1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN các NGHIÊN cứu về đặc điểm của HUYỆT

31 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 900,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN BÁ QUANG Cho đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm huyệt Ủy trung và ảnh hưởng của điện châm huyệt này đối với bệnh nhân Yêu cước thống thể thận hư “... cho rằng một trong những c

Trang 1

VŨ THÁI SƠN

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HUYỆT

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

VŨ THÁI SƠN

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HUYỆT

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN BÁ QUANG

Cho đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm huyệt Ủy trung

và ảnh hưởng của điện châm huyệt này đối với bệnh nhân

Yêu cước thống thể thận hư “.

Chuyên ngành: Y học cổ truyền

Mã số: 62720201

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

Trang 4

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 ĐẠI CƯƠNG VỀ HUYỆT VỊ 2

2.1 Quan niệm của Y học cổ truyền về huyệt vị 2

2.2 Vai trò và tác dụng của huyệt 2

2.2.1 Huyệt Nguyên 3

2.2.2 Huyệt Lạc 4

2.2.3 Huyệt Du ở lưng 4

2.2.4 Huyệt Mộ 4

2.2.5 Huyệt Khích 4

2.2.6 Huyệt Ngũ du 5

2.2.7 Huyệt ngoài kinh 5

2.2.8 Huyệt A thị 6

3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HUYỆT 6

3.1 Đặc điểm giải phẫu của huyệt 6

3.2 Đặc điểm sinh học của huyệt 13

3.2.1 Về đặc điểm nhiệt độ da tại huyệt 13

3.2.2 Về điện trở da và cường độ dòng điện qua da vùng huyệt 15

3.3 Sự tương đồng về huyệt theo Y học cổ truyền với Y học hiện đại 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Hình 3.1 Máy Thermo- Finer type N-1 13 Hình 3.2 Máy Neurometer type RB-65 16 Hình 3.3 Máy Electrodermometer PD-1 type MR W-52 16

Trang 6

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Châm cứu là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc dùng đểđiều trị và phòng ngừa bệnh tật Châm cứu được sử dụng rộng rãi tại các nướcnhư Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Pháp, Mỹ và đã được tổ chức

Y tế Thế giới (WHO, 2002) cho phép ứng dụng rộng rãi vào việc phục vụ sứckhỏe con người [45]

Theo Y học phương Đông, châm cứu là một phương pháp hiệu quảtrong điều trị các chứng đau Cơ sở khoa học của phương pháp này là dựa trênHọc thuyết kinh lạc thông qua việc kích thích nhưng vị trí đặc biệt trên cơ thể

mà chúng ta gọi là “Huyệt vị” có mối liên hệ mật thiết với các tạng phủ bêntrong cơ thể, qua đó giúp điều chỉnh những rối loạn bên trong cơ thể [8], [36]

Theo Y học hiện đại, khi chúng ta kích thích những “Huyệt vị” sẽ làm cơthể phóng thích những hóa chất nội sinh có tác dụng nhất định giúp ngăn ngừa

và điều trị bệnh tật [11], [20], [21], [24], [44] Tuy nhiên cho đến nay về đặcđiểm sinh lý của các huyệt vẫn còn nhiều vấn đề cần đi sâu nghiên cứu thêm

Nhiều tác giả như Vogralig V.G (1978), Pornov (1980), Durinian R.A(1981), Đỗ Công Huỳnh (1991), Lưu Thị Hiệp (2001), Nguyễn Hùng Nguyệt(2010) cho rằng một trong những con đường đưa đến sự hiểu biết vè cơ chếtác dụng của châm cứu là tìm hiểu những biến đổi về chức năng của các cơquan trong cơ thể dưới ảnh hưởng kích thích các huyệt Việc tìm hiểu tácdụng của điện châm lên từng huyệt trên cơ thể cũng đã được nhiều tác giảnghiên cứu, như huyệt Túc tam lý, Tam âm giao, Hợp cốc, Nội quan, Thận du[2], [10], [13], [14], [18], [26]

Để nâng cao kiến thức và hệ thống lại những hiểu biết về đặc điểm củahuyệt cũng như hỗ trợ cho việc làm luận án, nghiên cứu sinh đã tiến hành tiểu

luận tổng quan: “Tổng quan các nghiên cứu về đặc điểm của huyệt”.

