BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNGNGUYỄN THỊ THI ANH TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ ĐỊNH HIẾN MÁU NHẮC LẠI TỪ CÁC BÀI BÁO CÔNG BỐ TRÊN HỆ THỐNG PU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THI ANH
TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
DỰ ĐỊNH HIẾN MÁU NHẮC LẠI TỪ CÁC BÀI BÁO CÔNG BỐ
TRÊN HỆ THỐNG PUBMED ĐẾN 3/2016
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ THI ANH
TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
DỰ ĐỊNH HIẾN MÁU NHẮC LẠI TỪ CÁC BÀI BÁO CÔNG BỐ
TRÊN HỆ THỐNG PUBMED ĐẾN 3/2016
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đoàn Thị Thùy Dương
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện
để sinh viên năm cuối có hoạt động làm tiểu luận tốt nghiệp cần thiết và ý nghĩa
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên hướng dẫn thực tập là cô Đoàn Thị ThùyDương đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian qua Bên cạnh đó, em cũng rấtbiết ơn các anh chị K10, các bạn K11, các thầy cô đã cho em lời khuyên và độngviên em trong quá trình làm việc cũng như hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp Nhờ đónhóm em đã dần quen với môi trường nghiên cứu khoa học với cách làm việc có tổchức và hiệu quả hơn, hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp kịp tiến độ
Qua thời gian nghiên cứu và hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp này, ngoài việchọc được cách áp dụng những kiến thức trên lý thuyết vào thực tế làm việc, áp dụngcác kiến thức dịch tễ - thống kê để có thể hoàn thành bài tổng quan này, em còn có
cơ hội được trau dồi các kỹ năng khác như kỹ năng đánh giá tài liệu/nghiên cứu/báocáo, kỹ năng thu thập, tìm kiếm thông tin và cách phản biện, cách làm bài báo cáokhoa học hoàn chỉnh Tất cả đều vô cùng cần thiết trong quá trình làm việc cũngnhư trong cuộc sống sau này của em Đây thực sự là một học phần rất bổ ích vàthiết thực, giúp sinh viên có những trải nghiệm rất thực tế để khắc sâu hơn nhữngkiến thức đã được học và có thể vận dụng chúng một cách linh hoạt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Thi Anh
Trang 4TÊN ĐỀ TÀI 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP TỔNG QUAN 4
1.1 Nguồn dữ liệu 4
1.2 Chiến lược tìm kiếm và lựa chọn nghiên cứu 4
1.2.1 Các thuật ngữ liên quan 4
1.2.2 Chiến lược tìm kiếm nghiên cứu 7
1.2.3 Lựa chọn nghiên cứu đưa vào tổng quan 7
1.2.4 Quản lý số liệu và trích dẫn tài liệu 10
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ TỔNG QUAN 11
2.1 Đặc điểm các tài liệu đưa vào tổng quan 11
2.1.1 Thiết kế nghiên cứu 11
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 12
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 13
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hiến máu nhắc lại 14
2.2.1 Thái độ hướng đến hành vi 15
2.2.2 Chuẩn mực chủ quan 21
Trang 52.2.3 Nhận thức kiểm soát hành vi 22
2.2.4 Sự tự chủ 23
2.2.5 Yếu tố nhân khẩu học 25
2.2.6 Yếu tố môi trường – tạo điều kiện 27
2.2.7 Đề xuất mô hình nghiên cứu tại Việt Nam 28
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 36
Phụ lục 1: Đặc điểm của các nghiên cứu loại bỏ khỏi tổng quan 36
Phụ lục 2: Đặc điểm của các nghiên cứu đưa vào tổng quan 38
Trang 6Hình 1: Mô tả chiến lược tìm kiếm dữ liệu 10
Hình 2: Phân bố địa điểm nghiên cứu 12
Hình 3: Mô hình Thuyết hành vi có dự định của Ajzen (1991) 14
Hình 4: Mô hình mở rộng của lý thuyết Hành vi dự định (France, 2008) 16
Hình 5: Mô hình hành vi hiến máu theo dự định 29
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Thống kê sự phát triển thiết kế nghiên cứu theo thời gian 13
DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Tổng quan về thiết kế nghiên cứu 11
Trang 7TÊN ĐỀ TÀI
Tên đề tài: TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ ĐỊNH HIẾN MÁU NHẮC LẠI TỪ CÁC BÀI BÁO CÔNG BỐTRÊN HỆ THỐNG PUBMED TÍNH ĐẾN THÁNG 3/2016.
bộ phận, xử trí chấn thương và điều trị cho các ca ung thư và rối loạn máu bẩmsinh[40] Ví dụ tại Hoa Kỳ, cứ 2 giây là có một bệnh nhân cần truyền máu và cầnkhoảng 36000 đơn vị máu mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh[31] Tại cácnước đang phát triển, bên cạnh áp dụng các công nghệ kỹ thuật y khoa cao, nhu cầumáu để cấp cứu sản khoa, tai nạn giao thông cũng ngày càng nhiều [40]
Đáp ứng nhu cầu máu ngày càng lớn trên toàn thế giới, công tác tuyêntruyền, vận động hiến máu tình nguyện đã được đẩy mạnh và có độ bao phủ rộng
Số đơn vị máu hiến thu được đã tăng từ 80,7 nghìn triệu đơn vị năm 2004 lên đến
108 nhìn triệu đơn vị vào năm 2012 trên toàn cầu[39] Việt Nam cũng được thế giớighi nhận quá trình phát triển nỗ lực trong công tác vận động và an toàn truyền máu,chỉ trong vòng 10 năm, nước ta đã tăng số đơn vị máu từ người hiến máu tìnhnguyện từ một phần ba tổng số nguồn cung cấp lên đến gần 90% tương ứng vớităng tổng số đơn vị máu thu được hàng năm từ 268 394 đơn vị với 776 420 [40]
Mặc dù vậy, số quốc gia đáp ứng đủ nhu cầu hiến máu chưa nhiều, chỉ có62/203 quốc gia trên thế giới đáp ứng đủ nhu cầu truyền máu của quốc gia, trong đó
có Việt Nam Tỉ lệ đơn vị máu hiến ở các nước phát triển chiếm hơn 50% số đơn vị
Trang 8thu được mỗi năm so với 15% dân số thế giới[39].
