Do vậy, các thuốc y học hiện đại YHHĐ và y học cổ truyền YHCT điều trị ĐTĐ nhằm kiểm soát glucose máu, điều chỉnh RLLPM để có thể giảm được nguy cơ tiến triển của các biến chứng và giảm
Trang 1Ở bệnh nhân ĐTĐ lâu năm, tình trạng tăng glucose máu, RLLPM (tăng LDL-C, tăng triglycerid, giảm HDL-C) kéo dài dẫn đến nhiều những RLCH đan xen là nguyên nhân chính gây VXĐM và để lại những hậu quả xấu đối với hệ tim mạch gây nên nhiều các biến chứng mạn Do vậy, các thuốc y học hiện đại (YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT) điều trị ĐTĐ nhằm kiểm soát glucose máu, điều chỉnh RLLPM để có thể giảm được nguy cơ tiến triển của các biến chứng và giảm nguy cơ bệnh mạch vành, hạn chế tác dụng phụ của thuốc ngày càng trở nên cấp thiết và luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học.
Các thuốc YHHĐ điều trị RLLPM ở bệnh nhân ĐTĐ còn nhiều hạn chế bởi khi dùng thuốc kéo dài thường hay có những ảnh hưởng đến chức năng gan
và thận…[3][4] hơn nữa giá thành của thuốc khá cao Do vậy, nhiều nhà khoa học ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang có xu hướng tìm kiếm và ứng dụng các thuốc nguồn gốc tự nhiên có tác dụng điều trị ĐTĐ và hạn chế rối loạn lipid
Theo lý luận của y học cổ truyền (YHCT), RLLPM tương ứng với chứng đàm thấp và ĐTĐ có nhiều điểm tương đồng với chứng tiêu khát Trên lâm sàng thì RLLPM ở bệnh nhân ĐTĐ có nhiều điểm tương đồng với chứng tiêu khát thể có đàm thấp Bệnh phát sinh từ các tạng phế, tỳ và thận, phần
Trang 2nhiều là chứng âm hư do bệnh tiến triển lâu ngày thương tổn đến phần âm và thường đi kèm chứng đàm thấp Vì vậy, việc kết hợp điều trị chứng tiêu khát
và trừ đàm thấp trong YHCT là một hướng điều trị RLLPM ở bệnh nhân ĐTĐ [5][6] Cho đến nay có nhiều vị thuốc, bài thuốc đã được nghiên cứu ứng dụng điều trị chứng tiêu khát và chứng đàm thấp Thuốc có nguồn gốc thảo mộc ít độc tính, một số đã được nhân giống trồng trong nước nên giá thành rẻ,
có thể dùng trong thời gian lâu dài
“Giáng chỉ tiêu khát linh” được bào chế dựa trên cơ sở bài thuốc
nghiệm phương “Giáng chỉ thang” đã được sử dụng trên lâm sàng để điều trị chứng tiêu khát có đàm thấp (RLLPM ở bệnh nhân ĐTĐ) [7] Bài thuốc gồm
11 vị phối ngũ, để có cơ sở khoa học chắc chắn khẳng định hiệu quả cũng như
tính an toàn của bài thuốc “Giáng chỉ tiêu khát linh”, chuyên đề:
Nghiên cứu tổng quan chung về bài thuốc “Giáng chỉ tiêu khát linh”
được thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
1. Xuất xứ và cơ sở lý luận của bài thuốc
2. Tổng quan chung các vị thuốc
Trang 3PHẦN 1: XUẤT XỨ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI THUỐC 1.1 Xuất xứ bài thuốc nghiên cứu
Cấu tạo bài thuốc nghiên cứu gồm các vị :