Trang 7

2 ĐẠI CƯƠNG VỀ HUYỆT VỊ

2.1 Quan niệm của Y học cổ truyền về huyệt vị

Theo các tài liệu xưa của Y học cổ truyền, người xưa dùng nhiều danh

từ khác nhau để gọi tên của nơi hội tụ khí huyết của tạng phủ kinh lạc Trongsách “Châm cứu giáp kinh” của Hoàng Phủ Mật thì huyệt được gọi là “Khổnghuyệt” nghĩa là cái lỗ trống không Ngoài ra còn nhiều sách dùng danh từ

“Thâu huyệt”, “Khí huyệt”, “Du huyệt”[5]

Trên cơ thể có ba loại huyệt chính: Huyệt nằm trên đường kinh (kinhhuyệt), huyệt nằm ngoài đường kinh (kỳ huyệt) và A thị huyệt Trên 12 kinhchính có những huyệt chủ yếu là: 12 huyệt nguyên, 15 huyệt lạc, 12 huyệt bối

du, 12 huyệt mộ, 60 ngũ du huyệt, 12 huyệt khích, 8 huyệt hội, 8 giao hộihuyệt [28]

2.2 Vai trò và tác dụng của huyệt.

Sách Tố Vấn viết "Người ta có 12 khớp lớn, 365 khe nhỏ chưa kể huyệtcủa 12 kinh mạch, đều là nơi vệ khí lưu hành Đó cũng là nơi tà khí vào cơ thể

và lưu lại, phải dùng châm, cứu để đuổi tà khí đi” [43] Như vậy, huyệt vừa lànơi thần khí lưu hành xuất nhập, vừa là nơi tà khí xâm nhập vào cơ thể, vừa lànơi dùng kim hay mồi ngải tác động vào đó để đuổi tà khí ra ngoài [38], [39]

- Về sinh lý: Huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà

nó phụ thuộc Huyệt là nơi thần khí vận hành qua lại vào ra, nơi tạng phủ kinhlạc dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể, làm cho cơ thể thành mộtkhối thống nhất, góp phần duy trì các hoạt động sinh lý của cơ thể luôn ởtrong trạng thái bình thường [5]

- Về bệnh lý: Huyệt cũng là cửa ngõ xâm nhập của tà khí lục dâm Khisức đề kháng của cơ thể (chính khí) bị suy giảm thì tà khí qua các huyệt nàyvào gây bệnh cho các đường lạc, nếu bệnh tiến triển nặng hơn tà khí sẽ từkinh vào sâu trong tạng phủ [5]

Trang 8

- Về chẩn đoán: Khi tạng phủ bị bệnh, có thể có những thay đổi bệnh lýphản ánh ra ở huyệt như đau nhức, hoặc ấn vào đau, hoặc hình thái huyệt bịthay đổi Thay đổi này là tín hiệu giúp các nhà lâm sàng có thêm tư liệu đểquyết định chẩn đoán bệnh [5].

- Về phòng và điều trị bệnh: Huyệt là nơi tiếp nhận những kích thíchkhác nhau Tác động lên huyệt một lượng kích thích thích hợp có thể điều hòađược khí, khí hòa thì huyết hòa, khi huyết hòa thì tuần hoàn của huyết trongmạch mới thuận lợi, được chuyển đi để nuôi dưỡng cơ thể, lấy lại thăng bằng

âm dương, nghĩa là làm ổn định những rối loạn bệnh lý, lập lại hoạt động sinh

lý bình thường của cơ thể [5]

Theo các sách châm cứu chủ yếu thì trên mười bốn kinh mạch chính có

361 tên huyệt, cộng cả hai bên trái phải thì tổng số huyệt vị là 670, bao gồm:

- 52 huyệt chỉ có ở giữa (huyệt đơn)

- 309 huyệt (309 x 2= 618) có ở hai bên (huyệt kép)

- Về số huyệt ngoài kinh và huyệt mới thì Hội đồng Châm cứu TâyThái Bình Dương đã thống nhất công nhận tổng số huyệt vị là 48 huyệt [7] Những huyệt trên kinh có tính chất, vị trí, tác dụng, gần giống nhau,được xếp thành từng nhóm và có tên gọi chung

