Trong cơ cấu bệnh lý tâm thần, rối loạn trầm cảm đứng thứ hai về tínhthường gặp và chiếm 20% số bệnh nhân tâm thần nặng điều trị tại các trungtâm chăm sóc sức khỏe tâm thần [3].. Rối loạ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, có biểu hiện qua các triệuchứng là: tâm trạng buồn chán, mất đi thích thú hoặc niềm vui, cảm thấy tộilỗi hoặc giảm giá trị của bản thân, khó ngủ, kém ngon miệng, khả năng làmviệc kém hoặc khó tập trung.Theo TCYTTG (1995), mỗi năm có khoảng 5%dân số thế giới có rối loạn trầm cảm [1] Theo nhiều nghiên cứu khác nhau thìnguy cơ mắc rối loạn trầm cảm trong suốt cuộc đời ở nam giới là 15% và ở
nữ giới là 24%, tần suất mắc bệnh cao ở những người đang trong độ tuổi laođộng [2].Tới năm 2020, trầm cảm là bệnh thường gặp xếp hàng thứ hai saubệnh lý tim mạch và sẽ trở thành gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tửvong Trong cơ cấu bệnh lý tâm thần, rối loạn trầm cảm đứng thứ hai về tínhthường gặp và chiếm 20% số bệnh nhân tâm thần nặng điều trị tại các trungtâm chăm sóc sức khỏe tâm thần [3]
Trầm cảm thường dẫn tới làm giảm khả năng duy trì các thói quen sinhhoạt và công việc hằng ngày Rối loạn trầm cảm gây giảm khả năng lao động,chi phí cho điều trị cao và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.Trườnghợp xấu nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự sát.Theo nghiên cứu của Trần HữuBình, có 66-75% bệnh nhân không được chẩn đoán, trong đó 25% bệnh nhânđến khám các bác sĩ chuyên khoa khác do vậy công tác phát hiện, điều trị để
từ đó ngăn chặn và làm giảm hậu quả gặp nhiều khó khăn [4]
Do biểu hiện lâm sàng của trầm cảm có nhiều thể bệnh có thể biểu hiệnbằng các triệu chứng cơ thể, nhiều khi rất khó phân biệt được với triệu chứngcác bệnh cơ thể kèm theo, thêm vào đó do nhận thức của người dân về trầmcảm chưa cao nên khi bị bệnh thường không đến chuyên khoa ngay, vì vậytình trạng bệnh sẽ nặng lên và quá trình điều trị trở nên khó khăn hơn Trongđiều trị trầm cảm vai trò của người chăm sóc bệnh nhân rất quan trọng trong
Trang 2việc theo dõi cũng như quản lí việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân Vì vậy sựhiểu biết của người nhà đối với rối loạn trầm cảm là thực sự cần thiết để giúpcho bệnh nhân có kết quả điều trị đạt hiệu quả tốt hơn.
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu
về hiểu biết của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là bệnh nhân
trầm cảm Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm” nhằm đánh giá hiểu biết và thái độ
của người chăm sóc bệnh nhân trầm cảm trong giai đoạn hiện nay.Từ đó tìm
ra những khó khăn và sai lầm trong hiểu biết của người nhà để có nhữngphương án thích hợp, hiệu quả nhằm giảm bớt những thiệt thòi cho ngườibệnh, gia đình và xã hội
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
1. Đánh giá hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
2. Đánh giá thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảmvà điều trị trầm cảm.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về trầm cảm
1.1.1 Khái niệm về trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quátrình ức chế toàn bộ tâm thần chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ứcchế vận động Theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10) trầm cảmđiển hình thường biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú,giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi Ngoài ra còn có các triệu chứng phổbiến khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ýtưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng
và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng…Cáctriệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục[5] Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàngnhất trong việc chẩn đoán
1.1.2 Dịch tễ học của trầm cảm
Trầm cảm là một trạng thái phổ biến trong cộng đồng, tỷ lệ trầm cảmđiển hình trên thế giới là khoảng 3-5% dân số Trầm cảm đứng hàng thứ haisau các bệnh tim mạch Gánh nặng trầm cảm xếp hàng thứ năm ở nữ, hàngthứ bảy ở nam Theo nhiều thống kê thì tỷ lệ nữ/nam là 2/1 Tuổi khởi phátnhìn chung từ 20-50 tuổi, gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 24-45 tuổi Những người
ly dị hoặc ly thân có nguy cơ trầm cảm cao hơn những người có gia đình ởcùng một lứa tuổi Với mỗi nghề nghiệp khác nhau thì tỷ lệ trầm cảm là khácnhau, tỷ lệ trầm cảm là cao hơn với các nghề nghiệp có tính chất độc hại,
Trang 4nguy hiểm, căng thẳng cảm xúc (hoàn cảnh gây stress cấp diễn hoặc kéo dài).Trầm cảm có mặt ở hầu hết các bệnh mạn tính Tái diễn là khuynh hướngthường gặp của trầm cảm [3].