Người hiến máu tình nguyện, đặc biệt người hiến máu tình nguyện nhắc lại
là đối tượng cho máu an toàn nhất, tiết kiệm tối đa ngân sách cho chi phí xétnghiệm máu, khám chữa bệnh, sàng lọc máu cho người hiến máu mới Người hiếnmáu nhắc lại cũng ít có khả năng mắc các bệnh lây truyền qua đường máu vì đốitượng này đã có nhận thức về tầm quan trọng của việc cho máu an toàn và được xétnghiệm sàng lọc lại mỗi lần hiến máu[39] Gần 1/2 dân số đủ điều kiện nhưng chỉ
có 5% tham gia hiến máu và 1% tham gia hiến máu nhắc lại [17].Tại Úc trong sốnhững người đủ điều kiện để hiến máu, chỉ có 3,5% người tham gia hiến máu [34].Tại Việt Nam, tỉ lệ hiến máu của người dân là 1,08% [2] Trong số những ngườitham gia hiến máu, tỷ lệ hiến máu nhắc lại là 29,2%, trong đó có 26,2% người hiếnmáu nhắc lại sau lần đầu tiên trong năm và 3,7% người hiến máu từ 2 lần trở lêntrong năm[1] Tỉ lệ này cho thấy công tác tuyên truyền, chiến lược truyền thôngchưa chú trọng đến nhóm người hiến máu nhắc lại, để giảm chi phí trong điều trị,đặc biệt là tỉ lệ thiếu máu, ung thư máu bẩm sinh tại Việt Nam khá cao, trung bình
1000 bệnh nhi cần truyền 1,2 triệu đơn vị máu mỗi năm[43]
Các nghiên cứu về hiến máu trên thế giới đều cho thấy nếu chúng ta thúc đẩycác yếu tố tạo động lực vàgiảm đi các rào cản có thể khuyến khích những người đãtừng hiến máu tham gia hiến máu nhắc lại, nâng cao chất lượng máu hiến và cảithiện đáng kể hệ thống máu dự trữ quốc gia Từ đó làm tăng khả năng đạt tới mụctiêu “số đơn vị máu cần tối thiểu bằng 2% dân số quốc gia” [2] Có rất nhiều nghiêncứu trên thế giới đã công bố các kết quả liên quan đến hiến máu tình nguyện và hiếnmáu nhắc lại Tổng quan này được thực hiện để mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến dựđịnh hiến máu nhắc lại từ các nghiên cứu được công bố trên hệ thống Pubmed tháng3/2016
Trang 9MỤC TIÊU
Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hiến máu nhắc lại từ các bài báo công
bố trên hệ thống Pubmed đến tháng 3/2016
Trang 10CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP TỔNG QUAN
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu hệ thống (Systematic Review)
1.1 Nguồn dữ liệu
Tất cả các báo cáo nghiên cứu được xuất bảnđến thời điểm30/03/2016 trên hệ thống dữ liệu điện tử Pubmed Pubmed là hệ thống tìmkiếm dữ liệu miễn phí của hệ thống thư viện Y khoa Hoa Kỳ, trong đó chophép tìm kiếm tài liệu từ hơn 25 triệu tạp chí, trích dẫn khoa học, nghiên cứu
y sinh học từ Medline, các tạp chí khoa học đời sống và sách điện tử.Pubmed kiểm soát chất lượng các bài báo xuất bản khoa học và chỉ nhữngtạp chí đáp ứng các tiêu chuẩn khoa học mới được lập danh mục tham khảo[35]
- Những tài liệu tham khảo của phiên bản cũ của Index Medicus từ 1951 trở lại
và trước đó
- Những tài liệu tham khảo của các tạp chí được lập danh mục tham khảotrước đó cho Index Medicus và Medline như Science, BMJ và Annals ofSurgery
- Các tài liệu gần đây được ghi chép cho một bài báo trước đó đã được lậpdanh mục tham khảo tại Medical Subject Headings (MeSH) và thêm vàoMEDLINE
- Những tập sách với đầy đủ các bản full text và các tập con khác từ NLD
- Các trích dẫn từ Pubmed Central
Trang 111.2 Chiến lược tìm kiếm và lựa chọn nghiên cứu
1.2.1 Các thuật ngữ liên quan
Trung tâm kiểm soát AIDSquốc giathuộc Kenya đã đưa ra định nghĩa
về hiến máu tình nguyện vào năm 2007 [37]và Tổ chức y tế Thế giới cũng đãđồng thuận và công bố các kết quả về hiến máu và các thuật ngữ liên quan[38] Theo đó, người hiến máu được chia làm 3 loại theo mục đích của hiếnmáu (1) Hiến máu trả tiền, hiến máu bắt buộc, hiến máu tự thân; (2) Hiếnmáu thay thế/gia đình; (3) Hiến máu tình nguyện
1) Hiến máu trả tiền, hiến máu bắt buộc, hiến máu tự thân
- Hiến máu trả tiền là người tham gia hiến máu để đổi lấy tiền hoặc các hìnhthức thanh toán khác
- Hiến máu bắt buộc là người không sẵn sàng hiến máu của người đó nhưng bị
ép buộc hiến máu bởi các chủ thể sở hữu lao động của họ, luôn lo sợ rằngmình sẽ mất đi công việc và sự thăng tiến nếu không tham gia hiến máu
- Hiến máu tự thân là người hiến máu cho chính họ để dự trữ và phục hồilượng máu trong cơ thể họ, điều này cần thiết trong suốt quá trình phẫu thuật,bệnh nhân tự đóng vai trò là người hiến máu cho chính họ, giảm bớt sự hiếnmáu không cần thiết từ người khác
2) Hiến máu thay thế/gia đình bao gồm 3 trường hợp:
- Người hiến máu theo yêu cầu của từ một gia đình hoặc cộng đồng của bệnhnhân cần được truyền máu Hệ thống lưu trữ máu không trả tiền cho ngườihiến máu mà thay vào đó là gia đình bệnh nhân
- Người hiến máu theo yêu cầu từ gia đình hoặc cộng đồng của chính người
đó, việc này mang tính cưỡng chế và/hoặc chi phí dựa trên thỏa hiệp về antoàn truyền máu
Trang 12- Người hiến máu là người thân trong gia đình hoặc bạn bè của người bệnhtham gia hiến máu thay thế cho sự cần thiết cho chính người bệnh đó màkhông tham gia đến bất kì chi phí và lợi ích từ các nguồn nào.