2.2.1 Huyệt Nguyên

Đại diện cho đường kinh là nơi khí huyết tập trung nhiều nhất so vớivùng huyệt khác Các huyệt này nằm ở ngay hoặc gần cổ tay, cổ chân, mỗikinh chính có một huyệt Nguyên [7], [40]

Huyệt Nguyên có quan hệ mật thiết với Tam tiêu Tác động vào đó cóthể thúc đẩy chức năng của các cơ quan, điều hoà hoạt động nội tạng Vì thếđối với bệnh của ngũ tạng lục phủ đều lấy huyệt Nguyên của chúng để điềutrị Huyệt Nguyên có tác dụng chữa các chứng hư hay thực của tạng phủthuộc kinh mạch của huyệt Ngoài ra qua huyệt Nguyên có thể chẩn đoánđược bệnh của tạng phủ và kinh lạc [31],[32]

Trang 9

2.2.2 Huyệt Lạc

Là huyệt liên lạc giữa một kinh âm với một kinh dương biểu lý

Huyệt Lạc dùng để trị bệnh ngay tại đường kinh có huyệt đó, vừa có tácdụng chữa bệnh đường kinh có quan hệ biểu lý Ngoài ra có thể dùng phốihợp với huyệt Nguyên của bản kinh để tăng tác dụng chữa bệnh [31],[32]

2.2.3 Huyệt Du ở lưng

Tất cả các huyệt này đều nằm trên kinh túc Thái dương Bàng quang.Các huyệt này đều mang tên tạng phủ tương ứng, trừ huyệt Du của Tâm bàođược gọi là Quyết âm du

Châm vào huyệt Du có tác dụng rất lớn đến những hoạt động của tạngphủ tương ứng Ngoài ra có thể dựa vào phản ứng không bình thường củahuyệt Du để chẩn đoán bệnh ở tạng phủ [31],[32]

2.2.4 Huyệt Mộ

Là nơi khí của tạng phủ tụ lại trên vùng bụng ngực Khi tạng phủ cóbệnh, tại vùng huyệt Mộ tương ứng thường xuất hiện những phản ứng khôngbình thường

Có thể dùng để điều chỉnh hoạt động quá hưng phấn hoặc quá ức chếcủa tạng phủ Qua những phản ứng bất thường của huyệt Mộ có thể chẩn đoánđược bệnh ở tạng phủ tương ứng [31],[32]

2.2.5 Huyệt Khích

Là nơi kinh khí tụ lại, nằm sâu trong khe gân xương Mỗi kinh chính cómột huyệt Khích, ngoài ra các mạch Âm duy, Dương duy, Âm kiểu, Dươngkiểu, cũng có một huyệt Khích Tổng cộng có mười sáu huyệt Khích

Thường dùng huyệt Khích để điều trị những chứng bệnh cấp của cáckinh hoặc các tạng phủ của kinh đó Huyệt Khích cũng có thể dùng để chẩnđoán những chứng bệnh cấp tính của tạng phủ mà đường kinh mang tên [31]

Trang 10

2.2.6 Huyệt Ngũ du

Mỗi kinh chính có năm huyệt từ đầu mút các chi tới khuỷu tay và đầugối, đại diện cho sự vận hành kinh khí của từng kinh chính Huyệt Ngũ duđược phân bố theo thứ tự Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp [31], [32]

Kinh khí vận hành trong các kinh chính ví như dòng nước chảy, mạnh,yếu, lớn, nhỏ, nông, sâu, ở từng chỗ khác nhau

+ Huyệt Tỉnh: Nơi mạch khí khởi giống như nước đầu nguồn bắt đầuchảy ra, mạch khí nông, nhỏ

+ Huyệt Huỳnh: Mạch khí chảy qua giống như nước đã thành dòng,mạch khí hơi lớn

+ Huyệt Du: Mạch khí dồn lại giống như nước chảy liên tục, mạch khí

to và sâu hơn

+ Huyệt Kinh: Mạch khí chảy giống như dòng nước xiết, mạch khí sâu + Huyệt Hợp: Mạch khí tụ hợp lại thành dòng vừa to vừa sâu, như cácdòng suối hợp thành sông; Là chỗ ra vào của khí

