1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm

64 312 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 272,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cơ cấu bệnh lý tâm thần, rối loạn trầm cảm đứng thứ hai về tínhthường gặp và chiếm 20% số bệnh nhân tâm thần nặng điều trị tại các trungtâm chăm sóc sức khỏe tâm thần [3].. Rối loạ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, có biểu hiện qua các triệuchứng là: tâm trạng buồn chán, mất đi thích thú hoặc niềm vui, cảm thấy tộilỗi hoặc giảm giá trị của bản thân, khó ngủ, kém ngon miệng, khả năng làmviệc kém hoặc khó tập trung.Theo TCYTTG (1995), mỗi năm có khoảng 5%dân số thế giới có rối loạn trầm cảm [1] Theo nhiều nghiên cứu khác nhau thìnguy cơ mắc rối loạn trầm cảm trong suốt cuộc đời ở nam giới là 15% và ở

nữ giới là 24%, tần suất mắc bệnh cao ở những người đang trong độ tuổi laođộng [2].Tới năm 2020, trầm cảm là bệnh thường gặp xếp hàng thứ hai saubệnh lý tim mạch và sẽ trở thành gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tửvong Trong cơ cấu bệnh lý tâm thần, rối loạn trầm cảm đứng thứ hai về tínhthường gặp và chiếm 20% số bệnh nhân tâm thần nặng điều trị tại các trungtâm chăm sóc sức khỏe tâm thần [3]

Trầm cảm thường dẫn tới làm giảm khả năng duy trì các thói quen sinhhoạt và công việc hằng ngày Rối loạn trầm cảm gây giảm khả năng lao động,chi phí cho điều trị cao và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.Trườnghợp xấu nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự sát.Theo nghiên cứu của Trần HữuBình, có 66-75% bệnh nhân không được chẩn đoán, trong đó 25% bệnh nhânđến khám các bác sĩ chuyên khoa khác do vậy công tác phát hiện, điều trị để

từ đó ngăn chặn và làm giảm hậu quả gặp nhiều khó khăn [4]

Do biểu hiện lâm sàng của trầm cảm có nhiều thể bệnh có thể biểu hiệnbằng các triệu chứng cơ thể, nhiều khi rất khó phân biệt được với triệu chứngcác bệnh cơ thể kèm theo, thêm vào đó do nhận thức của người dân về trầmcảm chưa cao nên khi bị bệnh thường không đến chuyên khoa ngay, vì vậytình trạng bệnh sẽ nặng lên và quá trình điều trị trở nên khó khăn hơn Trongđiều trị trầm cảm vai trò của người chăm sóc bệnh nhân rất quan trọng trong

Trang 2

việc theo dõi cũng như quản lí việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân Vì vậy sựhiểu biết của người nhà đối với rối loạn trầm cảm là thực sự cần thiết để giúpcho bệnh nhân có kết quả điều trị đạt hiệu quả tốt hơn.

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu

về hiểu biết của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần, đặc biệt là bệnh nhân

trầm cảm Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm” nhằm đánh giá hiểu biết và thái độ

của người chăm sóc bệnh nhân trầm cảm trong giai đoạn hiện nay.Từ đó tìm

ra những khó khăn và sai lầm trong hiểu biết của người nhà để có nhữngphương án thích hợp, hiệu quả nhằm giảm bớt những thiệt thòi cho ngườibệnh, gia đình và xã hội

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

1. Đánh giá hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm

2. Đánh giá thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần về trầm cảmvà điều trị trầm cảm.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về trầm cảm

1.1.1 Khái niệm về trầm cảm

Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quátrình ức chế toàn bộ tâm thần chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, ứcchế vận động Theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10) trầm cảmđiển hình thường biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú,giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi Ngoài ra còn có các triệu chứng phổbiến khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ýtưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng

và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng…Cáctriệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là 2 tuần liên tục[5] Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa lâm sàngnhất trong việc chẩn đoán

1.1.2 Dịch tễ học của trầm cảm

Trầm cảm là một trạng thái phổ biến trong cộng đồng, tỷ lệ trầm cảmđiển hình trên thế giới là khoảng 3-5% dân số Trầm cảm đứng hàng thứ haisau các bệnh tim mạch Gánh nặng trầm cảm xếp hàng thứ năm ở nữ, hàngthứ bảy ở nam Theo nhiều thống kê thì tỷ lệ nữ/nam là 2/1 Tuổi khởi phátnhìn chung từ 20-50 tuổi, gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 24-45 tuổi Những người

ly dị hoặc ly thân có nguy cơ trầm cảm cao hơn những người có gia đình ởcùng một lứa tuổi Với mỗi nghề nghiệp khác nhau thì tỷ lệ trầm cảm là khácnhau, tỷ lệ trầm cảm là cao hơn với các nghề nghiệp có tính chất độc hại,

Trang 4

nguy hiểm, căng thẳng cảm xúc (hoàn cảnh gây stress cấp diễn hoặc kéo dài).Trầm cảm có mặt ở hầu hết các bệnh mạn tính Tái diễn là khuynh hướngthường gặp của trầm cảm [3].

1.1.3 Bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm

- Yếu tố nhân cách tiền bệnh lý: bất cứ kiểu nhân cách nào cũng có khả năng bịtrầm cảm trong những hoàn cảnh nhất định Tuy nhiên, có vài nét nhân cáchsuy nhược tâm thần, nhân cách lo âu, nhân cách lệ thuộc là có nguy cơ cao dễ

bị trầm cảm [7]

- Yếu tố di truyền: yếu tố di truyền đóng vai trò nhất định trong việc gây

ra rối loạn khí sắc nhất là đối với rối loạn cảm xúc lưỡng cực Khoảng50% người bệnh rối loạn lưỡng cực có tối thiểu một người cha hoặc mẹ

bị rối loạn cảm xúc (thường là trầm cảm) Nếu một người cha hoặc mẹ

bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực thì sẽ có 25% nguy cơ cho con của họ sẽ

bị rối loạn cảm xúc Nếu cả cha và mẹ đều mắc bệnh này thì khả năngcon cái mắc bệnh lên tới 50-75% [6],[8]

- Do sử dụng thuốc hoặc các chất tác động tâm thần: một số thuốc vàchất gây trầm cảm thường gặp là: rượu, thuốc gây chán ăn, thuốc anthần kinh, corticoid, clonidin, cloroquine… [7]