3) Người hiến máu tình nguyện (không nhận tiền – không lương):
Người cho máu, huyết tương hoặc các phế phẩm khác từ máu một cách tự nguyện
và không nhận tiền hay các vật phẩm khác có giá trị tương đương Điều này đã baogồm thời gian nghỉ lao động, các lý do khác để hiến máu và di chuyển đến địa điểmhiến máu Các chi phí về vật lưu niệm nhỏ, giải khát, đi lại có giá trị tương đươngvới hiến máu tình nguyện Hiến máu tình nguyện được chỉ ra tương đương với hiếnmáu không trả tiền, không nhận lương (Voluntary = unpaid, non – remunerated)[21]
Người hiến máu tình nguyện cũng được phân làm 3 nhóm:
- Người hiến máu tình nguyện mới: là người hiến máu tình nguyện chưa có lầnhiến máu nào trước thời điểm đăng kí
- Người hiến máu tình nguyện không thường xuyên: là người hiến máu tìnhnguyện đã từng hiến máu nhưng đã ngừng hiến hoặc hiến máu không thườngxuyên
- Người hiến máu tình nguyện thường xuyên là người hiến máu tình nguyện đãtừng hiến máu mà không có thời gian nghỉ ngơi giữa hai lần hiến máu.Người hiến máu tình nguyện thường xuyên: là người hiến máu tình nguyện,
có ít nhất 3 lần hiến máu trước đó, lần cuối cùng vào năm trước đó và tiếptục hiến máu ít nhất mỗi năm 1 lần
Hiến máu nhắc lại: Hiện nay chưa có định nghĩa rõ ràng về hiến máu nhắc lại.
Hiến máu nhắc lại trong các y văn, tài liệu được rà soát trong tổng quan này được
nhắc đến qua các từ khóa “repeat blood donation”“return behavior donation” Định nghĩa được sử dụng nhiều nhất với hiến máu nhắc lại là người “hiến máu thường xuyên, – Regular blood donation” với khoảng thời gian hiến máu trong
vòng 6 tháng đến 1 năm kể từ lần hiến máu đầu tiên [25] Trong tổng quan này,
Trang 13Dự định hiến máu nhắc lại: Xuất phát từ khái niệm “Dự định hành vi” (Behavior
intention) là khả năng nhận thức của một người về xác xuất mình sẽ thực hiện một
hành vi [41], dự định hiến máu nhắc lại được định nghĩa là khả năng nhận thức của một người về xác xuất mình sẽ quay trở lại tham gia hiến máu nhắc lại Nhiều
nghiên cứu đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hiến máu nhắc lại, coiđây là một chỉ báo dẫn tới hành vi hiến máu nhắc lại
1.2.2 Chiến lược tìm kiếm nghiên cứu
Theo Tổ chức Y tế thế giới, truyền máu an toàn bao gồm 7 nội dung [39]:
- Truyền máu (Blood tranfustion)
- Hiến máu (Blood donation)
- Hiến máu tình nguyện/hiến máu tình nguyện không lương/ Hiến máu nhânđạo (voluntary blood donation; voluntary non – remunerated blood donation)
- Hiến máu nhắc lại (repeat blood donation)
- Tỉ số dân số hiến máu (The numbers of blood units collected in worldwide)
- Dự định hiến máu nhắc lại (intension repeat donation)
- Máu an toàn (Blood safety)
Dựa trên 7 nội dung này, chức năng tìm kiếm nâng cao của Pubmed
đã được sử dụng để xây dựng cụm từ tìm kiếm sau: “blood AND intent* AND (repeat* OR return OR repeti*)” Tổng số 489 tài liệu đã được tìm
thấy vào ngày 30/03/2016
Trang 141.2.3 Lựa chọn nghiên cứu đưa vào tổng quan
Nghiên cứu được lựa chọn đưa vào tổng quan dựa trên 4 bước sànglọc dữ liệu phương pháp tổng quan PRISMA (Preferred Reporting Items forSystematic reviews and Meta-Analyses) Statement [32]:
1 Loại bỏ các bài báo trùng nhau
2 Sàng lọc dựa trên tên và tóm tắt của bài báo
3 Đọc toàn văn bài báo và đánh giá kết quả nghiên cứu theo độ mạnh bằngchứng
4 Tổng hợp, đưa bài báo vào tổng quan
Bước 1:
Trích dẫn tài liệu tham khảo được tải trực tiếp về EndNote XVII từ Pubmed Các dữliệu trùng nhau (một nghiên cứu nhưng lại xuất hiện đến hai lần) được phát hiện vàloại bỏ Mỗi một nghiên cứu được báo cáo ở đây đều đảm bảo chỉ tính một lần duynhất
Bước 2:
Đọc kỹ tên bài báo và tóm tắt bài báo để lựa chọn các bài báo có liên quan đến chủ
đề hiến máu Trong nghiên cứu tổng quan này sẽ lựa chọn (1) tất cả các nghiên cứuđịnh lượng và định tính hoặc kết hợp, (2) không có hạn chế về các kết quả nghiêncứu về yếu tố ảnh hưởng đến hiến máu nhắc lại Quá trình sàng lọc được tiến hành 2lần; mỗi lần cách nhau 1 tuần; sau mỗi lần sàng lọc xong đều kiểm tra lại các nghiêncứu lựa chọn, nghiên cứu loại trừ để đảm bảo không bỏ sót bài báo nghiên cứu cóliên quan Các nghiên cứu nghi ngờ đều được đưa vào chuyển sang bước 3 đọc toànvăn
Bước 3:
Toàn văn tất cả các bài báo qua bước 2 đều được download về và quản lý trongphần mềm Endnote XVII Với các nghiên cứu phải trả phí, tác giả liên hệ vớinghiên cứu sinh đang theo học tại nước ngoài để có thể tiếp cận toàn văn Tại bướcnày, nghiên cứu được đánh giá và lựa chọn theo hướng dẫn về chất lượng của các
Trang 15nghiên cứu khoa học và độ tin cậy trong y học và y tế công cộng, sử dụng thang đo
độ mạnh bằng chứng (strength of evidence)[36] Theo đó kết quả nghiên cứu được
đánh giá theo 4 cấp độ của độ mạnh bằng chứng dựa vào thiết kế nghiên cứu (từmức cao nhất đến thấp nhất) như sau:
- Cấp độ Ia: Các bài báo phân tích tổng hợp (meta – analysis) chất lượng cao
hoặc các rà soát hệ thống (systematic review) từ các thử nghiệm ngẫu nhiên
có đối chứng (randomized controlled clinical trial – RCT) hoặc từ các thửnghiệm ngẫu nhiên có đối chứng có nguy cơ sai lệch rất thấp Trong đó đốitượng can thiệp được phân bố thành từng nhóm và có so sánh giữa các nhómkhác nhau trong nghiên cứu, bao gồm cả đo lường kết quả đầu ra trước vàsau khi thực hiện can thiệp
- Cấp độ Ib: Các bằng chứng thu được từ ít nhất 1 thử nghiệm ngẫu nhiên có
đối chứng, các bài báo phân tích tốt về thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứnghoặc các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng có nguy cơ sai lệch thấp
- Cấp độ II: Bằng chứng thu được từ các nghiên cứu có đối chứng (không
ngẫu nhiên) hoặc các bán thử nghiệm; các biến nhiễu có nguy cơ sai lệchthấp hoặc có quan hệ nhân quả trong bài
- Cấp độ III: Các nghiên cứu thu thập bằng chứng từ nghiên cứu giả thử
nghiệm như nghiên cứu so sánh, nghiên cứu cắt ngang hoặc nghiên cứutrường hợp
- Cấp độ IV: Các bằng chứng thu được từ báo cáo, ý kiến và quan điểm
chuyên gia hoặc các kinh nghiệm lâm sàng đã được công bố bởi 1 tác giả
Tất cả các bài báo thuộc nhóm cấp độ IV của độ mạnh bằng chứng, làbài bình luận, đề cương nghiên cứu, thảo luận bị loại bỏ
Bước 4: Đọc toàn bộ các bài báo đã lựa chọn, đưa vào tổng hợp, phân tích, trích
dẫn
Hình 1 tóm tắt các bước tìm kiếm và sàng lọc dữ liệu theo phương pháp tổng quan
PRISMA Statement [32]
Trang 17Hình 1: Mô tả chiến lược tìm kiếm dữ liệu
Tóm tắt các nghiên cứu loại bỏ khỏi tổng quan sau khi đọc toàn văn
và sàng lọc theo tiêu chí đã đề ra, bao gồm: tên của tác giả thứ nhất, tiêu đề
và lý do loại bỏ được trình bày tại Phụ lục 1.
Các nghiên cứu đã được đưa vào tổng quan, bao gồm cả tên của tác
giả thứ nhất, năm xuất bản, phương pháp nghiên cứu (định tính/định lượng),
cỡ mẫu nghiên cứu, đặc điểm đối tượng nghiên cứu và kết quả chính của
nghiên cứu được trình bày tạiPhụ lục 2.
1.2.4 Quản lý số liệu và trích dẫn tài liệu
Phần mềm quản lý tài liệu tham khảo EndNote XVII được sử dụng đểlưu trữ các các nghiên cứu, thông tin về nghiên cứu và xử lý dữ liệu trùngnhau Trích dẫn tài liệu tham khảo được tải trực tiếp về EndNoteXVII từ
Trang 18Pubmed theo định dạng của Pubmed Các dữ liệu tổng hợp được phân tíchtheo phương pháp xử lý thống kê bằngExcel
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ TỔNG QUAN
2.1 Đặc điểm các tài liệu đưa vào tổng quan
2.1.1Thiết kế nghiên cứu
Đặc điểm thiết kế nghiên cứu trong 20 tài liệu được rà soát được tómtắt tại bảng 3 dưới đây theo độ mạnh bằng chứng giảm dần dựa theo tiêu chíđánh giá PRISMA Statement[32]
Bảng 1: Tổng quan về thiết kế nghiên cứu
Cấp Ia (Tổng quan hệ thống, phân tích gộp) 2 (10%)
Cấp Ib (Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng) 5 (25%)
Cấp II (thuần tập, thử nghiệm có đối chứng, bệnh
Trang 192.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Hầu hết các nghiên cứu được thực hiện hoặc tiến hành thử nghiệm tạicác nước phát triển – nơi có nền kinh tế phát triển và hệ thống y tế - kĩ thuậthiện đại cũng như vốn đầu tư mạnh vào lĩnh vực nghiên cứu y sinh học: Mỹ,Autralia, Hà Lan, Anh Thống kê về địa điểm nghiên cứu của 99 nghiên cứu
ở 2 nghiên cứu tổng quan hệ thống và các nghiên cứu khác trong tổng quannày, cho kết quả: Bắc Mỹ là khu vực có nhiều nghiên cứu nhất (66 nghiêncứu), tiếp đó là Châu Âu với 17 tài liệu Autralia cũng xếp thứ 3 với 14 tàiliệu được đưa vào và duy nhất 1 nghiên cứu được thực hiện tại Tanzania
thuộc Châu Phi và 1 nghiên cứu được thực hiện Châu Á – Trung Quốc(Hình 2).
