Trong thực tế các chương trình y tếquốc gia, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe CSSK muốn triển khai xuống cộngđồng, từng hộ gia đình, từng người dân không thể chỉ Trung tâm y tế TTYThuyện và
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt nam, ngay từ những năm 1950, quan điểm y tế của nước ta đã thểhiện một cách khá toàn diện những vấn đề về quan niệm trong chăm sóc sứckhỏe ban đầu (CSSKBĐ) đó là hình thành mạng lưới y tế cơ sở như Trạm y tế(TYT), đội ngũ vệ sinh hoạt động ở thôn, đội… Năm 1993, nghị quyết Trungương IV (khóa VII) một lần nữa khẳng định đường lối y tế Việt nam phù hợpvới CSSKBĐ, tiếp theo Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sáchphù hợp và hoàn thiện về triển khai CSSKBĐ, trong đó đặc biệt quan tâm tớicải thiện mạng lưới y tế và luôn chú ý tới hệ thống y tế thôn bản như: QĐ 58/TTg, TT08/TTLB, Nghị quyết 37/CP (1996), QĐ 35/TTg (2001), Chỉ thị 06-CT/TW, Thông tư số 39/2010/TT-BYT Trong thực tế các chương trình y tếquốc gia, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) muốn triển khai xuống cộngđồng, từng hộ gia đình, từng người dân không thể chỉ Trung tâm y tế (TTYT)huyện và TYT xã làm được mà phải cần tới đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản(NVYTTB), họ là những người gần dân, sống cùng với dân, trực tiếp tham giacung cấp các dịch vụ y tế thiết yếu Đặc biệt ở các thôn, bản vùng cao, vùngsâu, vùng xa xôi hẻo lánh thì Y tế thôn, bản (YTTB) lại càng có vai trò quantrọng hơn Từ năm 1999 Việt Nam đã có nhiều cải thiện về hệ thống YTTB,
có nhiều tỉnh áp dụng đề án “Nhà y tế thôn, bản” và nhiều tỉnh có nhữngchính sách mới cho hệ thống y tế thôn bản Mặc dù vậy, cho đến nay nước tavẫn còn không ít bất cập trong hệ thống YTTB về các lĩnh vực: tổ chức, hoạtđộng, cơ chế chính sách, quản lý giám sát, thực trạng sử dụng dịch vụ YTTBcủa người dân.v.v
Nho Quan là một huyện miền núi phía tây bắc của tỉnh Ninh Bình, phíabắc giáp các huyện Yên Thủy và Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình, phía tây giáphuyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp thị xã Tam Điệp, phía
Trang 2đông giáp các huyện Gia Viễn, Hoa Lư Nho Quan có diện tích tự nhiên
475 km² và dân số 151.514 người (năm 2013), trong đó người Kinh chiếm gần90% và người Mường trên 10% Nho Quan gồm có thị trấn Nho Quan, và 27 xã,
có 3 vùng địa lý, trong đó: 13 xã miền núi, 7 xã trung du và 7 xã đồng bằng
Tại huyện Nho Quan mạng lưới y tế thôn, đội đã có hàng chục năm nay
và có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân của huyện, huyện đã phủ 100% thôn, đội có NVYTTB Quaphỏng vấn nhanh một số NVYTTB chúng tôi thấy họ có trình độ chuyên mônkhông đồng đều, chưa định hình rõ các chức năng nhiệm vụ của mình, hoạtđộng thụ động chỉ tham gia một số chương trình y tế khi có sự điều động củaTYT, chính quyền xã, thôn… Huyện Nho Quan từ trước đến nay chưa có mộtnghiên cứu đánh giá đầy đủ nào về mạng lưới YTTB, chất lượng cung cấp và
sử dụng dịch vụ CSSK của mạng lưới YTTB
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng cung cấp, sử dụng dịch vụ y tế thôn bản và các yếu tố liên quan ở xã đạt
và không đạt chuẩn về y tế tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình năm 2014”
nhằm 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế thôn bản ở xã đạt và không đạt chuẩn về y tế tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình năm 2014.