Trang 5

- Do tổn thương não, rối loạn chức năng não hay một số bệnh cơ thể gây

ra như: u não, sa sút tâm thần, Cushing… [5]

Trang 6

1.1.3.2 Bệnh sinh

Giả thiết về các chất dẫn truyền thần kinh: có rất nhiều nghiên cứu về

cơ chế bệnh sinh của rối loạn cảm xúc cho thấy sự liên quan của nó với các hệthống chất dẫn truyền thần kinh trong hệ thần kinh trung ương [9]:

Giảm sút Serotonin: khi nồng độ Serotonin giảm có thể xuất hiện cáctriệu chứng trầm cảm

- Khi thiếu hụt Noadrenalin tại các synap của hệ thần kinh trung ương

- Cũng có nghiên cứu cho thấy hoạt động của Dopaminergic giảm trongtrầm cảm

- Ngoài ra một số chất trung gian dẫn truyền thần kinh khác, đặc biệt là GABAcũng có sự bất thường trong RLTC

- Giảm Phenylamin là tiền chất của Catecholamin cũng gây RLTC

- Sự điều hòa thần kinh nội tiết: sự tăng nhạy cảm trục hạ đồi - tuyến yên

- tuyến thượng thận là thường gặp trong bệnh nhân RLTC Trong đó,

sự tăng tiết CRH (Corticoliberin) của vùng dưới đồi kích thích tăng tiếtACTH (Adeno Corticotropin) của tuyến yên và ACTH kích thích vỏthượng thận tiết Glucocorticoid và Cortisol Tăng Glucocorticoid làm

ức chế sự vận chuyển glucose vào tế bào cấu trúc thần kinh dẫn tới làmgiảm năng lượng trong tế bào gây rối loạn chức năng cấu trúc thầnkinh, ảnh hưởng đến cơ chế điều chỉnh cảm xúc và nhận thức Mặtkhác tăng corticoid trong máu làm giảm serotonin, do ức chế thụ thểserotonin nhóm 5- HT1A ở vùng hồi hải mã gây ra trầm cảm theo môhình của Serotonin [10],[11]

1.1.4 Triệu chứng lâm sàng của trầm cảm

Theo Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức Y

tế Thế giới, trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc biểu hiện bằng 3 triệu

Trang 7

chứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến Các triệu chứng này phải kéo dàitrong thời gian ít nhất 2 tuần [5].

*Ba triệu chứng đặc trưngcủa trầm cảm:

- Khí sắc trầm

- Mất mọi quan tâm thích thú trong các hoạt động

- Giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi

*Bảy triệu chứng phổ biến của trầm cảm:

- Giảm sút sự tập trung và chú ý

- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin

- Những ý tưởng bị tội, không xứng đáng

- Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm, bi quan

- Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát

- Rối loạn giấc ngủ bất cứ lúc nào

- Thay đổi cảm giác ngon miệng (tăng hoặc giảm) với sự thay đổi trọng lượng

cơ thể tương ứng

*Các triệu chứng cơ thể (sinh học) của trầm cảm

- Mất quan tâm ham thích những hoạt động thường ngày

- Thiếu các phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh

- Giảm cảm giác ngon miệng

- Sút cân (thường ≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước)

- Giảm hoặc mất hưng phấn tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ

*Các triệu chứng loạn thần

Trang 8

Trầm cảm nặng thường có hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ Cáctriệu chứng loạn thần có thể phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị tội, nghibệnh, cảm thấy mình không còn giá trị gì hoặc có thảm họa đang ập đến,các ảo thanh phỉ báng hoặc kết tội bệnh nhân) hoặc không phù hợp với khísắc (hoang tưởng bị truy hại hoặc liên hệ và các ảo giác không có nội dungcảm xúc).

1.1.5 Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10 [5]

* Giai đoạn trầm cảm (F32)

- Giai đoạn trầm cảm phải kéo dài ít nhất 2 tuần

- Không có đủ các triệu chứng hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm để đáp ứngcác tiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30.-)

ở bất kỳ thời điểm nào trong đời người

- Giai đoạn này không thể gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần(F10-F19) hoặc bất cứ rối loạn tâm thần thực tổn nào (F00-F09)

- Chữ số thứ năm có thể sử dụng để biệt định sự hiện diện hay vắng mặtcủa các hội chứng cơ thể Để đánh giá hội chứng cơ thể thì ít nhất 4trong số 8 triệu chứng cơ thể phải có mặt

*Các thể lâm sàng của giai đoạn trầm cảm:

- Giai đoạn trầm cảm nhẹ: có ít nhất 2 triệu chứng điển hình, ít nhất 2 triệuchứng phổ biến, không có triệu chứng nào trong số đó ở mức độ nặng, thờigian tối thiểu của mỗi giai đoạn ít nhất 2 tuần, hoạt động thường ngày và hoạtđộng xã hội giảm nhưng không bị ngừng

- Giai đoạn trầm cảm vừa: có ít nhất 2 triệu chứng điển hình, cộng thêm ít nhất

3 triệu chứng phổ biến, nhiều triệu chứng có thể biểu hiện rõ rệt, thời gian tốithiểu của mỗi giai đoạn ít nhất 2 tuần, khó khăn để tiếp tục các hoạt độngthường ngày và hoạt động xã hội

Trang 9

- Giai đoạn trầm cảm nặng: có đủ 3 triệu chứng điển hình, cộng thêm ít nhất 4triệu chứng phổ biến và một số phải đặc biệt nặng, thời gian tối thiểu của mỗigiai đoạn ít nhất 2 tuần, có thể có triệu chứng loạn thần, ít khả năng tiếp tụccác hoạt động thường ngày và hoạt động xã hội.