Hình 2: Phân bố địa điểm nghiên cứu
Trang 202.1.3Thời gian nghiên cứu
Các nghiên cứu đưa vào tổng quan có thời gian thực hiện từ năm 1998– 2016, có đến 75% các nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2010 –
2016 được công bố, 20% trong giai đoạn từ 2000 – 2009 và chỉ có 5% trướcgiai đoạn năm 2000 Điều này chứng tỏ nghiên cứu về hiến máu và hiến máunhắc lại ngày càng được quan tâm, xuất bản nhiều hơn
Cùng sự quan tâm về vấn đề hiến máu tình nguyện và thúc đẩy các yếu tố đểtăng tỉ lệ dự định hiến máu nhắc lại, các phương pháp nghiên cứu cũng được đầu tưhơn theo thời gian Giai đoạn trước năm 2000 và từ 2000 - 2009, chưa có nghiêncứu trên tổng số 20 nghiên cứu trong tổng quan này có độ mạnh bằng chứng cao ởcấp độ Ia, Ib nhưng đến giai đoạn 2010 – 2016 thì đã có 7 tài liệu được ghi nhận.Bên cạnh đó có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng của các nghiên cứu cấp độ III (7nghiên cứu)
Biểu đồ 1: Thống kê sự phát triển thiết kế nghiên cứu theo thời gian
2
7
Cấp độ I Cấp độ II Cấp độ III
Trang 212.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hiến máu nhắc lại
Các nghiên cứu về dự định hiến máu nhắc lại đều sử dụng mô hình lýthuyếthành động để giải thích cho động lực/rào cản, (motivators anddeterrents), các yếu tốliên quan (associated factor) đến dự định hiến máunhắc lại (intention to repeat donation) hoặc hành vi quay trở lại hiến máu(return blood donation) Thuyết hành vi có dự định (The Theory of PlannedBehavior) được xây dựng bởi Ajzen vào năm 1991, bổ sung từ Thuyết Hànhđộng hợp lý của Fishbein năm 1967 [42] được sử dụng nhiều nhất Mô hình
cơ bản của lý thuyết này được trình bày tại Hình 2
Hình3: Mô hình Thuyết hành vi có dự định của Ajzen (1991)
Bên cạnh thái độ hướng đến hành vi, chuẩn mực chủ quan, nhận thức
về kiểm soát hành vi, các nghiên cứu khác trong tổng quan cũng đề cập đến
sự tự chủ, sự hài lòng, nhận thức chuẩn mực cá nhân, phản ứng khi tham giahiến máu và các yếu tố nhân khẩu học Phần sau đây sẽ lần lượt trình bàytừng yếu tố đã đề cập ở trên
Trang 222.2.1 Thái độ hướng đến hành vi
Thái độ hướng đến hành vi của cá nhân là thái độ dựa vào niềm tinrằng thay đổi hành vi sẽ mang lại lợi ích [42] Tổng số 8/20 nghiên cứu đã đềcập nội dung này, trong đó có 2 nghiên cứu tổng quan, 1 nghiên cứu thửnghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, 1 nghiên cứu can thiệp, 4 nghiên cứu cắtngang Tất cả các nghiên cứu này đều khẳng định dự định hiến máu nhắc lại
có liên quan chặt chẽ với thái độ tích cực về hiến máu Người có thái độ tíchcực cho rằng hiến máu sẽ đem lại sức khỏe tốt do máu được tái tạo, có thểnhận được các kiến thức bổ ích về sức khỏe qua quá trình hiến máu, hiếnmáu không ảnh hưởng đến sức khỏe thì có khả năng tham gia hiến máu cao
hơn Thể hiện qua cáckhẳng định “Tôi hoàn toàn khỏe mạnh và tôi là người hiến máu thường xuyên, tôi đang trong tình trạng sức khỏe tốt, tôi sẽ hiến máu” [15], hay “Hiến máu tốt cho sức khỏe”[23].
Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng của ChritopherR.France năm 2016 tại Mỹtrên 494 bao gồm 254 người nhóm thử nghiệm và
244 người nhóm chứng Những người trong nhóm thử nghiệm sẽ nhận đượccuộc gọi điện thử nghiệm động lực theo mẫu sẵn, thảo luận về động lực hiếnmáu ban đầu, ý định hiến máu trong tương lai của họ, các rào cản về nhận
thức, tầm quan trọng của hiến máu – “Hiến máu có lợi cho sức khỏe”, mục
tiêu và các giá trị cá nhân khi người đó hiến máu, giúp người đó lên kế hoạchhiến máu và cách đối phó với những rào cản để hiến máu thành công Nhómchứng nhận được cuộc gọi để cảm ơn vì đã tham gia hiến máu và nhắc nhởthời gian tham gia hiến máu lần tiếp theo Kết quả so sánh giữa 2 nhóm chothấy, thái độ hướng đến hành vi là yếu tố quan trọng đối với dự định hiếnmáu (p = 0,004)[7]
Nghiên cứu can thiệp của Kadian S Sinclair và cộng sựnăm 2010được thực hiện tại Hoa Kỳ trên 427 người hiến máu, trong đó nhóm canthiệpđược cán bộ y tế tại trung tâm chăm sóc, theo dõi và nhắc nhở hiến máunhắc lại Kết quả cho thấy nhóm can thiệp có thái độ tích cực và động lực
Trang 23hiến máu nhắc lại cao hơn gấp 1,6 lần so với nhóm chứng vào thời điểm 9tháng (OR = 1,60; 95%CI: 0,93–2,78) và cao hơn gấp 2,48 lần sau 12 tháng(OR = 2,48; CI: 1,27 – 4,87)[27]
Một nghiên cứu cắt ngang của Janis L France năm 2007 tại Mỹ, trên
227 người hiến máu cũng cho ra kết quả rằng thái độ có ảnh hưởng đến dựđịnh hiến máu ở mức độ từ trung bình đến cao (p < 0,001) [10]
Nghiên cứu thuần tập năm 2008 của tác giả Janis L.France tại Mỹ đã chỉ rarằng thái độ hướng đến hành vi bao gồm ba nội dung: “chuẩn mực đạo đức cánhân”, “sự hài lòng” và “các phản ứng vật lý khi hiến máu” Bên cạnh đó “sự tựchủ” cũng một phần tác động đến thái độ Mô hình này giải thích được 55% dự địnhhiến máu nhắc lại và được coi là mô hình mở rộng của thuyết Hành vi có dự định (
χ2 = 15,259, df = 1, p <0,001) [11] (Hình 3) Nội dung này tiếp tục được các nghiêncứu tiếp theo chứng minh bổ sung
Hình 4: Mô hình mở rộng của lý thuyết Hành vi dự định (France, 2008)
Nghiên cứu tổng quan nghiên cứu của Bagot năm 2016 tổng hợp 37nghiên cứu cho thái độ tích cực đối với hiến máu có liên quan chặt chẽ với
Trang 24dự định hiến máu nhắc lại [3] Tổng quan nghiên cứu khác của Benall năm
2013 với 47 nghiên cứu cũng cho ra kết quả tương tự (
Β=0,151 ; Ζ=2,533với p=0,011¿[4]
2.2.1.1 Các phản ứng khi tham gia hiến máu
Các phản ứng khi tham gia hiến máu bao gồm cả các phản ứng vật lýtrong và sau khi hiến máu; nỗi lo lắng, sợ máu, sợ kim đâm khi tham gia hiếnmáu, sợ bị truyền nhiễm bệnh khi lấy máu, sợ ốm yếu và các phản ứng tácđộng từ bên trong, bên ngoài [8, 17] Có 6/20 nghiên cứu có đo lường tácđộng của các phản ứng khi hiến máu đến dự định hiến máu nhắc lại ở ngườihiến máu, bao gồm: 1 nghiên cứu can thiệp, 4 nghiên cứu cắt ngang, 1nghiên cứu tổng quan
Các phản ứng khi tham gia hiến máu ảnh hưởng lớn đến sự hài lòngkhi hiến máu, từ đó tác động đến dự định hiến máu nhắc lại Josefa D Martín
và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang và đưa ra mô hình ảnh hưởngbởi sự hài lòng đến dự định hiến máu nhắc lại trên 712 người hiến máu tạiTây Ban Nha Tại đây tác giả có đưa ra các thang đo định tính dựa trên yếu
tố rào cản bên trong và bên ngoài như nỗi sợ kim đâm, mức độ kim đâm, nỗi
sợ bị truyền bệnh lây nhiễm qua đường máu, sự khó chịu khi nhìn thấy máu,
sợ cảm giác ốm, yếu khi hiến máu Kết quả cho thấy nỗi lo sợ bị nhiễm bệnh,đau, kim đâm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến dự định hiến máu nhắc lại của cánhân (p < 0,01) [17]
Kadian S Sinclairvà cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu can thiệpnăm 2010 tại Mỹ trên 427 người hiến máu về mô hình thử nghiệm qua điệnthoại tạo động lực cho người hiến máu Trong đó nhóm can thiệp được cán
bộ y tế tại trung tâm chăm sóc, theo dõi và nhắc nhở hiến máu nhắc lại, tạođộng lực để họ quay lại hiến máu nhắc lại Kết quả cho thấy, khi tạo độnglực thì phản ứng tiêu cực trong hiến máu giảm đi và dự định hiến máu nhắclại tăng lên (p < 0,05)[27]
Trang 25Nghiên cứu cắt ngang tại Mỹ trên 7905 người hiến máu (61% là ngườihiến máu nhắc lại, 39% người hiến máu lần đầu) năm 2008 do Karen S.Schlumpf và cộng sự thực hiệncho thấy tác động vật lý diễn ra trong quátrình hiến máu càng ít và được xử lý tốt thì dự định hiến máu càng tăng, OR
= 2,4, 95%CI: 1,6 – 3,6 [25]
Australia đã triển khai một nghiên cứu cắt ngang về các phản ứngtrong và sau hiến máu trên 1015 người hiến máu do Barbara M Masser vàcộng sự thực hiện năm 2013 Theo phân tích kết quảcó 37,76% người cóphản ứng trong quá trình hiến máu, các phản ứng sau hiến máu nhiều hơntrong hiến máu (F (1,982) = 147,75, p < 0,001, η2 = 0,13) và nữ giới có cácphản ứng này nhiều hơn nam giới (F (1,982) = 21,80, p < 0,001, η2= 0,02);
dự định hiến máu nhắc lại có mối liên quan mạnh mẽ đến phản ứng chính (F(1,994) = 42,63, p < 0,001, η2 = 0,04) [19] Tác giả tiếp tục làm nghiên cứu
về ảnh hưởng của phản ứng hiến máu đến dự định hiến máu nhắc lại trên
1848 người hiến máu vào năm 2016 Kết quả khẳng định ảnh hưởng tiêu cựccủa các phản ứng vật lý đến dự định hiến máu nhắc lại, cụ thể sự trì hoãn vàphản ứng vật lý làm giảm dự định tiếp tục hiến máu toàn phần trong tươnglai (β=¿ - 0,07, p = 0,01), nhưng không ảnh hưởng đến dự định hiến máuthành phần (β=¿ 0,72, p < 0,001) Phản ứng vật lý thường xảy ra ở nhữngngười hiến máu là nữ, chưa kinh nghiệm hiến máu lần nào (β = 0,10, p <0,01) [18]
Tổng quan của Bagot (2016) trên 37 tài liệu cũng khẳng định sự lolắng, tác dụng phụ, yếu tố trì hoãn là yếu tố dự báo tiêu cực ảnh hưởng đến
dự định hiến máu trong tương lai của người hiến máu nhắc lại [3]
2.2.1.2 Sự hài lòng
Sự hài lòng khi hiến máu là phản ứng, đánh giá của người hiến máukhi tham gia hiến máu (địa điểm hiến máu, sự chăm sóc của cán bộ y tế, thờigian hiến máu, các phản ứng của cơ thể, các yếu tố liên quan đến quá trình
Trang 26trước và sau hiến máu của họ), đặc biệt trong lần hiến máu gần nhất Có 5/20nghiên cứu đo lường tác động của yếu tố này đến dự định hiến máu nhắc lại,bao gồm 1 nghiên cứu can thiệp và 4 nghiên cứu cắt ngang.