+ Đan sâm: 8g + Hoàng liên: 04g + Ích trí nhân: 4g
+ Hà thủ ô đỏ: 8g + Sơn tra: 6g + Thiên hoa phấn: 8g + Hoàng tinh: 4 g + Ngưu tất: 6g + Linh chi: 8g
+ Trạch tả: 8g + Sinh hoàng kỳ: 8g
- Xuất xứ:
Bài thuốc nghiên cứu xuất phát từ bài thuốc nghiệm phương "Giáng chỉ thang" được trích từ cuốn “Thiên gia diệu phương” thành phần gồm: Đan sâm, hoàng tinh, hà thủ ô đỏ, trạch tả, sơn tra dùng điều trị chứng đàm trệ [7]
và được cấu trúc gia thêm các vị: sinh hoàng kỳ, linh chi, thiên hoa phấn, hoàng liên, ngưu tất, trị chứng tiêu khát (đái tháo đường) và ích trí nhân để ôn
bổ tì vị Bài thuốc đã được sử dụng nhiều dưới dạng thuốc thang để điều trị bệnh nhân đái tháo đường có rối loạn lipid máu
- Tác dụng: Bài thuốc có tác dụng táo thấp hoá đàm, kiện tỳ ích vị, hoạt
huyết tiêu thực để điều trị chứng đàm thấp tích tụ lâu ngày thượng nghịch lên gây đau đầu, chóng mặt, ngực đầy tức, tê mỏi tay chân, người nặng nề mệt mỏi rêu lưỡi trắng nhờn, lưỡi bè nhớt, mạch hoạt hoặc huyền hoạt (chứng tiêu khát có đàm thấp)
- Phân tích bài thuốc:
Cấu tạo bài thuốc công bổ kiêm tả, lấy bổ làm chính
Quân gồm các vị bổ: Hoàng kỳ (bổ khí), Hà Thủ Ô (bổ huyết), Hoàng tinh, Thiên hoa phấn (bổ âm, sinh tân)
Thần gồm các vị tả: Ngưu tất, Đan sâm (hoạt huyết), Hoàng liên (thanh nhiệt hoá thấp)
Trang 4Tá và sứ gồm các vị: Sơn tra tác dụng tiêu tích trệ, hoá đàm, thấp ứ trệ, giải độc; Ích trí nhân tác dụng điều hoà ích vị, ôn ấm tỳ vị, giảm bớt tính lạnh của các vị thuốc khác.
- Tên khoa học: Radix Salviae multiorrhiza [8][9][10].
- Bộ phận dùng: Rễ phơi khô hay sấy khô của cây Đan sâm (Salviae
multiorrhiza Bunge) thuộc họ Hoa môi (Labiatae)
- Tính vị quy kinh: Vị đắng hơi hàn.Vào kinh tâm, can, tâm bào lạc
- Tác dụng: Khứ ứ, chỉ thống, hoạt huyết, thông kinh, thanh tâm, trừ phiền.
- Liều dùng: 6-12g/ ngày dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán bột uống Thanh
tâm trừ nhiệt thì dùng sống, điều hoà tâm khí thì sao với mật và rượu
- Thành phần hoá học: Các dẫn chất có nhóm ceton (tansinon I, tansinon
II, tansinon III) và chất tinh thể màu vàng cryptotanshinon, isocryptotanshinon, methyl-tanshinon Ngoài ra còn có acid lactic, phenol, vitamin E [10][11]
Trang 5vành, cải thiện chức năng tim Cải thiện tuần hoàn ngoại vi, chống đông máu,
hạ huyết áp, giảm TG của gan và máu, kháng khuẩn, an thần, chống oxy hoá,
ức chế sự phát triển của tế bào ung thư trên chuột thực nghiệm, giảm đường máu [10][11]
1.3.2 Hà Thủ ô đỏ
Hình 3: Cây Hà thủ ô đỏ Hình 4: Hà thủ ô đỏ
- Tên khoa học: Radix Fallopiae multiflorae [8][9]
- Tên khác: Thủ ô, giao đằng, địa tinh Là rễ củ phơi khô của cây Hà thủ
ô (Polygonum multiflorum Thunb), thuộc họ Rau răm (Polygonaceae).