1.1.3 Bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm
- Yếu tố nhân cách tiền bệnh lý: bất cứ kiểu nhân cách nào cũng có khả năng bịtrầm cảm trong những hoàn cảnh nhất định Tuy nhiên, có vài nét nhân cáchsuy nhược tâm thần, nhân cách lo âu, nhân cách lệ thuộc là có nguy cơ cao dễ
bị trầm cảm [7]
- Yếu tố di truyền: yếu tố di truyền đóng vai trò nhất định trong việc gây
ra rối loạn khí sắc nhất là đối với rối loạn cảm xúc lưỡng cực Khoảng50% người bệnh rối loạn lưỡng cực có tối thiểu một người cha hoặc mẹ
bị rối loạn cảm xúc (thường là trầm cảm) Nếu một người cha hoặc mẹ
bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực thì sẽ có 25% nguy cơ cho con của họ sẽ
bị rối loạn cảm xúc Nếu cả cha và mẹ đều mắc bệnh này thì khả năngcon cái mắc bệnh lên tới 50-75% [6],[8]
- Do sử dụng thuốc hoặc các chất tác động tâm thần: một số thuốc vàchất gây trầm cảm thường gặp là: rượu, thuốc gây chán ăn, thuốc anthần kinh, corticoid, clonidin, cloroquine… [7]
Trang 5- Do tổn thương não, rối loạn chức năng não hay một số bệnh cơ thể gây
ra như: u não, sa sút tâm thần, Cushing… [5]
Trang 61.1.3.2 Bệnh sinh
Giả thiết về các chất dẫn truyền thần kinh: có rất nhiều nghiên cứu về
cơ chế bệnh sinh của rối loạn cảm xúc cho thấy sự liên quan của nó với các hệthống chất dẫn truyền thần kinh trong hệ thần kinh trung ương [9]:
Giảm sút Serotonin: khi nồng độ Serotonin giảm có thể xuất hiện cáctriệu chứng trầm cảm
- Khi thiếu hụt Noadrenalin tại các synap của hệ thần kinh trung ương
- Cũng có nghiên cứu cho thấy hoạt động của Dopaminergic giảm trongtrầm cảm
- Ngoài ra một số chất trung gian dẫn truyền thần kinh khác, đặc biệt là GABAcũng có sự bất thường trong RLTC
- Giảm Phenylamin là tiền chất của Catecholamin cũng gây RLTC
- Sự điều hòa thần kinh nội tiết: sự tăng nhạy cảm trục hạ đồi - tuyến yên
- tuyến thượng thận là thường gặp trong bệnh nhân RLTC Trong đó,
sự tăng tiết CRH (Corticoliberin) của vùng dưới đồi kích thích tăng tiếtACTH (Adeno Corticotropin) của tuyến yên và ACTH kích thích vỏthượng thận tiết Glucocorticoid và Cortisol Tăng Glucocorticoid làm
ức chế sự vận chuyển glucose vào tế bào cấu trúc thần kinh dẫn tới làmgiảm năng lượng trong tế bào gây rối loạn chức năng cấu trúc thầnkinh, ảnh hưởng đến cơ chế điều chỉnh cảm xúc và nhận thức Mặtkhác tăng corticoid trong máu làm giảm serotonin, do ức chế thụ thểserotonin nhóm 5- HT1A ở vùng hồi hải mã gây ra trầm cảm theo môhình của Serotonin [10],[11]
1.1.4 Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm
Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức Y
tế Thế giới, trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc biểu hiện bằng 3 triệu
Trang 7chứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến Các triệu chứng này phải kéo dàitrong thời gian ít nhất 2 tuần [5].
*Ba triệu chứng đặc trưngcủa trầm cảm:
- Khí sắc trầm
- Mất mọi quan tâm thích thú trong các hoạt động
- Giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi
*Bảy triệu chứng phổ biến của trầm cảm:
- Giảm sút sự tập trung và chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Những ý tưởng bị tội, không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm, bi quan
- Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ bất cứ lúc nào
- Thay đổi cảm giác ngon miệng (tăng hoặc giảm) với sự thay đổi trọng lượng
cơ thể tương ứng
*Các triệu chứng cơ thể (sinh học) của trầm cảm
- Mất quan tâm ham thích những hoạt động thường ngày
- Thiếu các phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh
- Giảm cảm giác ngon miệng
- Sút cân (thường ≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước)
- Giảm hoặc mất hưng phấn tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ
*Các triệu chứng loạn thần
Trang 8Trầm cảm nặng thường có hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ Cáctriệu chứng loạn thần có thể phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị tội, nghibệnh, cảm thấy mình không còn giá trị gì hoặc có thảm họa đang ập đến,các ảo thanh phỉ báng hoặc kết tội bệnh nhân) hoặc không phù hợp với khísắc (hoang tưởng bị truy hại hoặc liên hệ và các ảo giác không có nội dungcảm xúc).