Sự hài lòng không phải là một yếu tố quyết định trực tiếp đến dự dịnhhiến máu nhắc lại và không xuất hiện trong mô hình gốc của Lý thuyết hành
vi có dự định của Ajzen (1991) Nhưng tại các mô hình mở rộng, cũng sựphát triển của dịch vụ hiến máu hiện nay, sự hài lòng được coi là một biếnđánh giá của người hiến máu đối với quá trình hiến máu [8, 23, 29] và cũng
có mô hình lý thuyết chỉ tập trung vào yếu tố hài lòng đối giữa các phản ứng
cơ thể với dự định hiến máu nhắc lại [8]
Mô hình phát triển “sự hài lòng” được xây dựng bởi Christopher R.France và cộng sự (2013), sau khi thực hiện can thiệp và điều chỉnh, mô hìnhnày phù hợp tốt với các dữ liệu; nhóm có sự hài lòng với hiến máu tốt hơn có
tỉ lệ hiến máu cao hơn [8] Tương tự, mô hình mở rộng của Lý thuyết Hành
vi có dự định do France và cộng sự xây dựng (2007, 2008) đã chỉ ra sự ảnhhưởng của sự hài lòng với hiến máu có ảnh hưởng lớn đến dự định hiến máunhắc lại (p < 0,001) [10, 11]
Nghiên cứu cắt ngang tại Tây Ban Nha năm 2012, Josefa D Martín vàcộng sự đã nghiên cứu 712 người hiến máu với 13 yếu tố chất lượng quátrình hiến máu 4 yếu tố rào cản từ bên trong và 3 yếu tố rào cản xuất phát từbên ngoài tương ứng với 7 giả thiết xoay quang sự hài lòng và dự định hiếnmáu nhắc lại Kết quả đã chỉ ra rằng chất lượng của quá trình hiến máu (p
<0,0001), sự hài lòng trong quá trình hiến máu có liên quan đến dự định hiếnmáu nhắc lại (p < 0,01) Động lực hiến máu cũng được thúc đẩy bởi sự hàilòng từ phía nhân viên lấy máu (p <0,0001) [29]
Một nghiên cứu cắt ngang tại San Fansico (Mỹ) năm 2008 cũng chỉ ramối tương quan của sự hài lòng đối với dự định hiến máu nhắc lại Nghiêncứu được thực hiện trên 1000 người trên cả 2 nhóm người hiến máu nhắc lại
và hiến máu lần đầu Kết quả cho thấy hơn 75% người hiến máu có đánh giá
Trang 27quá trình hiến máu tổng thể ở mức 9 hoặc 10/10 (trung bình: 9,19; độ lệchchuẩn: 1,09), với nữ giới, trình độ cao học, hiến máu lần đầu có sự hài lòngcao hơn so với nam giới, người có trình độ đại học và hiến máu nhắc lại (tất
cả giá trị p < 0,001) Sự hài lòng của người hiến máu có tương quan mạnh
mẽ với dự định trở lại cho lần hiến máu sắp tới (p = 0,002) [23]
2.2.1.3 Chuẩn mực đạo đức cá nhân
Chuẩn mực đạo đức cá nhân được hiểu là những trách nhiệm, nghĩa
vụ của cá nhân đặt ra đối với xã hội, đôi khi nó được gọi là “chuẩn mực đạođức” [10, 13] Chuẩn mực đạo đức cá nhân được thể hiện qua các nội dung
“Tôi cảm thấy hiến máu là nghĩa vụ đạo đức”; “Tôi cảm thấy trách nhiệm
cá nhân là hiến máu”[10] Chuẩn mực đạo đức cá nhân được nhắc đến
trong 5/20 tài liệu bao gồm 1 tổng quan hệ thống, 1 nghiên cứu thuần tập và
3 nghiên cứu cắt ngang
Với nghiên cứu mô hình mở rộng Lý thuyết hành vi có dự định,France và cộng sự (2008) thực hiện trên 227 người hiến máu nhắc lại, đã chokết quả rằng chuẩn mực đạo đức cá nhân có liên quan mạnh mẽ đến dự định
hiến máu (p < 0,001), kết quả mô hình mở rộng (Hình 4) đã thể hiện yếu tố
chuẩn mực đạo đức cá nhân là một yếu tố ảnh hưởng đến dự định hiến máunhắc lại thông qua thái độ [10]
Bên cạnh đó, chuẩn mực đạo đức cá nhân cũng ảnh hưởng mạnh đốivới dự định hiến máu trong nhóm người hiến máu nhắc lại ở nghiên cứu tạiCanada năm 2007 Godin và cộng sự đã chỉ ra rằng đối với nhóm người hiếnmáu nhắc lại, chuẩn mực đạo đức có mối liên quan mạnh mẽ đến dự địnhhiến máu nhắc lại của họ (OR = 3,44, 95%CI: 2,49 – 3,77, p < 0,01) [13]
Ngược lại, thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 598 người hiếnmáu do Chritopher R France và cộng sự thực hiện (2016) đã chỉ ra rằngchuẩn mực đạo đức cá nhân không có mối liên quan đến động lực hiến máugiữa nhóm can thiệp và nhóm chứng (p = 0,202, d = 0,12) [7] Cũng có kết
Trang 28quả cho thấy, chuẩn mực đạo đức cá nhân chỉ có liên quan đến lần hiến máuđầu tiên (d = - 0,18 đến 0,54) [3] Tương tự ở tổng quan hệ thống của Benallnăm 2013, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dự định hiến máu nhắc lại,chuẩn mực đạo đức cá nhân ảnh hưởng tới nhóm không hiến máu (chưa hiếnmáu lần nào) (Β=−0,272, Ζ=2,126 , p=0,034¿[4].
