Trong cơ cấu bệnh lý tâm thần, rối loạn trầm cảm đứng thứ hai về tính thường gặp và chiếm 20% số bệnh nhân tâm thần nặng điều trị tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần[3].. Rối lo
Trang 1NGUYỄN CẨM YẾN
§¸NH GI¸ HIÓU BIÕT Vµ TH¸I §é CñA NG¦êI NHµ BÖNH NH¢N TRÇM C¶M §IÒU TRÞ NéI TRó T¹I VIÖN SøC KHáE T¢M THÇN VÒ TRÇM C¶M
Vµ §IÒU TRÞTRÇM C¶M
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 – 2016
HÀ NỘI -2016
Trang 2NGUYỄN CẨM YẾN
§¸NH GI¸HIÓU BIÕT Vµ TH¸I §é CñA NG¦êI NHµ BÖNH NH¢N TRÇM C¶M §IÒU TRÞ NéI TRó T¹I VIÖN SøC KHáE T¢M THÇN VÒ TRÇM C¶M
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo đại học, Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Đảng ủy, Ban giám đốc, Phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bạch Mai đã cho phép và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- ThS Nguyễn Hoàng Yến, Giảng viên Bộ môn Tâm thần trường Đại
học Y Hà Nội, người thầy rất tâm huyết đã trực tiếp hướng dẫn tôi Cô đã tận tình chỉ bảo kiến thức chuyên ngành, quan tâm hướng dẫn và liên tục động viên tôi vượt qua mọi khó khăn để thực hiện luận văn này
- TS Nguyễn Văn Tuấn cùng các thầy cô trong Bộ môn Tâm thần đã
cho phép và tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu trongsuốt quá trình làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người
đã luôn bên cạnhkhích lệ và giúp đỡ tôi trong học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trước đây.
Nếu có gì sai sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Cẩm Yến
Trang 5LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6AIDS : Acquired Imuno-deficiency Syndrom
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
DALY : Disability-Adjusted Life Year
(Năm sống tàn tật hiệu chỉnh)
HIV : Human Imuno-deficiency Virus
(Virus gây suy giảm miễn dịch ở người)
ICD-10 : International Classification Disease
(Phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10)
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, có biểu hiện qua các triệu chứng là: tâm trạng buồn chán, mất đi thích thú hoặc niềm vui, cảm thấy tội lỗi hoặc giảm giá trị của bản thân, khó ngủ, kém ngon miệng, khả năng làm việc kém hoặc khó tập trung.Theo TCYTTG (1995), mỗi năm có khoảng 5% dân số thế giới có rối loạn trầm cảm[1] Theo nhiều nghiên cứu khác nhau thì nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm trong suốt cuộc đời ở nam giới là 15% và ở
nữ giới là 24%, tần suất mắc bệnh cao ở những người đang trong độ tuổi lao động[2].Tới năm 2020, trầm cảm là bệnh thường gặp xếp hàng thứ hai sau bệnh lý tim mạch và sẽ trở thành gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong Trong cơ cấu bệnh lý tâm thần, rối loạn trầm cảm đứng thứ hai về tính thường gặp và chiếm 20% số bệnh nhân tâm thần nặng điều trị tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần[3]
Trầm cảm thường dẫn tới làm mất khả năng duy trì các thói quen sinh hoạt và công việc hằng ngày Rối loạn trầm cảm gây mất khả năng lao động, chi phí cho điều trị cao và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.Trường hợp xấu nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự sát.Theo nghiên cứu của Trần Hữu Bình, có 66-75% bệnh nhân không được chẩn đoán, trong đó 25% bệnh nhân đến khám các bác sĩ chuyên khoa khác do vậy công tác phát hiện, điều trị để
từ đó ngăn chặn và làm giảm hậu quả gặp nhiều khó khăn[4]
Do biểu hiện lâm sàng của trầm cảm có nhiều thể bệnh có thể biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể, nhiều khi rất khó phân biệt được với triệu chứng các bệnh cơ thể kèm theo, thêm vào đó do nhận thức của người dân về trầm cảm chưa cao nên khi bị bệnh thường không đến chuyên khoa ngay, vì vậy tình trạng bệnh sẽ nặng lên và quá trình điều trị trở nên khó khăn hơn Trong điều trị trầm cảm vai trò của người chăm sóc bệnh nhân rất quan trọng trong
Trang 9việc theo dõi cũng như quản lí việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân Vì vậy sự hiểu biết của người nhà đối với rối loạn trầm cảm là thực sự cần thiết để giúp cho bệnh nhân có kết quả điều trị đạt hiệu quả tốt hơn Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về hiểu biết của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là bệnh nhân trầm cảm Vì vậy chúng tôi
chọn đề tài: “ Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm”nhằm đánh giá hiểu biết và thái độ của người chăm sóc bệnh nhân
trầm cảm trong giai đoạn hiện nay Từ đó tìm ra những khó khăn và sai lầm trong hiểu biết của người nhà để có những phương án thích hợp, hiệu quả nhằm giảm bớt những thiệt thòi cho người bệnh, gia đình và xã hội
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Đánh giá hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảm
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về trầm cảm
1.1.1 Khái niệm về trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ tâm thần chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ức chế vận động Theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10) trầm cảm điển hình thường biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi Ngoài ra còn có các triệu chứng phổ biến khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng
và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng…Các triệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục[5] Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng nhất trong việc chẩn đoán
1.1.2 Dịch tễ học của trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái phổ biến trong cộng đồng, tỷ lệ trầm cảm điển hình trên thế giới là khoảng 3-5% dân số Trầm cảm đứng hàng thứ hai sau các bệnh tim mạch Gánh nặng trầm cảm xếp hàng thứ năm ở nữ, hàng thứ bảy ở nam Theo nhiều thống kê thì tỷ lệ nữ/nam là 2/1 Tuổi khởi phát nhìn chung từ 20-50 tuổi, gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 24-45 tuổi Những người
ly dị hoặc ly thân có nguy cơ trầm cảm cao hơn những người có gia đình ở cùng một lứa tuổi Với mỗi nghề nghiệp khác nhau thì tỷ lệ trầm cảm là khác nhau, tỷ lệ trầm cảm là cao hơn với các nghề nghiệp có tính chất độc hại, nguy hiểm, căng thẳng cảm xúc (hoàn cảnh gây stress cấp diễn hoặc kéo dài) Trầm cảm có mặt ở hầu hết các bệnh mạn tính Tái diễn là khuynh hướng thường gặp của trầm cảm[3]
Trang 111.1.3 Bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm
- Yếu tố nhân cách tiền bệnh lý: bất cứ kiểu nhân cách nào cũng có khả năng bị trầm cảm trong những hoàn cảnh nhất định Tuy nhiên, có vài nét nhân cách suy nhược tâm thần, nhân cách lo âu, nhân cách lệ thuộc là có nguy cơ cao dễ
bị trầm cảm [7]
- Yếu tố di truyền: yếu tố di truyền đóng vai trò nhất định trong việc gây ra rối loạn khí sắc nhất là đối với rối loạn cảm xúc lưỡng cực Khoảng 50% người bệnh rối loạn lưỡng cực có tối thiểu một người cha hoặc mẹ bị rối loạn cảm xúc (thường là trầm cảm) Nếu một người cha hoặc mẹ bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực thì sẽ có 25% nguy cơ cho con của họ sẽ bị rối loạn cảm xúc Nếu
cả cha và mẹ đều mắc bệnh này thì khả năng con cái mắc bệnh lên tới 75% [6], [8]
50 Do sử dụng thuốc hoặc các chất tác động tâm thần: một số thuốc và chất gây trầm cảm thường gặp là: rượu, thuốc gây chán ăn, thuốc an thần kinh, corticoid, clonidin, cloroquine… [7]
- Do tổn thương não, rối loạn chức năng não hay một số bệnh cơ thể gây ra như: u não, sa sút tâm thần, Cushing… [5]
1.1.3.2 Bệnh sinh
Giả thiết về các chất dẫn truyền thần kinh: có rất nhiều nghiên cứu về
cơ chế bệnh sinh của rối loạn cảm xúc cho thấy sự liên quan của nó với các hệ thống chất dẫn truyền thần kinh trong hệ thần kinh trung ương [9]:
Trang 12Giảm sút Serotonin: khi nồng độ Serotonin giảm có thể xuất hiện các triệu chứng trầm cảm.
- Khi thiếu hụt Noadrenalin tại các synap của hệ thần kinh trung ương
- Cũng có nghiên cứu cho thấy hoạt động của Dopaminergic giảm trong trầm cảm
- Ngoài ra một số chất trung gian dẫn truyền thần kinh khác, đặc biệt là GABA cũng có sự bất thường trong RLTC
- Giảm Phenylamin là tiền chất của Catecholamin cũng gây RLTC
- Sự điều hòa thần kinh nội tiết: sự tăng nhạy cảm trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận là thường gặp trong bệnh nhân RLTC Trong đó, sự tăng tiết CRH (Corticoliberin) của vùng dưới đồi kích thích tăng tiết ACTH (Adenocorticotropin) của tuyến yên và ACTH kích thích vỏ thượng thận tiết Glucocorticoid và Cortisol Tăng Glucocorticoid làm ức chế sự vận chuyển glucose vào tế bào cấu trúc thần kinh dẫn tới làm giảm năng lượng trong tế bào gây rối loạn chức năng cấu trúc thần kinh, ảnh hưởng đến cơ chế điều chỉnh cảm xúc và nhận thức Mặt khác tăng corticoid trong máu làm giảm serotonin, do ức chế thụ thể serotonin nhóm 5-HT1A ở vùng hồi hải mã gây
ra trầm cảm theo mô hình của Serotonin [10], [11]
1.1.4 Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm
Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức Y
tế Thế giới, trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc biểu hiện bằng 3 triệu chứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến Các triệu chứng này phải kéo dài trong thời gian ít nhất 2 tuần [5]
*Ba triệu chứng đặc trưngcủa trầm cảm:
- Khí sắc trầm
- Mất mọi quan tâm thích thú trong các hoạt động
- Giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi
Trang 13*Bảy triệu chứng phổ biến của trầm cảm:
- Giảm sút sự tập trung và chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Những ý tưởng bị tội, không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm, bi quan
- Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ bất cứ lúc nào
- Thay đổi cảm giác ngon miệng (tăng hoặc giảm) với sự thay đổi trọng lượng
cơ thể tương ứng
*Các triệu chứng cơ thể (sinh học) của trầm cảm
- Mất quan tâm ham thích những hoạt động thường ngày
- Thiếu các phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh
- Giảm cảm giác ngon miệng
- Sút cân (thường ≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước)
- Giảm hoặc mất hưng phấn tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ
*Các triệu chứng loạn thần
Trầm cảm nặng thường có hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ Các triệu chứng loạn thần có thể phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị tội, nghi bệnh, cảm thấy mình không còn giá trị gì hoặc có thảm họa đang ập đến, các ảo thanh phỉ bang hoặc kết tội bệnh nhân) hoặc không phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị truy hại hoặc liên hệ và các ảo giác không có nội dung cảm xúc)