1.1.5 Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10 [5]
* Giai đoạn trầm cảm (F32)
- Giai đoạn trầm cảm phải kéo dài ít nhất 2 tuần
- Không có đủ các triệu chứng hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm để đáp ứngcác tiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30.-)
ở bất kỳ thời điểm nào trong đời người
- Giai đoạn này không thể gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần(F10-F19) hoặc bất cứ rối loạn tâm thần thực tổn nào (F00-F09)
- Chữ số thứ năm có thể sử dụng để biệt định sự hiện diện hay vắng mặtcủa các hội chứng cơ thể Để đánh giá hội chứng cơ thể thì ít nhất 4trong số 8 triệu chứng cơ thể phải có mặt
*Các thể lâm sàng của giai đoạn trầm cảm:
- Giai đoạn trầm cảm nhẹ: có ít nhất 2 triệu chứng điển hình, ít nhất 2 triệuchứng phổ biến, không có triệu chứng nào trong số đó ở mức độ nặng, thờigian tối thiểu của mỗi giai đoạn ít nhất 2 tuần, hoạt động thường ngày và hoạtđộng xã hội giảm nhưng không bị ngừng
- Giai đoạn trầm cảm vừa: có ít nhất 2 triệu chứng điển hình, cộng thêm ít nhất
3 triệu chứng phổ biến, nhiều triệu chứng có thể biểu hiện rõ rệt, thời gian tốithiểu của mỗi giai đoạn ít nhất 2 tuần, khó khăn để tiếp tục các hoạt độngthường ngày và hoạt động xã hội
Trang 9- Giai đoạn trầm cảm nặng: có đủ 3 triệu chứng điển hình, cộng thêm ít nhất 4triệu chứng phổ biến và một số phải đặc biệt nặng, thời gian tối thiểu của mỗigiai đoạn ít nhất 2 tuần, có thể có triệu chứng loạn thần, ít khả năng tiếp tụccác hoạt động thường ngày và hoạt động xã hội.
∗ Rối loạn trầm cảm tái diễn (F33):
- Đã có ít nhất một giai đoạn trước đó bị trầm cảm nhẹ (F32.0), vừa(F32.1), nặng (F32.2 hoặc F32.3), kéo dài ít nhất 2 tuần và cách biệt với giaiđoạn hiện tại ít nhất 2 tháng không có bất cứ triệu chứng khí sắc đáng kể nào
- Không có một giai đoạn nào trong quá khứ đáp ứng các tiêu chuẩn đốivới giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30.-)
- Những chẩn đoán loại trừ hay gặp nhất: Giai đoạn này không thể gắnvới việc sử dụng chất tác động tâm thần (F10- F19), hoặc với bất kỳ rối loạntâm thần thực tổn nào trong nhóm (F00- F09)
∗ Các thể lâm sàng của rối loạn trầm cảm tái diễn:
- Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn nhẹ: các tiêu chuẩn đốivới rối loạn trầm cảm tái diễn được đáp ứng và giai đoạn hiện nay phải đủtiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0)
- Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn vừa: phải đủ tiêu chuẩncho rối loạn trầm cảm tái diễn (F33.-) và giai đoạn hiện nay có đủ tiêu chuẩncho trầm cảm mức độ vừa
- Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng: phải có đủ tiêuchuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn, và giai đoạn hiện tại phải có đủtiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần hoặc không cóloạn thần
∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa(F31.3)
Trang 10- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầmcảm mức độ nhẹ (F32.1) hoặc vừa (F32.1)
- Đã có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác trong quá khứ đáp ứng cáctiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ (F30.-) hoặc giaiđoạn cảm xúc hỗn hợp (F38.00)
∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nặng không cóloạn thần (F31.4)
- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầmcảm nặng không có loạn thần (F32.2)
- Đã có ít nhất một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ rõ (F30.), giai đoạntrầm cảm (F32.-) hoặc giai đoạn cảm xúc hỗn hợp trong quá khứ (F38.00)
∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nặng có loạnthần (F31.5)
- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạntrầm cảm nặng có loạn thần (F32.3)
- Đã có ít nhất một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ rõ (F30.), giai đoạntrầm cảm (F32.-) hoặc giai đoạn cảm xúc hỗn hợp trong quá khứ (F38.00)
1.1.6 Điều trị trầm cảm
Nguyên tắc điều trị: [12]
Điều trị trầm cảm bao gồm hóa trị liệu và tâm lý trị liệu và bao gồm một
số nguyên tắc như sau: (1) Phải phát hiện được sớm, chính xác trạng tháitrầm cảm kể cả trầm cảm nhẹ, trầm cảm biểu hiện bằng các triệu chứng cơthể của nhiều bệnh chuyên khoa khác (2) Phải xác định được mức độ trầmcảm đang có ở người bệnh (3) Phải xác định rõ nguyên nhân là trầm cảm nộisinh, trầm cảm phản ứng hay trầm cảm thực tổn (4) Phải chỉ định kịp thời cácthuốc chống trầm cảm, biết chọn lựa đúng tác dụng của thuốc, loại thuốc, liềulượng, cách dùng (5) Phải nhận rõ trầm cảm có kèm theo những rối loạn loạn
Trang 11thần khác hay không (6) Phải biết chỉ định kết hợp các thuốc an thần kinh khicần thiết (7) Sốc điện vẫn cần được sử dụng trong các trường hợp trầm cảmnặng, có ý tưởng hành vi tự sát dai dẳng hoặc kháng thuốc (8) Đi đôi vớiđiều trị bằng thuốc còn phải sử dụng các liệu pháp tâm lý (9) Khi điều trịtrầm cảm có kết quả, cần được duy trì trong thời gian tối thiểu là 6 tháng, cókhi hàng năm để phòng ngừa tái phát.