“Nghĩa vụ giúp đỡ người khác” với OR từ 1,2 – 2,0, p ≤ 0,001 cũng
là 1 trong 3 động lực thúc đẩy dự định quay trở lại hiến máu nhắc lại trongmột nghiên cứu cắt ngang của K S Schlumpf và các cộng sựnăm 2008 với
cỡ mẫu 16402 người hiến máu được tổng hợp từ sáu trung tâm lấy máu tạiHoa Kì [25]
2.2.2 Chuẩn mực chủ quan
Chuẩn mực chủ quan hay còn gọi là chuẩn mực mang tính chủ quan làkhi cá nhân có niềm tin rằng những người khác (người có ý nghĩa/ngườiquan trọng, ảnh hưởng với họ) nghĩ rằng họ nên làm và động cơ của họ tuântheo những gì người khác mong muốn [42] Chuẩn mực chủ quan cho thấycho thấy sự ảnh hưởng của người xung quanh như người thân trong gia đình,bạn bè, thầy cô, chủ lao động, đồng nghiệp, v.v… đến quan điểm, hành vicủa mỗi người Nói cách khác chuẩn mực chủ quan như “tập tục” “thóiquen” “áp lực xã hội” do xã hội đặt ra và các cá nhân trong cộng đồng có xuhướng tuân theo những chuẩn mực xã hội đặt ra đó Trong tổng quan này có5/20 tài liệu có nghiên cứu và đo lường mối liên quan và chiều hướng tácđộng của yếu tố “chuẩn mực chủ quan” đến “dự định hiến máu nhắc lại”, baogồm 2 nghiên cứu tổng quan và 3 nghiên cứu cắt ngang
Đối với hiến máu, chuẩn mực chủ quan có thể là “nhiều người quan trọng với tôi nghĩ rằng tôi nên hiến máu” và đây là yếu tố ảnh hưởng tích
cực đến dự định hiến máu đứng thứ 3 sau sự tự chủ và thái độ trong nghiêncứu về mô hình mở rộng Thuyết Hành vi có dự định của France năm 2007 tại
Mỹ trên 227 (tất cả các giá trị p < 0,001) [10]
Trang 29Tổng quan của Bagot (2016) cũng đã khẳng định rằng lý do để ngườihiến máu lần đầu quay trở lại là do người đó cảm nhận được áp lực xã hộithúc đẩy họ hiến máu [3] Tổng quan của Benall (2013) cũng cho ra kết quảrằng có ảnh hưởng mạnh mẽ từ chuẩn mực chủ quan đến hành vi hiến máu (
Β=0,104 ,Ζ=2,208 và p=0,027¿và có mối liên quan trung bình đến dự địnhhiến máu [4] Nghiên cứu trên 2231 người hiến máu (2070 người hiến máunhắc lại và 161 người hiến máu lần mới) của Gaston Godin (2007) tạiTanzania cũng đã chỉ ra yếu tố chuẩn mực chủ quan ảnh hưởng mạnh mẽ đến
dự định ở nhóm người hiến máu nhắc lại (p < 0,02, OR = 1,52, 95%CI: 1,07
- 2,15) [20] Chuẩn mực chủ quan cũng được thể hiện thông qua thái độ dẫnđến dự định hành vi ở mô hình mở rộng của Thuyết Hành vi có dự định củaFrance (2007, 2008) [10, 11]
2.2.3 Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi được hiểu rằng nhận thức về năng lựccủa chính họ có thể tạo được sự thay đổi, họ tin rằng họ có khả năng kiểmsoát được hành vi của họ [42] Ajzen và cộng sự đã phát triển thêm khung líthuyết khi bổ sung yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi như một yếu tố ảnhhưởng thứ 3 đến dự định thực hiện hành vi Điều này được hiểu rằng những
dự định của cá nhân sẽ trở nên có ý nghĩa hơn nếu họ cảm thấy mình có khảnăng kiểm soát tốt một hành vi cụ thể Khái niệm này liên quan mật thiết với
sự tự tin của cá nhân (self-efficacy) và khả năng nằm ngoài tầm kiểm soátnhư tác động từ những người có quyền lực, cơ hội, định mệnh hoặc sự maymắn (perceived power) [42] Có 5/20 tài liệu trong tổng quan nghiên cứu vềyếu tố này (2 nghiên cứu tổng quan, 1 nghiên cứu thuần tập và 2 nghiên cứucắt ngang)
Dựa vào bảng hỏi theo thang Likert của 2231 người hiến máu baogồm cả người hiến máu kinh nghiệm và hiến máu mới tại Canada do G.Godin và các cộng sự thực hiện (2007), tác giả đã chứng minh các yếu tố