1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ hà nội năm học 2015 2016

74 558 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 370,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về tình trạng sức khỏe tâm thần và tìm hiểumột số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh nhằm phát hiệnsớm các vấn đề sức khỏe tâm thần tuổi học đường, từ đó đề x

Trang 1

TRỊNH THỊ HỒNG NHUNG

THùC TR¹NG SøC KHáE T¢M THÇN HäC SINH TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së TR¢U QUú - Hµ NéI

N¡M HäC 2015 - 2016

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA

KHÓA 2010 - 2016

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Chu Văn Thăng

HÀ NỘI – 2016 LỜI CẢM ƠN

Trang 2

đào tạo đại học Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ

em trong 6 năm học vừa qua

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Chu Văn Thăng,người thầy đã dìu dắt, trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốtnghiệp này

Em xin tỏ lòng biết ơn với các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy cô trong

Bộ môn Sức khỏe môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên giúp đỡ để

em làm tốt khóa luận tốt nghiệp này

Em xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy/cô trường THCS TrâuQuỳ - huyện Gia Lâm – Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quátrình thu thập số liệu và thực hiện khóa luận

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới bố mẹ cùng người thân vàbạn bè đã luôn ở bên giúp đỡ, động viên, khuyến khích em trong thời gian họctập cũng như thời gian thực hiện khóa luận này

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Trịnh Thị Hồng Nhung

Trang 3

Kính gửi:

- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội

- Phòng Đào tạo đại học trường Đại học Y Hà Nội

- Bộ môn Sức khỏe môi trường – Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tếcông cộng – Trường Đại học Y Hà Nội

- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp

Em là sinh viên Trịnh Thị Hồng Nhung, lớp Y6H – Y học dự phòng –Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng – Trường Đại học Y Hà Nội

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu mà em đã tham gia Các sốliệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từngđược đăng tải trên bất cứ tài liệu khoa học nào

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Trịnh Thị Hồng Nhung

Trang 4

CBCNV Cán bộ công nhân viên

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan 3

1.1.1 Khái niệm sức khỏe 3

1.1.2 Sức khỏe tâm thần 3

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới SKTT 4

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi trung học cơ sở 5

1.3 Thực trạng sức khỏe tâm thần hiện nay ở trẻ vị thành niên 6

1.3.1 Tình hình sức khỏe tâm thần trên thế giới .6

1.3.2 Tại Việt Nam 7

1.4 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe sức khỏe tâm thần học sinh 10

1.4.1 Yếu tố cá nhân 10

1.4.2 Yếu tố nhà trường 10

1.4.3 Yếu tố gia đình 11

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Thời gian nghiên cứu 13

2.3 Địa điểm nghiên cứu 13

2.4 Phương pháp nghiên cứu 13

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 13

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 13

2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin 15

2.4.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu 17

2.5 Phân tích xử lý số liệu 17

2.6 Sai số và cách khống chế 17

2.6.1 Sai số 17

Trang 6

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

3.1 Thông tin chung của học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016 20

3.2 Thực trạng học SKTT của học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 - 2016 21

3.2.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần chung theo thang SDQ 25của học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm 2015 - 2016 21

3.2.2 Các vấn đề sức khỏe tâm thần theo thang SDQ 25 của học sinhtrường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016 22

3.2.3 Thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳnăm học 2015 – 2016 theo khối lớp 23

3.2.4 Thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳnăm học 2015 – 2016 theo giới 24

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016 26

3.3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với SKTT học sinh 26

3.3.2 Mối liên quan giữa các yếu tố gia đình với SKTT học sinh 29

3.3.3 Mối liên quan giữa các yếu tố nhà trường và học tập với SKTT học sinh 34

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 38

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 38

4.2 Thực trạng vấn đề SKTT của học sinh trường THCS Trâu Quỳ - Hà Nội 39

4.2.1 Vấn đề SKTT chung 39

4.2.2 Vấn đề liên quan đến SKTT được đánh giá trên thang SDQ 40

4.3 Các yếu tố liên quan đến vấn đề SKTT của học sinh trườngTHCS Trâu Quỳ - Hà Nội 43

KẾT LUẬN 48

KHUYẾN NGHỊ 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Bảng 2.1: Thang điểm đánh giá SKTT học sinh do giáo viên điền trên bộ câu

hỏi SDQ 16Bảng 3.1: Thông tin chung của học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học

2015 -2016 20Bảng 3.2: Yếu tố đặc điểm cá nhân và vấn đề SKTT học sinh trường THCS

Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016 26Bảng 3.3: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố cá nhân đến SKTT

ở học sinh 27Bảng 3.4: Yếu tố gia đình và vấn đề SKTT học sinh THCS Trâu Quỳ năm học

2015 - 2016 29Bảng 3.5: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố gia đình đến

SKTT ở học sinh 30Bảng 3.6: Yếu tố quan hệ gia đình và vấn đề SKTT học sinh trường THCS

Trâu Quỳ năm học 2015 - 2016 31Bảng 3.7: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố quan hệ gia đình

đến SKTT ở học sinh 32Bảng 3.8: Yếu tố nhà trường và học tập với vấn đề SKTT học sinh trường

THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016 34Bảng 3.9: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố nhà trường và học

tập đến SKTT ở học sinh 36

Trang 8

Biểu đồ 3.1: Thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm

học 2015 - 2016 21Biểu đồ 3.2: Các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần học sinh THCS Trâu

Quỳ năm học 2015 - 2016 22Biểu đồ 3.3: Thực trạng SKTT học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học

2015 -2016 theo các khối 23Biểu đồ 3.4: Thực trạng SKTT học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học

2015 – 2016 theo giới tính 24

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra câu khẩu hiệu mà bất cứ quốc gia nàocũng đều biết đến “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Do vậy, công tácchăm sóc sức khỏe (CSSK) cho đối tượng học sinh lúc nào cũng có nhiều ýnghĩa thiết thực và giữ vai trò, vị trí quan trọng của mỗi quốc gia Sức khỏehọc sinh là nhân tố quyết định, ảnh hưởng đến khả năng học tập và sáng tạo,đảm bảo công bằng về giới, giáo dục và phát triển năng khiếu của các em khiđang học ở trường cũng như tương lai sau này [1]