∗ Rối loạn trầm cảm tái diễn (F33):

- Đã có ít nhất một giai đoạn trước đó bị trầm cảm nhẹ (F32.0), vừa(F32.1), nặng (F32.2 hoặc F32.3), kéo dài ít nhất 2 tuần và cách biệt với giaiđoạn hiện tại ít nhất 2 tháng không có bất cứ triệu chứng khí sắc đáng kể nào

- Không có một giai đoạn nào trong quá khứ đáp ứng các tiêu chuẩn đốivới giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm (F30.-)

- Những chẩn đoán loại trừ hay gặp nhất: Giai đoạn này không thể gắnvới việc sử dụng chất tác động tâm thần (F10- F19), hoặc với bất kỳ rối loạntâm thần thực tổn nào trong nhóm (F00- F09)

∗ Các thể lâm sàng của rối loạn trầm cảm tái diễn:

- Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn nhẹ: các tiêu chuẩn đốivới rối loạn trầm cảm tái diễn được đáp ứng và giai đoạn hiện nay phải đủtiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0)

- Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn vừa: phải đủ tiêu chuẩncho rối loạn trầm cảm tái diễn (F33.-) và giai đoạn hiện nay có đủ tiêu chuẩncho trầm cảm mức độ vừa

- Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng: phải có đủ tiêuchuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn, và giai đoạn hiện tại phải có đủtiêu chuẩn cho một giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần hoặc không cóloạn thần

∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa(F31.3)

Trang 10

- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầmcảm mức độ nhẹ (F32.1) hoặc vừa (F32.1)

- Đã có ít nhất một giai đoạn rối loạn cảm xúc khác trong quá khứ đáp ứng cáctiêu chuẩn đối với giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ (F30.-) hoặc giaiđoạn cảm xúc hỗn hợp (F38.00)

∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nặng không cóloạn thần (F31.4)

- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạn trầmcảm nặng không có loạn thần (F32.2)

- Đã có ít nhất một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ rõ (F30.), giai đoạntrầm cảm (F32.-) hoặc giai đoạn cảm xúc hỗn hợp trong quá khứ (F38.00)

∗ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện, tại giai đoạn trầm cảm nặng có loạnthần (F31.5)

- Giai đoạn trầm cảm hiện tại đáp ứng tiêu chuẩn đối với một giai đoạntrầm cảm nặng có loạn thần (F32.3)

- Đã có ít nhất một giai đoạn hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ rõ (F30.), giai đoạntrầm cảm (F32.-) hoặc giai đoạn cảm xúc hỗn hợp trong quá khứ (F38.00)

1.1.6 Điều trị trầm cảm

Nguyên tắc điều trị: [12]

Điều trị trầm cảm bao gồm hóa trị liệu và tâm lý trị liệu và bao gồm một

số nguyên tắc như sau: (1) Phải phát hiện được sớm, chính xác trạng tháitrầm cảm kể cả trầm cảm nhẹ, trầm cảm biểu hiện bằng các triệu chứng cơthể của nhiều bệnh chuyên khoa khác (2) Phải xác định được mức độ trầmcảm đang có ở người bệnh (3) Phải xác định rõ nguyên nhân là trầm cảm nộisinh, trầm cảm phản ứng hay trầm cảm thực tổn (4) Phải chỉ định kịp thời cácthuốc chống trầm cảm, biết chọn lựa đúng tác dụng của thuốc, loại thuốc, liềulượng, cách dùng (5) Phải nhận rõ trầm cảm có kèm theo những rối loạn loạn

Trang 11

thần khác hay không (6) Phải biết chỉ định kết hợp các thuốc an thần kinh khicần thiết (7) Sốc điện vẫn cần được sử dụng trong các trường hợp trầm cảmnặng, có ý tưởng hành vi tự sát dai dẳng hoặc kháng thuốc (8) Đi đôi vớiđiều trị bằng thuốc còn phải sử dụng các liệu pháp tâm lý (9) Khi điều trịtrầm cảm có kết quả, cần được duy trì trong thời gian tối thiểu là 6 tháng, cókhi hàng năm để phòng ngừa tái phát.

Đáp ứng điều trị rối loạn trầm cảm phụ thuộc vào: [13]

- Xác định và được điều trị sớm

- Sự hợp tác của bệnh nhân

- Độ dài thời gian giữa các cơn

- Tuổi của bệnh nhân

- Lựa chọn và sử dụng liều lượng thuốc chống trầm cảm Theo hướng dẫn củaNICE (the Nationnal Institute for Clinical Excellence), Thuốc chống trầmcảm không nên sử dụng trong lần đầu tiên ở những rối loạn trầm cảm nhẹ, bởi

vì tỉ lệ hưởng lợi kém, chỉ được sử dụng ở bệnh nhân trầm cảm mức độ trungbình và nặng nên sử dụng nhóm SSRI [14]

- Liệu pháp tâm lý phối hợp

Các phương pháp điều trị trầm cảm:

Liệu pháp hóa dược:

Các thuốc chống trầm cảm làm tăng số lượng và hoạt tính các chất dẫntruyền thần kinh (Serotonin, Noradrenalin…) đang bị thiếu hụt để điều trịtrầm cảm Thời gian để thuốc chống trầm cảm có tác dụng là 7-10 ngày saukhi đạt liều điều trị Trầm cảm có thể không đáp ứng với thuốc này nhưng vẫn

có thể đáp ứng với thuốc chống trầm cảm khác [15]

Thuốc chống trầm cảm 3 vòng [13]

- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng ức chế monoamine ở tiền sinap thầnkinh, tăng nồng độ chất dẫn truyền thần kinh ở khe sinap Điều trị kéo

Trang 12

dài bằng thuốc chống trầm cảm 3vòng gây giảm số lượng thụ thể noradrenergic và giảm các chất dẫn truyền thần kinh tại thụ cảm thể 5-HT2, kết quả là tăng chất dẫn truyền thần kinh serotoninergic.

ß Thuốc chống trầm cảm 3 vòng có sự tác động giống nhau trên tất cảcác thụ cảm thể serotoninergic, noradrenergic, dopaminergic,muscarinic, histaminergic Điều này giải thích vì sao thuốc có tác dụngchống trầm cảm và nhiều tác dụng phụ

- Một số loại thuốc chính như: Melipramin, Amitriptylin, Fluoxetine

Thuốc chống trầm cảm ức chế men monoaminoxydaza (IMAO)

- Cơ chế tác dụng là ức chế quá trình dị hóa bởi MAO của các amin bịtái hấp thu trở lại neuron trước synap, làm tăng lượng amin não(noradrenalin, serotonin, dopamine) giải phóng trở lại khe synap, dẫnđến tăng dẫn truyền thần kinh, tăng khí sắc…[15]

- Thuốc chống trầm cảm IMAO hiện nay được sử dụng ít hơn nguyênnhân chính là do tác dụng phụ, tạo ra cơn cao huyết áp liên quan tớihấp thụ tyramin trong thức ăn [13]