2 Xác định và phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế thôn bản.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKBĐ trên thế giới
1.1.1 Năm 1978, Hội nghị Alma - Ata đưa ra lời kêu gọi “sức khỏe cho mọi người đến năm 2000” dựa trên nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu
CSSKBĐ là chăm sóc y tế cơ bản thiết yếu dựa trên cơ sở khoa học vàthực tiễn cũng như những phương pháp được xã hội chấp nhận và đến với mọingười, mọi gia đình thông qua sự tham gia đầy đủ của cộng đồng và với mứcchi phí mà cộng đồng và Nhà nước có thể trang trải được tùy theo khả năngtrong từng giai đoạn phát triển với tinh thần tự lo liệu, tự quyết định
Hội nghị Alma - Ata đưa ra 8 nội dung CSSKBĐ:
1) Cung cấp thực phẩm hợp lý
2) Cung cấp nước sạch
3) Cung cấp thuốc thiết yếu
4) Chăm sóc bà mẹ trẻ em và kế hoach hóa gia đình (KHHGĐ)
Tinh thần của Hội nghị Alma - Ata đòi hỏi phải phân bổ dịch vụ y tế rộng khắp
để giải quyết công bằng xã hội với cả ý nghĩa kỹ thuật và chính trị của nó
2) Tự lực và viện trợ cho CSSKBĐ:
Trang 4Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào thể hiện được tinh thần tự lực trong việcgiải quyết những yếu tố y tế quốc gia và trong việc nhận viện trợ Trong kháiniệm công bằng y tế của cộng đồng quốc tế, các quốc gia giàu giúp đỡ quốcgia nghèo phát triển Nhưng tư tưởng CSSKBĐ phải gắn với tinh thần tự lựccùng với sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
3) Chăm sóc sức khỏe ban đầu trên kỹ thuật thích hợp:
- Kỹ thuật thích hợp được định nghĩa là kỹ thuật được quốc gia hay cộng đồng: + Chấp nhận
+ Tiếp cận được
+ Phù hợp với túi tiền của người sử dụng
- CSSKBĐ dựa trên kỹ thuật thích hợp nhưng cần có sự hỗ trợ của kỹthuật chuyên sâu
4) Quan điểm dự phòng trong sự phát triển y tế:
- Nâng cao sức khỏe, qua truyền thông GDSK
- Phòng, chống bệnh dịch
- Chữa bệnh thông thường và phục hồi chức năng tại cộng đồng
Quan điểm dự phòng nằm ngay trong hoạt động chữa bệnh, nhưng khôngđối lập, không tách chữa bệnh và phòng bệnh thành các mảng khác nhau
5) Phối hợp hành động liên ngành
6) Tham gia của cộng đồng cho CSSKBĐ
Nội dung và tình thần của Hội nghị Alma - Ata hoàn toàn phù hợp vớiđường lối, chủ trương phát triển y tế cộng đồng của Đảng và Nhà nước ViệtNam từ những năm 1950 cho tới nay và trong tương lai
1.1.2 Một vài nét về tổ chức và hoạt động của nhân viên y tế cộng đồng trên thế giới
Mô hình xây dựng đội ngũ nhân viên y tế cộng đồng được chú ý ởnhiều nước trên Thế giới, nhưng chủ yếu là những người tình nguyện chưa
Trang 5được đào tạo đầy đủ kiến thức và kỹ năng về y tế nên khả năng của họ thườnghạn chế Các mô hình YTTB cũng rất khác nhau tùy từng quốc gia.
Nhân viên y tế cộng đồng (Community Health workers) đóng gópnhưng vai trò quan trọng trong triển khai các nội dung CSSKBĐ ở nhiều quốcgia đang phát triển như Kenya, Malaysia, Myanama, Thailand, Indonesia,India, Vietnam.v.v Họ thường là những người tình nguyện, rất nhiệt tình vớicông việc chuyên môn, hoạt động dưới sự giám sát của TYT, trưởng thôn.Chế độ phụ cấp của họ rất khác nhau tùy từng quốc gia, từng địa phương vàphụ cấp thường thấp chưa phù hợp
Vai trò của NVYTCĐ và lãnh đạo địa phương: những NVYTCĐ vànhững người lãnh đạo địa phương có một đóng góp quan trọng trong việc huyđộng cộng đồng tham gia CSSKBĐ Họ đại diện cộng đồng và chịu tráchnhiệm thực hiện các nhiệm vụ nâng cao sức khỏe cộng đồng Họ đã liên kếtcộng đồng với hệ thống y tế, làm cho cộng đồng và hệ thống y tế hiểu biết vàtôn trọng lẫn nhau có tác dụng làm tăng hiệu lực CSSKBĐ NVYTCĐ có thểgiúp đỡ đạt được những mục đích cơ bản của CSSKBĐ bằng cách tiếp cậnchăm sóc sức khỏe, yếu tố cho toàn bộ dân cư thông qua sự lồng ghép kết hợpgiữa phòng và chữa bệnh
Quyết định những khả năng cho phép của một NVYTCĐ tùy ở mức độ
kỹ thuật vận dụng cho mỗi vấn đề sức khỏe Khi triển khai công việc họ cầncân nhắc những câu hỏi:
1) Vai trò nào mà NVYTCĐ nên làm trong chăm sóc bà mẹ, sinh đẻ…?2) NVYTCĐ có nên biết làm sao để phát hiện ra chất albumin vàđường trong nước tiểu hay không?