- Tính vị quy kinh: Vị đắng chát, tính ấm Vào 2 kinh can, thận
- Tác dụng: bổ can thận, tư âm dưỡng huyết, giải độc chống viêm nhuận
tràng thông tiện Dùng 20-40g/ ngày dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán bột uống
- Thành phần hoá học: Thân rễ Hà thủ ô chứa antranoid, trong đó có emodin, chrysophanol, rhein, physcion; protid, tinh bột, lipid, chất vô cơ, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin); 2,3,5,4 tetrahydroxytibene -2-O-b-D-glucoside; Tanin
- Tác dụng dược lý: Hạ TC máu, làm giảm hấp thu cholesterol của ruột,
phòng chống và giảm nhẹ VXĐM (thành phần lecithin) Làm chậm nhịp tim, tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành Tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột, kháng khuẩn và virus
Trang 6- Cách bào chế: Thân rễ (củ) ngâm nước vo gạo 4 đêm ngày, cạo bỏ vỏ Dùng
đậu đen đãi sạch cho vào đun cùng hà thủ ô sau đó lấy ra thái miếng phơi khô, rồi lại đun với đậu đen Làm như vậy 9 lần sau đó phơi khô tán bột
1.3.3 Hoàng tinh
Hình 5: Cây Hoàng tinh Hình 6: Hoàng tinh
- Tên khoa học: Rhizoma Polygonati [8][9].
- Bộ phận dùng: Là thân rễ, củ cây hoàng tinh (cây cơm nếp)
Polygonatum kingianum Coll et Hemsl., thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae).
- Tính vị quy kinh: Vị ngọt, tính bình.Vào 3 kinh tỳ, phế, vị Tác dụng
bổ tỳ, nhuận phế, sinh tân, trị tỳ vị hư nhược, phế khí hư sinh ho, tiêu khát Dùng 12-20g/ ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán bột uống
- Thành phần hoá học: Chất nhày, tinh bột và đường
- Tác dụng dược lý: Hạ glucose máu, hạ huyết áp
- Kiêng kỵ: Người tỳ hư thấp thịnh,ăn không tiêu không dùng được
- Cách bào chế : Đào củ (thân rễ) cắt bỏ thân và rễ con, rửa sạch, đun cạn đem
phơi Làm vài lần khi củ mềm có màu đen là được
1.3.4 Trạch tả
Trang 7Hình 7: Cây trạch tả Hình 8: Trạch tả phiến
- Tên khoa học: Rhizoma Alismatis [8][9]
- Bộ phận dùng: Là củ của cây trạch tả (Alisma plantago aquatica L
Var Orientalis Samuelsson), thuộc họ Trạch tả (Alismataceae)
- Tính vị quy kinh: Vị ngọt, tính hàn Vào các kinh can thận bàng quang
- Tác dụng: Lợi thuỷ thẩm thấp, thanh nhiệt dùng chữa các bệnh tiểu
tiện khó khăn, đái buốt đái rắt, phù thũng Thanh thấp nhiệt ở đại tràng, chữa
ỉa chảy Thanh thấp nhiệt ở can, trị đau đầu hoa mắt chóng mặt Ích khí, dưỡng ngũ tạng Liều dùng 4-12g/ ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán bột uống
- Thành phần hoá học: Tinh dầu, chất nhựa 7%, protid, tinh bột 23%.
- Tác dụng dược lý: Hạ đường huyết, hạ huyết áp, lợi tiểu và hạ thấp
lượng ure và cholesterol trong máu
- Cách bào chế: Thu hái về rửa sạch thái nhỏ phơi khô, khi dùng thường trích
muối xao vàng
1.3.5 Sơn tra:
Trang 8Hình 9: Quả Táo mèo Hình 10: Sơn tra
- Tên khoa học: Fructus Crataegi sp [8][9].
