Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe của người lao động trong ngành cơ khí chế tại trong và ngoài nước ...4 1.2.1.. Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG
******
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
THùC TR¹NG SøC KHáE, BÖNH TËT CñA NG¦êI LAO §éNG C¤NG TY TR¸CH NHIÖM H÷U H¹N S¶N XUÊT PHô TïNG ¤ T¤, XE M¸Y SHOWA VIÖT NAM
N¡M 2011- 2015
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thanh Thảo
Hà Nội 06/2016 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 2
1.1 Sức khoẻ và một số yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe 2
1.1.1 Người lao động 2
1.1.2 Bệnh tật và các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động 3 1.2 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe của người lao động trong ngành cơ khí chế tại trong và ngoài nước 4
1.2.1 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe người lao động trong ngành công nghiệp cơ khí chế tạo tại Việt Nam 4
1.2.2 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe người lao động trong ngành cơ khí chế tạo trên thế giới 6
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 8
2.2 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 8
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 8
2.3 Phương pháp nghiên cứu 8
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 8
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 8
2.3.3 Kỹ thuật chọn mẫu 8
2.3.4 Biến số nghiên cứu 9
2.3.5 Công cụ thu thập thông tin 10
2.3.6 Kỹ thuật thu thập thông tin 10
2.3.7 Quản lý và phân tích số liệu 10
2.3.8 Đạo đức nghiên cứu 10
Trang 4Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu 11 3.2 Thực trạng sức khỏe của người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Showa Việt Nam năm 2011- 2015 13 3.3 Thực trạng bệnh tật của người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Showa Việt Nam năm 2011- 2015 15
Chương 4: BÀN LUẬN 22
4.1 Thực trạng sức khỏe của người lao động Công ty trách nhiệm hữu hạn Showa, năm 2011 - 2015 22 4.1.1 Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu 22 4.1.2 Thực trạng sức khỏe của người lao động Công ty trách nhiệm hữu hạn
Showa, năm 2011 - 2015 23 4.2 Thực trạng bệnh tật của người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Showa, năm 2011 - 2015 24
KẾT LUẬN 27
KIẾN NGHỊ 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Phân bố người lao động theo giới 11
Bảng 3.2: Phân bố người lao động theo năm công tác 11
Bảng 3.3: Thực trạng số lượng hemoglobin trong máu của người lao động 17 Bảng 3.4: Chỉ số bạch cầu máu của người lao động 17
Bảng 3.5: Chỉ số tiểu cầu máu của người lao động 18
Bảng 3.6: Thực trạng glucose máu của người lao động 18
Bảng 3.7: Chỉ số Cholesterol máu của người lao động 19
Bảng 3.8: Chỉ số huyết sắc tố trong máu của người lao động 19
Bảng 3.9: Chỉ số trigycerid trong máu của người lao động 20
Bảng 3.10: Chỉ số men GOT trong máu của người lao động 20
Bảng 3.11: Chỉ số men GPT trong máu của người lao động 21
Bảng 3.12: Chỉ số canxi trong máu của người lao động 21
Trang 6Biểu đồ 3.5: Thực trạng huyết áp của nữ CBCNV từ năm 2011đến năm 2015 16
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang trong tiến trình CNH - HĐH, với những bước tiến nhảy vọt
về khoa học - công nghệ, mang lại nhiều thành tựu to lớn Các sản phẩm sản xuấtđược vừa nhằm phục vụ nhu cầu trong nước vừa để xuất khẩu đem lại nguồn thunhập lớn cho người lao động Việt Nam Hiệu quả kinh tế mang lại rất khả quan,theo số liệu điều tra về GDP và thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2006 - 2012của Tổng cục Thống kê, GDP/người tăng liên tục, từ 795USD năm 2006 lên1.771USD năm 2012 và người tăng dần theo năm [1]
Lao động là điều kiện tiên quyết để sản xuất ra của cải vật chất, song laođộng cũng tác động trở lại với sức khỏe, bệnh, tật của người lao động Hiện naytình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có xu hướng tăng cả về số lượng
và mức độ nghiêm trọng Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội năm 2011: cả nước xảy ra gần 6000 vụ TNLĐ làm 6.154 người bị tai nạn,trong đó có 574 người chết, 1.314 người bị thương, tăng gần 6% so với năm
2010, trong đó ngành cơ khí chế tạo chiếm 8% [2] Dù đã có nhiều nghiên cứu vềsức khỏe và bệnh tật của người lao động trong ngành công nghiệp cơ khí songcòn riêng lẻ, chưa đồng bộ Để có cái nhìn tổng quan về sức khỏe, bệnh tật chungcủa người lao động ngành cơ khí, chế tạo phụ tùng ô tô, xe máy, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người lao động
Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Showa năm 2011- 2015”, với mục tiêu nghiên cứu sau:
1 Mô tả thực trạng sức khỏe của người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Showa, năm 2011 - 2015.
2 Mô tả thực trạng bệnh tật của người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Showa, năm 2011 - 2015.
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Sức khoẻ và một số yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe
Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái
về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh, tật” Còn trongchiến lược Bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1999- 2000 của Bộ Y tế đã nêu rõ “Sức khoẻ
là trạng thái thoải mái đầy đủ về thể chất, tâm hồn và xã hội chứ không chỉ bó hẹpvào nghĩa là không có bệnh hay thương tật, đây là một quyền cơ bản của con người.Khả năng vươn lên đến một sức khoẻ cao nhất có thể đạt được là mục tiêu xã hộiquan trọng liên quan đến toàn thế giới và đòi hỏi sự tham gia của nhiều tổ chức xãhội khác nhau chứ không đơn thuần là của ngành y tế”
Như vậy sức khỏe có ý nghĩa toàn diện gồm nhiều mặt khác nhau như sứckhỏe thể chất, tinh thần, tâm thần, tình dục, xã hội và sức khỏe môi trường
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe và sự thoải máicủa người lao động; chúng có tác dụng tương hỗ với nhau Các yếu tố như: nơi làmviệc (môi trường lao động, điều kiện lao động), các yếu tố tổ chức, văn hóa nơi làmviệc, nhiệm vụ của từng cá nhân và các hoạt động công việc… tất cả đều ảnh hưởng tớisức khỏe của người lao động Các yếu tố về lối sống, điều kiện sống cũng như văn hóa
và cấu trúc cộng đồng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe công nhân
1.1.1 Người lao động
“Người lao động là những người lao động chân tay, làm việc theo giờcông và ăn lương theo sản phẩm” Người lao động là người lao động phổ thông,theo nghĩa rộng là người kiếm sống bằng cách làm việc thể lực (lao động chântay), cung cấp lao động để lĩnh tiền công (tiền lương) của người sử dụng laođộng, để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ và thường được thuê với hợpđồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, một công việc haychức năng
Trang 9Người lao động, lúc đầu là người lao động trong các ngành nghề xây dựng,truyền thống coi là không có tay nghề lao động chân tay, nhưng trái ngược với laođộng có tay nghề cao, tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, mỗi người lao động chỉ
bỏ sức lao động cho một loại sản phẩm riêng biệt và yêu cầu sản phẩm có kỹ thuậtcao, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn lao động Người lao động có các dụng cụ
hỗ trợ lao động như dụng cụ cầm tay, dụng cụ điện, công cụ không khí, và thiết bịnặng nhọc, và hành động giúp các ngành nghề khác, thí dụ, các nhà khai thác mỏhoặc thợ xây dựng [3]
1.1.2 Bệnh tật và các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động
Bệnh là quá trình hoạt động không bình thường của cơ thể sinh vật từ
nguyên nhân khởi thuỷ đến hậu quả cuối cùng Có rất nhiều nguyên nhân sinh rabệnh, nhưng có thể chia thành ba loại chính
- Bệnh do bản thân cơ thể sinh vật có khuyết tật như di truyền bẩm sinh hayrối loạn sinh lí
- Bệnh do hoàn cảnh sống của sinh vật khắc nghiệt như quá lạnh, quá nóng,
bị ngộ độc, không đủ chất dinh dưỡng
- Bệnh do bị các sinh vật khác (nhất là các vi sinh vật) kí sinh
Triệu chứng, điều kiện phát sinh phát triển của từng loại bệnh thường khác nhau
Có nhiều yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ và sựthoải mái của người lao động và chúng tác động tương hỗ với nhau Các yếu tố nơilàm việc như môi trường lao động và các điều kiện vệ sinh, các yếu tố tổ chức vàvăn hoá nơi làm việc, nhiệm vụ của từng cá nhân và các hoạt động công việc, tất cảđều có ảnh hưởng đến sức khoẻ công nhân Các yếu tố về lối sống và điều kiện sốngcủa công nhân cũng như văn hóa cấu trúc cộng đồng có ảnh hưởng đến sức khoẻcủa họ [7]
Trong quá trình lao động con người phải tiếp xúc nhiều với các yếu tố nguycơ: yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, điều kiện làm việc không hợp lý về ecgônômi
và một số loại hình lao động nặng nhọc về thể lực, căng thẳng về thần kinh tâm lýphối hợp với vô số các loại vấn đề xã hội và tâm lý được xác định là các yếu tố
Trang 10nguy cơ hoặc các điều kiện làm việc có hại xuất hiện thường xuyên, phối hợp và tácđộng qua lại với nhau Các yếu tố này là các nguy cơ gây tổn thương nghề nghiệp,bệnh nghề nghiệp, căng thẳng nghề nghiệp.