Trang 141.1.5.Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10[5]
* Giai đoạn trầm cảm (F32)
- Giai đoạn trầm cảm phải kéo dài ít nhất 2 tuần
- Không có đủ các triệu chứng hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm để đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30.-) ở bất kỳ thời điểm nào trong đời người
- Giai đoạn này không thể gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần F19) hoặc bất cứ rối loạn tâm thần thực tổn nào (F00-F09)
(F10 Chữ số thứ năm có thể sử dụng để biệt định sự hiện diện hay vắng mặt của các hội chứng cơ thể Để đánh giá hội chứng cơ thể thì ít nhất 4 trong số 8 triệu chứng cơ thể phải có mặt
*Các thể lâm sàng của giai đoạn trầm cảm:
- Giai đoạn trầm cảm nhẹ: có ít nhất 2 triệu chứng điển hình, ít nhất 2 triệu chứng phổ biến, không có triệu chứng nào trong số đó ở mức độ nặng, thời gian tối thiểu của mỗi giai đoạn ít nhất 2 tuần, hoạt động thường ngày và hoạt động xã hội giảm nhưng không bị ngừng
- Giai đoạn trầm cảm vừa: có ít nhất 2 triệu chứng điển hình, cộng thêm ít nhất
3 triệu chứng phổ biến, nhiều triệu chứng có thể biểu hiện rõ rệt, thời gian tối thiểu của mỗi giai đoạn ít nhất 2 tuần, khó khăn để tiếp tục các hoạt động thường ngày và hoạt động xã hội
- Giai đoạn trầm cảm nặng: có đủ 3 triệu chứng điển hình, cộng thêm ít nhất 4 triệu chứng phổ biến và một số phải đặc biệt nặng, thời gian tối thiểu của mỗi giai đoạn ít nhất 2 tuần, có thể có triệu chứng loạn thần, ít khả năng tiếp tục các hoạt động thường ngày và hoạt động xã hội
∗ Rối loạn trầm cảm tái diễn (F33):
Trang 15- Đã có ít nhất một giai đoạn trước đó bị trầm cảm nhẹ (F32.0), vừa (F32.1), nặng (F32.2 hoặc F32.3), kéo dài ít nhất 2 tuần và cách biệt với giai đoạn hiện tại ít nhất 2 tháng không có bất cứ triệu chứng khí sắc đáng kể nào.
- Không có một giai đoạn nào trong quá khứ đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30.-)
- Những chẩn đoán loại trừ hay gặp nhất: Giai đoạn này không thể gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần (F10- F19), hoặc với bất kỳ rối loạn tâm thần thực tổn nào trong nhóm (F00- F09)
∗ Các thể lâm sàng của rối loạn trầm cảm tái diễn:
- Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn nhẹ: các tiêu chuẩn đối với rối loạn trầm cảm tái diễn được đáp ứng và giai đoạn hiện nay phải đủ tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0)
- Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn vừa: phải đủ tiêu chuẩn cho rối loạn trầm cảm tái diễn (F33.-) và giai đoạn hiện nay có đủ tiêu chuẩn cho trầm cảm mức độ vừa
- Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng: phải có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn, và giai đoạn hiện tại phải có đủ tiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần hoặc không có loạn thần
∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa (F31.3)
- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầm cảm mức độ nhẹ (F32.1) hoặc vừa (F32.1)
- Đã có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác trong quá khứ đáp ứng các tiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ (F30.-) hoặc giai đoạn cảm xúc hỗn hợp (F38.00)
Trang 16∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nặng không có loạn thần (F31.4)
- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầm cảm nặng không có loạn thần (F32.2)
- Đã có ít nhất một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ rõ (F30.), giai đoạn trầm cảm (F32.-) hoặc giai đoạn cảm xúc hỗn hợp trong quá khứ (F38.00)
∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần (F31.5)
- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần (F32.3)
- Đã có ít nhất một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ rõ (F30.), giai đoạn trầm cảm (F32.-) hoặc giai đoạn cảm xúc hỗn hợp trong quá khứ (F38.00)
1.1.6 Điều trị trầm cảm
Nguyên tắc điều trị: [28]
Điều trị trầm cảm bao gồm hóa trị liệu và tâm lý trị liệu và bao gồm một
số các nguyên tắc như sau: (1) Phải phát hiện được sớm, chính xác trạng thái trầm cảm kể cả trầm cảm nhẹ, trầm cảm biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể của nhiều bệnh chuyên khoa khác (2) Phải xác định được mức độ trầm cảm đang có ở người bệnh (3) Phải xác định rõ nguyên nhân là trầm cảm nội sinh, trầm cảm phản ứng hay trầm cảm thực tổn (4) Phải chỉ định kịp thời các thuốc chống trầm cảm, biết chọn lựa đúng tác dụng của thuốc, loại thuốc, liều lượng, cách dùng (5) Phải nhận rõ trầm cảm có kèm theo những rối loạn loạn thần khác hay không (6) Phải biết chỉ định kết hợp các thuốc an thần kinh khi cần thiết (7) Sốc điện vẫn cần được sử dụng trong các trường hợp trầm cảm nặng, có ý tưởng hành vi tự sát dai dẳng hoặc kháng thuốc (8) Đi đôi với điều trị bằng thuốc còn phải sử dụng các liệu pháp tâm
Trang 17lý (9) Khi điều trị trầm cảm có kết quả, cần được duy trì trong thời gian tối thiểu là 6 tháng, có khi hàng năm để phòng ngừa tái phát.
