhómnam giới trên cấp III (21,5%) Tỷ lệ hộ gia đình có ng uống rượu/bia là 53,5%trong tổng số 36000 hộ gia đình tham gia vào nghiên cứu, 62,9% sốxã/phương được lãnh đạo xã/phường xác định lạm dụng rượu/bia là một tệnạn xã hội tại xã/phường [19]

Các nghiên cứu cho thấy lượng rượu trung bình tiêu thụ ở Việt Namrất cáo Ước tính, trung bình mỗi người dân tiêu thụ khoảng 15,8 lít (khoảngbằng 2/3 so với mức tiêu thị trung bình thế giới); mức tiêu thụ rượu bình quân

Trang 20

là 3,9 lít (mức chung của toàn cầu là 6 lít) [8] Bình quân mỗi người dân ViệtNam tiêu thụ gần 16 lít bia và 4 lít rượu trong một năm Hiện có khoảng95,7% người sử dụng rượ/bia ở Việt Nam thường xuyên uống các loạirượu/bia thủ công do tư nhân tự nấu Số lượng 90% rượu/bia trên thị trường

do tư nhân nấu tương đương khoảng 250 triệu lít/năm [8]

Nghiên cứu của việc chiến lươc và chính sách y tế năm 2005 trên

1200 hộ gia đình tại 3 tỉnh Sơn La, Thanh Hóa, Bà rịa Vũng tàu Với 3464người trên 15 tuổi đã có đến 1160 người sử dụng rượu/bia ít nhất 1 tuần 1lần,chiếm tỷ lệ 33,5% (64% nam và 1% nữ) Tỷ lệ sử dụng rượu/bia cao nhất ởnhóm những người lãnh đạo (49%), thấp nhất ở nhóm người thất nghiệp(11%) và học sinh (0,25%) Về trình độ học vấn tỷ lệ sử dụng cao nhất ởnhóm những người học cao đẳng, đại học (46%) và những người trên đại học(77%) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu/bia là 18%,trong đó tỷ lệ lạm dụng rượu cao hơn nhiều so với tỷ lệ lạm dụng bia ( lạmdụng rượuở nam là 36% 0,1% nữ, lạm dụng bia ở nam là 10%, 1% nũ) Tỷ lệlạm dụng rươu cao nhất ở nhóm những người không biết chữ (24%), tiếp đến

là những người sau đại học (22%), thấp nhất là nhóm PTTH (11%) Ngược lạithì lạm dụng bia chiếm tỷ lệ cao nhất ở những người có trinh độ học vấn sauđại học (22%) và giảm dần theo bậc học, thấp nhất ở nhóm những người trình

độ tiểu học (2%) Khi uống rượu/bia, người uống rượu/bia có xu hướng uốngrượu vượt mức giới hạn cho phép 1 lần trong khi đó, uống bia lại nằm trogngiới hạn cho phép trong 1 lần uống [20]

Theo kết quả công bố của tác giả Kim Bảo Giang và cộng sự thựchiện tại Ba Vì – Hà Tây năm 2004 cho thấy tỷ lệ sử dụng rượu/bia ở nam là87,3% Tỷ lệ sử dụng rượu/bia4lần/tuần chiếm 1 tỷ lệ khá cao 22,4 % Kếtquả điều tra cũng cho thấy tỷ lệ sử dụng rượu/bia trên 4lần/tuần có xu hướngtăng theo tuổi từ 19,9% ở nhóm 18-24 tuổi lên đến 24,2% ở nhóm trên 45

Trang 21

tuổi Tỷ lệ uống lượng rượu/bia tiêu thụ trung bình trong 1 lần uống giảm dầntheo số cốc chuẩn, tỷ lệ cao nhất ở nhóm 1-2 cốc chuẩn (46,9%), tiếp đến lànhóm 3-4 cốc (25%), nhóm 5-6 cốc (17,1%), thấp nhất là nhóm trên 10 cốcchuẩn (4,1%) Tỷ lệ uống quá chén chiếm 17,3% trong đó cao nhất là uốngquá chén trên 1tháng/1lần (9,6%), thấp nhất ở nhóm lạm dụng hàng ngày(0,9%) [21].