- Một số loại thuốc chính: Izocarboxazid, fenelzin, tranylcypromin…

Thuốc chống trầm cảm đa vòng [13]

- Thuốc này được các tác giả gọi là thuốc chống trầm cảm chung thứ 2

- Thuốc được đánh giá là có hiệu quả chống trầm cảm ngang với thuốc chốngtrầm cảm đa vòng hoặc IMAO

- Do có thuận lợi là có ít tác dụng kháng cholinergic và không có tác dụng độccho cơ tim nên những thuốc chống trầm cảm này được lựa chọn cho ngườicao tuổi, có bệnh tim và tăng huyết áp

- Các thuốc chống trầm cảm đa vòng thường dùng: Maprotyline, mianserin

Thuốc chống trầm cảm ức chế tái hấp thu chọn lọc Serotonin (SSRI)

Trang 13

- Các thuốc SSRI ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin từ khe synap[15]

- Ưu điểm: Hiệu quả chống trầm cảm ngang với thuốc chống trầm cảm 3 vòng,không có tác dụng phụ như thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc IMAO Thuốc

an toàn hơn trong trường hợp quá liều và dung nạp tốt hơn [13]

- Các thuốc ức chế chọn lọc trên thụ cảm thể serotonin phổ biên nhất là:Fluoxetin, fluvoxamin, paroxetin, sertralin…

+ Chống chỉ định: Không kết hợp với IMAO

+ Tác dụng không mong muốn: Ít tác dụng phụ, có thể gặp tăng cân,tăng cảm giác ngon miệng, chóng mặt, nhức đầu, buồn ngủ

+ Chống chỉ định: Không kết hợp với các IMAO [15]

+ Tác dụng không mong muốn: rất ít tác dụng phụ do không ảnhhưởng tới bất kỳ hệ thống dẫn truyền nào [15]

Trang 14

+ Chống chỉ định: Không dùng ở trẻ em dưới 15 tuổi, không kết hợpvới IMAO [16]

+ Tác dụng không mong muốn: Ít tác dụng phụ, có thể gặp nhức đầu,bồn chồn bất an, ít ngủ [15]

Liệu pháp nhận thức [15]

- Liệu pháp nhận thức là trị liệu được thiết kế để điều trị trong thời gian ngắn,

có sự phối hợp tích cực giữa bệnh nhân và người điều trị để nhằm đạt đượcmục đích điều trị Bệnh nhân được định hướng đến các vấn đề hiện tại và cácbiện pháp giải quyết của họ

- Đây là trị liệu thường dưới 25 tuần Liệu pháp nhận thức (LPNT) bao gồm 3công đoạn sau: trang bị kiến thức cho bệnh nhân; áp dụng các kỹ thuật điềutrị nhận thức; các kỹ thuật điều trị hành vi

- LPNT còn được sử dụng trong điều trị các rối loạn tâm thần khác: rối loạn dạng

cơ thể, rối loạn lo âu, rối loạn chức năng tình dục, nghiện chất…Tuy nhiên điềutrị trầm cảm vẫn được coi là “mẫu” trong sử dụng trị liệu nhận thức LPNT cóthể sử dụng một mình để điều trị trầm cảm vừa và nhẹ hoặc điều trị phối hợp vớicác thuốc chống trầm cảm trong trầm cảm nặng

Liệu pháp Shock điện

- Mỗi đợt điều trị: 6-12 lần sốc mỗi tuần 3 lần sốc hoặc mỗi ngày một lần sốc.Chỉ định cho các bệnh nhân có ý tưởng và hành vi tự sát, trầm cảm sững sờ,các trạng thái trầm cảm đã kháng điều trị, các trường hợp trầm cảm có chốngchỉ định các liệu pháp hóa học (dị ứng thuốc, bệnh về máu) [17]

1.2 Hiểu biết, thái độ đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm.

Hiện nay theo TCYTTG trên thế giới có ít hơn 25% số người mắcphải trầm cảm được tiếp cận với các liệu pháp điều trị [18] Gần đây,TCYTTG vừa nghiên cứu về “những thiếu xót trong điều trị” của công tácchăm sóc sức khỏe tâm thần và tìm ra rằng trên thế giới, tỷ lệ trung bình số

Trang 15

người mắc bệnh trầm cảm không được trị liệu là xấp xỉ 50% [19] Tại ViệtNam nhiều nghiên cứu chỉra rằng 70 – 80% số bệnh nhân trầm cảm (nhất làtrầm cảm với nhiều triệu chứng cơ thể) thường là đến với các bác sỹ timmạch, tiêu hóa… trước khi đến được với chuyên khoa tâm thần.Theonghiên cứu của Nguyễn Thanh Cao (2012) cho biết tỷ lệ đi khám ở bệnhviện chuyên khoa tâm thần rất thấp (3,1%), phần lớn người dân đến khám ởTrạm Y tế (82,9%) [20] Theo tác giả Phạm Văn Quý (2008), số bệnh nhân

có rối loạn trầm cảm đi khám và điều trị ở các cơ sở y tế chỉ có 34,1%, và

tỷ lệ đi khám chuyên khoa tâm thần là 5,18% [21]

Bên cạnh đó còn có nhiều người cho rằng trầm cảm không phải là bệnhthực sự mà chỉ là sự buồn phiền, do vấn đề tuổi tác ( đặc biệt đối với phụ nữ)hay là do các thể lực thần bí gây nên, vì vậy họ thường tìm kiếm các biệnpháp điều trị bằng tâm linh hay y học cổtruyền hoặc thậm chí bỏ qua…làmtình trạng trầm cảm nặng lên và nguy hiểm Và sau khi áp dụng tất cả cácbiện pháp đó mà không có hiệu quả thì họ mới tìm đến chuyên khoa tâm thần.Bên cạnh đó cũng không ít người cho rằng trầm cảm là một bệnh phải dùngthuốc cả đời, bệnh không chữa khỏi được, hay là dùng thuốc trầm cảm lànhững thuốc rất có hại cho cơ thể và không nên sử dụng những thuốc đó [15]