Đáp ứng điều trị rối loạn trầm cảm phụ thuộc vào: [29]
- Xác định và được điều trị sớm
- Sự hợp tác của bệnh nhân
- Độ dài thời gian giữa các cơn
- Tuổi của bệnh nhân
- Lựa chọn và sử dụng liều lượng thuốc chống trầm cảm Theo hướng dẫn của NICE (the Nationnal Institute for Clinical Excellence), Thuốc chống trầm cảm không nên sử dụng trong lần đầu tiên ở những rối loạn trầm cảm nhẹ, bởi
vì tỉ lệ hưởng lợi kém, chỉ được sử dụng ở bệnh nhân trấm cảm mức độ trung bình và nặng nên sử dụng nhóm SSRI [30]
- Liệu pháp tâm lý phối hợp
Các phương pháp điều trị trầm cảm:
Liệu pháp hóa dược:
Các thuốc chống trầm cảm làm tăng số lượng và hoạt tính các chất dẫn truyền thần kinh (Serotonin, Noradrenalin…) đang bị thiếu hụt để điều trị trầm cảm Thời gian để thuốc chống trầm cảm có tác dụng là 7-10 ngày sau khi đạt liều điều trị Trầm cảm có thể không đáp ứng với thuốc này nhưng vẫn
có thể đáp ứng với thuốc chống trầm cảm khác [12]
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng[29]
- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng ức chế monoamine ở tiền sinap thần kinh, tăng nồng độ chất dẫn truyền thần kinh ở khe sinap Điều trị kéo dài bằng thuốc chống trầm cảm 3 vòng gây giảm số lượng thụ thể ß-noradrenergic và giảm các chất dẫn truyền thần kinh tại thụ cảm thể 5-HT2, kết quả là tăng chất dẫn truyền thần kinh serotoninergic
Trang 18- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng có sự tác động giống nhau trên tất cả các thụ cảm thể serotoninergic, noradrenergic, dopaminergic, muscarinic, histaminergic Điều này giải thích vì sao thuốc có tác dụng chống trầm cảm và nhiều tác dụng phụ.
- Một số loại thuốc chính như: Melipramin, Amitriptylin, Fluoxetine
Thuốc chống trầm cảm ức chế men monoaminoxydaza (IMAO)
- Cơ chế tác dụng là ức chế quá trình dị hóa bởi MAO của các amin bị tái hấp thu trở lại neuron trước synap, làm tăng lượng amin não (noradrenalin, serotonin, dopamine) giải phóng trở lại khe synap, dẫn đến tăng dẫn truyền thần kinh: tăng khí sắc…[12]
- Thuốc chống trầm cảm IMAO hiện nay được sử dụng ít hơn nguyên nhân chính là do tác dụng phụ, tạo ra cơn cao huyết áp liên quan tới hấp thụ tyramin trong thức ăn [29]
- Một số loại thuốc chính: Izocarboxazid, fenelzin, tranylcypromin…
Thuốc chống trầm cảm đa vòng[29]
- Thuốc này được các tác giả gọi là thuốc chống trầm cảm chung thứ 2
- Thuốc được đánh giá là có hiệu quả chống trầm cảm ngang với thuốc chống trầm cảm đa vòng hoặc IMAO
- Do có thuận lợi là có ít tác dụng kháng cholinergic và không có tác dụng độc cho cơ tim nên những thuốc chống trầm cảm này được lựa chọn cho người cao tuổi, có bệnh tim và tăng huyết áp
- Các thuốc chống trầm cảm đa vòng thường dùng: Maprotyline, mianserin
Thuốc chống trầm cảm ức chế tái hấp thu chọn lọc Serotonin (SSRI)
- Các thuốc SSRI ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin từ khe synap[12]
- Ưu điểm: Hiệu quả chống trầm cảm ngang với thuốc chống trầm cảm 3 vòng, không có tác dụng phụ như thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc IMAO Thuốc
an toàn hơn trong trường hợp quá liều và dung nạp tốt hơn [29]
Trang 19- Các thuốc ức chế chọn lọc trên thụ cảm thể serotonin phổ biên nhất là: Fluoxetin, fluvoxamin, paroxetin, sertralin…
+ Chống chỉ định: Không kết hợp với IMAO
+ Tác dụng không mong muốn: Ít tác dụng phụ, có thể gặp tăng cân, tăng cảm giác ngon miệng, chóng mặt, nhức đầu, buồn ngủ
+ Chống chỉ định: Không kết hợp với các IMAO [12]
+ Tác dụng không mong muốn: rất ít tác dụng phụ do không ảnh hưởng tới bất kỳ hệ thống dẫn truyền nào [12]
Trang 20 Liệu pháp nhận thức[12]
- Liệu pháp nhận thức là trị liệu được thiết kế để điều trị trong thời gian ngắn,
có sự phối hợp tích cực giữa bệnh nhân và người điều trị để nhằm đạt được mục đích điều trị Bệnh nhân được định hướng đến các vấn đề hiện tại và các biện pháp giải quyết của họ
- Đây là trị liệu thường dưới 25 tuần Liệu pháp nhận thức (LPNT) bao gồm 3 công đoạn sau: trang bị kiến thức cho bệnh nhân; áp dụng các kỹ thuậ điều trị nhận thức; các kỹ thuật điều trị hành vi
- LPNT lần đầu tiên được Beck và cộng sự dùng để phân tích và điều trị trầm cảm LPNT còn được sử dụng trong điều trị các rối loạn tâm thần khác: rối loạn dạng cơ thể, rối loạn lo âu, rối loạn chức năng tình dục, nghiện chất…Tuy nhiên điều trị trầm cảm vẫn được coi là “mẫu” trong sử dụng trị liệu nhận thức LPNT có thể sử dụng một mình để điều trị trầm cảm vừa và nhẹ hoặc điều trị thịi hợp với các thuốc chống trầm cảm trong trầm cảm nặng
Liệu pháp Shock điện
- Mỗi đợt điều trị: 6-12 lần sốc mỗi tuần 3 lần sốc hoặc mỗi ngày một lần sốc Chỉ định cho các bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát, trầm cảm sững sờ, các trạng thái trầm cảm đã kháng điều trị, các trường hợp trầm cảm có chống chỉ định các liệu pháp hóa học (dị ứng thuốc, bệnh về máu) [32]
1.2.Hiểu biết, thái độđối với trầm cảm và điều trị trầm cảm.