- Bộ phận dùng: Là quả chín thái mỏng phơi khô của cây Bắc sơn tra
(Crataegus pinnatifida Bunge var major N.E.Br) hoặc Nam Sơn tra (Crataegus cuneata Sieb et Zucc.), thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).
- Tính vị quy kinh: Vị chua, ngọt ấm, tính bình, không độc, vào kinh tỳ
vị, can
- Tác dụng: Tiêu tích trệ, hoá đàm, thấp ứ trệ, giải độc Liều dùng 12 -
20 g/ ngày dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán bột uống
- Thành phần hoá học: acid citric, acid tactric, vitamin C, hydrat
carbon, protid
- Tác dụng dược lý: Tăng sự co bóp cơ tim, làm giảm sự kích thích cơ
tim, tăng tuần hoàn ở mạch máu tim và mạch máu não, tăng độ nhạy của tim với tác dụng của các glucosid trợ tim, tác dụng hạ CT, TG, β LP [8][9]
- Kiêng kỵ: Những người tỳ hư không vận hoá được nếu uống nhiều hại đến
sinh hoá của tỳ vị lại càng trệ thêm
- Cách bào chế: Quả chín rửa sạch, đồ mềm, bỏ hột, phơi khô dùng.Sơn tra
khéo trừ được chất thịt tanh, tích trệ Ở Trung Quốc chiết xuất cao thô sơn tra có tác dụng hạ CT, TG, β LP
1.3.6 Ngưu tất:
Trang 9
Hình 11: Cây Ngưu tất Hình 12: Ngưu tất
- Tên khoa học: Radix Archiranthis bidentae [8][9][12].
- Bộ phận dùng: Dùng rễ của cây ngưu tất (Achyranthes bidentata
Blume.), thuộc họ Dền (Amarantheceae)
- Tính vị quy kinh: đắng, chua, bình vào kinh can thận Tác dụng hoạt
huyết điều kinh, chữa đau lưng, đau khớp Liều dùng: 6-12g/ ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán bột uống Người có thai không dùng được
- Thành phần hoá học: saponin, ecdysteron, inokosteron, muối kali.
- Tác dụng dược lý: Cường tim, hạ áp, tăng lưu lượng máu mạch vành,
giãn mạch và chống loạn nhịp tim Làm hạ lipid máu rõ rệt và làm giảm VXĐM, cơ chế chủ yếu là do thuốc có tác dụng tăng nhanh bài tiết cholesterol chứ không phải chống hấp thu cholesterol [12]
- Liều lượng, cách dùng: 6-12g/ ngày Dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn
tán bột uống
- Kiêng kỵ: Người có thai không dùng được.
- Cách bào chế: Thân rễ thu hái về rửa sạch phơi khô
1.3.7 Hoàng kỳ
Trang 10Hình 13: Rễ Hoàng kỳ Hình 14: Sinh hoàng kỳ
- Tên khoa học: Radix Astagali [8][9][13][12].
- Bộ phận dùng: Hoàng kỳ là rễ cây Hoàng kỳ (Astragalus
membranacuis Fish.), thuộc họ Đậu (Fabaceae)
- Tính vị, quy kinh: vị ngọt, tính ấm, vào kinh tỳ, phế Hoàng kỳ ôn
dưỡng tỳ dương kiêm bổ vệ khí, thiên về bổ chân dương của ngũ tạng, cầm
mồ hôi, lợi niệu, tiêu viêm Trừ tiêu khát, sinh tân dùng cho người ĐTĐ Sinh
cơ, hoạt huyết trừ ứ trệ trị điều trị đau lưng và chân do khí huyết ứ Liều dùng 6g - 20g/ ngày
- Thành phần hoá học: Rễ Hoàng kỳ chứa saccharose, glucose, tinh bột, chất nhầy, cholin, betain, nhiều loại acid amin, calycosin, astragaloside I-V, III
- Tác dụng dược lý: Tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể Thúc đẩy chuyển hoá protid của huyết thanh và gan, giảm thoái hoá glycogen ở gan Tăng lực co bóp của của tim bình thường, hạ huyết áp (do giãn mạch ngoại vi) Giảm protein niệu, lợi tiểu, giảm phù và cải thiện trạng thái dinh dưỡng của cơ thể [13][12]
1.3.8 Thiên hoa phấn
Trang 11
Hình 15: Cây Qua lâu Hình 16: Thiên hoa phấn
- Tên khoa học: Radix Trichosanthis [8][9].