Để các em có sự phát triển hài hòa, toàn diện thì cần được quan tâmCSSK về cả thể chất lẫn tinh thần CSSK thể chất tạo điều kiện cho các emphát triển chiều cao, cân nặng, rèn luyện sức khỏe Đặc biệt hơn CSSK tâmthần giúp các em phát triển tư duy, ổn định tâm lý, hòa nhập với cộng đồng,gia đình và bạn bè Sức khỏe tâm thần tốt sẽ cho phép các em có khả năngứng phó với những vấn đề của sống, hình thành và phát triển nhân cách, đạođức, có lối sống lành mạnh từ chính bản thân, góp phần xây dựng xã hội tốtđẹp, văn minh Tuy nhiên, các vấn đề về rối loạn sức khỏe tâm thần (SKTT)ngoài xã hội và trong trường học đang ngày càng gia tăng Theo tổ chức Y tếthế giới, rối loạn sức khỏe tâm thần là một trong năm nguyên nhân hàng đầu

về vấn đề sức khỏe, chiếm khoảng 12% trên tổng số gánh nặng bệnh tật, và cứmỗi 40 giây trôi qua trên thế giới lại có một người chết do tự tử [2] [3] [4].Ước tính, trên toàn cầu có khoảng 10% -20% trẻ em và thanh thiếu niên gặpcác rối loạn về sức khỏe tâm thần, một nửa trong số đó bắt đầu biểu hiện ởtuổi 14 và ba phần tư còn lại xuất hiện ở độ tuổi 20 [5]

Tại Việt Nam, sử dụng bộ công cụ sàng lọc dịch tễ học SDQ25 dànhcho trẻ em, tỷ lệ nghi ngờ có rối loạn tâm thần được báo cáo từ 14% – 20%[6] Cũng theo một khảo sát sức khỏe tâm thần được tiến hành trên 1727 họcsinh THCS ở nội thành Hà Nội và Thường Tín cho thấy, tỷ lệ học sinh có vấn

đề tâm lý khó khăn là 25,67% [7]

Trang 10

Ngày nay, sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế - xã hôi đã cónhững tác động tích cực cũng như tiêu cực đến đời sống nhân dân nói chung

và trẻ em nói riêng Những tác động tích cực đã giúp thế hệ trẻ được tiếp cậnvới nền khoa học giáo dục hiện đại, tiên tiến, những cơ hội giao lưu, pháttriển ngày càng đến gần các em hơn Bên cạnh đó là những tác động tiêu cựcnhư: cuộc sống gấp gáp của một nền kinh tế thị trường khiến sự quan tâm của

bố mẹ dành cho con cái bị hạn chế bởi thời gian, các em phải tự đối mặt vớinhiều những vấn đề trong cuộc sống, áp lực từ nền giáo dục phát triển cũngkhiến các em căng thẳng trong học tập, thời gian dành cho những vui chơigiải trí lành mạnh bị rút ngắn thay vào đó là thời gian trên trường lớp, vànhững trò tiêu khiển trên mạng xã hội đang dần thu hút sự quan tâm của các

em Tỷ lệ học sinh có hành vi bạo lực học đường, mắc các tệ nạn xã hội và viphạm pháp luật ngày càng gia tăng Vì vậy CSSK học đường, đặc biệt làCSSK tâm thần học đường đang trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Đây là sựchăm sóc cần sự phối hợp của cả nhà trường, gia đình và ngành y tế để manglại hiệu quả cao nhất cho sự hình thành, phát triển trí tuệ, nhân cách và thể lựccủa lứa tuổi học sinh Nghiên cứu về tình trạng sức khỏe tâm thần và tìm hiểumột số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh nhằm phát hiệnsớm các vấn đề sức khỏe tâm thần tuổi học đường, từ đó đề xuất các biệnpháp can thiệp thích hợp và kịp thời

Đến nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của họcsinh ở các cấp học, tuy nhiên để củng cố tính giá trị và sự cấp thiết của vấn đề

này chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng sức khỏe tâm

thần học sinh trường THCS Trâu Quỳ - Hà Nội năm học 2015 – 2016”

với 2 mục tiêu:

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

1 Mô tả thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trường THCS Trâu Quỳ - Hà Nội năm học 2015 – 2016

2 Mô tả các yếu tố liên quan đến thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳ - Hà Nội năm học 2015 – 2016.

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan

1.1.1 Khái niệm sức khỏe

Ngày 27 tháng 3 năm 1946, trên tờ báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã viết “ khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái Đấy là sức khỏe”.Với cách nói hết sức giản dị, gần gũi với nhân dân Bác đã đưa ra một kháiniệm đầy đủ về sức khỏe Hơn 30 năm sau, tại hội nghị Alma Ata Tổ chức Y

tế thế giới cũng đã đưa ra định nghĩa: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toànthoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ không cóbệnh tật hay tàn phế” Như vậy, sức khỏe đã được định nghĩa một cách toàndiện gồm sự khỏe mạnh về 3 cấu phần: khỏe về thể chất, khỏe về tâm thần, vàthoải mái về xã hội

1.1.2 Sức khỏe tâm thần

Năm 2003, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa khái niệm về sức khỏe tâmthần: “Sức khỏe tâm thần là trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhậnbiết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳngthông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả

và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng” [8]

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Viết Thiêm đã đưa ra các tiêu chí đánh giásức khỏe tâm thần: người có sức khỏe tâm thần tốt là người cảm nhận mộtcuộc sống thật sự thoải mái; đạt được niềm tin vào giá trị bản thân và giá trịcủa người khác; có khả năng ứng xử bằng cảm xúc và hành vi hợp lý trướcmọi tình huống; có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thỏa đáng các mốiquan hệ; có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có sự cố gây mấtthăng bằng, căng thẳng [9] Như vậy, sức khỏe tâm thần đã được hiểu một

Trang 12

cách toàn diện, và dựa vào những tiêu chí đánh giá trên cũng đã gợi mở cácchỉ số về điều tra sức khỏe tâm thần cộng đồng và các chương trình can thiệpnâng cao sức khỏe tâm trí.

Thế nào là rối loạn tâm thần?

Rối loạn tâm thần là một nhóm các triệu chứng hoặc hành vi có thểnhận ra được về mặt lâm sàng trong đa số các trường hợp, kết hợp với sự đaukhổ và với việc cản trở các hoạt động cá nhân [10]

Các rối loạn tâm thần bao gồm chủ yếu là các rối loạn loạn thần (hoangtưởng, ảo giác, kích động v.v ); các rối loạn tâm căn (mệt mỏi, cáu gắt, mấtngủ, suy nhược, giảm tập trung chú ý, rối loạn cảm xúc v.v ); lạm dụng chất(rượu, ma túy, thuốc lá v.v ); sa sút trí tuệ (bệnh thực tổn não tiến triểnv.v ); biến đổi nhân cách hành vi có tính chất bệnh lý; chậm phát triển tâmthần và các rối loạn khác ở trẻ em [10]

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới SKTT

Theo WHO, bối cảnh cuộc sống của con người tác động lên sức khỏecủa họ, cá nhân không có khả năng để có thể trực tiếp kiểm soát nhiều yếu tố.Những yếu tố quyết định sức khỏe bao gồm [11]:

- Yếu tố di truyền: các yếu tố sinh học quyết định cấu trúc cơ thể và cáchoạt động chức năng của cơ thể Khi có sự biến đổi bất thường trongcấu trúc gen có thể gây ra những bệnh tật tương ứng Vì vậy yếu tố ditruyền có vai trò xác định trong việc xác định tuổi thọ, lối sống lànhmạnh và khả năng phát triển bệnh nhất định

- Hành vi cá nhân và kỹ năng đối phó: thói quen ăn uống cân đối, hoạtđộng thường xuyên, thói quen hút thuốc lá, uống rượu và cách chúng tađối phó với những căng thẳng trong cuộc sống – tất cả các yếu tố trênđều ảnh hưởng tới sức khỏe

- Mạng lưới hỗ trợ xã hội: sự hỗ trợ tư gia đình, bạn bè có liên quan tốt hơn

Trang 13

- Công việc và điều kiện làm việc: người dân có việc làm sẽ khỏe mạnhhơn, đặc biệt những người có quyền kiểm soát nhiều hơn đối với điềukiện làm việc của họ.