Đáp ứng điều trị rối loạn trầm cảm phụ thuộc vào: [13]
- Xác định và được điều trị sớm
- Sự hợp tác của bệnh nhân
- Độ dài thời gian giữa các cơn
- Tuổi của bệnh nhân
- Lựa chọn và sử dụng liều lượng thuốc chống trầm cảm Theo hướng dẫn củaNICE (the Nationnal Institute for Clinical Excellence), Thuốc chống trầmcảm không nên sử dụng trong lần đầu tiên ở những rối loạn trầm cảm nhẹ, bởi
vì tỉ lệ hưởng lợi kém, chỉ được sử dụng ở bệnh nhân trầm cảm mức độ trungbình và nặng nên sử dụng nhóm SSRI [14]
- Liệu pháp tâm lý phối hợp
Các phương pháp điều trị trầm cảm:
Liệu pháp hóa dược:
Các thuốc chống trầm cảm làm tăng số lượng và hoạt tính các chất dẫntruyền thần kinh (Serotonin, Noradrenalin…) đang bị thiếu hụt để điều trịtrầm cảm Thời gian để thuốc chống trầm cảm có tác dụng là 7-10 ngày saukhi đạt liều điều trị Trầm cảm có thể không đáp ứng với thuốc này nhưng vẫn
có thể đáp ứng với thuốc chống trầm cảm khác [15]
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng [13]
- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng ức chế monoamine ở tiền sinap thầnkinh, tăng nồng độ chất dẫn truyền thần kinh ở khe sinap Điều trị kéo
Trang 12dài bằng thuốc chống trầm cảm 3vòng gây giảm số lượng thụ thể noradrenergic và giảm các chất dẫn truyền thần kinh tại thụ cảm thể 5-HT2, kết quả là tăng chất dẫn truyền thần kinh serotoninergic.
ß Thuốc chống trầm cảm 3 vòng có sự tác động giống nhau trên tất cảcác thụ cảm thể serotoninergic, noradrenergic, dopaminergic,muscarinic, histaminergic Điều này giải thích vì sao thuốc có tác dụngchống trầm cảm và nhiều tác dụng phụ
- Một số loại thuốc chính như: Melipramin, Amitriptylin, Fluoxetine
Thuốc chống trầm cảm ức chế men monoaminoxydaza (IMAO)
- Cơ chế tác dụng là ức chế quá trình dị hóa bởi MAO của các amin bịtái hấp thu trở lại neuron trước synap, làm tăng lượng amin não(noradrenalin, serotonin, dopamine) giải phóng trở lại khe synap, dẫnđến tăng dẫn truyền thần kinh, tăng khí sắc…[15]
- Thuốc chống trầm cảm IMAO hiện nay được sử dụng ít hơn nguyênnhân chính là do tác dụng phụ, tạo ra cơn cao huyết áp liên quan tớihấp thụ tyramin trong thức ăn [13]
- Một số loại thuốc chính: Izocarboxazid, fenelzin, tranylcypromin…
Thuốc chống trầm cảm đa vòng [13]
- Thuốc này được các tác giả gọi là thuốc chống trầm cảm chung thứ 2
- Thuốc được đánh giá là có hiệu quả chống trầm cảm ngang với thuốc chốngtrầm cảm đa vòng hoặc IMAO
- Do có thuận lợi là có ít tác dụng kháng cholinergic và không có tác dụng độccho cơ tim nên những thuốc chống trầm cảm này được lựa chọn cho ngườicao tuổi, có bệnh tim và tăng huyết áp
- Các thuốc chống trầm cảm đa vòng thường dùng: Maprotyline, mianserin
Thuốc chống trầm cảm ức chế tái hấp thu chọn lọc Serotonin (SSRI)
Trang 13- Các thuốc SSRI ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin từ khe synap[15]
- Ưu điểm: Hiệu quả chống trầm cảm ngang với thuốc chống trầm cảm 3 vòng,không có tác dụng phụ như thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc IMAO Thuốc
an toàn hơn trong trường hợp quá liều và dung nạp tốt hơn [13]
- Các thuốc ức chế chọn lọc trên thụ cảm thể serotonin phổ biên nhất là:Fluoxetin, fluvoxamin, paroxetin, sertralin…
+ Chống chỉ định: Không kết hợp với IMAO
+ Tác dụng không mong muốn: Ít tác dụng phụ, có thể gặp tăng cân,tăng cảm giác ngon miệng, chóng mặt, nhức đầu, buồn ngủ
+ Chống chỉ định: Không kết hợp với các IMAO [15]
+ Tác dụng không mong muốn: rất ít tác dụng phụ do không ảnhhưởng tới bất kỳ hệ thống dẫn truyền nào [15]
Trang 14+ Chống chỉ định: Không dùng ở trẻ em dưới 15 tuổi, không kết hợpvới IMAO [16]
+ Tác dụng không mong muốn: Ít tác dụng phụ, có thể gặp nhức đầu,bồn chồn bất an, ít ngủ [15]
Liệu pháp nhận thức [15]
- Liệu pháp nhận thức là trị liệu được thiết kế để điều trị trong thời gian ngắn,
có sự phối hợp tích cực giữa bệnh nhân và người điều trị để nhằm đạt đượcmục đích điều trị Bệnh nhân được định hướng đến các vấn đề hiện tại và cácbiện pháp giải quyết của họ
- Đây là trị liệu thường dưới 25 tuần Liệu pháp nhận thức (LPNT) bao gồm 3công đoạn sau: trang bị kiến thức cho bệnh nhân; áp dụng các kỹ thuật điềutrị nhận thức; các kỹ thuật điều trị hành vi
- LPNT còn được sử dụng trong điều trị các rối loạn tâm thần khác: rối loạn dạng
cơ thể, rối loạn lo âu, rối loạn chức năng tình dục, nghiện chất…Tuy nhiên điềutrị trầm cảm vẫn được coi là “mẫu” trong sử dụng trị liệu nhận thức LPNT cóthể sử dụng một mình để điều trị trầm cảm vừa và nhẹ hoặc điều trị phối hợp vớicác thuốc chống trầm cảm trong trầm cảm nặng
Liệu pháp Shock điện
- Mỗi đợt điều trị: 6-12 lần sốc mỗi tuần 3 lần sốc hoặc mỗi ngày một lần sốc.Chỉ định cho các bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát, trầm cảm sững sờ,các trạng thái trầm cảm đã kháng điều trị, các trường hợp trầm cảm có chốngchỉ định các liệu pháp hóa học (dị ứng thuốc, bệnh về máu) [17]