1.2 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe của người lao động trong ngành cơ khí chế tại trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe người lao động trong ngành công nghiệp cơ khí chế tạo tại Việt Nam
Đào Xuân Vinh và cộng sự đã thực hiện đề tài khảo sát môi trường lao động, khám lâm sàng và đo chức năng hô hấp trên 1200 công nhân kết quả cho thấy: nồng độ bụi silic cao hơn nồng độ cho phép Tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic là 7,8% bao gồm các thể bệnh có tổn thương được xếp loại từ mật
độ 1/0 và kích thước p/+ đến mật độ 2/1và kích thước q/+ Trong đó có 77 trường hợp có mật độ 0/1 và kích thước p/+ Các tác giả kiến nghị rằng việc thiết kế, lắp đặt hệ thống thông gió phù hợp, kèm theo sử dụng phương tiện bảo hộ lao động, đặc biệt là bảo vệ cơ quan hô hấp là cần thiết trong phòng chống bệnh bụi phổi - silic [3]
Bệnh bụi phổi - silic nghề nghiệp là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong 29 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm hiện nay ở nước ta, tính đến cuối năm 2011 tổng số bệnh nghề nghiệp mắc của Việt Nam là 27.246 trường hợp trong đó bệnh bụi phổi - silic chiếm tới 74,40% [2].
Trong nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi silic ở công nhân của Lê Thị Hằng và cộng sự (2007), tỷ lệ hiện mắc bệnh bụi phổi silic là 3,8% và khác nhau ở các nhóm nghề [4].
Hoàng Khải Lập tiến hành nghiên cứu tại 4 nhà máy cơ khí là: nhà máy
cơ khí Diezen Sông Công, nhà máy luyện gang thuộc Công ty gang thép Thái Nguyên, Xí nghiệp luyện kim màu II Thái Nguyên và nhà máy Thép Thủ Đức
- Tp Hồ Chí Minh cho thấy môi trường lao động bị ô nhiễm nặng chủ yếu là
Trang 11bụi, nhiệt độ cao và hơi khí độc Riêng tại nhà máy Diezen Sông Công, nồng
độ bụi tại các khu vực làm khuôn đúc vượt TCCP nhiều lần so với hàm lượng
Si tự do từ 12 - 40%, tỷ lệ bệnh bụi phổi - silic năm 1995 là 25,9% và năm
1996 là 25%, tỷ lệ rối loạn chức năng hô hấp từ 25- 58% [5].
Kết quả phân tích tình hình thương tích do lao động ở Việt Nam của Nguyễn Thị Hồng Tú và cộng sự (2008) cho thấy, trong các ngành công nghiệp, trung bình hàng năm có 4.639 tai nạn nơi làm việc, trong đó 2.617 người bị thương nặng và 499 người tử vong Các ngành công nghiệp có tỷ lệ
tử vong cao là cơ khí, xây dựng, khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng Thương tích do lao động chiếm 5,5% số trường hợp tử vong do mọi nguyên nhân thương tích, 85% trường hợp tử vong do lao động là nam, 71 % là ở nhóm tuổi 15 - 34 tuổi [7]
Gần đây theo Trịnh Tuấn Anh về thực trạng sức khỏe công nhân lao động trực tiếp tại công ty sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Machino cho thấy công nhân có chỉ số BMI trung bình là 21,1± 2,4, thừa cân độ I là 4,0%, thừa cân độ II là 0,5% Tỷ lệ công nhân mắc các bệnh về mắt và tai mũi họng là cao nhất tương ứng là 21,0% và 20,5%, sau đó là các bệnh lý nội khoa như tiêu hóa (9%), tim mạch (7%) và hệ thống vận động (4%)…Tỷ lệ công nhân đạt sức khỏe loại IV tăng dần theo tuổi nghề (chiếm 9,5%) [10].