Huyệt Ngũ du dùng để trị bệnh thuộc đường kinh của huyệt với hiệu quảcao Mỗi loại huyệt Tỉnh Huỳnh, Du, Kinh, Hợp có tác dụng chữa bệnh riêng Huyệt Ngũ du được phân loại theo ngũ hành; theo quy luật tương sinh,tương khắc, tương thừa, tương vũ của ngũ hành dùng đặc tính của mỗi huyệt

đó để chọn huyệt chữa bệnh

2.2.7 Huyệt ngoài kinh (Kỳ ngoại huyệt)

Là những huyệt không thuộc vào 12 kinh chính và hai mạch Nhâm,Đốc Huyệt thường có vị trí ở ngoài các đường kinh, nhưng cũng có một sốhuyệt nằm trên đường tuần hành của kinh mạch chính song không phải làhuyệt của kinh mạch đó

Huyệt ngoài kinh chưa được nói tới trong cuốn Nội kinh, đó là nhữnghuyệt do các nhà châm cứu đời sau quan sát và phát hiện dần Trên lâm sàngchúng có hiệu quả điều trị rõ ràng và có vị trí cố định

Trang 11

2.2.8 Huyệt A thị

Sách Nội kinh có viết "lấy chỗ đau làm huyệt", những huyệt đó sau nàyđược gọi là huyệt A thị Đó là những huyệt không có vị trí cố định, cũngkhông tồn tại mãi mãi, nó chỉ xuất hiện ở những chỗ thấy đau, nó không phải

là những huyệt của các kinh mạch chính và huyệt ngoài kinh Đặc tính củahuyệt A thị là châm vào đó có thể chữa chứng đau nhức rất tốt vì có tác dụnglưu thông khí huyết

3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HUYỆT

Y học hiện đại (YHHĐ) dựa trên bằng chứng của các nghiên cứu lâmsàng, thực nghiệm, qua các phân tích cụ thể chính xác bằng các phương tiệnứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đã chỉ ra vị trí giải phẫu của các huyệttrên đường kinh, đã đề cập đến cấu trúc giải phẫu và điện sinh học của huyệt

3.1 Đặc điểm giải phẫu của huyệt

Về hình dáng và diện tích da vùng huyệt: Các nhà khoa học khi nghiêncứu về huyệt đã nhận định rằng huyệt vị trên cơ thể không phải chỉ là mộtđiểm mà mỗi huyệt có vùng hình chiếu tương ứng trên mặt da Huyệt đa số cóhình tròn và chiếm vị trí nhất định trên mặt da, kích thước các huyệt dao độngtrong khoảng từ 4 đến 18 mm2, là những vùng da nhạy cảm hơn và có chứcnăng đặc hiệu hơn so với các cấu trúc xung quanh [13], [14], [25]

Đỗ Công Huỳnh, Cao Xuân Đường, Trần Lê, Nguyễn Duy Lượng, VũVăn Lạp đã xác định vị trí và diện tích huyệt bằng cách dùng kim châm đểxác định trên mặt da, đánh dấu các điểm không đau và ít đau ở da Nhờ cáchnày, các tác giả đã xác định được hình dáng, diện tích khác nhau của cáchuyệt vị và nhận thấy rằng: đa số các huyệt có hình bầu dục, bề rộng khoảng1,5 mm, bề dài gấp 1,5 lần bề rộng và có khi gấp hai đến ba lần, như huyệtTúc tam lý; ở ngoài diện tích này mũi kim châm vào bao giờ cũng gây đau Vịtrí và diện tích huyệt xác định bằng phương pháp này hoàn toàn phù hợp vớikết quả thu được bằng các loại máy dò huyệt [25]

Trang 12

Công trình nghiên cứu của Viện Phản xạ liệu pháp của Liên-Xô trướcđây (theo [33]) cho thấy huyệt châm cứu có những đặc trưng sau:

- Nhiệt độ cao hơn xung quanh Nhậy cảm với đau hơn Chuyển hoá cơnăng tăng Trao đổi oxy tăng Để dòng điện vào ra dễ dàng hơn Có tổ chứcliên kết xốp hơn

- Có một nhận xét khá lý thú của các nhà nghiên cứu Liên-xô là cácđiểm sinh học tích cực được phát hiện đều trùng khớp với các huyệt vị châmcứu của người xưa đã nêu ra cách đây hàng nghìn năm

Về nghiên cứu mô học các huyệt, người ta chưa tìm thấy cấu trúc môhọc đặc thù của huyệt Người ta chỉ gặp trên các huyệt châm cứu những tiểuthể kiểu Meissner hay Paccini, những bó thần kinh-cơ, những đầu mút thầnkinh hay những cấu trúc kiểu gờ gót móng ngựa (theo [33])

Dựa trên kết quả nghiên cứu về hình thái cấu trúc của các huyệt, các nhàkhoa học như Guan, Ditchurn, King, Rewick (1976) chia huyệt ra làm 3 loại:

- Loại 1: Tương ứng với điểm vận động

- Loại 2: Nằm trên tiêu điểm (focus) của các vùng đan chéo nhau củacác dây thần kinh ở bề mặt da

- Loại 3: Nằm ngay trên đám rối thần kinh

Nói chung cả 3 loại đều có một đặc điểm chung là giầu các sợi thần kinh.Chia, Mao, Toomey Gregg (1976) trên cơ sở nghiên cứu cơ chế giảmđau nhận thấy huyệt có mối liên quan với các sợi thần kinh ngoại vi Cai W.[4] cũng cho rằng ở huyệt châm cứu có các đầu mút tận cùng ngoại vi của sợithần kinh

Về mô học vùng huyệt: Nghiên cứu các thành phần mô học của Bosy J.cho thấy 29% số huyệt có các sợi thần kinh kiểu não- tủy Các xung độngthần kinh phát sinh tại các huyệt được truyền theo các sợi này về tủy sống vànão bộ, 42% số huyệt có dây thần kinh dưới da và 46% số huyệt có tĩnh mạchdưới da và đám rối thần kinh bao quanh (theo [10])

Trang 13

Nghiên cứu của Portnov Ph.G cho thấy có khoảng 80% các huyệt cũngnhư vùng da xung quanh có các sợi thần kinh và mạch máu dưới da, trong đókhoảng 30% có các sợi thần kinh, động mạch dưới da và mạch bạch huyết,khoảng 30% có các sợi thần kinh và tĩnh mạch nhỏ dưới da, 10% số huyệt tìmthấy tiểu tĩnh mạch và tiểu động mạch dưới da Nghiên cứu hình thái củahuyệt dưới kính hiển vi điện tử, tác giả đã phát hiện ra đặc điểm của các sợithần kinh tại huyệt có đường kính từ 20- 200 µm, gồm cả các sợi có và không

có myelin, hầu hết các sợi thần kinh ở huyệt có đường kính lớn và rất giàumucosacarid và cho phản ứng dương tính với serotonin

Dưới kính hiển vi điện tử Portnov còn phát hiện thấy tại huyệt có cácnhóm nhỏ tế bào mast Các nhóm tế bào này thường nằm quanh các mạchmáu , còn các mạch máu thì có rất nhiều sợi thần kinh thực vật chi phối

Tế bào mast là một trong những tác nhân quan trọng trong điều hoà cânbằng nội môi [19] Các tế bào này có khả năng tổng hợp, dự trữ và bài xuấtvào môi trường bên trong cơ thể một số chất có hoạt tính sinh học cao(heparin, histamin, serotonin, hyaluronic), tham gia điều hoà các chức năng

cơ thể Vì vậy chúng còn được gọi là “các tuyến nội tiết” một tế bào

Các tế bào mast có đặc điểm là phản ứng nhanh với sự thay đổi bêntrong và bên ngoài cơ thể, có khả năng tiếp nhận thông tin như các thụ cảmthể (receptor) và đáp ứng như một cơ quan hoạt động Điều này chứng tỏ các

tế bào mast có thể đáp ứng với nhiều loại kích thích khác nhau như cơ học,nhiệt, hoá học, tia v.v… Các kích thích này có thể tác dụng thông qua cácprotein kênh ion và cũng có thể tác dụng thông qua sự hoạt hoá một loạt cácenzym nội bào nhờ vai trò của chất truyền tin thứ hai Tính phản ứng nhanhcủa các tế bào mast phụ thuộc vào đặc tính linh hoạt và cấu trúc hình cầu củachúng Số lượng các tế bào mast chịu sự điều tiết của hệ nội tiết, ví dụ nhưhormon tuyến giáp có thể làm tăng số lượng các tế bào này, ngược lại các