3) Những loại thuốc nào một NVYTCĐ có thể dùng hoặc cung cấp chongười bệnh?
4) Một NVYTCĐ có nên hay không nên tiêm, nếu tiêm thì tiêm thuốc gì?
Trang 65) Một NVYTCĐ có nên nhổ một chiếc răng cho người bênh hay không?6) Những biểu mẫu nào mà NVYTCĐ đều đặn ghi chép? [52], [57],[63], [64], [65].
Ở Thái Lan có hai loại NVYTT, một là những truyền thông viên y tế, hai
là tình nguyện viên y tế Những truyền thông viên được đào tạo và cung cấpnhững nguyên tắc chỉ đạo cho phép họ phục vụ như những người truyền bá thôngtin y tế tới nhóm từ 10 - 15 hộ gia đình Cứ mỗi 10 truyền thông viên có 1 tìnhnguyện viên y tế, họ được huấn luyện kỹ càng hơn và có trách nhiệm nâng caosức khỏe, phòng ngừa dịch bệnh, chăm sóc y tế đơn giản và quản lý Hiện nayThái Lan có khoảng 42325 nhân viên y tế tình nguyện viên y tế và khoảng 434803truyền thông viên y tế, phủ 90% thôn bản (5300/57398 thôn bản) [49], [59], [60]
Tại Trung Quốc, trong hai thập kỷ 60 và 70 đã đào tạo một triệu rưỡi
“Bác sĩ chân đất” từ nông thôn và xây dựng 600.000 trạm y tế xã “Bác sĩ chân đất” đảm nhiệm việc chữa bệnh và phòng bệnh tại thôn, bản Tại xã có
trạm y tế xã hỗ trợ cho YTTB, phòng y tế huyện là cơ sở quản lý nhà nướcthấp nhất có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát các hoạt động y tế huyện
Hệ thống y tế nông thôn được nhà nước và cộng đồng đóng góp tài chính.Nhà nước chi trả lương cho cán bộ y tế, cho các hoạt động của y tế cơ sởtrong huyện và các chương trình y tế dự phòng Cộng đồng trả tiền cho nhânviên y tế ngoài Nhà nước (bác sĩ chân đất) [15]
Năm 1989, Nhà nước Indonesia phát động chương trình “Hộ sinh thônbản” nhằm tăng cường nỗ lực làm giảm tử vong mẹ Trong phạm vi chươngtrình, các hộ sinh viên mới tốt nghiệp đã được tuyển dụng tại các thôn bảntrong cả nước với thời gian hợp đồng trong 3 năm Có khoảng 52.000 hộ sinhviên được tuyển dụng trong chương trình này trong cả nước và có 90% sốthôn bản có ít nhất một hộ sinh viên hoạt động trong năm 1997 Kết quả là số
Trang 7ca đẻ do mụ vườn đỡ ở các vùng nông thông giảm xuống từ 55% năm 1997còn 48% năm năm 1998 (Susenas, 1997, 1998) [48].