- Môi trường vật lý: nước sạch và không khí trong lành, nơi làm việclành mạnh, không gian nhà ở an toàn, cộng đồng và tất cả con đườngđóng góp vào tình trạng sức khỏe tốt hơn

- Giáo dục: trình độ học vấn thấp có liên quan đến sức khỏe yếu kém, sựcăng thẳng và sự tự tin thấp hơn

- Thu nhập và địa vị xã hội: thu nhập cao hơn và tình trạng xã hội có liênquan đến sức khỏe tốt hơn Khoảng cách giữa những người giàu nhất

và nghèo càng lớn, càng thể hiện sự khác biệt về sức khỏe

- Dịch vụ y tế: tìm hiểu và sử dụng dịch vụ y tế trong phòng ngừa vàđiều trị bệnh cũng ảnh hưởng đến sức khỏe

- Văn hóa: phong tục, truyền thống và niềm tin của gia đình và cộngđồng đều ảnh hưởng đến sức khỏe

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi trung học cơ sở (12 – 15 tuổi) [1]

Lứa tuổi này được đặc trưng bởi sự phát triển nhanh, mạnh mẽ về thểchất do sự chín muồi về sinh dục: tóc, lông bẹn, lông nách, râu ria xuất hiện

và phát triển nhanh, giọng nói trở nên trầm ấm ở nam sinh; nữ sinh xuất hiệnlông bẹn, lông nách, kinh nguyệt, tuyến vú phát triển báo hiệu khả năng cóthể thu thai

Kích thước, khối lượng cơ thể tăng nhanh Chiều cao tăng trung bình từ

4 – 7,5cm/năm, cân nặng tăng 3 – 5kg/năm

Ở lứa tuổi này, do thay đổi các hormone và sự phát triển của mạch máuchậm hơn sự phát triển của cơ tim mà trẻ thường hay mệt mỏi, đau đầu dohuyết áp tăng hơn bình thường (trung bình là 115 – 120/75mmHg) Cần tránhcác hoạt động nặng và căng thẳng thần kinh cho trẻ

Trang 14

Sự hưng phấn thần kinh và các phần dưới vỏ não làm giảm các dạng ứcchế bên trong nên các em nhanh chóng bị mỏi mệt cả thể chất và hoạt động trínão, đặc biệt các em gái trong thời kỳ kinh nguyệt dễ mệt mỏi và phân tán hơn.

Trí nhớ thụ động hoàn thiện, vốn từ ngày càng phong phú nên lượngthông tin kiến thức đến nhiều hơn Cần phát triển, hoàn thiện cho các em kỹnăng xử lý, cô đọng thông tin

Các em có xu hướng độc lập và tự do cá nhân, bắt đầu thể hiện cá tính,quan điểm và tư tưởng riêng có thể xuất hiện ngấm ngầm hay công khai nêncác em cần người chia sẻ, tham khảo, cố vấn Trẻ cần được người lớn quantâm, giúp đỡ tháo gỡ khó khăn của những vấn đề ở tuổi mới lớn do còn thiếunhiều kinh nghiệm và kiến thức thực tế Trẻ cần được đối xử nghiêm khắctrong tình thương và vị tha của mọi người

1.3 Thực trạng sức khỏe tâm thần hiện nay ở trẻ vị thành niên

1.3.1 Tình hình sức khỏe tâm thần trên thế giới.

Trên thế giới, có tới 7% - 10% trẻ em và thanh thiếu niên mắc phải cácrối loạn tâm thần cần phải điều trị Tỷ lệ này cao hơn ở các vùng đô thị đôngdân có nhiều yếu tố xã hội không thuận lợi, đặc biệt ở tuổi dậy thì TheoWHO, có khoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên đang gặp phải các vấn đềSKTT về một rối loạn đặc thù nào đó như: các vấn đề về cảm xúc (trầm cảm,

lo âu), các rối loạn liên quan đến stress và dạng cơ thể, chứng tự kỷ, rối loạntrong học tập, rối loạn ứng xử, rối loạn tâm thần thể chống đối [8]

Việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em và trẻ vị thành niên là mộttrong ba chương trình lớn của chăm sóc sức khỏe bao gồm phòng chống tainạn thương tích, chống nhiễm khuẩn và chăm sóc sức khỏe tâm thần Các tổnthương tâm thần là một trong những gánh nặng bệnh tất cho xã hội, nó chiếm

tỷ lệ khoảng 12% trên tổng số bệnh [3]

Trang 15

Các rối loạn về hành vi gây rối và chống đối gặp ở trẻ trai nhiều hơn 2đến 3 lần trẻ gái Tỷ lệ nam và nữ tương đồng hơn trong các rối loạn về cảmxúc Trẻ gái hay gặp trầm cảm và biếng ăn nhiều hơn so với trẻ trai Nhữngrối loạn cảm xúc (lo âu, trầm cảm) làm giảm sút đáng kể sự phát triển và khảnăng học của trẻ Rối loạn hành vi gây phá vỡ nghiêm trọng sự phát triển vềmặt xã hội và có thể dẫn tới mắc các chứng bệnh tinh thần về lâu dài.