Các tác giả Hickie I.B, Travey A Davenport và cộng sự (2006) đãnghiên cứu trên bốn nhóm sinh viên thuộc đại học Sydney bao gồm: 103 sinhviên năm thứ hai, 82 sinh viên năm thứ tư thuộc đại học Y Sydney, 184 sinhviên Trung Quốc và 38 sinh viên đại học tổng hợp về hiểu biết và thái độ củacác nhóm sinh viên này đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm Kết quả chothấy hầu hết sinh viên đều hiểu được triệu chứng của trầm cảm, và đa số họcho rằng bệnh nhân nên đến gặp bác sĩ đa khoa (bác sĩ gia đình), một số ít vẫncòn tìm đến sự trợ giúp từ các phương pháp cổ truyền như thầy mo, thầy cúng(sinh viên Trung Quốc) [22]

Trang 16

Tại Việt Nam, Nguyễn Kim Việt và cộng sự (2010) đã nghiên cứu trên

493 người trên 18 tuổi là sinh viên của trường Đại học Y Hà Nội, trường Đạihọc khoa học xã hội và nhân văn, nhân viên ngành Tâm thần, người nhà bệnhnhân Tâm thần tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Tâm thần trung ương 1,bệnh viện Tâm thần Hà Nội về hiểu biết và thái độ đối với trầm cảm và điềutrị trầm cảm Kết quả cho thấy: Vấn đề sức khỏe tâm thần đã được nhận thức

và có vị trí quan trọng trong sức khỏe chung ở Việt Nam: Rối loạn tâm thầnđứng hàng thứ 4 (nhân viên y tế), hàng thứ 5 (sinh viên, người nhà bệnhnhân) trong các nguyên nhân gây tử vong Tuy nhiên hiểu biết về trầm cảmcòn chưa đầy đủ, các biểu hiện cơ thể của trầm cảm (mất ngủ, mệt mỏi ) mớichỉ được nhận biết ở quá ½ nhân viên y tế và sinh viên Y5; nhận biết rất ít ởcác quần thể khác…dẫn đến bệnh nhân còn đến nhiều chuyên khoa kháctrước khi đến với chuyên khoa tâm thần.Việc tìm kiếm sự giúp đỡ, điều trị có

sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm đối tượng: đến với các bác sĩ đa khoa 73,7%), bác sĩ chuyên khoa tâm thần (65,7-93,7%), nhà tâm lý học (56,8-89,9%), nhà tư vấn (46,8-86,3%) ở các đối tượng nghiên cứu Đặc biệt vai tròcủa cán sự xã hội đã được các nhóm tìm đến từ 18,3 đến 51,6% Cần thiết sự

(52,8-hỗ trợ từ gia đình (70-92,9%), bạn bè (53,4-97%) Tuy nhiên còn tỉ lệ đáng kể(5,4-10,7%) tìm kiếm sự trợ giúp bởi các phương pháp thần bí, mê tín [23]

Trang 17

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Người nhà của bệnh nhân trầm cảm được chẩn đoán theo tiêu chuẩnICD-10 theo các mã: F32, F33, F31.3, F31.4, F31.5

- Chấp nhận tham gia vào nghiên cứu

- Người có khả năng đọc viết

- Người trên 18 tuổi

Tiêu chuẩn loại trừ

- Người không chấp nhận tham gia vào nghiên cứu

- Người không có khả năng đọc viết

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đánh giá hiểu biết, thái độ về trầm cảm tạithời điểm nghiên cứu

) 1 (

p p

Trong đó:

n : là cỡ mẫu nghiên cứu

p : là tỷ lệ trầm cảm theo nghiên cứu của Trần Văn Cường và CS(2002) [24] p = 0.028

α : ước tính trong nghiên cứu = 0,05 ứng với độ tin cậy là 95%

Z2

1-α/2 : là hệ số tin cậy = 1,96 (với α = 0,05)

∆ : khoảng sai lệch mong muốn = 0.05

do vậy n tối thiểu = 42

Trang 18

2.2.3 Các bước tiến hành

- Chọn ngẫu nhiên người nhà đang chăm sóc bệnh nhân bị trầm cảm

- Tiến hành phỏng vấn người nhà chăm sóc bệnh nhân bằng bộ câu hỏi

“Điều tra quốc tế về sức khỏe”

2.2.4 Công cụ đánh giá

Bộ câu hỏi: “Điều tra quốc tế về sức khỏe” gồm 39 câu hỏi chia thành

7 phần:

• Phần A: Nhân khẩu học bao gồm 9 câu hỏi: giới, tuổi, nơi sinh sống…

• Phần B: Những vấn đề về sức khỏe chính bao gồm 7 câu hỏi về nhữnghiểu biết về nguyên nhân chính của tử vong và loạn hoạt nặng ở ViệtNam, các bệnh tâm thần gây tử vong, các hiểu biết về biểu hiện củamột người bị trầm cảm,…

• Phần C: Sự trợ giúp và điều trị bao gồm 11 câu hỏi về hiểu biết và suynghĩ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp khi có trầm cảm

• Phần D: Bao gồm 2 câu hỏi về sự tìm kiếm thông tin về trầm cảm

• Phần E: Bao gồm 3 câu hỏi về sự tìm kiếm sự trợ giúp khi có trầm cảm

• Phần F: Bao gồm 2 câu hỏi về thái độ của mọi người về trầm cảm

• Phần G: Bao gồm 5 câu hỏi về trạng thái sức khỏe tâm thần và tìnhtrạng công việc trong thời gian vừa qua

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Sức khỏe Tâm thần

2.3.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2016

Trang 19

2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

- Các bệnh được coi là nguyên nhân chính gây

tử vong hoặc loạn hoạt năng là các bệnh cụthể: ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, đột quỵ,đái tháo đường, trầm cảm, lạm dụng rượu…

- Các bệnh tâm thần gây tử vong hoặc loạn hoạtnặng: là các bệnh tâm thần cụ thể như: tâmthần phân liệt, trầm cảm, nghiện rượu, sa súttrí tuệ…

tự sát…

- Thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nhàchuyên môn khi có trầm cảm: bác sĩ đa khoa,nhà tâm thần, cán sự xã hội…

- Thái độ tìm kiếm sự giúp đỡ không chuyênmôn khi có trầm cảm: chuyên gia châm cứu, ,gia đình, bạn bè, tập quán cổ…

- Nhận thức về sự hữu ích của mỗi biện phápđiều trị trầm cảm

- Sự phân biệt đối xử đối với người bị trầm cảm

từ những người và cơ quan khác nhau

- Ý kiến của người nhà về những phát biểu vềngười bị trầm cảm nặng

2.5 Xử lý số liệu

- Thu thập thông tin theo bộ câu hỏi có sẵn

Trang 20

- Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê mô tả và chương trìnhSPSS 16.0

Trang 21

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu.