Ở Mô Dăm Bích đã sử dụng những hoạt động xã hội tình nguyện ở cáccộng đồng nông thôn và thành thị, họ đi đến từng gia đình để truyền thông vàthực hiện một số chương trình y tế [54], [61]
Ở Nêpan đã xây dựng đội ngũ NVYTCĐ làm đầu mối quan trọng giữa
hệ thống y tế với cộng đồng NVYTCĐ được đào tạo 3 tháng với nhiệm vụchủ yếu là truyền thông giáo dục sức khỏe, tham gia vận chuyển người bệnh,hàng tháng họ giao ban báo cáo tình hình sức khỏe cộng đồng với TYT [62]
Ở Phần Lan, công tác CSSKBĐ thực hiện ở cộng đồng thì thuộc về vaitrò của các hiệp hội (y tế và nhiều ngành khác) Hiệp hội tổ chức dân chúngthực hiện CSSKBĐ tỏ ra rất hiệu quả, đội ngũ tình nguyện viên tham gia vàoviệc tuyên truyền giáo dục sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho người già, cungcấp dịch vụ y tế [15], [56]
Tại Yemen, các Trung tâm công cộng ở Yemen bao gồm hướng dẫnviên y tế (Health Guides) và các bà đỡ (Traditional Birth Attendants) làm việctại các thôn, các cộng đồng 200 - 5.000 dân Các hướng dẫn viên được đàotạo 3 tuần trong 3 tháng Trình độ các hướng dẫn viên y tế rất khác nhau, cóngười không biết chữ, có người lại tốt nghiệp đại học, 10% là giáo viên phổthông Nhiệm vụ chính được tiến hành bởi các hướng dẫn viên là liên quan tớisốt rét, sốt nhiễm khuẩn, mắt, bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, thiếu máu và
sử dụng thuốc an toàn [15], [58]
Tại Zimbabue, năm 1997 hơn 5.000 nhân viên y tế thôn, bản đã đượcđào tạo trước khi Bộ Y tế chuyển giao cho Bộ công tác phụ nữ NVYTTBđược cộng đồng lựa chọn Người được lựa chọn phải là người lớn, được tínnhiệm, có thể đọc hoặc viết được ngôn ngữ địa phương Các NVYTTB đượcđào tạo 3 tháng (2 tháng lý thuyết và 1 tháng thực hành) tại cấp huyện và
Trang 8thôn, dưới sự giám sát của huấn luyện viên lâm sàng và các lãnh đạo cộngđồng Sau đào tạo, các nhân viên y tế làng trở thành các nhân viên y tế khôngchính thức, được giám sát chủ yếu bởi các điều dưỡng từ các bệnh viện Họđược nhận khuyến khích số tiền là 35 dollar Zimbabue/tháng, 01 chiếc xe đạp
và 01 túi thuốc, cộng đồng không chi gì thêm Việc đào tạo lại được thực hiệnsau một năm [51], [55]
David Werner, với cuốn sách “chăm sóc sức khỏe nơi không có thàythuốc”, đã đóng góp rất lớn trong việc cung cấp những thông tin và kỹ năng y
tế cơ bản cần thiết cho cộng đồng và những cung cấp dịch vụ y tế Cuốn sáchhướng dẫn không chỉ cho những người ở xa thày thuốc mà còn cho nhữngngười ở gần thày thuốc biết cách chăm sóc sức khỏe cho bản thân mình Cuốnsách dành cho tất cả những ai quan tâm, nội dung cuối sách đã nói lên:
- Chăm sóc sức khỏe không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ củamỗi người
- Việc tự chăm sóc có hướng dẫn nên là mục đích chính của bất kỳchương trình hay hoạt động sức khỏe nào
- Những người dân thường được cung cấp thông tin rõ ràng và đơn giản
có thể phòng và chữa bệnh thông thường nhất tại nhà, sớm hơn, rẻ hơn
- Kiến thức y học không nên là bí mật của một số ít người mà mỗingười nên chia sẻ rộng rãi kiến thức này
- Không nên phân phát việc chăm sóc sức khỏe cơ bản mà nên khuyếnkhích việc này
Sách nêu lên những trường hợp khi đến khám hay xin lời khuyên củanhân viên y tế là quan trọng Nhưng các nhân viên y tế không phải lúc nàocũng ở gần, vì vậy sách này gợi ý nên làm gì trong lúc chờ đợi, kể cả đối vớinhững trường hợp trầm trọng
Trang 9Cuốn sách này đã được viết cho bất cứ ai muốn làm điều gì đó cho sứckhỏe của bản thân mình và của những người khác Tuy nhiên sách đã đượcdùng rộng rãi làm tài liệu huấn luyện và hướng dẫn cho nhân viên y tế cộngđồng [50].