Các báo cáo nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề SKTT có xu hướnggia tăng Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, trên 25% dân số thế giới bịrối loạn tâm thần và hành vi tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời [3]

Tỷ lệ vị thành niên tại có biểu hiện rối loạn SKTT tại các nước Úc, Mỹ,Đức, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha đều trên mức 20% Ở Trung Quốc, các nhànghiên cứu thấy rằng áp lực từ các kỳ thi chuyển cấp và gánh nặng học tập cóliên quan đến tình trạng SKTT kém ở học sinh [12], không những thế, áp lựchọc tập cao cũng có thể dẫn đến bạo lực và các vấn đề phát triển [13]

Ở các nước phát triển, mặc dù có hệ thống cơ sở hỗ trợ tâm lý và chămsóc sức khỏe thể chất và tâm trí lâu đời và phong phú, nhưng hầu hết các trẻ

em có nhu cầu hỗ trợ SKTT đều không được đáp ứng thỏa đáng [14]

1.3.2 Tại Việt Nam

Theo số liệu của Bộ Y tế năm 2005, tỷ lệ người dân có vấn đề SKTT ởViệt Nam là 10 – 20%; trong đó tỷ lệ cao nhất ở nhóm 20 – 29 tuổi chiếm11,8%, sau đó là các nhóm 10 – 19 tuổi và 30 – 39 tuổi [15]

Nghiên cứu của Amstadter (2009) đánh giá mức độ các rối loạn tâmthần ở thanh thiếu niên Việt Nam cho thấy 9,1% thanh thiếu niên được cho là

có vấn đề SKTT

Kết quả khảo sát SKTT học sinh trường học thành phố Hà Nội (2010),

sử dụng thang đo SDQ do bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương thựchiện cho thấy: tỷ lệ học sinh có vấn đề về SKTT chung là 19,46% [16]

Trang 16

Nghiên cứu của Đào Thanh Thủy (2014) về sức khỏe tâm thần học sinhbằng thang đo SDQ trên 2 trường THPT Hà Nội và THPT Lương Thế Vinh,

Ba Vì, Hà Nội, tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT chung là 15,2% và 20,7% họcsinh nằm trong mức nghi ngờ có vấn đề SKTT [17]

Nghiên cứu của Vương Thị Xuân trên 361 học sinh trường THPT ViệtĐức, Hà Nội năm 2012 cho kết quả 14,7% học sinh có vấn đề về SKTT, biểuhiện hành vi có tỷ lệ rối loạn cao nhất 13,6% [18]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền (2012) trên học sinh trường THPTQuảng Oai, Ba Vì, Hà Nội cho thấy có 20,28% học sinh có khó khăn về vấn đềSKTT trong đó có 12,03% ở mức nghi ngờ và 8,25% mức có vấn đề SKTT [19]

Nguyễn Thị My (2012) nghiên cứu tại trường THPT Lý Bôn tỉnh TháiBình cho thấy, trong quan hệ xã hội có 16,1% học sinh có khó khăn về SKTT,

tỷ lệ này trong quan hệ nhóm bạn là 11,4% [20]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Anh (2010) ở 322 đối tượng là họcsinh trường THPT Cầu Giấy cho tỷ lệ học sinh của trường có vấn đề SKTT là22,9% [21]

Đặng Hoàng Minh và cộng sự nghiên cứu trên học sinh ở 2 trườngTHCS Nguyễn Trãi và Vân Tảo (Hà Nội) năm 2010 cho kết quả tỷ lệ trẻ mắccác vấn đề về SKTT là 22,55% [7]

Nghiên cứu của Đào Thị Tuyết (2014) sử dụng bộ công cụ SDQ25 trên

224 học sinh trường THCS Tam Khương, Đống Đa, Hà Nội cho kết quả21,9% học sinh có vấn đề SKTT [22]

Nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của học sinh một sốtrường THCS của một số thành phố ở Việt Nam của Lê Thị Kim Dung vàcộng sự (2007) cho biết, tỷ lệ học sinh có biểu hiện lo âu là 12,3% và trầmcảm là 8,4% [23]

Trang 17

Theo nghiên cứu của TS Ngô Thanh Hồi (2007) cho thấy có 15,94%học sinh các cấp qua điều tra có rối nhiễu về tâm trí Trên mẫu nghiên cứugồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở trong độ tuổi 10 – 16 tỷ lệ họcsinh có vấn đề SKTT chung là 19,46% Tỷ lệ này không có sự khác biệt nhiềugiữa nam và nữ, tiểu học và trung học cơ sở, nội thành và ngoại thành Đánglưu ý trong số các ca tự sát, có 10% ở độ tuổi 10 đến 17 [24].

Nghiên cứu của BS Nguyễn Văn Thọ (2008) về SKTT của học sinh tạiĐồng Nai, tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT là: 24,27% học sinh ở cấp tiểu học,10,38% học sinh THCS và 10,26% học sinh THPT [25]

Điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên lần thứ hai (SAVY 2)năm 2010 [26] cho biết:

Trong số 10.039 thanh thiếu niên trả lời, có 73,1% người từng có cảmgiác buồn chán, trong đó 78,9% thanh thiếu niên thành thị, cao hơn khoảng7% so với tỷ lệ này ở nông thôn

Trong số 4.925 nữ thanh thiếu niên, có 77,9% người đã từng trải quacảm giác buồn chán Tỷ lệ này ở nam thanh thiếu niên là 68,4%

Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng cảm thấy hoàn toàn thất vọng về tươnglai là 21,3% và có 4,1% đã từng nghĩ đến chuyện tự tử Tỷ lệ thanh thiếu niênthành thị cảm thấy thất vọng về tương lai là 23,5%, tỷ lệ này ở nông thôn là20,6% Đặc biệt, có 5,9% nữ thanh thiếu niên đã từng nghĩ đến chuyện tự tử

Tỷ lệ này cao gấp hơn 2 lần so với nam thanh thiếu niên

Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tốc độ nhanh chóng đã làmnảy sinh những tác động tích cực đến thanh thiếu niên, nhưng bên cạnh đócũng không ít những tác động tiêu cực, trong đó có những tác động tiêu cựcđến SKTT của các em Các biểu hiện tổn thương SKTT ở trẻ là: các rối loạnstress, trầm cảm, tự tử, hành vi chống đối (bỏ nhà, trốn học , trộm cắp, hung

dữ, tàn bạo, đánh nhau, phá vỡ các quy tắc xã hội…), nghiện hút, mại dâm…

Trang 18

Các hiện tượng này đang ngày một gia tăng và đã trở thành mối lo ngại chungcho gia đình, các tổ chức, nhà nước của nhiều quốc gia trên thế giới Vì vậyvấn đề chăm sóc SKTT cần được nhìn nhận và quan tâm để tránh những ảnhhưởng gây tác động đến tâm lý và gây tổn thương tới SKTT của các em.

1.4 Các yếu tố liên quan đến sức khỏe sức khỏe tâm thần học sinh

1.4.1 Yếu tố cá nhân

Nhân tố di truyền: Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến một

số rối loạn tâm thần nhưng không phải là tuyệt đối Những nguyên nhân dosinh nở: trường hợp sinh khó để lại di chứng trong sự phát triển của bộ não.Những nguyên nhân do nuôi dưỡng: chế dộ ăn uống không hợp lý đẫn đến suydinh dưỡng, ảnh đến sức khỏe thể lực cũng như sức khỏe tâm thần

Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh hướng, năng lực, tính cách, khíchất…Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh cácvấn đề về SKTT, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý Khi mắc các vấn đề

về SKTT thì người có nhân cách vững bị nhẹ hơn và hồi phục nhanhhơn.Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tố thuận lợi cho rối loạn tâmthần phát sinh, khi mắc thì sẽ hồi phục khó khăn và chậm