Trang 14

steroid thường làm giảm số lượng và hoạt tính của chúng Bên cạnh hệ nộitiết, hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là hệ thần kinh thực vật cũng ảnhhưởng đến số lượng cũng như chức năng của tế bào mast Ngược lại, các chất

có hoạt tính sinh học bên trong tế bào mast như heparin, serotonin, histaminv.v cũng gây ảnh hưởng lên cả hệ thần kinh và nội tiết Các chất này đượcgọi là các mediator - chất trung gian, chúng không những gây ra những tácdụng tại chỗ mà còn có thể tham gia điều hoà hoạt động chức năng của hệthống thần kinh - nội tiết Bên cạnh đó, các chất trung gian này còn có thể gâyảnh hưởng đến điện thế màng, đến tuần hoàn mao mạch, đến tính thấm thànhmạch và màng tế bào, đến quá trình chuyển hoá vật chất tại tế bào Như vậy,

tế bào mast với sự đa dạng về hình thái và chức năng, về tính hai mặt củachức năng (nghĩa là tạo ra hiệu ứng dương tính hoặc âm tính), nên đảm bảođược các yêu cầu của một cơ quan điều hoà sinh học Khác với các cơ quanđiều hoà cấp cao, ví dụ hệ thần kinh trung ương, hệ nội tiết, các tế bào mast

có đặc điểm là có cấu trúc đơn giản và phạm vi tác dụng hẹp hơn [19] Nhưvậy, việc phát hiện sự tập trung các tế bào mast tại các huyệt châm cứu có ýnghĩa quan trọng đối với việc mở ra một số hướng suy nghĩ về cơ chế tácdụng của châm cứu và điện châm

Từ các kết quả nghiên cứu về hình thái huyệt châm cứu nói trên ta cóthể nhận định rằng tác dụng lên huyệt bằng châm, điện châm, cứu, chiếu laserv.v chính là tác động vào các yếu tố tại huyệt, kích thích trực tiếp các yếu tốthần kinh thực vật, thần kinh ngoại biên, các tế bào mast gây tác dụng tại chỗcũng như toàn thân

Năm 1993, Fei và cộng sự (cs) [9] trên cơ sở quan niệm rằng huyệt làcác cửa sổ để đi vào hệ thống các đường kinh và cảm giác "đắc khí" là bằngchứng cho thấy mũi kim đã đến huyệt, đã tiến hành nghiên cứu cấu trúckhông gian ba chiều của huyệt Các tác giả đã sử dụng phương pháp chụp

Trang 15

cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging - MRI), cắt lớp quang tuyến ( Xray Computer Tomography Scan - X-CT), chụp phát xạ proton (Proton Induce

X ray Emission - PIXE) để xác định các huyệt nằm trên kinh Bàng quang vàkinh Vị ở chi dưới MRI và X-CT được tiến hành trên người sống và PIXEđược nghiên cứu từ mảnh tổ chức huyệt của chi dưới Kim được xuyên qua balớp: nông, vừa, sâu (tương đương với ba lớp: "thiên","nhân","địa"- theo thuậtngữ của châm cứu) Do nhận thấy tác dụng của mũi kim ở lớp sâu ("địa")thường rõ ràng nên các tác giả tập trung nghiên cứu vùng này Kết quả chothấy có sự tập trung rất cao của một số ion (Ca2+, P5+, K+, Fe3+, Zn2+,Mn2+, Cr-) ở lớp sâu ("địa") tại vùng huyệt Fei và cs cho rằng huyệt là mộtcấu trúc không gian ba chiều phức tạp, bao gồm tổ chức liên kết và lớp matrận ngoại bào chứa các nhánh mạch máu phân bố theo khoanh đoạn Có mộtmạng lưới các vi động mạch và các sợi thần kinh chi phối mạch máu bố trítheo không gian ba chiều tương ứng với huyệt Đặc điểm này cho thấy có mốiliên quan mật thiết giữa huyệt và hệ thống vi động mạch và các sợi thần kinhchi phối mạch máu