1.2 Tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKBĐ ở Việt Nam
1.2.1 Khái quát về hệ thống Y tế Việt Nam
Việt Nam được ghi nhận đạt được nhiều chỉ tiêu về kinh tế - xã hội tốthơn nhiều so với các nước khác cùng mức thu nhập, mặc dù vẫn còn nhữngchỉ tiêu thấp hơn mức trung bình chung của thế giới Tổng điều tra dân sốnăm 2009 cho thấy tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi là 160/00; tuổi thọ bình quân là72,8 tuổi Tỷ lệ này bằng mức của các nước đang phát triển có mức thu nhậptrung bình Đây là một thành tựu của chương trình y tế Việt Nam thông quaviệc triển khai mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khoẻ (CSSK) cho nhân dânrộng khắp từ trung ương đến cơ sở Với đặc điểm là một nước nông nghiệp,khoảng 80% dân số làm nông nghiệp sống ở nông thôn Mô hình bệnh tậtcủa nước ta là mô hình bệnh tật của một nước chậm phát triển thuộc vùngnhiệt đới nóng ẩm, đối tượng phục vụ của y tế chủ yếu là nông dân Từthực tế đó hệ thống y tế Việt Nam được xây dựng và quản lý trên cácnguyên tắc:
- Bảo đảm phục vụ nhân dân kịp thời, có hiệu quả cao, đáp ứng đượcnhu cầu của người dân khi cần là có sẵn thầy, sẵn thuốc
- Xây dựng theo hướng y tế dự phòng
- Phù hợp với tình hình kinh tế của mỗi địa phương
- Phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng quản lý của ngành
- Đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ
Trên cơ sở của các nguyên tắc đó, hệ thống y tế ở nước ta hiện nay đượcchia theo 4 tuyến: tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã, trong
Trang 10tuyến xã có trạm y tế xã và y tế thôn/bản Y tế cơ sở bao gồm y tế tuyến huyện và
y tế tuyến xã và nhân viên y tế thôn/bản (NVYTTB) Y tế cơ sở đóng vai trò quantrọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, là bộ phận chuyển tải
và trực tiếp triển khai có hiệu quả các nội dung CSSKBĐ [9], [24], [31], [53]
Hình 1.1 Mô hình tổ chức của ngành y tế Việt Nam [9]:
Bộ
y tế
Tỉnh thành trọng điểm Các Sở y tế Khu vực phổ cập Trung tâm y tế huyện
Trạm y tế xã
Y tế thôn, bản, đội sản xuất
Như mô hình trên thì YTT là tuyến cuối cùng, gần dân nhất, là “cánh tay nối dài” của trạm y tế xã [44].
Hiện nay, nền kinh tế đang chuyển sang kinh tế thị trường, đã xuất hiện
sự phân hóa giàu nghèo (đặc biệt ở nông thôn), những người có thu nhập caothường có xu hướng tìm kiếm dịch vụ KCB chất lượng cao, vượt tuyến lêntuyến y tế cao hơn Còn những người nghèo hoàn cảnh kinh tế khó khănthường xuyên sử dụng dịch vụ y tế ở tuyến y tế cơ sở [21], [24]
Để hạn chế tình trạng mất công bằng trong việc cung cấp dịch vụ chămsóc sức khỏe, cách tốt nhất là chúng ta phát triển mạng lưới y tế cơ sở trên tất
cả các mặt, trong đó đặc biệt chú ý tới y tế xã và YTTB, như vậy chúng ta sẽđảm bảo được sự công bằng trong CSSK cho người dân và đáp ứng được
Khu vực chuyên sâu
Trang 11nhiều hơn cho các đối tượng nghèo, vùng nghèo, vùng cao, vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn [11], [12], [17], [25]
Trong những năm qua, sự quan tâm chỉ đao công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện qua các Nghịquyết Đại hội đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX và XI đặc biệt từ khi có Hội nhịlần thứ IV Ban chấp hành Trung ương đảng khóa VII đã ra nghị quyết về
“những vấn đề cấp bách trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân” Quốc hội đã ban hành luật bảo vệ sức khỏe nhân dân Chính phủ đã ban
hành nhiều chỉ thị, quyết định để thể chế hóa các chủ trương của Đảng, đặc biệtgần đây có chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/10/2002 của Ban Bí thư Trung ươngĐảng về việc củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở Quyết định số
35/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 - 2010.
Ngành y tế có rất nhiều cố gắng trong việc tổ chức triển khai thực hiện cácchủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước nên công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe nhân dân đã đạt được những thành tựu quan trọng [1], [4], [16],[18], [19], [20]
Mục tiêu lâu dài của mạng lưới y tế cơ sở là “cùng với các ngành khác đảm bảo ngày một đầy đủ nhất các yêu cầu về phòng bệnh, chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe, nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống” Mạng
lưới y tế cơ sở phải xuất phát từ nông thôn, đào tạo nhân lực y tế, ưu tiên người tạiđịa phương để sau này họ về phục vụ nhân dân tại địa phương, coi phát triển của
mạng lưới y tế cơ sở là một mặt của phát triển kinh tế - xã hội của cơ sở [11], [12],
[16], [26]
1.2.2 Qúa trình phát triển của mạng lưới y tế thôn/bản tại Việt Nam
Trong quá trình lịch sử ngành y tế Việt Nam, mạng lưới YTTB đã đượchình thành từ sau cách mạng tháng 8 với những tên gọi khác nhau như: vệ
Trang 12sinh viên (ở nông thôn), cứu thương (quân đội) Trong nền kinh tế tập trungbao cấp trước khoán 10 trong nông nghiệp YTTB gắn liền với hợp tác xã vàđội sản xuất, do hợp tác xã trả phụ cấp bằng công điểm, cấp ruộng để tự thuhoạch, trong tời kỳ này hoat động của YTTB tương đối có nền nếp, nhiệm vụcủa họ là thực hiện công tác tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, hoạt động gắnliền với phong trào.