Kết quả nghiên cứu ở xã Khánh Hà Hà Tây do tác giả Nguyễn ThịThanh Hà thực hiện 2008 cho thấy: Với dân số 6704 người trên 18 tuổi ở xã

có 884 người sử dụng rượu đạt tiêu chuẩn đoán lạm dụng rượu/bia và nghiệnrượu/bia chiếm 13,2% dân số điều tra Trong đó 884 người lạm dụng rượu/bia

và nghiện rượu/bia có 734 người, lạm dụng rượu/bia chiếm 11,1% và 141người nghiện rượu/bia chiếm 2,1%.Số lần uống rượu/bia mỗi ngày chiếm tỷ lệcao nhất ở nhóm từ 1-3 lần(91%) thấp nhất ở nhóm trên 10 lần (9%) Lượngrượu/bia tiêu thụ mỗi ngày cao nhất ở lượng uống trên 15-25 cốc chuẩn chiểm

tỷ lệ 44,7%, tiếp đến lượng rượu/bia từ trên 25-50 cốc chuẩn (27%), thấp nhất

là tỷ lệ uống lượng rượu/bia dưới 10 cốc chuẩn (1%) [22]

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng, lạm dụng rượu bia

Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã tìm thấy mối liên quanchặt chẽ giữa hành vi uống rượu ở các mức độ khác nhau với các yếu tố nhưtuổi, giới, trình độ học vấn, ảnh hưởng, sự lôi kéo của bạn bè và người thântrong gia đình

1.4.1 Giới

Nghiên cứu về sử dụng rượu bia và tác hại của rượu bia ở Cận Saharachâu Phi đã cho biết có sự khác biệt rất lớn về giới trong việc sử dụng rượubia Bức tranh về sự khác biệt về giới ở châu Phi trong sử dụng rượu bia cũnggiống như ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Nam giới được báo cáo uốngnhiều rượu bia hơn nữ giới và nam thường uống với mức độ quá chén (heavy

Trang 22

drinking/binge drinking) hơn so với nữ giới [23] Một nghiên cứu cắt ngang

về giới trong sử dụng rượu bia tại 16 quần thể nghiên cứu của 10 bang củanước Mỹ cũng đã phát hiện nam giới uống rượu với mức độ khá nhiều, vớitần suất cao và có khả năng bị các tác động có hại do rượu hơn nữ giới [24],[25], [26], [27] Sự khác biệt khá mạnh về khía cạnh giới còn được thể hiệnkhá rõ ở các nước khu vực châu Âu, Đông Nam Á, các nước theo đạo Hồi Và

ở Việt Nam, tỷ lệ nam giới uống rượu, mức độ uống và tần suất uống cao hơn

nữ rất nhiều [23], [38], [86], [95] Tuy nhiên, ở một vài nước như Nigeria,Nam Phi và Ethiopia thì ngược lại, nữ giới lại được phản ánh thường xuyênuống rượu bia với một lượng uống nhiều hơn nam giới [23]

1.4.2 Tuổi

Tuổi cũng ảnh hưởng khá rõ tới mô hình uống rượu bia Ở Việt Nam vàcác nước khác trên thế giới đã chứng minh ở độ tuổi từ 25-44 mức độ sử dụngrượu bia cũng như tần suất uống rượu bia tăng lên khá nhanh theo chiều tăngcủa tuổi, nhưng đến tuổi từ 45 trở đi thì có xu hướng giảm nhẹ, cho đến tuổi

60 trở đi thì mức độ giảm rất đáng kể [28], [29], [30]

1.4.3 Trình độ học vấn

Một số nghiên cứu ở Việt Nam về việc sử dụng rượu bia của vị thànhniên và thanh niên cũng cho biết có mối liên quan về trình độ học vấn vớihành vi uống rượu bia, theo hướng trình độ học vấn càng cao thì sử dụng rượubia càng nhiều [31], [32],[33], [28] Điều này được lý giải có thể là do vịthành niên và thanh niên có học vấn càng cao thì càng lớn tuổi, sống độc lậphơn, quan hệ với bạn bè nhiều và có khả năng làm ra tiền, do vậy có điều kiệntiếp cận và uống rượu bia nhiều hơn

1.4.4 Tác động của người xung quanh

Việc sử dụng rượu cũng bị ảnh hưởng khá lớn bởi người thân trong giađình và bạn bè xung quanh Nghiên cứu SAVY và nghiên cứu về thực trạng

Trang 23

và 18 các yếu tố ảnh hưởng về sử dụng rượu bia tại Chí Linh, Hải Dương đãchỉ ra rằng vị thành niên và thanh niên tuổi từ 10-24 có người thân trong giađịnh sử dụng rượu thì sẽ uống rượu nhiều hơn gấp 1,45 lần so với những emkhông có người thân uống rượu và 2,7 lần nếu có bạn sử dụng rượu bia so vớinhững em không có bạn sử dụng rượu bia [32], [28].