1.2 Hiểu biết, thái độ đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm.
Hiện nay theo TCYTTG trên thế giới có ít hơn 25% số người mắcphải trầm cảm được tiếp cận với các liệu pháp điều trị [18] Gần đây,TCYTTG vừa nghiên cứu về “những thiếu xót trong điều trị” của công tácchăm sóc sức khỏe tâm thần và tìm ra rằng trên thế giới, tỷ lệ trung bình số
Trang 15người mắc bệnh trầm cảm không được trị liệu là xấp xỉ 50% [19] Tại ViệtNam nhiều nghiên cứu chỉra rằng 70 – 80% số bệnh nhân trầm cảm (nhất làtrầm cảm với nhiều triệu chứng cơ thể) thường là đến với các bác sỹ timmạch, tiêu hóa… trước khi đến được với chuyên khoa tâm thần.Theonghiên cứu của Nguyễn Thanh Cao (2012) cho biết tỷ lệ đi khám ở bệnhviện chuyên khoa tâm thần rất thấp (3,1%), phần lớn người dân đến khám ởTrạm Y tế (82,9%) [20] Theo tác giả Phạm Văn Quý (2008), số bệnh nhân
có rối loạn trầm cảm đi khám và điều trị ở các cơ sở y tế chỉ có 34,1%, và
tỷ lệ đi khám chuyên khoa tâm thần là 5,18% [21]
Bên cạnh đó còn có nhiều người cho rằng trầm cảm không phải là bệnhthực sự mà chỉ là sự buồn phiền, do vấn đề tuổi tác ( đặc biệt đối với phụ nữ)hay là do các thể lực thần bí gây nên, vì vậy họ thường tìm kiếm các biệnpháp điều trị bằng tâm linh hay y học cổtruyền hoặc thậm chí bỏ qua…làmtình trạng trầm cảm nặng lên và nguy hiểm Và sau khi áp dụng tất cả cácbiện pháp đó mà không có hiệu quả thì họ mới tìm đến chuyên khoa tâm thần.Bên cạnh đó cũng không ít người cho rằng trầm cảm là một bệnh phải dùngthuốc cả đời, bệnh không chữa khỏi được, hay là dùng thuốc trầm cảm lànhững thuốc rất có hại cho cơ thể và không nên sử dụng những thuốc đó [15]
Các tác giả Hickie I.B, Travey A Davenport và cộng sự (2006) đãnghiên cứu trên bốn nhóm sinh viên thuộc đại học Sydney bao gồm: 103 sinhviên năm thứ hai, 82 sinh viên năm thứ tư thuộc đại học Y Sydney, 184 sinhviên Trung Quốc và 38 sinh viên đại học tổng hợp về hiểu biết và thái độ củacác nhóm sinh viên này đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm Kết quả chothấy hầu hết sinh viên đều hiểu được triệu chứng của trầm cảm, và đa số họcho rằng bệnh nhân nên đến gặp bác sĩ đa khoa (bác sĩ gia đình), một số ít vẫncòn tìm đến sự trợ giúp từ các phương pháp cổ truyền như thầy mo, thầy cúng(sinh viên Trung Quốc) [22]
Trang 16Tại Việt Nam, Nguyễn Kim Việt và cộng sự (2010) đã nghiên cứu trên
493 người trên 18 tuổi là sinh viên của trường Đại học Y Hà Nội, trường Đạihọc khoa học xã hội và nhân văn, nhân viên ngành Tâm thần, người nhà bệnhnhân Tâm thần tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Tâm thần trung ương 1,bệnh viện Tâm thần Hà Nội về hiểu biết và thái độ đối với trầm cảm và điềutrị trầm cảm Kết quả cho thấy: Vấn đề sức khỏe tâm thần đã được nhận thức
và có vị trí quan trọng trong sức khỏe chung ở Việt Nam: Rối loạn tâm thầnđứng hàng thứ 4 (nhân viên y tế), hàng thứ 5 (sinh viên, người nhà bệnhnhân) trong các nguyên nhân gây tử vong Tuy nhiên hiểu biết về trầm cảmcòn chưa đầy đủ, các biểu hiện cơ thể của trầm cảm (mất ngủ, mệt mỏi ) mớichỉ được nhận biết ở quá ½ nhân viên y tế và sinh viên Y5; nhận biết rất ít ởcác quần thể khác…dẫn đến bệnh nhân còn đến nhiều chuyên khoa kháctrước khi đến với chuyên khoa tâm thần.Việc tìm kiếm sự giúp đỡ, điều trị có
sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm đối tượng: đến với các bác sĩ đa khoa 73,7%), bác sĩ chuyên khoa tâm thần (65,7-93,7%), nhà tâm lý học (56,8-89,9%), nhà tư vấn (46,8-86,3%) ở các đối tượng nghiên cứu Đặc biệt vai tròcủa cán sự xã hội đã được các nhóm tìm đến từ 18,3 đến 51,6% Cần thiết sự
(52,8-hỗ trợ từ gia đình (70-92,9%), bạn bè (53,4-97%) Tuy nhiên còn tỉ lệ đáng kể(5,4-10,7%) tìm kiếm sự trợ giúp bởi các phương pháp thần bí, mê tín [23]
Trang 17CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Người nhà của bệnh nhân trầm cảm được chẩn đoán theo tiêu chuẩnICD-10 theo các mã: F32, F33, F31.3, F31.4, F31.5