Sau khoán 10, mô hình sản xuất hợp tác xã hầu như tan rã và YTTBcũng tan rã theo, YTTB không hoạt động, không có ai quản lý và khôngđược trả phụ cấp
Từ sau Đại hội Đảng VIII, sau 4 năm triển khai Thông tư Liên bộ số08/TTLB hướng dẫn thực hiện quyết định 58/TTg và Quyết định 131/TTg củaChính phủ quy định một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách với y tế cơ
sở, theo đó ít nhất mỗi thôn, làng, bản, buôn (liên bản buôn) có một cán bộ y
tế hoặc nhân viên y tế cộng đồng hoạt động, phụ cấp do xã, phường trả theocông việc [1], [17], [18]
Theo Quyết định 37/CP, phấn đấu đến năm 2000, 100% thôn, bản cónhân viên y tế thôn hoạt động
Theo Quyết định 35/TTg, phấn đấu đến năm 2010, thường xuyên 100%thôn, bản có NVYT có trình độ sơ học trở lên Phát triển đội ngũ tình nguyệnviên y tế tại các thôn/ ấp miền đồng bằng
Theo tinh thần của Chỉ thị 06-CT/TW, y tế cơ sở bao gồm y tế tuyến
huyện, y tế tuyến xã và y tế tuyến thôn bản Y tế cơ sở được xem như xươngsống của ngành y tế Việt Nam, với những lý do sâu đây: y tế cơ sở là nhữngđơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, là đơn vị y tế gần dân nhất
có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật CSSKBĐ cho nhân dân, phát hiện
ra những vấn đề của CSSK sớm nhất, giải quyết 80% khối lượng phục vụ y tếtại chỗ, là nơi thể hiện sự công bằng trong CSSK rõ nhất, nơi trực tiếp thể
Trang 13hiện và kiểm nghiệm hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước về y tế, là bộ phận quan trong nhất và đông đảo nhất của ngành y tếtham gia vào an sinh xã hội, an ninh chính trị Ngoài ra, y tế cơ sở chính làtrường học lớn và rộng khắp để tuyên truyền, thông tin, giáo dục nhân dân về
tự bảo vệ sức khỏe [24]
Cùng với sự ổn định và phát triển của hệ thống y tế cơ sở, YTTB cũngdần được ổn định và phát triển Mạng lưới YTT đã được kiện toàn và pháttriển rộng khắp trên toàn quốc và có hiệu quả, đặc biệt một số tỉnh đã có cơchế chính sách cụ thể cho YTTB như tỉnh Hà Tây, Sơn La, Hải Dương, BìnhĐịnh và 9 tỉnh miền núi có dự án nhà YTT [16] [25], [26], [39], [44], [53]
Tỉnh Bình Định đã triển khai có hiệu qủa đề án “xây dựng mạng lưới y
tế thôn bản’’ Tỉnh Bình Định đã cụ thể hóa và bổ sung một số chức năngnhiệm vụ cho YTT, không những mỗi thôn có 1 NVYTT mà những thônđông dân có thể bố trí 2 hoặc 3 NVYTT Tiền thù lao tỉnh đã được Bộ Y tếnhất trí cao và coi là mô hình điển hình đề nghị các tỉnh tham khảo vận dụng
Tỉnh Quảng Trị đã triển khai mô hình khám chữa bệnh cho người caotuổi tại trạm y tế xã và NVYTTB là cộng tác viên chăm sóc theo dõi huyết áp
người cao tuổi tại thôn, tại nhà [25]
NVYTTB là người cung cấp dịch vụ y tế thích hợp nhất ở tuyến thôn,bản với vai trò quan trọng việc mở rộng các dịch vụ y tế đến người nghèo,vùng xa xôi, hẻo lánh và dân tộc ít người Tuy mạng lưới y tế bao phủ rộngkhắp với dịch vụ y tế xuống tận thôn, bản tiếp cận gần dân nhất, song tìnhhình cải thiện sức khỏe cho người dân cũng còn nhiều hạn chế, chất lượngthấp đặc biệt là những vùng khó khăn
Có thể thấy bằng những nỗ lực to lớn của hệ thống chăm sóc sức khỏecủa Nhà nước đã đem lại những thành tựu đáng kể về y tế cho toàn thể nhândân, đặc biệt từ những năm đổi mới lại đây Nhìn về toàn diện, hệ thống chăm
Trang 14sóc sức khỏe công cộng đã được hình thành từ lâu và hoạt động trên hạm virộng trên toàn quốc, đơn vị TYT đã xuất hiện, tồn tại và vận hành có hiệuquả, đây là mạng lưới y tế cơ sở quan trọng trong việc CSSKBĐ cho ngườidân ở địa phương Nhờ vào hệ thống này mà trong một thời gian dài ViệtNam đã triển khai được một cách có hiệu quả các hoạt động chăm sóc sứckhỏe trong những điều kiện kinh tế đất nước còn hết sức khó khăn Sự hoạtđộng của mạng lưới này đã góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân và làmgiảm nhanh mức chết chung cũng như chết trẻ sơ sinh trên phạm vi toàn quốc,trong những năm qua tỷ lệ mắc và chết của các bệnh truyền nhiễm, suy dinhdưỡng trẻ em, tỷ lệ chết giảm đáng kể [26], [27], [14].