1.4.2 Yếu tố nhà trường

Giáo dục nhà trường cũng có thể gây nên những tổn thương tâm thần

cho trẻ em Đó là cách giáo dục áp đặt làm cho trẻ em thiếu tự tin Nội dungchương trình quá tải, áp lực thi cử nặng nề làm cho trẻ em lúc nào cũng căngthẳng, lo sợ, dẫn đến những rối loạn về cả thế xác lẫn tâm thần Vấn đề họcthêm với chính thầy cô ở trường, trẻ phải học ngày học đêm nên không có thờigian nghỉ ngơi, giải trí, luyện tập thân thể Điều này dẫn đến những hành vibất thường, tác hại lâu dài đến tư duy sáng tạo học hỏi của trẻ

Mối quan hệ bạn bè, thầy cô cũng là vấn đề rất quan trọng trong nhữngứng xử của trẻ Trong trường học thường hình thành những nhóm trẻ chơi với

Trang 19

nhau do hợp tính cách nhung cũng có những nhóm trẻ con nhà giàu có điềukiện thì chơi với nhau, đua nhau những vật dụng các nhân, ăn mặc, tiêu xài…

Sự phân nhóm này dẫn đến tình trạng phân biệt giàu nghèo khiến các bạn connhà nghèo thường mặc cảm tự ti, không dám tiếp xúc hoặc có xu hướng đuađòi dẫn đến những hành vi xấu, lệch lạc Mối quan hệ giữa học sinh và thầy

cô có sự cách biệt, thầy giảng, trò nghe, chép không có sự khuyến khích sángtạo, trao đổi thảo luận để trẻ có thể bộc lộ các cảm xúc của mình, điều này dẫnđến tình trạng học sinh chây ì, không phát huy được khả năng mà luôn thụđộng dựa vào bài giảng của giáo viên [27] Ngoài ra sự quan tâm của nhàtrường đến điều kiện sức chăm sóc sức khỏe học sinh cũng là yếu tố rất quantrọng Vai trò của Y tế trường học không thể thiếu trong việc chăm sóc SKTThọc sinh

1.4.3 Yếu tố gia đình

Gia đình là nền tảng của xã hôi, gia đình hạnh phúc, con cái trưởng

thành, sẽ đóng góp một phần cho sự phát triển một xã hội tốt đẹp, một đấtnước văn minh và giàu mạnh Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực là sựtốt đẹp của mỗi gia đình, sự hạnh phúc của cha mẹ, sự trưởng thành của concái, thì vẫn có những vấn đề mà mỗi chúng ta đều phải nhìn nhận một cáchxác đáng

.Trẻ VTN sống trong gia đình có những hoàn cảnh không may như giađình ly tán, cha mẹ thường xuyên xung đột, có người uống rượu, thườngxuyên dùng bạo lúc, trẻ bị bạo hành, đối sử bất công, bị xúc phạm, giáo dụclệch lạc dễ bị ảnh hưởng đến hành vi, ứng xử Những gia đình có bố mẹ quábận rộn với công việc không có thời gian chăm sóc gần gũi con cái sẽ khiếncho trẻ bị lôi cuốn bởi những tác động xấu từ xã hội, từ phim ảnh, internet [28]

Trang 20

Những áp đặt của bố mẹ, thiếu tin tưởng, thiếu công bằng cũng dẫn đếnhiện tượng rối loạn tâm lý ở TVTN hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, dưới sức ép của một nền kinh tế phát triểnnhanh, tiếp nhận một lượng thông tin quá lớn trong thời đại bùng nổ tin học,

có nhiều tác nhân gây stress ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em như: nhiều giađình có nguyện vọng cho con em học thêm nhiều để nâng cao tri thức, khốilượng học ở trường nhiều, học thêm nhiều, vì vậy thời gian vui chơi giải trí vàvận động tích cực buộc phải thu hẹp lại Cha mẹ bận rộn nhiều, ít có thời gianquan tâm, chăm sóc con cái

Xã hội hiện đại đang tạo ra những con người năng động trong nhiềulĩnh vực Sự đòi hỏi khắt khe của xã hội cùng với những kỳ vọng của cha mẹvào con cái đều có thể là nguyên nhân gây áp lực tâm lý cho các em khi mànăng lực của các em không đáp ứng được [14]

Trang 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh trường THCS Trâu Quỳ - Hà Nội

- Giáo viên chủ nhiệm các lớp được chọn nghiên cứu

- Đại diện cha mẹ học sinh

 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Những học sinh vắng mặt trong thời gian nghiên cứu

- Những giáo viên vắng mặt trong thời gian nghiên cứu

2.2 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu tiến hành từ tháng 10/2015 đến tháng 3/2016

2.3 Địa điểm nghiên cứu

- Trường THCS Trâu Quỳ - Hà Nội

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

 Cỡ mẫu dành cho nghiên cứu định lượng

 Cỡ mẫu cho nghiên cứu điều tra học sinh từng khối được tính theo côngthức tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu tỷ lệ trong quần thể

- Đơn vị chọn mẫu là học sinh

Số học sinh được chọn cho nghiên cứu được tính theo công thức:

Trang 22

n= Z2 (1-/2) p(1-p)

ℇ: Mức sai lệch tương đối mong muốn

Chọn ℇ = 0,25 và  = 0,05; Z 1-/2 = 1,96; p = 0,22 (theo nghiên cứu của

Đào Thị Tuyết trên 224 học sinh trường THCS Tam Khương, Đống Đa, Hà

Nội) Từ đó tính được n = 218 Thực tế thu thập được 323 phiếu.

Chọn mẫu:

Bước 1: Chọn 01 quận/huyện trực thuộc thành phố Hà Nội

Bước 2: Chọn ra 01 trường THCS trong quận/huyện

Bước 3: Tại trường có 4 khối: mỗi khối (khối 6, 7, 8, 9) chọn 3 lớp, lấy tất cả học sinh của mỗi lớp

 Chọn mẫu giáo viên: Tất cả giáo viên chủ nhiệm của các lớp đượcchọn vào nghiên cứu, tổng cộng có 12 giáo viên

Cỡ mẫu nghiên cứu định tính

Thu thập số liệu bằng phương pháp thảo luận nhóm Tổ chức 3 cuộc thảoluận nhóm với giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh và học sinh của 4khối lớp với số lượng nhỏ để cung cấp các thông tin định tính về thực trạngSKTT và các yếu tố liên quan ở học sinh

Trang 23

2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin

2.5.1

2.4.3.1 Kỹ thuật thu thập thông tin

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn theo bộ câu hỏi bán cấu trúc cósẵn; bộ câu hỏi SDQ đã được dịch ra tiếng Việt và đã được kiểm định

Phỏng vấn học sinh theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn về các đặc điểm cánhân, môi trường gia đình và môi trường trường học

Sử dụng bộ câu hỏi tự điền SDQ cho giáo viên để đánh giá về các vấn đềSKTT của từng học sinh trong lớp do giáo viên phụ trách