Hiện nay theo TCYTTG trên thế giới có ít nhất 25% số người mắc phải trầm cảm được tiếp cận với các liệu pháp điều trị [33] Gần đây, TCYTTG vừa nghiên cứu về “những thiếu xót trong điều trị” của công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần và tìm ra rằng trên thế giới, tỷ lệ trung bình số người mắc bệnh trầm cảm không được trị liệu là xấp xỉ 50% Tại Việt Nam nhiều nghiên cứu chỉra rằng 70 – 80% sốbệnh nhân trầm cảm (nhất là trầm cảm với nhiều triệu chứng cơthể) thường là đến với các bác sỹtim mạch, tiêu hóa… trước khi đến được
Trang 21với chuyên khoa tâm thần.Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cao (2012) cho biết tỷ lệ đi khám ở bệnh viện chuyên khoa tâm thần rất thấp(3.1%), phần lớn người dân đến khám ở Trạm Y tế (82,9%)[13] Theo tác giả Phạm Văn Quý, số bệnh nhân có rối loạn trầm cảm đi khám và điều trị ở các cơ sở y tế chỉ có 34.1%, và tỷ lệ đi khan chuyên khoa tâm thần là 5.18%[14].
Bên cạnh đó còn có nhiều người cho rằng trầm cảm không phải là bệnh thực sự mà chỉ là sự buồn phiền, do vấn đề tuổi tác ( đặc biệt đối với phụ nữ) hay là do các thể lực thần bí gây nên, vì vậy họ thường tìm kiếm các biện pháp điều trịbằng tâm linh hay y học cổtruyền hoặc thậm chí bỏ qua…làm tình trạng trầm cảm nặng lên và nguy hiểm Và sau khi áp dụng tất cả các biện pháp đó mà không có hiệu quả thì họ mới tìm đến chuyên khoa tâm thần Bên cạnh đó cũng không ít người cho rằng trầm cảm là một bệnh phải dùng thuốc cả đời, bệnh không chữa khỏi được, hay là dùng thuốc trầm cảm là những thuốc rất có hại cho cơ thể và không nên sử dụng những thuốc đó [12]
Các tác giả Hickie I.B, Travey A Davenport và cộng sự (2006) đã nghiên cứu trên bốn nhóm sinh viên thuộc đại học Sydney bao gồm: 103 sinh viên năm thứ hai, 82 sinh viên năm thứ tư thuộc đại học Y Sydney, 184 sinh viên Trung Quốc và 38 sinh viên đại học tổng hợp về hiểu biết và thái độ của các nhóm sinh viên này đối với trầm cảm và việc điều trị trầm cảm Kết quả cho thấy hầu hết sinh viên đều hiểu được triệu chứng của trầm cảm, và đa số
họ cho rằng bệnh nhân nên đến gặp bác sĩ đa khoa (bác sĩ gia đình), một số ít vẫn còn tìm đến sự trợ giúp từ các phương pháp cổ truyền như thầy mo, thầy cúng (sinh viên Trung Quốc)[16]
Tại Việt Nam, Nguyễn Kim Việt và cộng sự (2010) đã nghiên cứu trên
493 người trên 18 tuổi là sinh viên của trường Đại học Y Hà Nội, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Bác sĩ chuyên khoa Tâm thần tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Tâm thần trung ương 1, bệnh viện Tâm thần Hà Nội về
Trang 22hiểu biết và thái độ đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm Kết quả cho thấy: Vấn đề sức khỏe tâm thần đã được nhận thức và có vị trí quan trọng trong sức khỏe chung ởViệt Nam: Rối loạn tâm thần đứng hàng thứ 4 (nhân viên y tế), hàng thứ 5 (sinh viên, người nhà bệnh nhân) trong các nguyên nhân gây tử vong Tuy nhiên hiểu biết về trầm cảm còn chưa đầy đủ, các biểu hiện cơ thể của trầm cảm (mất ngủ, mệt mỏi ) mới chỉ được nhận biết ở quá ½ nhân viên
y tế và sinh viên Y5; nhận biết rất ít ở các quần thể khác…dẫn đến bệnh nhân còn đến nhiều chuyên khoa khác trước khi đến với chuyên khoa tâm thần.Việc tìm kiếm sự giúp đỡ, điều trị có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm đối tượng: đến với các bác sĩ đa khoa(52,8-73,7%), bác sĩ chuyên khoa tâm thần (65,7-93,7%), nhà tâm lý học (56,8-89,9%), nhà tư vấn (46,8-86,3%) ở các đối tượng nghiên cứu Đặc biệt vai trò của cán sự xã hội đã được các nhóm tìm đến từ 18,3 đến 51,6% Cần thiết sự hỗ trợ từ gia đình (70-92,9%), bạn bè (53,4-97%) Tuy nhiên còn tỉ lệ đáng kể (5,4-10,7%) tìm kiếm sự trợ giúp bởi các phương pháp thần bí, mê tín[15]
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu
- Người nhà của bệnh nhân trầm cảm được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ICD-10
- Chấp nhận tham gia vào nghiên cứu
- Người có khả năng đọc viết
- Người trên 18 tuổi
Tiêu chuẩn loại trừ
- Người không chấp nhận tham gia vào nghiên cứu
- Người không có khả năng đọc viết
2.2.Phương pháp nghiên cứu
2.2.1.Thiết kê nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đánh giá hiểu biết, thái độ về trẩm cảm tại thời điểm nghiên cứu
) 1 (
∆
−
−