Điều kiện địa lý và cư trú của các dân tộc khác nhau cũng là điều rấtcần phải lưu ý đến Nếu như khu vực miền xuôi, nơi các dân cư sống tậptrung đông đúc, thì TYT có thể là cấp y tế cơ sở cuối cùng, đối với khu vựcmiền núi, vùng cao dân cư sống phân tán, địa hình phức tạp, rộng thì TYTkhông thể nào là cấp y tế cơ sở cuối cùng được, mà lại là YTTB theo mô hình
“Nhà y tế bản”, có đội ngũ NVYTTB được đào tạo - là cầu nối giữa người dânvới TYT [39] [46], [47]
Một số tác giả nghiên cứu đánh giá hoạt động của mô hình “Nhà y tếbản” cho thấy:
Với kết quả điều tra 30 bản có can thiệp mô hình “nhà y tế bản” và 30bản đối chứng, kết quả cho thấy ở nhóm can thiệp:
- Tình hình vệ sinh được cải thiện rõ rệt (p<0,05)
- Tỷ lệ bệnh tật không khác nhau (p>0,05)
- Tỷ lệ cúng bái giảm khi có người ốm giảm rõ (p<0,05)
- Công tác chăm sóc SKBMTE tốt hơn
- Kiến thức của bà mẹ tăng rõ rệt (p<0,05)
- Tình hình sức khỏe nói chung có nhiều cải thiện
Trang 15Như vậy, mô hình nhà y tế bản miền núi đã được sự đồng tình ủng hộtuyệt đối của chính quyền và nhân dân ở 9 tỉnh miền núi phía Bắc NVYTTBhoạt động có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc SK của nhân dân.Một số tồn tại: hiệu xuất sử dụng nhà y tế bản còn thấp, NVYTTB khôngthường xuyên thường trực (96%), việc bảo quản nhà, phương tiện có nhiềubất cập, hiện tượng thiếu thuốc và phương tiện làm việc xảy ra phổ biến làmcho người dân không hài lòng (54,5%) [38], [47].