Thảo luận nhóm giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh ở 4 khối lớp vềthực trạng và các yếu tố liên quan đến SKTT của học sinh

2.4.3.2 Công cụ thu thập thông tin:

Đánh giá các yếu tố liên quan đến SKTT:

Phỏng vấn học sinh theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn về các đặc điểm cánhân, điều kiện văn hóa kinh tế gia đình và môi trường học tập nhà trường(phụ lục 1)

Đánh giá thực trạng SKTT:

Bộ câu hỏi SDQ sử dụng cho giáo viên để đánh giá học sinh trong lớpmình (phụ lục 2): gồm 25 mục do viện nghiên cứu SKTT, Vương Quốc Anhđưa ra và đã được sử dụng rộng rãi trên 40 nước trên thế giới và đã được dịch

ra 60 thứ tiếng trên thế giới Bộ câu hỏi bao gồm các thước đo để đo lườngtình trạng SKTT của trẻ về 5 khía cạnh:

- Biểu hiện cảm xúc: buồn rầu, thất vọng, cáu gắt, tức giận, suy nhược,

sợ hãi, lo lắng, mất quan tâm thích thú, ngại giao tiếp bạn bè (Câu 3; 8; 13;

16; 24)

- Hành vi: mất tự chủ, mất trật tự, vi phạm nội quy, bỏ học, gây hấn (Câu 5; 7; 13; 18; 22)

Trang 24

- Sự hiếu động của trẻ: căng thẳng, bồn chồn, luôn ngọ nguậy, hấp tấp,

không thể tập trung chú ý để làm một việc gì đến nơi đến chốn (Câu 2; 10;

15; 21; 25)

- Quan hệ đồng đẳng: cách biệt, thích một mình, ít quan hệ, thiếu hòa

đồng, không được các bạn yêu mến (Câu 6; 11; 14; 19; 23)

- Quan hệ xã hội: không thân ái thân thiện, không tình nguyện, không

chia sẻ, không giúp đỡ mọi người, bàn quan vô cảm với xung quanh (Câu 1;

4; 9; 17; 20)

Tiêu chí đánh giá: Đánh giá kết quả theo thang điểm SDQ có 3 cách lựa

chọn: Không đúng = 0 điểm; Đúng một phần = 1 điểm; Chắc chắn đúng = 2điểm Các câu đúng một phần đều được cho 1 điểm, riêng câu 7, 11, 14, 21,

25 trên thang SDQ sẽ thay đổi: không đúng = 2 điểm, chắc chắn đúng = 0điểm Đánh giá SKTT: tính tổng điểm 20 câu, không tính điểm giao tiếp xãhội Tổng điểm được chia làm 3 mức:

- Bình thường: không gặp khó khăn về SKTT.

- Nghi ngờ: nghi ngờ, chưa chắc chắn.

Sự hiếu động 0 – 5 điểm 6 điểm 7 – 10 điểmQuan hệ bạn bè 0 – 3 điểm 4 điểm 5 – 10 điểmQuan hệ xã hội 6 – 10 điểm 5 điểm 0 – 4 diểm

2.4.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu: (phụ lục 1).

2.5 Phân tích xử lý số liệu

Trang 25

- Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm Epi data 3.1 và được xử

lý trên phần mềm Stata phiên bản 12.0

- Test Khi bình phương được sử dụng để tìm sự khác biệt giữa các nhóm

có tần số mong đợi >5 và test fisher’s exact sử dụng cho các nhóm cótần số mong đợi <5

2.6 Sai số và cách khống chế:

2.6.1 Sai số

Trong quá trình điều tra

Đối với bộ câu hỏi của học sinh:

- Câu hỏi không rõ ràng khiến đối tượng điều tra hiểu nhầm ý câu cần hỏi

- Người được phỏng vấn từ chối không tham gia, bỏ cuộc giữa chừnghoặc điền sai thông tin

- Các học sinh ngồi cạnh nhau nhìn câu trả lời của nhau hoặc hỏi nhữngngười bên cạnh câu trả lời

- Sai số nhớ lại hoặc ước lượng khi hỏi những câu hỏi liên quan đến quákhứ, thời gian

Đối với bộ câu hỏi dành cho giáo viên:

- Sai số do giáo viên nhớ nhầm học sinh này sang học sinh khác

- Sai số nhớ lại của giáo viên không khách quan trong việc đánh giá học sinh

- Sai số do giáo viên không điền vào bộ câu hỏi mà đưa cho học sinh tự điền

- Sai số do giáo viên không điền hết bộ câu hỏi

Trong quá trình ghép phiếu

- Ghép nhầm thứ tự phiếu SDQ của giáo viên và học sinh

- Trong quá trình nhập liệu

- Người nhập liệu nhập sai hoặc bỏ sót thông tin

2.6.2 Cách khắc phục

Trong quá trình thu thập thông tin:

Trang 26

- Câu hỏi được thiết kế rõ ràng, từ ngữ dễ hiểu, tránh gây hiểu lầm chođối tượng nghiên cứu.

- Bộ câu hỏi sau khi được thiết kế được phỏng vấn trên 10 đối tượng đểxem có chỗ nào cần sửa

- Tập huấn cho điều tra viên

- Trước khi đối tượng nghiên cứu tự điền vào phiếu thì giải thích rõràng các nội dung, nhấn mạnh những điểm cần lưu ý và khi đối tượng có câuhỏi thắc mắc thì giải thích cho họ

- Giám sát trong quá trình điều tra: không cho nhìn câu trả lời của bạnbên cạnh, không hỏi bạn câu trả lời, không cho điền phiếu hộ

- Trước khi ra khỏi phòng cần kiểm tra lại tất cả các phiếu, nếu phiếunào thiếu thông tin đưa lại cho đối tượng nhắc nhở đối tượng điền phần thôngtin còn thiếu

- Với đối tượng là giáo viên thì cần giải thích cách cho điểm và nộidung câu hỏi

- Không để giáo viên đưa phiếu cho học sinh tự điền

- Kiểm tra lại phiếu giáo viên khi họ điền xong nếu còn thiếu thông tinnhắc nhở giáo viên tiếp tục điền tiếp

Trong quá trình ghép phiếu:

- Thu thập xong tiến hành ghép phiếu luôn, trong quá trình ghép phiếu kiểmtra thông tin học tin ở mỗi đầu phiếu được ghép xem có khớp nhau hay không

Trong quá trình nhập liệu:

- Nhập liệu viên cần nhập liệu cẩn thận, nhập xong từng phiếu kiểm tralại một lượt phiếu đó rồi chuyển sang nhập phiếu tiếp theo