- Chấp nhận tham gia vào nghiên cứu
- Người có khả năng đọc viết
- Người trên 18 tuổi
Tiêu chuẩn loại trừ
- Người không chấp nhận tham gia vào nghiên cứu
- Người không có khả năng đọc viết
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đánh giá hiểu biết, thái độ về trầm cảm tạithời điểm nghiên cứu
) 1 (
∆
−
−
p p
Trong đó:
n : là cỡ mẫu nghiên cứu
p : là tỷ lệ trầm cảm theo nghiên cứu của Trần Văn Cường và CS(2002) [24] p = 0.028
α : ước tính trong nghiên cứu = 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%
Z2
1-α/2 : là hệ số tin cậy = 1,96 (với α = 0,05)
∆ : khoảng sai lệch mong muốn = 0.05
do vậy n tối thiểu = 42
Trang 182.2.3 Các bước tiến hành
- Chọn ngẫu nhiên người nhà đang chăm sóc bệnh nhân bị trầm cảm
- Tiến hành phỏng vấn người nhà chăm sóc bệnh nhân bằng bộ câu hỏi
“Điều tra quốc tế về sức khỏe”
2.2.4 Công cụ đánh giá
Bộ câu hỏi: “Điều tra quốc tế về sức khỏe” gồm 39 câu hỏi chia thành
7 phần:
• Phần A: Nhân khẩu học bao gồm 9 câu hỏi: giới, tuổi, nơi sinh sống…
• Phần B: Những vấn đề về sức khỏe chính bao gồm 7 câu hỏi về nhữnghiểu biết về nguyên nhân chính của tử vong và loạn hoạt nặng ở ViệtNam, các bệnh tâm thần gây tử vong, các hiểu biết về biểu hiện củamột người bị trầm cảm,…
• Phần C: Sự trợ giúp và điều trị bao gồm 11 câu hỏi về hiểu biết và suynghĩ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp khi có trầm cảm
• Phần D: Bao gồm 2 câu hỏi về sự tìm kiếm thông tin về trầm cảm
• Phần E: Bao gồm 3 câu hỏi về sự tìm kiếm sự trợ giúp khi có trầm cảm
• Phần F: Bao gồm 2 câu hỏi về thái độ của mọi người về trầm cảm
• Phần G: Bao gồm 5 câu hỏi về trạng thái sức khỏe tâm thần và tìnhtrạng công việc trong thời gian vừa qua
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Sức khỏe Tâm thần
2.3.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2016
Trang 192.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
- Các bệnh được coi là nguyên nhân chính gây
tử vong hoặc loạn hoạt năng là các bệnh cụthể: ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, đột quỵ,đái tháo đường, trầm cảm, lạm dụng rượu…
- Các bệnh tâm thần gây tử vong hoặc loạn hoạtnặng: là các bệnh tâm thần cụ thể như: tâmthần phân liệt, trầm cảm, nghiện rượu, sa súttrí tuệ…
tự sát…
- Thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nhàchuyên môn khi có trầm cảm: bác sĩ đa khoa,nhà tâm thần, cán sự xã hội…
- Thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ không chuyênmôn khi có trầm cảm: chuyên gia châm cứu, ,gia đình, bạn bè, tập quán cổ…
- Nhận thức về sự hữu ích của mỗi biện phápđiều trị trầm cảm
- Sự phân biệt đối xử đối với người bị trầm cảm
từ những người và cơ quan khác nhau
- Ý kiến của người nhà về những phát biểu vềngười bị trầm cảm nặng
2.5 Xử lý số liệu
- Thu thập thông tin theo bộ câu hỏi có sẵn
Trang 20- Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê mô tả và chương trìnhSPSS 16.0
Trang 21CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trên 60 người nhà bệnh nhân đượcchẩn đoán trầm cảm tại viện Sức khỏe Tâm thần –Bệnh viện Bạch Mai Kếtquả như sau:
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Thời gian bị bệnh của
Trang 22Nhận xét:
- Đặc điểm về thời gian bị bệnh của bệnh nhân: 46,7% bệnh nhân đượcchẩn đoán trầm cảm lần đầu tiên, 53,3% bệnh nhân được chẩn đoántrầm cảm nhiều lần
- Đặc điểm về tuổi:
+ Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu là 19-75 tuổi
+ Tuổi trung bình: 44,9±14,4 tuổi
- Đặc điểm về giới tính:
+ Có 48,3% đối tượng tham gia nghiên cứu là nam giới
+ 51,7% đối tượng tham gia nghiên cứu là nữ giới
+ Tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 1:1
- Đặc điểm về nơi sống:Bệnh nhân cư trú ở khu vực nông thôn chiếm tỷ
lệ cao hơn (65%) so với bệnh nhân cư trú ở thành thị (35%)