- Bộ phận: Rễ phơi hay sấy khô của cây Qua lâu (Trichosanthes kirilowii
Maxim.) hoặc cây Song biên qua lâu (Trichosanthes rosthornii Harms.), thuộc
họ Bầu bí (Cucurbitaceae)
- Tính vị quy kinh: Vị ngọt, chua, tính lạnh, vào 3 kinh phế, vị và đại
tràng Tác dụng: Sinh tân, chỉ khát, giáng hỏa, nhuận táo, bài thũng, tiêu thũng Chủ trị tiêu khát, sốt nóng, hoàng đản miệng khô Liều dùng 8-16g /ngày
- Thành phần hóa học: Trong rễ thiên hoa phấn có rất nhiều tinh bột
Nghiên cứu mới đây cho thấy trong thiên hoa phấn có chừng 1% chất saponozir
1.3.9 Hoàng liên
Trang 12Hình 17: Cây Hoàng liên Hình 18: Hoàng liên
- Tên khoa học: Rhizoma Coptids [8][9][14][12]
- Bộ phận dùng: Thân rễ phơi khô của nhiều loài hoàng liên chân gà
(như Coptis quinquesecta, Coptis sinensis Franch., Coptis teeta Wall., Coptis teetoides C.Y.Cheng ), đều thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae)
- Tính vị quy kinh: Vị đắng, tính hàn, vào 5 kinh: tâm, can, đởm, vị và
đại trường Tác dụng: Tả hỏa, táo thấp, giải độc Chủ trị sốt, tả, lỵ, tâm phiền, nôn ra máu, tiêu khát, đau mắt đỏ, loét lở miệng Liều dùng 3-6g/ ngày
- Thành phần hóa học: Trong hoàng liên có chừng 7% ancaloit toàn phần
trong đó chủ yếu là chất berberin Ngoài ra còn có panmatin copstisin, woremin, columbamin
- Tác dụng dược lý: Tác dụng chống vi trùng (lỵ, lao ), chất becberin
tăng tạm thời trương lực (tonus) và sự co bóp của ruột chuột Hoàng liên có tác dụng chữa rối loạn tiêu hóa, chữa viêm dạ dày và ruột, chữa lỵ [14][12]
Trang 13Hình 19: Nấm linh chi
- Tên khoa học: Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr.) Karst [8][9][12].
Thuộc họ Nấm gỗ (Ganodermataceae)
Tên khác: Tiên thảo, Nấm trường thọ, Vạn niên nhung
- Tính vị quy kinh: Vị đắng, hơi ngọt, tính bình Tác dụng tư bổ cường
tráng, bổ can chí, an thần, tăng trí nhớ Liều dùng 12 - 20 g/ ngày dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán bột uống Thu hái nấm phơi khô hoặc sấy khô, dùng thái lát hoặc tán bột
- Thành phần hoá học: acid amin, protein, saponin, steroit, đường khử,
đường kép, dầu béo Trong nấm linh chi có hàm lượng germanium cao hơn hàm lượng trong nhân sâm từ 5- 8 lần, có chứa 21 nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự vận hành và chuyển hóa của cơ thể như: đồng, sắt, kalium, magnesium, natrium, calcium…
- Tác dụng dược lý: Ngày nay người ta biết trong nấm Linh chi có
germanium giúp tế bào hấp thụ oxy tốt hơn; polysaccharit làm tăng sự miễn dịch trong cơ thể, diệt tế bào ung thư; acid ganodermic chống dị ứng, chống viêm [12]
1.3.11 Ích trí nhân
Trang 14
Hình 20: Cây Ích trí Hình 21: Ích trí nhân
- Tên khoa học: Fructus Alpiniae Oxyphyllae [8][9].