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trên 60 người nhà bệnh nhân đượcchẩn đoán trầm cảm tại viện Sức khỏe Tâm thần –Bệnh viện Bạch Mai Kếtquả như sau:

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Thời gian bị bệnh của

Trang 22

Nhận xét:

- Đặc điểm về thời gian bị bệnh của bệnh nhân: 46,7% bệnh nhân đượcchẩn đoán trầm cảm lần đầu tiên, 53,3% bệnh nhân được chẩn đoántrầm cảm nhiều lần

- Đặc điểm về tuổi:

+ Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu là 19-75 tuổi

+ Tuổi trung bình: 44,9±14,4 tuổi

- Đặc điểm về giới tính:

+ Có 48,3% đối tượng tham gia nghiên cứu là nam giới

+ 51,7% đối tượng tham gia nghiên cứu là nữ giới

+ Tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 1:1

- Đặc điểm về nơi sống:Bệnh nhân cư trú ở khu vực nông thôn chiếm tỷ

lệ cao hơn (65%) so với bệnh nhân cư trú ở thành thị (35%)

Trang 23

3.2 Hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm

3.2.1 Nhận thức về nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta.

Bảng 3.2: Nhận thức về các nhóm bệnh (chuyên khoa) được coi là nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta

Nhóm nguyên nhân

Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam

(n=29 )

Nữ (n=31 )

NT (n=39 )

TT (n=21 )

TC lần đầu (n=28)

TC nhiều lần (n=32)

mang thai hoặc sinh đẻ

Trang 24

- Theo người nhà bệnh nhân, đứng hàng đầu trong các nhóm bệnh đượccoi là nguyên nhân chính gây tử vong hoặc rối loạn khả năng hoạt động

ở nước ta là ung thư, thứ hai là bệnh tim và đột quị, thứ ba là chấnthương do tai nạn, thứ tư là bệnh nhiễm trùng

- Nhận thức về nguyên nhân gây tử vong do rối loạn tâm thần ở nam giới

và ở nông thôn xếp hàng thứ 5 Trong khi đó ở nữ giới xếp hàng thứ 6

và người nhà ở thành thị xếp hàng thứ 7 trong các nguyên nhân gây tửvong

Bảng 3.3: Nhận thức về các bệnh (trong các chuyên khoa) được coi là nguyên nhân chính của tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam.

Nguyên nhân

Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam

(n=29 )

Nữ (n=31 )

NT (n=39 )

TT (n=21 )

TC lần đầu (n=28)

TC nhiều lần (n=32)

Nhiễm HIV hoặc AIDS

Trang 25

viêm phế quản mạn (%)

Nhồi máu cơ tim hoặc

bệnh tim khác (%) 75,9 58,1 61,5 72,2 78,6 59,4Nhận xét:

Người nhà bệnh nhân ở các nhóm đối tượng đều cho rằng những nguyênnhân chính gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở nước ta là ung thư phổi (81,0-87,5%), tai nạn giao thông đường bộ (75,9- 80,6%), nhồi máu cơ tim hoặc cácbệnh tim khác (58,1-75,9%), nhiễm HIV hoặc AIDS (58,6-64,3%), đột quỵ(37,9-71,4%)

Đột quỵ được nhận biết ở nam giới cao hơn nữ giới, thành thị cao hơnnông thôn (nam: 71%, nữ: 37,9%, TT: 61,9%, NT: 51,3%), ở nhóm người nhàbệnh nhân trầm cảm lần đầu nhiều hơn trầm cảm nhiều lần (lần đầu: 71,4%,nhiều lần: 43,8%)

Các rối loạn tâm thần: Bao gồm 5 trong số 15 bệnh gây tử vong hoặc loạnchức năng hoạt động hàng ngày.Trầm cảm được xếp ở hàng thứ ba với tỷ lệ(3,6-18,8%) trong khi đó đứng đầu là lạm dụng hoặc nghiện rượu (32,3-48,3%), tự sát hoặc tự hủy hoại (28,6-35,9%).Tâm thần phân liệt (3,6-12,5%),

sa sút trí tuệ (0-6,9%) được xếp ở tỷ lệ thấp hơn

Trang 26

Bảng 3.4: Nhận thức về những bệnh lý tâm thần đặc biệt được coi là nguyên nhân gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam:

Bệnh tâm thần

Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam

(n=28 )

Nữ (n=30 )

NT (n=38 )

TT (n=20 )

TC lần đầu (n=28)

TC nhiều lần (n=32)

Tâm thần phân liệt hoặc

Lo âu, rối loạn tâm căn

hoặc rối loạn hoảng sợ

Nhìn vào bảng ta có thể thấy người nhà bệnh nhân cho rằng nhữngnguyên nhân hàng đầu gây tử vong hoặc loạn hoạt động chức năng hàng ngàytrong các bệnh lý tâm thần là lạm dụng hoặc nghiện ma túy (63,3-73,3%), lạmdụng hoặc nghiện rượu (25- 60,5%) Chiếm tỷ lệ thấp hơn là sa sút trí tuệ, bệnhAlzheimer hoặc tổn thương não khác (25-50%), tâm thần phân liệt (26,7-46,4%)

Trang 27

trầm cảm (16,7-45%)… Thấp nhất là các rối loạn nhân cách (0-10%), chậm pháttriển tâm thần hoặc rối loạn trí tuệ (0-7,9%).