Trang 233.2 Hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm
3.2.1 Nhận thức về nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta.
Bảng 3.2: Nhận thức về các nhóm bệnh (chuyên khoa) được coi là nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta
Nhóm nguyên nhân
Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam
(n=29 )
Nữ (n=31 )
NT (n=39 )
TT (n=21 )
TC lần đầu (n=28)
TC nhiều lần (n=32)
mang thai hoặc sinh đẻ
Trang 24- Theo người nhà bệnh nhân, đứng hàng đầu trong các nhóm bệnh đượccoi là nguyên nhân chính gây tử vong hoặc rối loạn khả năng hoạt động
ở nước ta là ung thư, thứ hai là bệnh tim và đột quị, thứ ba là chấnthương do tai nạn, thứ tư là bệnh nhiễm trùng
- Nhận thức về nguyên nhân gây tử vong do rối loạn tâm thần ở nam giới
và ở nông thôn xếp hàng thứ 5 Trong khi đó ở nữ giới xếp hàng thứ 6
và người nhà ở thành thị xếp hàng thứ 7 trong các nguyên nhân gây tửvong
Bảng 3.3: Nhận thức về các bệnh (trong các chuyên khoa) được coi là nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam.
Nguyên nhân
Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam
(n=29 )
Nữ (n=31 )
NT (n=39 )
TT (n=21 )
TC lần đầu (n=28)
TC nhiều lần (n=32)
Nhiễm HIV hoặc AIDS
Trang 25viêm phế quản mạn (%)
Nhồi máu cơ tim hoặc
bệnh tim khác (%) 75,9 58,1 61,5 72,2 78,6 59,4Nhận xét:
Người nhà bệnh nhân ở các nhóm đối tượng đều cho rằng những nguyênnhân chính gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta là ung thư phổi (81,0-87,5%), tai nạn giao thông đường bộ (75,9- 80,6%), nhồi máu cơ tim hoặc cácbệnh tim khác (58,1-75,9%), nhiễm HIV hoặc AIDS (58,6-64,3%), đột quỵ(37,9-71,4%)
Đột quỵ được nhận biết ở nam giới cao hơn nữ giới, thành thị cao hơnnông thôn (nam: 71%, nữ: 37,9%, TT: 61,9%, NT: 51,3%), ở nhóm người nhàbệnh nhân trầm cảm lần đầu nhiều hơn trầm cảm nhiều lần (lần đầu: 71,4%,nhiều lần: 43,8%)
Các rối loạn tâm thần: Bao gồm 5 trong số 15 bệnh gây tử vong hoặc loạnchức năng hoạt động hàng ngày.Trầm cảm được xếp ở hàng thứ ba với tỷ lệ(3,6-18,8%) trong khi đó đứng đầu là lạm dụng hoặc nghiện rượu (32,3-48,3%), tự sát hoặc tự hủy hoại (28,6-35,9%).Tâm thần phân liệt (3,6-12,5%),
sa sút trí tuệ (0-6,9%) được xếp ở tỷ lệ thấp hơn
Trang 26Bảng 3.4: Nhận thức về những bệnh lý tâm thần đặc biệt được coi là nguyên nhân gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam:
Bệnh tâm thần
Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam
(n=28 )
Nữ (n=30 )
NT (n=38 )
TT (n=20 )
TC lần đầu (n=28)
TC nhiều lần (n=32)
Tâm thần phân liệt hoặc
Lo âu, rối loạn tâm căn
hoặc rối loạn hoảng sợ
Nhìn vào bảng ta có thể thấy người nhà bệnh nhân cho rằng nhữngnguyên nhân hàng đầu gây tử vong hoặc loạn hoạt động chức năng hàng ngàytrong các bệnh lý tâm thần là lạm dụng hoặc nghiện ma túy (63,3-73,3%), lạmdụng hoặc nghiện rượu (25- 60,5%) Chiếm tỷ lệ thấp hơn là sa sút trí tuệ, bệnhAlzheimer hoặc tổn thương não khác (25-50%), tâm thần phân liệt (26,7-46,4%)
Trang 27trầm cảm (16,7-45%)… Thấp nhất là các rối loạn nhân cách (0-10%), chậm pháttriển tâm thần hoặc rối loạn trí tuệ (0-7,9%).
Trầm cảm được nhận biết ở nữ giới cao hơn nam giới, ở thành thị caohơn nông thôn, ở người nhà của bệnh nhân trầm cảm lần đầu nhiều hơn trầmcảm nhiều lần (nam: 17,9%, nữ: 36,7%, NT: 18,4%, TT: 50%, lần đầu:35,7%, nhiều lần: 16,7% )
Trang 283.2.2 Hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm về trầm cảm.