Theo nghiên cứu của Trần Trọng Hiếu về tình hình sức khỏe công nhân nhà máy cơ khí công ty Yamazaki cho kết quả không có công nhân nào có sức khỏe loại IV, V Tỷ lệ công nhân mắc các bệnh lý về răng hàm mặt (chiếm 53,6%), tai mũi họng (50%), sau đó là các bệnh lý phụ khoa (17,1%), bệnh về mắt (15,1%)… Trong đó các bệnh phụ khoa chiếm tới 1/3 trong tổng
số công nhân nữ Tuổi đời và tuổi nghề của công nhân càng cao thì tỷ lệ mắc các bệnh về tai mũi họng, răng hàm mặt cũng như các bất thường trong các xét nghiệm máu càng cao [11]
Trang 121.2.2 Tình hình nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe người lao động trong ngành cơ khí chế tạo trên thế giới
Tại Pháp, sau hơn 20 năm bổ xung bệnh bụi phổi - silic vào danh mục bệnh nghề nghiệp, có hơn 300 trường hợp mắc bệnh bụi phổi - silic được thông báo hàng năm [12].
Ở Mỹ ước tính khoảng hơn 1 triệu công nhân trong cả nước tiếp xúc với bụi silic, trong đó có khoảng 100.000 công nhân làm việc làm sạch vật đúc, đánh bóng kim loại, có nguy cơ mắc bệnh bụi phổi silic, trong đó có khoảng 250 người chết mỗi năm vì bệnh bụi phổi silic [12], [13].
Tại hội nghị quốc tế lần thứ 7 về bệnh bụi phổi, theo báo cáo của các nước cho thấy tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic của công nhân cơ khí - luyện kim ở một số quốc gia như Hàn Quốc 3,5%; Ấn Độ 30,4%; Thái Lan 21%; Zimbabue 20%; Brazil 27%; Bolivia 7,6% Một số nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic trên công nhân đúc gang cho thấy: theo Landrigan và cộng sự (1986)
là 9,6%; theo Rees D (1994) là 10,3% Cũng theo nghiên cứu của Rees D (1994) công nhân tiếp xúc với bụi có hàm lượng silic dioxit từ 23 - 58%, nồng
độ bụi 6,6 mg/m3 thì tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi silic từ 24 - 33% [14].
Theo thống kê của Y học thế giới tại các nước công nghiệp phát triển thì trung bình có khoảng 1/4 đến 1/3 người lao động phải làm việc trong môi trường lao động có cường độ tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép [24].
Theo nghiên cứu của ngành cơ khí - luyện kim của Nga cho thấy 7,2% công nhân bị mắc bệnh ĐNN Ở Úc (1998) tỷ lệ giảm sức nghe của các ngành nghề cao, giảm sức nghe có tần số 4000Hz trên 55dB chiếm 33% trong đó công nhân rèn là 62%, công nhân gò là 38% [13].
Nghiên cứu của Magari S.R cho thấy ở công nhân phải thường xuyên tiếp xúc với nóng ẩm cao có tỷ lệ bệnh mạch vành và tăng huyết áp lần lượt là
Trang 1311,6% và 27,7%, cao hơn so với người không tiếp xúc thường xuyên với tỷ lệ
là 6,7% và 15,7% [16].
Kempf K trong nghiên cứu tác động thừa cân và béo phì với nguy cơ tim mạch ở nhân viên công ty Boehringer Ingelheim, kết quả cho thấy 90% đối tượng tham gia (n = 2849): tỷ lệ thừa cân và béo phì là 40% và 18%, cao hơn đáng kể ở nam giới và người lao động ≥ 50 năm Mức độ nguy cơ tim mạch và tỷ lệ nhiễm cá bệnh tim mạch tăng lên đáng kể với tỷ lệ BMI của cơ thể và cao hơn ở người thừa cân và béo phì [17].
Theo Capingana DP trong nghiên cứu yếu tố nguy cơ tim mạch và mức
độ kinh tế xã hội trong công nhân khu vực công tại Angola, kết quả cho thấy
sự tồn tại của một tỷ lệ cao của nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch ở công nhân khỏe mạnh, người lao động trong các nhóm kinh tế xã hội thấp có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp, hút thuốc lá và phì đại thất trái [18].
Tại Singapore, thống kê trên khoảng 1/2 triệu người lao động làm việc trong khoảng hơn 9500 nhà máy trong năm 1985 cho thấy vấn đề TNLĐ và bệnh nghề nghiệp rất cần được quan tâm, trong đó bệnh nghề nghiệp đứng đầu là điếc nghề nghiệp chiếm 79%, bệnh da nghề nghiệp 16% [2].
Trang 14Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Công ty TNHH sản xuất phụ tùng ô tô,
xe máy Showa Việt Nam, từ tháng 1/2010 đến tháng 6/2015.
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người lao động tại Công ty TNHH sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Showa có hồ sơ bệnh án khám sức khỏe định kỳ trong 5 năm liền từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2014, đầy đủ các thông tin phục vụ cho nghiên cứu gồm:
13 mục theo tiêu chuẩn 1613/BYT năm 1997.