1.4.5 Truyền thống văn hóa và chuẩn mực hành vi

Bên cạnh các yếu tố cá nhân, yếu tố truyền thống văn hoá, phong tụctập quán và chuẩn mực hành vi cũng là những nhân tố quan trọng chi phốitrực tiếp tới mức độ lạm dụng rượu bia của mỗi cá nhân cũng như từng khuvực Định kiến, quan niệm của cộng đồng về hành vi sử dụng rượu bia củatừng cá nhân có sự khác biệt rất rõ theo mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi tôn

giáo…[34] Các nghiên cứu về mô hình sử dụng rượu bia đã cho một sự hiểu

biết khá rõ về sự đa dạng của các loại văn hóa uống rượu bia tồn tại trên thếgiới và vai trò khác nhau của rượu bia trong xã hội Từ sự hiểu biết này có thểrút ra bài học kinh nghiệm từ sự giống và khác nhau về văn hóa của mỗi quốc

gia, mỗi dân tộc và mỗi tôn giáo [35] Sự khác biệt về yếu tố văn hóa có ảnh

hưởng khá rõ tới cả mức độ sử dụng rượu và mô hình sử dụng rượu bia [36].Uống rượu bia là một hành động được nhiều xã hội chấp nhận và được coi làmột nét văn hoá truyền thống của nhiều quốc gia Rượu bia thường hay được

sử dụng trong các dịp lễ, hội, các cuộc vui chơi giải trí, các sự kiện văn hoá,thể thao lớn…[37], [38] Hơn nữa, ở nhiều quốc gia, mức độ tiêu thụ rượu biagia tăng mạnh vào những ngày công nhân được nhận lương, còn được gọi là

“pay-day drinking” [39] Những cá nhân sinh ra trong gia đình có truyền

thống lạm dụng rượu bia và nghiện rượu bia cũng rất dễ trở thành ngườinghiện rượu bia

Trang 24

1.4.6 Áp lực, căng thẳng

Áp lực nhóm cũng là nguyên nhân làm gia tăng việc sử dụng rượu bia,đặc biệt là đối với nhóm người trẻ tuổi[31], [28] Không chỉ thế, tại các điểmbán rượu như quán bar, quán rượu…, người uống rượu nhiều khi bị bắt buộcphải sử dụng không chỉ vì áp lực trong nhóm mà còn vì những quy định mangtính ép buộc của chủ quán [40] Cùng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốcgia, mỗi khu vực; lượng tiêu thụ rượu bia 19 cũng gia tăng do sự gia tăng vềmức sống Giữa mức độ sử dụng rượu bia với điều kiện kinh tế của mỗi cánhân, mỗi gia đình và từng cộng đồng luôn có mối liên quan chặt chẽ, đặc biệt

là ở các nước đang phát triển [37] Quá trình toàn cầu hoá và tự do hoáthương mại đang diễn ra nhanh chóng cùng với quy luật thị trường; các côngtysản xuất và kinh doanh rượu bia lớn trên thế giới đang hướng tới thị trườnggiàu tiềm năng tiêu thụ đó là các quốc gia đang phát triển, nhất là các nước ởchâu Á Các công ty và tập đoàn xuyên quốc gia trong lĩnh vực sản xuất, kinhdoanh rượu bia thông qua các chiến dịch xúc tiến thương mại trên nhiềuphương tiện, kênh truyền thông khác nhau với mong muốn làm gia tăng mức

độ tiêu thụ rượu bia tại các quốc gia này Vì vậy, đây cũng là một nhân tố làmgia tăng tình trạng lạm dụng rượu bia tại nhiều nước đang phát triển [37]

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người dân thuộc các hộ gia đình tại huyện Quốc Oai – Hà Nội

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

 Đối tượng sinh sống tại huyện Quốc Oai năm 2015

 Người trong độ tuổi từ 15 trở lên

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

 Đối tượng mới đăng ký thường trú/ tạm trú ở địa phương dưới 3 thángtính đến ngày điều tra

 Không phỏng vấn được sau 3 lần điều tra viên tới thăm

 Đối tượng không đủ hành vi năng lực trả lời phỏng vấn

 Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian thu thập số liệu: Tháng 12/2015 đến tháng 6/2016

 Địa điểm: Huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu

 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

Trang 26

n = Cỡ mẫu nghiên cứu là số hộ gia đình được khảo sát

z = 1,96 là mức ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%

p= 0,35 là tỷ lệ sử dụng rượu bia theo nghiên cứu của Kim Bảo Giangnăm 2013 [41];

d=0,03 là độ chính xác tuyệt đối mong muốn

Từ công thức trên, tính được n = 971, cộng thêm khoảng hơn 10% kiểmsoát tỉ lệ không đáp ứng nghiên cứu, kích thước mẫu cuối cùng là 1200người

2.2.3.2 Chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu đươc chọn bằng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:

 Bước 1: Lập danh sách các xã tại huyện Quốc Oai

 Bước 2: Chọn mỗi xã 160 hộ gia đình tham gia nghiên cứu

 Bước 3: Trong mỗi hộ gia đình chọn ngẫu nhiên từ 1 tới 2 đối tượng thỏamãn tiêu chuẩn lựa chọn dựa vào bộ KISS