Trầm cảm được nhận biết ở nữ giới cao hơn nam giới, ở thành thị caohơn nông thôn, ở người nhà của bệnh nhân trầm cảm lần đầu nhiều hơn trầmcảm nhiều lần (nam: 17,9%, nữ: 36,7%, NT: 18,4%, TT: 50%, lần đầu:35,7%, nhiều lần: 16,7% )

Trang 28

3.2.2 Hiểu biết của người nhà bệnh nhân trầm cảm về trầm cảm.

Bảng 3.5: Những hiểu biết về biểu hiện điển hình của

một người bị trầm cảm

Biểu hiện

Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh

Nam (n=29 )

Nữ (n=31 )

NT (n=39 )

TT (n=21 )

TC lần đầu (n=28 )

TC nhiều lần (n=32)

Trở nên buồn trầm

hoặc khổ sở (%) 72,4 51,6 61,5 61,9 67,9 59,4Khó chịu ở dạ dày

Đau đầu và đau cơ

Nghĩ rằng “cuộc sống

không có giá trị” (%) 17,2 12,9 10,3 23,8 14,3 15,6Mất tự tin (%) 24,1 25,8 15,4 42,9 21,4 21,9Luôn cảm thấy mệt

Trang 29

tôi” (%)

Nhận xét:

Người nhà bệnh nhân đều cho rằng biểu hiện điển hình của trầm cảmđứng hàng đầu là rối loạn giấc ngủ (66,7- 82,1%) và trở nên buồn trầm hoặckhổ sở (51,6- 72,4%), sau đó là các triệu chứng luôn cảm thấy mệt mỏi (33,3-50%), bồn chồn hoặc cáu kỉnh (23,8-57,1%), cảm thấy thất vọng (24,1-48,4%), mất tự tin (15,4- 42,9%)

Các biểu hiện thường gặp với tỷ lệ thấp hơn đó là đau đầu và đau cơ(14,3-30,8%), cảm thấy ốm yếu và suy sụp (19,4-27,6%), trở nên bất hạnhhoặc buồn chán (12,8-38,1%), sút cân (13,8-25,8%)

Được biết đến ít nhất là khó chịu ở dạ dày, nghĩ rằng “tôi đã thất bại”,cảm thấy có tội, nghĩ rằng “ không có gì tốt lành đến với tôi”

Trang 30

Bảng 3.6: Nhận thức về những trải nghiệm mà người trầm cảm thường có:

Các trải nghiệm

Giới tính Nơi sống Thời gian bị bệnh Nam

(n=2 9)

Nữ (n=3 0)

NT (n=3 8)

TT (n=2 1)

TC lần đầu (n=28)

TC nhiều lần (n=32)

Mất khả năng tập trung

hoặc khó suy nghĩ (%) 65,5 70,0 65,8 71,4 67,9 67,7Không hoàn thành công

Có rắc rối trong gia

đình hoặc mối quan hệ

khác (%)

31,0 40,0 39,5 28,6 42,9 32,3

Lệ thuộc vào rượu, ma

túy hoặc các chất gây

êm dịu khác (%)

Giảm tự chăm sóc cá

nhân (ví dụ: thay đổi

thói quen vệ sinh cá

mới về sức khỏe cơ thể

(%)

31,0 10,0 23,7 14,3 25,0 16,1

Thu hẹp quan hệ với

bạn bè hoặc người thân

(%)

55,2 56,7 47,4 71,4 50,0 67,7

Nhận xét:

Trang 31

Người nhà cho rằng những trải nghiệm mà người trầm cảm thường

có là mất khả năng tập trung hoặc khó suy nghĩ (65,5-71,4%), thu hẹp quan

hệ với bạn hoặc người thân (47,4- 71,4%), không muốn ra khỏi nhà nữa(47,4- 53,6%)

Nữ giới, người nhà BN trầm cảm nhiều lần có nhận thức về ý tưởnghành vi tự sát cao hơn nam giới và người nhà BN trầm cảm lần đầu (nữ:53,3% nam: 31%, lần đầu:32,1%, nhiều lần: 51,6%)

Nam giới có nhận thức về lệ thuộc và rượu, ma túy hoặc các chất gây

êm dịu khác cao hơn nữ giới (nam: 20,7%, nữ: 10,0%)

Các biểu hiện xuất hiện với tỷ lệ thấp hơn là: có rắc rối trong gia đìnhhoặc mối quan hệ khác (28,6- 42,9%), giảm chăm sóc cá nhân (28,9-47,6%),xuất hiện các vấn đề mới về sức khỏe cơ thể(10-31,0%), thôi làm những việc

họ từng thích (19-28,6%)

Bảng 3.7: Sự đánh giá về tỷ lệ người bị trầm cảm ở một vài thời điểm

trong cuộc đời

- Đa số các đối tượng ở nhóm nghiên cứu đều cho rằng họ không biết tỷ

lệ trầm cảm ở một vài thời điểm trong cuộc đời là bao nhiêu (36,7%)

- Còn lại 26,7% người nhà cho rằng tỷ lệ trầm cảm là 1 trong 50 ngườisau đó lần lượt là 1 trong 20 người (16,7%), 1 trong 10 người (11,7%),cuối cùng là 1 trong 5 người (8,3%)

Trang 32

3.3.Thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm.

Bảng 3.8: Tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nhà chuyên môn nếu

Nữ (n=3 0)

NT (n=3 8)

TT (n=2 1)

TC lần đầu (n=28)

TC nhiều lần (n=32)

Nhà tư vấn (%) 86,2 73,3 78,9 81,0 85,2 75,0Bác sĩ đa khoa hoặc

bác sĩ gia đình (%) 69,0 80,0 73,7 76,2 81,5 68,8

Bác sĩ tâm thần (%) 100 96,7 97,4 100 100 90,6

Nhà tâm lý học (%) 82,8 56,7 68,4 71,4 74,1 65,6Cán sự xã hội (%) 31,0 36,7 34,2 33,3 44,4 31,2Nhân viên phúc lợi

Sự cần thiết của cán sự xã hội (31- 44,4%) và nhân viên phúc lợi xã hội(31- 40,7%) xuất hiện với tỷ lệ thấp hơn

Đặc biệt không có ai trong những trường hợp được phỏng vấn khôngcần/không muốn tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn khi họ bị trầm cảm