p p
Z α
Trong đó:
n : là cỡ mẫu nghiên cứu
p : là tỷ lệ trầm cảm theo nghiên cứu của Trần Văn Cường và CS (2002) [17]p = 0.028
Trang 24α : ước tính trong nghiên cứu = 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%
Z2
1-α/2 : là hệ số tin cậy = 1,96 (với α = 0,05)
∆ : khoảng sai lệch mong muốn = 0.05
do vậy n tối thiểu = 42
2.2.3 Các bước tiến hành
- Chọn ngẫu nhiên người nhà đang chăm sóc bệnh nhân bị trầm cảm
- Tiến hành phỏng vấn người nhà chăm sóc bệnh nhân bằng bộ câu hỏi “Điều tra quốc tế về sức khỏe”
2.2.4.Công cụ đánh giá
Bộ câu hỏi: “Điều tra quốc tế về sức khỏe” gồm 44 câu hỏi chia thành
7 phần:
• Phần A: Nhân khẩu học bao gồm 14 câu hỏi: giới, tuổi, nơi sinh sống…
• Phần B: Những vấn đề về sức khỏe chính bao gồm 7 câu hỏi về những hiểu biết về nguyên nhân chính của tử vong và loạn hoạt nặng ở Việt Nam, các bệnh tâm thần gây tử vong, các hiểu biết về biểu hiện của một người bị trầm cảm,…
• Phần C: Sự trợ giúp và điều trị bao gồm 11 câu hỏi về hiểu biết và suy nghĩ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp khi có trầm cảm
• Phần D: Bao gồm 2 câu hỏi về sự tìm kiếm thông tin về trầm cảm
• Phần E: Bao gồm 3 câu hỏi về sự tìm kiếm sự trợ giúp khi có trầm cảm
• Phần F: Bao gồm 2 câu hỏi về thái độ của mọi người về trầm cảm
• Phần G: Bao gồm 5 câu hỏi về trạng thái sức khỏe tâm thần và tình trạng công việc trong thời gian vừa qua
Trang 252.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3.1.Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Viện sức khỏe tâm thần
2.3.2.Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2016
2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
- Các bệnh được coi là nguyên nhân chính gây tử vong hoặc loạn hoạt năng là các bệnh cụ thể: ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, đái tháo đường, trầm cảm, lạm dụng rượu…
- Các bệnh tâm thần gây tử vong hoặc loạn hoạt nặng: là các bệnh tâm thần cụ thể như: tâm thần phân liệt, trầm cảm, nghiện rượu, sa sút trí tuệ…
tự sát…
Trang 26- Thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nhà chuyên môn khi có trầm cảm: bác sĩ đa khoa, nhà tâm thần, cán sự xã hội…
- Thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ không chuyên môn khi có trầm cảm: chuyên gia châm cứu, , gia đình, bạn bè, tập quán cổ…
- Nhận thức về sự hữu ích của mỗi biện pháp điều trị trầm cảm
- Sự phân biệt đối xử đối với người bị trầm cảm
từ những người và cơ quan khác nhau
- Ý kiến của người nhà về những phát biểu về người bị trầm cảm nặng
3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trên 60 người nhà bệnh nhân được chẩn đoán trầm cảm tại viện Sức khỏe Tâm thần –Bệnh viện Bạch Mai Kết quả như sau:
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Trang 27Giới tính Nam giới 29 48,3
+ Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu là 19-75 tuổi
+ Tuổi trung bình: 44,9±14,4 tuổi
- Đặc điểm về giới tính:
+ Có 48,3% đối tượng tham gia nghiên cứu là nam giới
+ 51,7% đối tượng tham gia nghiên cứu là nữ giới
+ Tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 1:1
- Đặc điểm về nơi sống:Bệnh nhân cư trú ở khu vực nông thôn chiếm tỷ
lệ cao hơn (65%) so với bệnh nhân cư trú ở thành thị (35%)
- Đặc điểm về trình độ học vấn:
Trang 28+ Số người nhà có trình độ THPT và chuyên nghiệp có tỷ lệ ngang nhau (35%) và chiếm tỷ lệ cao nhất.
+ Đứng thứ hai là nhóm người nhà có trình độ THCS (26,7%)
+ Người nhà có học hết hoặc chưa hết tiểu học chiếm tỷ lệ nhỏ (3,3%)+ Trong nhóm nghiên cứu không có ai không đi học
Trang 293.2 Hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm
3.2.1 Nhận thức về nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta.
Bảng 3.2: Nhận thức về các nhóm bệnh (chuyên khoa) được coi là nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta
Nhóm nguyên nhân
Giới tính Nơi sống Nam
(n=29 )
Nữ (n=31)
NT (n=39 )
TT (n=21)
tư là bệnh nhiễm trùng
- Nhận thức về nguyên nhân gây tử vong do rối loạn tâm thần ở nam giới và ở nông thôn xếp hàng thứ 5 Trong khi đó ở nữ giới xếp hàng thứ 6 và người nhà ở thành thị xếp hàng thứ 7 trong các nguyên nhân gây tử vong
Bảng 3.3: Nhận thức về các bệnh (trong các chuyên khoa) được coi là nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam.