Trang 27

2.2.4 Biến số/chỉ số nghiên cứu

Nghiên cứu quan tâm các nhóm biến số/chỉ số sau:

Tuổi: Chia làm 4 nhóm

(15-24, 25-39, 40-59, >60)

Tỷ lệ % số người trong từng nhóm tuổi trên tổng người thamgia nghiên cứu

Trình độ học vấn: Chia nhiều cấp độ khác nhau (mù

chữ/chưa đi học; tiểu học;

THCS; THPT; Trung cấp/cao đẳng; Đại học trở lên)

Tỷ lệ %: Số người hoàn thành các bậc học trên tổng số người tham gia nghiên cứu

Dân tộc: Kinh, …

Tỷ lệ %: số người dân tộc trên tổng người tham gia nghiên cứu

Tình trạng hôn nhân: Đang có vợ/chồng, chưa kết hôn, góa/ly hôn/ly thân

Tỷ lệ %: số người trong từng tình trạng trên tổng người thamgia nghiên cứu

Nghề nghiệp

Tỷ lệ %: số người làm các côngviệc khác nhau trên tổng người tham gia nghiên cứu

và 1 tháng qua có sử dụng rượu/bia

Tỷ lệ % người uống rượu/bia theo nhóm tuổi

Tỷ lệ % người uống rượu/bia theo nghề nghiệp

Tỷ lệ % người uống rượu/bia

Trang 28

theo tình trạng hôn nhân

Tỷ lệ % người uống rượu/bia theo điều kiện kinh tế

Tỷ lệ % người uống rượu/bia ở mức 1; mức 2; mức 3

Lượng rượu/bia uống nhiều nhất một lần (chia theo 3 mức phân loại của WHO)

Tỷ lệ % người uống rượu/bia ở mức 1; mức 2; mức 3

Tỷ lệ sử dụng rượu/bia theo trình đọ học vấn

Sử dụng rượu/bia – nghề nghiệp

Tỷ lệ sửdụng rượu/bia theo nghề nghiệp

Sử dụng rượu/bia – điều kiện kinh tế

Tỷ lệ sử dụng rượu/bia theo điều kiện kinh tế

Sử dụng rượu/bia – tình trạng hôn nhân

Tỷ lệ sử dụng rượu/bia theo tình trạng hôn nhân

2.2.5 Thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp (Phụ lục)

Bộ câu hỏi gồm các phần: Bộ câu hỏi gồm những phần chính sau:

- Phần thông tin chung (Họ tên, Tỉnh thành phố, quận huyện, …,

- Phần thông tin nhân khẩu học (năm sinh, giới, trình độ học vấn, dântộc,….),

Ngày đăng: 01/07/2016, 11:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: “Đơn vị rượu” ở các quốc gia - THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN VIỆC sử DỤNG rượu BIA của NGƯỜI dân tại HUYỆN QUỐC OAI năm 2015
Bảng 1.1 “Đơn vị rượu” ở các quốc gia (Trang 9)
Bảng 3.7: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo giới tính (n = 1388) - THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN VIỆC sử DỤNG rượu BIA của NGƯỜI dân tại HUYỆN QUỐC OAI năm 2015
Bảng 3.7 Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo giới tính (n = 1388) (Trang 35)
Bảng 3.9: Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo trình độ học vấn (n = 1388) - THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN VIỆC sử DỤNG rượu BIA của NGƯỜI dân tại HUYỆN QUỐC OAI năm 2015
Bảng 3.9 Tỉ lệ đối tượng có uống rượu theo trình độ học vấn (n = 1388) (Trang 36)
Bảng 3.10 cho thấy trong các nhóm nghề nghiệp, tỉ lệ uống rượu trong những người là cán bộ nhà nước là cao nhất, chiếm 75,8%; tiếp theo là công nhân/ thợ thụ công chiếm 55,1% - THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN VIỆC sử DỤNG rượu BIA của NGƯỜI dân tại HUYỆN QUỐC OAI năm 2015
Bảng 3.10 cho thấy trong các nhóm nghề nghiệp, tỉ lệ uống rượu trong những người là cán bộ nhà nước là cao nhất, chiếm 75,8%; tiếp theo là công nhân/ thợ thụ công chiếm 55,1% (Trang 37)
Bảng 3.12: Bảng hồi quy đa biến mối liên quan giữa việc sử dụng rượu bia - THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN VIỆC sử DỤNG rượu BIA của NGƯỜI dân tại HUYỆN QUỐC OAI năm 2015
Bảng 3.12 Bảng hồi quy đa biến mối liên quan giữa việc sử dụng rượu bia (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w