Trang 27

2.7 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề SKTT học sinh tuy đã được nhiều nhà nghiên cứuthực hiện song vẫn đang còn là vấn đề khá mới đặc biệt là với đối tượng họcsinh THCS Vấn đề SKTT vẫn được cho là nhạy cảm, đa số người dân chưa

có một khái niệm hoàn chỉnh về vấn đề này Chính vì thế, nghiên cứu nàyđược dựa trên sự hoàn toàn tự nguyện bằng cách giải thích, thỏa thuận cho đốitượng khi tham gia nghiên cứu Các thông tin thu thập chỉ được dành cho mụcđích nghiên cứu khoa học chứ không dành cho mục đích nghiên cứu nàokhác Thông tin cá nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn đượcgiữ bí mật trong báo cáo này

Các đối tượng nghiên cứu từ chối tham gia hoặc đang tham gia từ bỏgiữa chừng sẽ hoàn toàn được chấp thuận mà không có sự ép buộc

Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của hội đồng khoahọc thông qua việc bảo vệ đề cương nghiên cứu

Trang 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016

Bảng 3.1: Thông tin chung của học sinh trường THCS Trâu Quỳ

Trang 29

3.2 Thực trạng học SKTT của học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 - 2016

3.2.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần chung theo thang SDQ 25của học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm 2015 - 2016

0.57 0.23

2.0%

Bình thường Nghi ngờ

Trang 30

3.2.2 Các vấn đề sức khỏe tâm thần theo thang SDQ 25 của học sinhtrường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016

Có vấn đề SKTT

Biểu đồ 3.2: Các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần học sinh

THCS Trâu Quỳ năm học 2015 - 2016

Nhận xét: Biểu đồ 3.2 trình bày tỷ lệ SKTT học sinh về năm vấn đề theothang điểm SDQ Ở mức có vấn đề SKTT, tỷ lệ mắc cao nhất là trong quan hệđồng đẳng (25,78%) và thấp nhất là sự hiếu động của trẻ (7,14%) Ở mức độnghi ngờ, tỷ lệ mắc trong quan hệ xã hội và quan hệ đồng đẳng cùng đạt mứccao nhất 25,78%, thấp nhất là sự hiếu động ở mức 6,52%

Trang 31

3.2.3 Thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳnăm học 2015 – 2016 theo khối lớp

Bình thường

Biểu đồ 3.3: Thực trạng SKTT học sinh trường THCS Trâu Quỳ

năm học 2015 -2016 theo các khối.

Nhận xét: Biểu đồ 3.3 thể hiện thực trạng SKTT học sinh trường THCS TrâuQuỳ theo 4 khối 6, 7, 8 và 9 Ở khối lớp 6 không có học sinh có vấn đề SKTT,

tỷ lệ học sinh có SKTT bình thường đạt 91,25% chiếm tỷ lệ cao nhất Tỷ lệhọc sinh có vấn đề SKTT cao nhất là ở khối lớp 7 với 43,53%, tiếp đến làkhối lớp 8 24,36% Ở khối lớp 9 tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT là 11,25%

Trang 32

3.2.4 Thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳnăm học 2015 – 2016 theo giới

Biểu đồ 3.4: Thực trạng SKTT học sinh trường THCS Trâu Quỳ

năm học 2015 – 2016 theo giới tính.

Nhận xét: Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT ở 2 giới gần bằng nhau và khoảng 20%

Kết quả nghiên cứu định tính: Những biểu hiện rối loạn sức khỏe tâm thần

ở học sinh có thể được biểu hiện ra bên ngoài ở đa số các trường hợp Chúngtôi tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm với giáo viên, phụ huynh và học sinh củatrường để tìm hiểu những vấn đề nổi cộm về SKTT của các em Khi được hỏi

về những trường hợp có hành vi và cảm xúc cá biệt như trẻ có biểu hiện tăngđộng quá mức hoặc trẻ khép mình, sống nội tâm không có nhiều bạn bè, các

giáo viên chủ nhiệm (GVCN) cho biết:“lớp tôi không có trường hợp nào cá

biệt nhưng nghịch hơn bình thường thì có” Những hành vi nghịch hơn bình

thường thường thấy ở học sinh là:“học sinh nghịch lắm, có khi phi cả cái bút

vào quạt trần đang quay, đùa nhau mà đẩy nhau ra sát hành lang”, hay là

“có em tranh thủ lúc bạn đứng dậy nó cắm bút xuống ghế bạn, hay kéo ghế

Trang 33

ra là chuyện bình thường” (GVCN), “lớp em có bạn ném thước vào đầu bạn” (HS lớp 9) Các giáo viên nhận xét những trường hợp trẻ “tự kỷ” ít hơn

“tăng động” “trẻ tự kỷ thì ít, có nhiều học sinh lên lớp chỉ có ngủ, mà nguyên

nhân là các em ấy mê điện tử” (GVCN), “lớp em thì có bạn lên lớp chỉ ngồi

im một chỗ , ít nói chuyện với ai, có chị học cùng lớp nên nói chuyện với chị thôi”, “bạn này bị thế từ hồi cấp 1 rồi, cùng lớp với bạn ấy nhưng em không biết học lực của bạn ấy vì bạn ấy ít nói em không để ý” (HS lớp 6) Cá biệt có

trường hợp thầy cô cho rằng học sinh có biểu hiện hoang tưởng: “lớp tôi có

trường hợp hay lắm, em ấy tự viết lên facebook của mình là có người yêu, có thai, rồi năm sau đi học ở nhạc viện, em đấy được gia đình cho đi học piano

từ năm lớp 2… mà thực tế thì không phải, em ấy kiểu như có triệu chứng hoang tưởng ấy” Nói về những trường hợp như thế giáo viên chủ nhiệm

nhận xét là:“gia đình mấy em ấy toàn là hoàn cảnh” Đi sâu hơn về vấn đề

cảm xúc của học sinh, các thầy cô cho biết: lứa tuổi này các em bắt đầu nảysinh những mối quan hệ lên trên mức tình bạn, tình yêu học trò của các emthường không bền vững, các em yêu một phần do thay đổi của tâm sinh lý còn

đa phần do mốt, a dua theo bạn bè và ảnh hưởng trên mạng hay phim ảnh,

“lớp 6 các em bắt đầu biết yêu rồi nhưng mà ít thôi, chứ lớp 8 là nhiều nhất, đến lớp 9 thì các em ấy lại chán, muốn bỏ, lúc ấy cũng biết tập trung vào học hành hơn rồi” (GVCN) Theo các giáo viên chủ nhiệm thì những vấn đề về

SKTT có thể gặp ở cả 2 giới, nguyên nhân ảnh hưởng là game online ở con

trai và chuyện tình cảm ở con gái“… có nhiều học sinh lên lớp chỉ có ngủ, mà

nguyên nhân là các em ấy mê điện tử”, “tâm sinh lý phát triển làm cho tình yêu tuổi học trò gặp ở em gái nhiều hơn”.