Điều đáng lưu ý trong các kết quả nghiên cứu của Fei và cs là độ tậptrung các ion Ca2+ tại huyệt cao gấp hàng chục đến hàng trăm lần so vớinhững vùng không phải là huyệt Như chúng ta biết, khi ở trong tế bào ionCa2+ được coi như là chất truyền tin thứ hai vì khi được giải phóng khỏi nơidự trữ nó sẽ hoạt hoá các phản ứng xảy ra trong bào tương, còn khi ở bênngoài tế bào Ca2+ được coi là "chất truyền tin thứ nhất" Khi hoạt động, ionCa2+ gắn với receptor trên màng tế bào đích và gây ra những biến đổi về ion(ionotropic) hay về chuyển hoá (metabotropic) Các kết quả tiếp theo có thể lànhững thay đổi tại chỗ rồi từ đó tạo ra những tín hiệu dẫn truyền về trungương Kết quả nghiên cứu của Zhang và cs cũng cho thấy vai trò của ionCa2+ tại huyệt Nội quan Các tác giả thấy rằng nếu tiêm EDTA (Ethylen

Ngày đăng: 01/07/2016, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Han Y.J., Dai W.W., Peng L. et al (2011), Effect of acupuncture on contents of beta- endorphin in the plasma and hypothalamus in rats with stress-induced gastric mucosal injury. Zhen Ci Yan Jiu. 36(5) (341-6.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zhen Ci Yan Jiu
Tác giả: Han Y.J., Dai W.W., Peng L. et al
Năm: 2011
12. Hoàng Khánh Hằng, Phạm Thị Minh Đức, Lê Thu Liên (1997), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của huyệt Hợp cốc ở lứa tuổi từ 6-14 tuổi, Hội nghị khoa học của nghiên cứu sinh lần III. Trường Đại họcY Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị khoa học của nghiên cứu sinh lần III
Tác giả: Hoàng Khánh Hằng, Phạm Thị Minh Đức, Lê Thu Liên
Năm: 1997
13. Hoàng Khánh Hằng (2001), Nghiên cứu đặc điểm huyệt Hợp cốc và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên một số chỉ số sinh học . Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm huyệt Hợp cốc và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên một số chỉ số sinh học
Tác giả: Hoàng Khánh Hằng
Năm: 2001
14. Đỗ Công Huỳnh và CS (1994), Đặc điểm và tác dụng sinh lý của các huyệt châm cứu. Tạp chí Sinh học Việt Nam, số đặc biệt: tr. 56 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Sinh học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Công Huỳnh và CS
Năm: 1994
15. Huang Y.; Yang H.; Wang Y. et al (2011), In vivo experimental study of optical characteristics of human acupuncture points. Fron.Optoelectron China. 4(2): p. 223-227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fron. "Optoelectron China
Tác giả: Huang Y.; Yang H.; Wang Y. et al
Năm: 2011
17. Hsiu H., Huang S.M., Chao P.T. et al (2007), Microcirculatory characteristics of acupuncture points obtained by laser Doppler flowmetry. Physiol Meas. 28(10): p. 77-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physiol Meas
Tác giả: Hsiu H., Huang S.M., Chao P.T. et al
Năm: 2007
18. Lưu Thị Hiệp (2001), Nghiên cứu tác dụng giảm đau thoái hóa cột sống thắt lưng bằng một công thức huyệt. Tạp chí Y học thực hành thành phố Hồ Chí Minh. số 4: tr. 21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lưu Thị Hiệp
Năm: 2001
19. Văn Đình Hoa (1997), Cơ quan, tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch, Miễn dịch học. Nhà xuất bản Y học, tr 37 – 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Tác giả: Văn Đình Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
21. Jong M.S., Hwang S.J., Chen F.P. (2006), Effects of electro- acupuncture on serum cytokine level and peripheral blood lymphocyte subpopulation at immune-related and non-immune-related points.Acupunct Electrother Res. 31(1-2): p. 45-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acupunct Electrother Res
Tác giả: Jong M.S., Hwang S.J., Chen F.P
Năm: 2006