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Hồ sơ bệnh án không đầy đủ thông tin phục vụ cho nghiên cứu.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu số liệu sẵn có.
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Tất cả những hồ sơ bệnh án khám sức khỏe của công nhân làm việc tại Công tytrách nhiệm hữu hạn Showa đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu
Trang 152.3.4 Biến số nghiên cứu
Mục tiêu Tên biến số Chỉ số/định nghĩa/ phân loại Phân loại
nhóm tuổi theo năm và chung
Biến rời rạc
Năm kinh nghiệm < 5 năm, 5-10 năm, > 10 năm Biến danh mụcMột số chỉ số nhân
trắc
BMI theo năm và chung cho 5
Phân loại sức khỏe Tỷ lệ phần trăm sức khỏe loại
I,II,II,IV,V theo năm Biến danh mục
Chỉ số hồng cầu Tỷ lệ phần trăm tính theo các
Chỉ số bạch cầu Tỷ lệ phần trăm tính theo các
Chỉ số Hb Tỷ lệ phần trăm tính theo các
Chỉ số tiểu cầu Tỷ lệ phần trăm tính theo các
Chỉ số đường máu Tỷ lệ phần trăm tính theo các
năm và chung
Biến danh mục
Chỉ số Choleterolmáu
Tỷ lệ phần trăm tính theo các
Chỉ số triglyceridmáu
Tỷ lệ phần trăm tính theo các
Chỉ số men GOTmáu
Tỷ lệ phần trăm tính theo các
Chỉ số men GPTmáu
Tỷ lệ phần trăm tính theo các
2.3.5 Công cụ thu thập thông tin
Công cụ thu thập thông tin là bệnh án nghiên cứu được thiết kế dựa trên mục tiêu và biến số nghiên cứu.
Trang 162.3.6 Kỹ thuật thu thập thông tin
Thông tin từ bệnh án khám sức khỏe định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp được sao chép vào bệnh án nghiên cứu.
2.3.7 Quản lý và phân tích số liệu
- Số liệu sau khi được thu thập sẽ được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel 2007 Phần mềm thống kê SPSS 10.0 sẽ được sử dụng trong phân tích số liệu Các trắc nghiệm thống kê để đánh giá sự khác biệt giữa các tỷ lệ Mức ý nghĩa thống kê p = 0,05 sẽ được sử dụng trong thống kê suy luận.
2.3.8 Đạo đức nghiên cứu
- Kết quả thu được chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu, viết bài báo, không
sử dụng vào mục đích khác
- Sau khi hoàn thành, kết quả luận văn được thông báo và gửi lại cho Công ty
để theo dõi quản lý sức khỏe người lao động
Trang 17Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố người lao động theo giới
Năm 2012 tỷ lệ nam người lao động là 74,2% là thấp nhất, trong khi đó năm
2015 tỷ lệ nam người lao động là 81,0% là cao nhất trong các năm (gấp hơn 4,26lần so với nữ người lao động)
Bảng 3.2: Phân bố người lao động theo năm công tác
Trang 18Biểu đồ 3.1: Số công nhân viên phân bố theo nhóm tuổi từ năm 2011- 2015
Người lao động tập trung vào độ tuổi từ 25 tới 34 tuổi, sau đó số người laođộng giảm dần khi tuổi tăng dần
Trong 5 năm tỷ lệ người lao động nam của các nhóm tuổi đều cao hơn nữngười lao động
Trang 193.2 Thực trạng sức khỏe của người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy Showa Việt Nam năm 2011- 2015
Biểu đồ 3.2: Phân loại sức khỏe người lao động theo chỉ số BMI
Từ năm 2011 tới năm 2015 số người lao động có trị số BMI bình thường(18,5 ≤ BMI ≤ 24,49) đều chiếm tỷ lệ cao, trong đó năm 2012 số người lao động cóBMI bình thường là thấp nhất 330 người lao động (chiếm 85,8% người lao động)
Rất hiếm phát hiện được người lao động có chỉ số BMI > 30.
Trang 20Biểu đồ 3.3: Phân loại sức khỏe của người lao động
Sức khỏe của người lao động chủ yếu được xếp loại theo mức độ II và III,sức khỏe người lao động được xếp loại II tăng dần từ năm 2011 tới năm 2015
Sức khỏe xếp loại V hầu như rất thấp có năm thì bằng 0, trong đó có năm
2011 và năm 2015 phát hiện ra được người lao động có sức khỏe loại V