Trang 34

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần học sinh trường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016

3.3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với SKTT học sinh

Bảng 3.2: Yếu tố đặc điểm cá nhân và vấn đề SKTT học sinh

trường THCS Trâu Quỳ năm học 2015 – 2016

Bình thường Nghi ngờ Có vấn đề

p Tấn

0,89Thường

Trò chuyện

qua internet

≤ 3 lần/tuần 140 59,07 51 21,52 46 19,41

0,55Thường

xuyên 45 52,33 22 25,58 19 22,09Chơi thể

thao

0,35

Nhận xét: Tỷ lệ học sinh khối lớp 6 & 7 có vấn đề SKTT cao hơn khối lớp 8

& 9 Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT ở nữ là 20,67% nam là 19,65% Học sinh

có học lực trung bình và yếu có vấn đề SKTT (25,35%) cao hơn học sinh họclực khá giỏi (18,65%) Học sinh chơi game có tỷ lệ có vấn đề SKTT khoảng19% Những học sinh thường xuyên trò chuyện qua internet có tỷ lệ mắc cácvấn đề SKTT (22,09%) cao hơn nhóm trò chuyện internet ≤ 3 lần/tuần

Trang 35

(19,41%) Học sinh tham gia các hoạt động thể lực có tỷ lệ có vấn đề SKTT(19,39%) thấp hơn nhóm không tham gia các hoạt động thể lực (27,59%).

Bảng 3.3: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố cá nhân đến

SKTT ở học sinh.

Có vấn đề SKTT OR (95%CI) Tần số %

Chơi thể thao KhôngCó 578 19,3927,59 0,63 0,26 – 1,50Nhận xét: khả năng mắc các vấn đề SKTT ở nhóm thường xuyên trò chuyệnqua internet cao gấp 1,2 lầnso với nhóm trò chuyện ≤ 3 lần/tuần Học sinhtham gia chơi thể thao có tỷ lệ có vấn đề SKTT thấp hơn và khả năng mắc cácvấn đề SKTT bằng 0,63 lần nhóm còn lại

Kết quả nghiên cứu định tính: Trong cuộc trao đổi giữa chúng tôi và giáo

viên về ảnh hưởng của internet với học sinh, các giáo viên chủ nhiệm chobiết: khoảng 90% học sinh trong trường biết chơi điện tử, những trường hợpmải chơi dẫn đến học hành sa sút thì không nhiều nhưng ảnh hưởng đến sứckhỏe và học tập của các em là có Yếu tố chơi game online và trò chuyện quainternet đều được các thầy cô giáo, phụ huynh học sinh và học sinh cho rằng

có ảnh hưởng đến học tập và SKTT của các em “… có nhiều học sinh lên lớp

Trang 36

chỉ có ngủ, mà nguyên nhân là các em ấy mê điện tử” (GVCN), “học sinh mà lên net nhiều thì học lực sẽ đuối đi” (PHHS), “có bạn trốn học, ra quán net ngồi cả ngày” (HS lớp 7) Những trường hợp quá ham mê điện tử các em trốn

nhà, trốn học đi vào các quán net, gia đình có đi tìm nhưng không tìm được vì

không biết ở đâu hoặc biết nhưng các em được chủ quán bao che “học sinh

vào quán điện tử gia đình và thầy cô không tìm được, muốn tìm thì phải bảo học sinh đi tìm, 1 lúc là các em ấy tìm ra ngay”, “mấy quán điện tử ở đây họ bao che cho học sinh lắm mình không dễ mà tìm được đâu” (GVCN) Gia

đình và học sinh cho biết thêm, các em thường đi vào quán vụng trộm, ngoàitrích tiền ăn sáng của mình ra thì còn xin tiền bố mẹ đi học thêm nhưng bỏ lạimột phần cho mục đích chơi điện tử, có em còn lấy trộm tiền khi bố mẹkhông để ý, chi phí cho một giờ chơi điện tử các em là 3 nghìn đồng/tiếng,

“bố mẹ có thể cho con cái xin tiền ăn sáng nhưng không thể kiểm soát sự chi tiêu có đúng không” (PHHS) Chúng tôi đặt ra câu hỏi tại sao các em lại thích

vào quán điện tử hơn sử dụng máy vi tính ở nhà, câu trả lời mà chúng tôi nhận

được là “xung quanh trường có rất nhiều quán net phục vụ cho cả học sinh

và sinh viên”, “gia đình nào có điều kiện vẫn cho học sinh sử dụng máy tính

ở nhà dưới sự quản lý của gia đình, những đứa ham mê điện tử thường rủ nhau ra quán ngồi”, “lý do là vì ở đấy có bạn bè và tốc độ truy cập mạng nhanh hơn, các chủ quán internet cũng chiều thượng đế của mình hơn”

(PHHS) Mục đích sử dụng máy tính của các em tại nhà thường phục vụ chohọc tập hoặc giải trí thông thường như nghe nhạc, tìm hiểu các hoạt độngngoại khóa, đa phần việc học tập của các em sử dụng kiến thức sách vở nhiềuhơn Những giải pháp được nhà trường và gia đình phối hợp quản lý thông

qua sổ liên lạc điện tử, gặp gỡ phụ huynh và cảnh cáo trước toàn trường, “sau

gặp gỡ phụ huynh có em cũng có chuyển biến nhưng một vài trường hợp ngấm sâu thì khó chuyển” (GVCN).

Trang 37

3.3.2 Mối liên quan giữa các yếu tố gia đình với SKTT học sinh

Bảng 3.4: Yếu tố gia đình và vấn đề SKTT học sinh THCS Trâu Quỳ

bố không uống rượu (12,90%)

Bảng 3.5: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố gia đình đến

SKTT ở học sinh

Có vấn đề SKTT OR 95%CI

Ngày đăng: 01/07/2016, 11:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thang điểm đánh giá SKTT học sinh do giáo viên điền trên bộ - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá SKTT học sinh do giáo viên điền trên bộ (Trang 22)
Bảng 3.1: Thông tin chung của học sinh trường THCS Trâu Quỳ - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 3.1 Thông tin chung của học sinh trường THCS Trâu Quỳ (Trang 26)
Bảng 3.2: Yếu tố đặc điểm cá nhân và vấn đề SKTT học sinh - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 3.2 Yếu tố đặc điểm cá nhân và vấn đề SKTT học sinh (Trang 30)
Bảng 3.3: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố cá nhân đến - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 3.3 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố cá nhân đến (Trang 31)
Bảng 3.5: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố gia đình đến - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 3.5 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố gia đình đến (Trang 33)
Bảng 3.6: Yếu tố quan hệ gia đình và vấn đề SKTT học sinh trường - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 3.6 Yếu tố quan hệ gia đình và vấn đề SKTT học sinh trường (Trang 34)
Bảng 3.7: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố quan hệ gia - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 3.7 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố quan hệ gia (Trang 36)
Bảng 3.9: Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố nhà trường - THựC TRạNG sức KHỏE tâm THầN học SINH TRƯờNG TRUNG học cơ sở TRÂU QUỳ   hà nội năm học 2015   2016
Bảng 3.9 Phân tích mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố nhà trường (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w