Trang 30Nguyên nhân
Giới tính Nơi sống Nam
(n=29)
Nữ (n=31)
NT (n=39)
TT (n=21)
Nhiễm khuẩn phổi hoặc ngực khác(%) 13,8 6,5 10,3 9,5Tai nạn giao thông đường bộ(%) 75,9 80,6 79,5 76,2
Đột quỵ hoặc các bệnh não khác(%) 37,9 71,0 51,3 61,9
Bệnh phổi tắc nghẽn hoặc viêm phế quản mạn(%) 3,4 12,9 12,8 0Nhồi máu cơ tim hoặc bệnh tim khác(%) 75,9 58,1 61,5 72,2Nhận xét:
Người nhà bệnh nhân ở các nhóm đối tượng đều cho rằng những nguyên nhân chính gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta là ung thư phổi (81,0- 87,2%), tai nạn giao thông đường bộ (75,9- 80,6%), nhồi máu cơ tim hoặc các bệnh tim khác (58,1-75,9%), nhiễm HIV hoặc AIDS (58,6- 61,9%), đột quỵ (37,9- 71%)
Đột quỵ được nhận biết ở nam giới cao hơn nữ giới, thành thị cao hơn nông thôn (nam: 71%, nữ: 37,9%, TT:61,9%, NT: 51,35)
Trang 31Chiếm tỷ lệ thấp hơn là ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, đái tháo đường…
Các rối loạn tâm thần:
Bao gồm 5 trong số 15 bệnh gây tử vong hoặc loạn chức năng hoạt động hàng ngày Trầm cảm được xếp ở hàng thứ ba với tỷ lệ (nam:10,3%, nữ: 6,5%, NT:10,3%, TT:4,8%)trong khi đó đứng đầu là lạm dụng hoặc nghiện rượu(nam:48,3%, nữ:38,5%, NT: 38,5%, TT:42,9%), tự sát hoặc tự hủy hoại(nam:34,5%, nữ:32,3%, NT:35,9%, TT:28,6%).Tâm thần phân liệt(nam:10,3%, nữ:6,5%, NT:10,3%, TT:4,8%), sa sút trí tuệ (nam:6,9%, nữ: 0%, NT:2,6%, TT:4,8%) được xếp ở tỷ lệ thấp hơn
Bảng 3.4: Nhận thức về những bệnh lý tâm thần đặc biệt được coi là nguyên nhân gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam:
Bệnh tâm thần
Giới tính Nơi sống Nam
(n=28)
Nữ (n=30 )
NT (n=38 )
TT (n=20)
Tâm thần phân liệt hoặc loạn thần khác(%) 39,3 33,3 36,8 35,0
Chậm phát triển tâm thần hoặc rối loạn trí
Trang 32Sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer hoặc tổn
Lạm dụng hoặc nghiện rượu (%) 57,1 40,0 60,5 25,0Bệnh hưng trầm cảm (rối loạn lưỡng cực) (%) 10,7 10,0 5,3 20,0Nhận xét:
Nhìn vào bảng ta có thể thấy người nhà bệnh nhân cho rằng những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong hoặc loạn hoạt động chức năng hàng ngày trong các bệnh lý tâm thần là lạm dụng hoặc nghiện ma túy (63,35- 71,4%), lạm dụng hoặc nghiện rượu (25%- 60,5%) Chiếm tỷ lệ thấp hơn là sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer hoặc tổn thương não khác (31,6%- 50%), tâm thần phân liệt (33,3%- 39,3%), trầm cảm (17,9%- 45%)… Thấp nhất là các rối loạn nhân cách (0%- 10%), chậm phát triển tâm thần hoặc rối loạn trí tuệ (0%- 7,9%)
Trầm cảm được nhận biết ở nữ giới cao hơn nam giới, và ở thành thị cao hơn nông thôn (nam: 17,9%, nữ: 36,7%, NT: 18,4%, TT: 50%)
3.2.2 Hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm về trầm cảm.
Bảng 3.5: Những hiểu biết về biểu hiện điển hình của một người bị trầm cảm
Biểu hiện
Giới tính Nơi sống Nam
(n=29 )
Nữ (n=31)
NT (n=39)
TT (n=21)
Trở nên buồn trầm hoặc khổ sở(%) 72,4 51,6 61,5 61,9
Nghĩ rằng “cuộc sống không có giá trị”(%) 17,2 12,9 10,3 23,8
Trang 33Các biểu hiện thường gặp với tỷ lệ thấp hơn đó là đau đầu và đau cơ (14,3-30,8%), cảm thấy ốm yếu và suy sụp (19,4-27,6%), trở nên bất hạnh hoặc buồn chán (12,8-38,1%), sút cân (13,8-25,8%)
Được biết đến thấp nhất là khó chịu ở dạ dày (6,9-10,3%), nghĩ rằng
“tôi đã thất bại” (2,6-19%), cảm thấy có tội (0-14,3%), nghĩ rằng “ không có
gì tốt lành đến với tôi” (7,7-14,3%)
Trang 34Bảng 3.6: Nhận thức về những trải nghiệm mà người trầm cảm thường có:
Các trải nghiệm
Giới tính Nơi sống Nam
(n=29)
Nữ (n=30 )
NT (n=38 )
TT (n=21)
Mất khả năng tập trung hoặc khó suy
Lệ thuộc vào rượu, ma túy hoặc các chất
Giảm tự chăm sóc cá nhân( ví dụ: thay
đổi thói quen vệ sinh cá nhân)(%) 34,5 36,7 28,9 47,6
Trang 35Có ý tưởng, hành vi tự sát(%) 31,0 53,3 42,1 42,9Thôi làm những việc họ từng thích(%) 27,6 20,0 26,3 19,0Xuất hiện các vấn đề mới về sức khỏe cơ
Nữ giới có nhận thức về ý tưởng hành vi tự sát cao hơn nam giới ( nữ: 53,3% nam: 31%)
Nam giới có nhận thức về lệ thuộc và rượu, ma túy hoặc các chất gây
êm dịu khác cao hơn nữ giới (nam: 20,7%, nữ: 10,0%)
Các biểu hiện xuất hiện với tỷ lệ thấp hơn là: có rắc rối trong gia đình hoặc mối quan hệ khác (28,6- 40,0%), giảm chăm sóc cá nhân (28,9- 47,6%), xuất hiện các vấn đề mới về sức khỏe cơ thể(10.0- 31,0%), thôi làm những việc họ từng thích(19.0- 27,6%)
Bảng 3.7: Sự đánh giá về tỷ lệ người bị trầm cảm ở một vài thời điểm
trong cuộc đời
Trang 36Nhận xét:
- Đa số các đối tượng ở nhóm nghiên cứu đều cho rằng họ không biết tỷ lệ trầm cảm ở một vài thời điểm trong cuộc đời là bao nhiêu (36,7%)
- Còn lại 26,7% người nhà cho rằng tỷ lệ trầm cảm là 1 trong 50 người sau đó lần lượt là 1 trong 20 người (16,7%), 1 trong 10 người (11,7%), cuối cùng là 1 trong 5 người (8,3%)
3.3.Thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm.