Bảng 3.5: Những hiểu biết về biểu hiện điển hình của
một người bị trầm cảm
Biểu hiện
Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh
Nam (n=29 )
Nữ (n=31 )
NT (n=39 )
TT (n=21 )
TC lần đầu (n=28 )
TC nhiều lần (n=32)
Trở nên buồn trầm
hoặc khổ sở (%) 72,4 51,6 61,5 61,9 67,9 59,4Khó chịu ở dạ dày
Đau đầu và đau cơ
Nghĩ rằng “cuộc sống
không có giá trị” (%) 17,2 12,9 10,3 23,8 14,3 15,6Mất tự tin (%) 24,1 25,8 15,4 42,9 21,4 21,9Luôn cảm thấy mệt
Trang 29tôi” (%)
Nhận xét:
Người nhà bệnh nhân đều cho rằng biểu hiện điển hình của trầm cảmđứng hàng đầu là rối loạn giấc ngủ (66,7- 82,1%) và trở nên buồn trầm hoặckhổ sở (51,6- 72,4%), sau đó là các triệu chứng luôn cảm thấy mệt mỏi (33,3-50%), bồn chồn hoặc cáu kỉnh (23,8-57,1%), cảm thấy thất vọng (24,1-48,4%), mất tự tin (15,4- 42,9%)
Các biểu hiện thường gặp với tỷ lệ thấp hơn đó là đau đầu và đau cơ(14,3-30,8%), cảm thấy ốm yếu và suy sụp (19,4-27,6%), trở nên bất hạnhhoặc buồn chán (12,8-38,1%), sút cân (13,8-25,8%)
Được biết đến ít nhất là khó chịu ở dạ dày, nghĩ rằng “tôi đã thất bại”,cảm thấy có tội, nghĩ rằng “ không có gì tốt lành đến với tôi”
Trang 30Bảng 3.6: Nhận thức về những trải nghiệm mà người trầm cảm thường có:
Các trải nghiệm
Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam
(n=2 9)
Nữ (n=3 0)
NT (n=3 8)
TT (n=2 1)
TC lần đầu (n=28)
TC nhiều lần (n=32)
Mất khả năng tập trung
hoặc khó suy nghĩ (%) 65,5 70,0 65,8 71,4 67,9 67,7Không hoàn thành công
Có rắc rối trong gia
đình hoặc mối quan hệ
khác (%)
31,0 40,0 39,5 28,6 42,9 32,3
Lệ thuộc vào rượu, ma
túy hoặc các chất gây
êm dịu khác (%)
Giảm tự chăm sóc cá
nhân (ví dụ: thay đổi
thói quen vệ sinh cá
mới về sức khỏe cơ thể
(%)
31,0 10,0 23,7 14,3 25,0 16,1
Thu hẹp quan hệ với
bạn bè hoặc người thân
(%)
55,2 56,7 47,4 71,4 50,0 67,7
Nhận xét:
Trang 31Người nhà cho rằng những trải nghiệm mà người trầm cảm thường
có là mất khả năng tập trung hoặc khó suy nghĩ (65,5-71,4%), thu hẹp quan
hệ với bạn hoặc người thân (47,4- 71,4%), không muốn ra khỏi nhà nữa(47,4- 53,6%)
Nữ giới, người nhà BN trầm cảm nhiều lần có nhận thức về ý tưởnghành vi tự sát cao hơn nam giới và người nhà BN trầm cảm lần đầu (nữ:53,3% nam: 31%, lần đầu:32,1%, nhiều lần: 51,6%)
Nam giới có nhận thức về lệ thuộc và rượu, ma túy hoặc các chất gây
êm dịu khác cao hơn nữ giới (nam: 20,7%, nữ: 10,0%)
Các biểu hiện xuất hiện với tỷ lệ thấp hơn là: có rắc rối trong gia đìnhhoặc mối quan hệ khác (28,6- 42,9%), giảm chăm sóc cá nhân (28,9-47,6%),xuất hiện các vấn đề mới về sức khỏe cơ thể(10-31,0%), thôi làm những việc
họ từng thích (19-28,6%)
Bảng 3.7: Sự đánh giá về tỷ lệ người bị trầm cảm ở một vài thời điểm
trong cuộc đời
- Đa số các đối tượng ở nhóm nghiên cứu đều cho rằng họ không biết tỷ
lệ trầm cảm ở một vài thời điểm trong cuộc đời là bao nhiêu (36,7%)
- Còn lại 26,7% người nhà cho rằng tỷ lệ trầm cảm là 1 trong 50 ngườisau đó lần lượt là 1 trong 20 người (16,7%), 1 trong 10 người (11,7%),cuối cùng là 1 trong 5 người (8,3%)
Trang 323.3.Thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm.
Bảng 3.8: Tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nhà chuyên môn nếu
Nữ (n=3 0)
NT (n=3 8)
TT (n=2 1)
TC lần đầu (n=28)
TC nhiều lần (n=32)
Nhà tư vấn (%) 86,2 73,3 78,9 81,0 85,2 75,0Bác sĩ đa khoa hoặc
bác sĩ gia đình (%) 69,0 80,0 73,7 76,2 81,5 68,8
Bác sĩ tâm thần (%) 100 96,7 97,4 100 100 90,6
Nhà tâm lý học (%) 82,8 56,7 68,4 71,4 74,1 65,6Cán sự xã hội (%) 31,0 36,7 34,2 33,3 44,4 31,2Nhân viên phúc lợi
Sự cần thiết của cán sự xã hội (31- 44,4%) và nhân viên phúc lợi xã hội(31- 40,7%) xuất hiện với tỷ lệ thấp hơn
Đặc biệt không có ai trong những trường hợp được phỏng vấn khôngcần/không muốn tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn khi họ bị trầm cảm
Bảng 3.9: Tìm kiếm sự hỗ trợ không chuyên môn nếu họ nghĩ họ
có thể bị trầm cảm