- Bộ phận dùng: Ích trí nhân, lần đầu tiên được ghi trong sách Bản thảo
thập di còn gọi là Ích trí tử là quả gần chín phơi khô của cây Ích trí (Alppinia oxyphylla Miq.), thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)
- Tính vị qui kinh: Vị cay tính ôn, qui kinh Tỳ thận Công năng: tráng
dương, ấm Thận, ôn Tỳ Chủ trị: ỉa chảy, nôn mửa, đầy hơi, người già hay đái đêm, đái đục, di tinh Liều dùng 6-12g/ngày dạng thuốc sắc, dùng phối hợp vị khác
- Thành phần chủ yếu: Trong ích trí nhân có chừng 0,7% tinh dầu, thành
phần chủ yếu của tinh dầu là Tecpen, Sesquitecpen và Secquitecpenancola, có chừng 1,71% chất saponin
- Tác dụng dược lý: ức chế co bóp hồi tràng, cường tim, làm giãn mạch.
Trang 15- Ngưu tất (achyranthies bidentatae blume): Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Quang Hoan và cộng sự (1988) nghiên cứu thực nghiệm trên thỏ, tác dụng hạ
CT máu, hạ HA từ từ và kéo dài [15]
- Linh chi Việt Nam (Ganoderma Luadum): Nguyễn Thị Mai Anh, Đào
Văn Phan, Phạm Thị Vân Anh (2005) nghiên cứu thực nghiệm trên chuột cống trắng tác dụng hạ CT, TG, LDL – C và làm tăng HDL – C máu [16]
- Phạm Khuê và Bùi Thị Nguyệt (1995): viên Bidentin làm giảm CT máu
ở 82,6% BN có CT máu cao sau 2 tháng điều trị [17]
- Ngưu tất (Achyranthes bidenta Blume): có tác dụng hạ CT máu trong nghiên cứu thực nghiệm (Trần Quang Hoan 1978) Trên lâm sàng, hơn 65%
BN hạ được CT máu, mức độ hạ từ 25-50% khi dùng viên hoặc siro ngưu tất (Phạm Khuê, Bùi Minh Nguyệt, Lê Tiến Dũng, Trần Thanh Hà, Lương Chí Thành (1981), Trần Việt Hoa (1987) thấy viên ngưu tất cũng giảm được lipid toàn phần, LDL-C và TG [18], [19], [20]
- Phan Việt Hà (1998), Nghiên cứu tác dụng bài thuốc "Giáng chỉ ẩm" trong điều trị hội chứng rối loạn lipid máu, kết quả cho thấy làm giảm 13,54% CT, 32,67% TG, 15,23 % LDL-C, tăng 17,07 % HDL-C
- Bùi Thị Mẫn (2004) Nghiên cứu tác dụng điều trị hội chứng rối loạn lipid máu của viên BCK, kết quả cho thấy làm giảm 18,34% CT; 27,7% TG; 18,3 % LDL-C, tăng 18,6 % HDL-C
+ Vũ Việt Hằng (2006) “Nghiên cứu tác dụng điều trị hội chứng rối loạn
lipid máu của thuốc cốm GCL” Luận văn Thạc sĩ Y học trường Đại học Y Hà
nội Thành phần: Giáng chỉ thang gia linh chi được sản xuất dưới dạng cốm Đan sâm 18g, Ngưu tất 12g, Hoàng tinh 18g, Sơn tra 12g, Hà thủ ô 18g, Nấm linh chi 18g, Trạch tả 18g Bài thuốc có tác dụng thay đổi nồng độ Cholesterol toàn phần (CT), triglycerid huyết tương (TG), các lipoprotein như HDL- C, LDL- C ở 67 bệnh nhân có rối loạn lipid máu nguyên phát có được