Bảng 3.8: Tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nhà chuyên môn nếu
họ nghĩ họ có thể bị trầm cảm
Người hỗ trợ
Giới tính Nơi sống Nam
(n=29 )
Nữ (n=30)
NT (n=38 )
TT (n=21)
Không cần/không muốn tìm kiếm sự trợ
Nhận xét:
Bảng trên cho thấy thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ chuyên môn khi họ bị trầm cảm Hầu hết họ sẽ đến với bác sĩ chuyên khoa tâm thần (97,4- 100%), tiếp đến đó là nhà tư vấn , bác sĩ đa khoa hoặc bác sĩ gia đình, nhà tâm lý học.Tìm kiếm sự giúp đỡ của dược sĩ có tỷ lệ khá cao (39,5- 52,4%)
Trang 37Sự cần thiết của cán sự xã hội (31- 34,2%) và nhân viên phúc lợi xã hội (31- 38,1%) xuất hiện với tỷ lệ thấp hơn.
Đặc biệt không có ai trong những trường hợp được phỏng vấn không cần/không muốn tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn khi họ bị trầm cảm
Bảng 3.9: Tìm kiếm sự hỗ trợ không chuyên môn nếu họ nghĩ họ
có thể bị trầm cảm
Người hỗ trợ
Giới tính Nơi sống Nam
(n=28)
Nữ (n=30 )
NT (n=38 )
TT (n=20)
Linh mục, cha sứ, giáo sĩ khác(%) 10,7 13,3 10,5 15,0
Người chữa bệnh bằng dưỡng sinh hoặc
Tập luyện thư giãn (mát xa, yoga, thiền)
Người chữa bệnh theo tập quán cổ (pháp
Nhận xét:
Ngoài ra Trong nhóm tìm kiếm sự hỗ trợ không chuyên môn, hầu hết mọi người trong nhóm nghiên cứu đều tìm kiếm sự giúp đỡ từ gia đình (nam:100%, nữ: 96,7%, NT: 100%, TT: 95%), bạn bè (nam: 85,7%, nữ: 90%, NT: 86,8%, TT: 90%)
, không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm khi họ đều tìm kiếm sự hỗ trợ từ các chuyên gia tập luyện thư giãn (mát xa, yoga, thiền)( 56,7%- 67,9%), người chữa bệnh bằng dưỡng sinh hoặc người bán thảo dược ( 52,6%- 55%),chuyên gia châm cứu ( 30%- 47,4%) với tỷ lệ cao
Trang 38Đặc biệt vẫn còn tỷ lệ khá cao tìm đến sự hỗ trợ của tập quán cổ như pháp sư, thày mo(18,4%-30,0%), ở thành thị chiếm tỷ lệ 30% cao hơn hẳn nông thôn(18,4%).
Bảng 3.9: Sự đánh giá các biện pháp điều trị trầm cảm là có lợi
Biện pháp điều trị
Giới tính Nơi sống Nam
(n=29)
Nữ (n=31 )
NT (n=39 )
TT (n=21)
Tăng hoạt động thể lực (chơi thể thao, đi
đó là các biện pháp đọc các sách có vấn đề tương tự và cách họ giải quyết chúng (75,9-81%), dùng các phương thức chữa bệnh theo tự nhiên (58,1-65,5%), theo đuổi tư vấn dài hạn(66,7-79,5%), sử dụng trị liệu tư vấn ngắn hạn(64,1-76,2%)
Trang 39Tỷ lệ cho rằng uống thuốc ngủ là có lợi chiếm tỷ lệ thấp nhất: nam:44,8%, nữ:45,2%, ở thành thị: 52,4% cao hơn nông thôn: 41%.Không có
ai cho rằng thỉnh thoảng uống rượu là có lợi cho điều trị trầm cảm
Bảng 3.10: Sự tìm kiếm thông tin về trầm cảm
Phương pháp tìm kiếm Số lượng Tỷ lệ%
Bảng 3.11: Tỷ lệ người cho rằng sẽ bị phân biệt đối xử từ những người hoặc
tổ chức khác nhau khi họ nghĩ họ hoặc ai đó gần gũi với họ bị trầm cảm
Người hoặc tổ chức Giới tính Nơi sống
Trang 40Nam (n=29)
Nữ (n=31)
NT (n=39)
TT (n=21)
Một ngân hàng, công ty bảo hiểm hay tổ
Bảng 3.12: Tỷ lệ người đồng ý với những phát biểu về người bị trầm cảm nặng
Phát biểu về người bị trầm cảm nặng
Giới tính Nơi sống Nam
(n=28)
Nữ (n=31 )
NT (n=38 )
TT (n=21)
Gây nguy hiểm cho người khác(%) 42,9 51,6 52,6 38,1
Thường là những người khéo léo khi họ 71,4 67,7 73,7 61,9