Bảng 3.9: Tìm kiếm sự hỗ trợ không chuyên môn nếu họ nghĩ họ

có thể bị trầm cảm

Ngày đăng: 01/07/2016, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Đại học Y khoa Thái Nguyên (2008). Giáo trình tâm thần học, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm thần học
Tác giả: Đại học Y khoa Thái Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
13. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân (2005). Bệnh học tâm thần, NXB QĐND, 215-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học tâm thần
Tác giả: Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân
Nhà XB: NXBQĐND
Năm: 2005
14. NICE Guidelines to Improve The Treatment and Care of People with Depression (2004). National Institute for Clinical Excellence, www.nice.org.uk Sách, tạp chí
Tiêu đề: National Institute for Clinical Excellence
Tác giả: NICE Guidelines to Improve The Treatment and Care of People with Depression
Năm: 2004
15. Nguyễn Viết Thiêm, Lã Thị Bưởi (2001). Rối loạn cảm xúc, Bệnh học Tâm thần Phần Nội sinh, Tập bài giảng Sau Đại học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh họcTâm thần Phần Nội sinh, Tập bài giảng Sau Đại học
Tác giả: Nguyễn Viết Thiêm, Lã Thị Bưởi
Năm: 2001
16. Trần Đình Xiêm (2004). Sử dụng thuốc trong tâm thần học, Trường đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, 25-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng thuốc trong tâm thần học
Tác giả: Trần Đình Xiêm
Năm: 2004
17. Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Đăng Dung (2004). Rối loạn trầm cảm, Bách khoa thư bệnh học, tập 1, 214-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa thư bệnh học
Tác giả: Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2004
18. World Federation for Mental Health (2012). Depression: A global crisis.World Mental Health Day, October 10 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression: A global crisis
Tác giả: World Federation for Mental Health
Năm: 2012
19. Kohn R, Saxena S, et al (2004). The treatment gap in mental healthcare.World Health Organ 2004 Nov, 82(11). Epub 2004 Dec 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The treatment gap in mental healthcare
Tác giả: Kohn R, Saxena S, et al
Năm: 2004
20. Nguyễn Thanh Cao (2012). Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu thị xã Bắc Cạn và đề xuất một số giải pháp, Luận án CKII, Đại học Y Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố nguy cơđến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu thị xã Bắc Cạnvà đề xuất một số giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thanh Cao
Năm: 2012
21. Phạm Văn Quý (2008). Đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảm trong cộng đồng, Luận văn CKII khóa 18, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả can thiệp rối loạn trầm cảmtrong cộng đồng
Tác giả: Phạm Văn Quý
Năm: 2008
23. Nguyễn Kim Việt và cộng sự (2010). Đánh giá hiểu biết, thái độ đối với trầm cảm và điều trị trầm cảm ở một số quần thể người Việt Nam. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiểu biết, thái độ đối vớitrầm cảm và điều trị trầm cảm ở một số quần thể người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Việt và cộng sự
Năm: 2010
24. Trần Văn Cường và cộng sự (2002). Điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp tại cộng đồng từ năm 2000 – 2002, Phòng chỉ đạo tuyến – Bệnh viện Tâm thần Trung Ương 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâmthần thường gặp tại cộng đồng từ năm 2000 – 2002
Tác giả: Trần Văn Cường và cộng sự
Năm: 2002
25. Nguyễn Thị Trang Nhung và cộng sự (2011). Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng bệnh tật vàchấn thương ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Trang Nhung và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
26. World Health Organization (2014), 10 facts on mental health. http://www.who.int/features/factfiles/mental_health/mental_health_facts/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 facts on mental health
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2014
27. Bộ Y Tế (2012). Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2012
28. Trần Hữu Bình (2005). Nghiên cứu rối loạn trầm cảm tại một phường dân cư thành phố Hà nội, Chuyên đề tâm thần học, NXB Y học,8,130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề tâm thần học
Tác giả: Trần Hữu Bình
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
29. Tôn Thất Hưng (2007). Nghiên cứu tình hình và yếu tố gia đình liên quan đến các rối loạn tâm thần thường gặp tại xã Lộc Tiến-Phú Lộc. Đề tài cấp ngành năm 2007 đã được HĐKHKT Sở Y tế Thừa Thiên- Huế nghiệm thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình và yếu tố gia đình liênquan đến các rối loạn tâm thần thường gặp tại xã Lộc Tiến-Phú Lộc
Tác giả: Tôn Thất Hưng
Năm: 2007
30. Nguyễn Văn Siêm (2010). Nghiên cứu dịch tễ lâm sàng rối loạn trầm cảm tại một xã đồng bằng sông Hồng, Tạp chí Y học thực hành, 5/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Văn Siêm
Năm: 2010
31. Nicola J. Reavley and Anthony F. Jorm (2012). Public recognition of mental disorders and beliefs about treatment: changes in Australia over 16 years, The British Journal of Psychiatry (2012), 200, 419–425 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The British Journal of Psychiatry (2012)
Tác giả: Nicola J. Reavley and Anthony F. Jorm (2012). Public recognition of mental disorders and beliefs about treatment: changes in Australia over 16 years, The British Journal of Psychiatry
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu (Trang 21)
Bảng 3.4: Nhận thức về những bệnh lý tâm thần đặc biệt được coi là nguyên nhân gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam: - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.4 Nhận thức về những bệnh lý tâm thần đặc biệt được coi là nguyên nhân gây tử vong hoặc loạn hoạt năng ở Việt Nam: (Trang 26)
Bảng 3.5: Những hiểu biết về biểu hiện điển hình của - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.5 Những hiểu biết về biểu hiện điển hình của (Trang 28)
Bảng 3.6: Nhận thức về những trải nghiệm mà người trầm cảm thường có: - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.6 Nhận thức về những trải nghiệm mà người trầm cảm thường có: (Trang 30)
Bảng 3.8: Tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nhà chuyên môn nếu - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.8 Tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nhà chuyên môn nếu (Trang 32)
Bảng 3.10: Sự đánh giá các biện pháp điều trị trầm cảm là có lợi - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.10 Sự đánh giá các biện pháp điều trị trầm cảm là có lợi (Trang 33)
Bảng 3.11: Sự tìm kiếm thông tin về trầm cảm - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.11 Sự tìm kiếm thông tin về trầm cảm (Trang 34)
Bảng 3.12: Tỷ lệ người cho rằng sẽ bị phân biệt đối xử từ những người hoặc tổ chức khác nhau khi họ nghĩ họ hoặc ai đó gần gũi với họ bị trầm cảm - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.12 Tỷ lệ người cho rằng sẽ bị phân biệt đối xử từ những người hoặc tổ chức khác nhau khi họ nghĩ họ hoặc ai đó gần gũi với họ bị trầm cảm (Trang 35)
Bảng 3.13: Tỷ lệ người đồng ý với những phát biểu về người bị trầm cảm nặng - Đánh giá hiểu biết, thái độ của người nhà bệnh nhân trầm cảm điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần về trầm cảm và điều trị trầm cảm
Bảng 3.13 Tỷ lệ người đồng ý với những phát biểu về người bị trầm cảm nặng (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w