22. Kawakita K., Okada K.(1996), The polymodal receptor hypothesis in acupuncture and moxibustion. The forth world conference on acupuncture. Program abstracts, p 295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Program abstracts
Tác giả: Kawakita K., Okada K
Năm: 1996
23. Kwok G., Cohen M., Cosic I. (1998), Mapping acupuncture points using multi channel device, Australas-Phys-Eng- Sci-Med, 21(2), 68-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Australas-Phys-Eng- Sci-Med
Tác giả: Kwok G., Cohen M., Cosic I
Năm: 1998
24. Melzack R. (1973), How acupuncture can block pain. Imoact. sci-soc. Vol. 23: p. 65- 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Imoact. sci-soc
Tác giả: Melzack R
Năm: 1973
25. Vũ Văn Lạp (1996), Nghiên cứu đặc điểm huyệt Túc tam lý và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên chức năng một số cơ quan trong cơ thể. Tóm tắt luận án PTS khoa học Y-Dược, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm huyệt Túc tam lý và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên chức năng một số cơ quan trong cơ thể
Tác giả: Vũ Văn Lạp
Năm: 1996
26. Liu J., Huang H., Xu X., Chen J.D. (2012), Effects and possible mechanisms of acupuncture at ST36 on upper and lower abdominal symptoms induced by rectal distension in healthy volunteers. Am J Physiol Regul Integr Comp Physiol. 303(2): p. 209-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Physiol Regul Integr Comp Physiol
Tác giả: Liu J., Huang H., Xu X., Chen J.D
Năm: 2012
27. Phạm Hữu Lợi (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học tại huyệt nguyên ở trẻ bình thường và bệnh nhi viêm não nhật bản, đánh giá hiệu quả phục hồi vận động bằng điện châm. Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học tại huyệt nguyên ở trẻ bình thường và bệnh nhi viêm não nhật bản, đánh giá hiệu quả phục hồi vận động bằng điện châm
Tác giả: Phạm Hữu Lợi
Năm: 2003
28. Nguyễn Tử Siêu (biên dịch) (1994), Hoàng đế Nội kinh Tố vấn. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế Nội kinh Tố vấn
Tác giả: Nguyễn Tử Siêu (biên dịch)
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
29. Nguyễn Thị Vân Thái (1996), Ảnh hưởng của điện châm lên ngưỡng cảm giác đau và một số đặc điểm của huyệt châm cứu. Luận án phó tiến sĩ khoa học sinh lý học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của điện châm lên ngưỡng cảm giác đau và một số đặc điểm của huyệt châm cứu
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Thái
Năm: 1996
32. Nguyễn Tài Thu (2004), Mãng châm chữa bệnh. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội: tr. 29-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãng châm chữa bệnh
Tác giả: Nguyễn Tài Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
33. Nguyễn Tài Thu, Trần Thúy (1997), Châm cứu sau đại học. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu sau đại học
Tác giả: Nguyễn Tài Thu, Trần Thúy
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
34. Trần Thuý, Nguyễn Tài Thu (1996), Châm cứu và phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 6- 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu và phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
Tác giả: Trần Thuý, Nguyễn Tài Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Máy Thermo- Finer type N-1 - TỔNG QUAN các NGHIÊN cứu về đặc điểm của HUYỆT
Hình 3.1. Máy Thermo- Finer type N-1 (Trang 17)
Hình 3.2. Máy Neurometer type RB-65 - TỔNG QUAN các NGHIÊN cứu về đặc điểm của HUYỆT
Hình 3.2. Máy Neurometer type RB-65 (Trang 20)
Hình 3.3. Máy Electrodermometer PD-1 type MR W-52 - TỔNG QUAN các NGHIÊN cứu về đặc điểm của HUYỆT
Hình 3.3. Máy Electrodermometer PD-1 type MR W-52 (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w