Theo nghiên cứu của Lương Văn Tiến năm 2005 tại huyện Lộc Bình,tỉnh Lạng Sơn cho thấy: 63% NVYTTB có trình độ học vấn bậc tiểu học, 72,6%NVYTTB được trang bị túi thuốc y tế, hoạt động thăm HGĐ để TT-GDSK đạt81,9%, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch đạt 71,7%, các hoạt độngCSSKBMTE-KHHGĐ chiếm tỷ lệ từ 62,4% - 82,3%, NVYTTB tham gia thựchiện các chương trình y tế chiếm tỷ lệ cao từ 83,1% - 92,4% [26], [43]
Khi nghiên cứu theo dõi điểm về tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ
tế tại 28 xã nông thôn 200 - 2001, đơn vị Chính phủ - Vụ Kế hoạch Bộ Y tế
cho thấy tỷ lệ người ốm đau sử dụng dịch vụ YTTB rất thấp (0.8 - 3.2%) [25]
Qua nghiên cứu của Đỗ Văn Dung (2010) tại tỉnh Ninh Bình có 61,8% sốngười ốm tại cộng đồng sử dụng dịch vụ KCB tại TYT và YTTB [22]
Các nhà xã hội học/sức khỏe khi nghiên cứu mối liên quan giữa cungcấp và sử dụng dịch vụ y tế, trong đó có dịch vụ CSSKBĐ Các nhà sức khỏe
có thể xác định được những yếu tố tác động đến hành vi quyết định chọn và
sử dụng chăm sóc sức khỏe Trong các yếu tố tác động đến hành vi quyết định
có yếu tố chủ quan thuộc về bản thân người ốm, có yếu tố nảy sinh từ môitrường xã hội và có cả yếu tố xuất phát từ hệ thống chăm sóc sức khỏe nhưgiá dịch vụ, chất lượng hoặc khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe Cuối cùngkhông thể không nhắc đến yếu tố liên quan đến mức độ ốm đau
Trang 16Các nhà xã hội y học/sức khỏe đã chia các yếu tố tác động đến việcquyết định chọn, sử dụng dịch vụ CSSK thành 3 nhóm sau (theo Anderson vàNewman,1973):
- Các yếu tố thuộc về cá nhân;
- Các yếu tố liên quan đến nguồn lực;
- Các yếu tố liên quan đến mức độ ốm đau
Nhóm thứ ba (mức độ ốm đau) nói lên nhu cầu CSSK cho cá nhân Cácnhóm yếu tố có liên quan với nhau, tác động đến quyết định chăm sóc sứckhỏe của mỗi cá nhân
Các yếu tố quyết định hành vi lựa chọn và sử dụng dịch vụ chăm sócsức khỏe được trình bày ở hình 1.2 [24]
Hình 1.2 Các yếu tố quyết định hành vi lựa chọn và sử dụng các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe
Nhân khẩu
học
Trang 17Tình hình hoạt động của TYT và YTTB tại Việt Nam được tóm tắt qua các giai đoạn như sau:
(1) Hoạt động của y tế xã/phường trước khi có tuyên ngôn Alma - Ata:
Đây là thời kỳ của kinh tế bao cấp, việc CSSK cho nhân dân ở tuyến
xã, chủ yếu là do một loại hình dịch vụ y tế công cộng đảm nhiệm, đó là trạm
y tế xã Người quản lý trạm y tế là UBND xã và Ban quản lí hợp tác xã nôngnghiệp, nhân viên trạm y tế xã do hợp tác xã tuyển dụng và trả lương hằngtháng bằng công điểm qui ra thóc Thời kỳ này chưa có sự hoạt động của nhânviên y tế thôn bản Kinh phí hoạt động của trạm y tế chủ yếu do nhà nước baocấp, người sử dụng dịch vụ y tế đại bộ phận là xã viên hợp tác xã nôngnghiệp Hoạt động của trạm y tế xã trong thời kỳ này có những ưu điểm sau:
- Bảo đảm được nhu cầu tối cần thiết trong công tác phòng chữa bệnh
và nâng cao SKND ở nông thôn
- Một bộ phận không nhỏ nhân dân được Nhà nước bao cấp hoàntoàn về thuốc và phí dịch vụ khám, chữa bệnh qua hoạt động của trạm y tế xã
- Nhân dân được quyền hưởng thụ các dịch vụ CSSK ở tuyến cơ sởbình đẳng như nhau
- Tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống quản lý y tế Nhà nước về hoạtđộng của trạm y tế xã
Trong suốt thời kỳ bao cấp, trạm y tế xã đã hoạt động ổn định, hoànthành nhiệm vụ được giao trong đó có nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho nhândân tại cộng đồng, đồng thời trạm y tế xã đã góp phần với hệ thống y tế Nhà
nước phục vụ có hiệu quả công cuộc "Sản xuất, quốc phòng, kiến quốc, dân sinh” trong những năm chiến tranh Song với cơ chế này đã tạo thói quen
trông chờ vào y tế Nhà nước bao cấp CSSK và KCB không mất tiền
(2) Hoạt động của y tế xã/phường thời kỳ trước đổi mới (1978 - 1986):
- Đây là thời kỳ khó khăn của đất nước: khủng hoảng kinh tế trầm trọng,lạm phát tăng cao Phần lớn dân cư đói ăn do thiếu lương thực, ngoài ra nước ta
Trang 18còn bị cắt nguồn viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô(cũ), cộng với sự cấm vận toàn diện của Mỹ các yếu tố này ảnh hưởng rất lớnđến toàn bộ hoạt động của xã hội nói chung trong đó có hoạt động của y tế tuyến
cơ sở
- Ngay sau khi có tuyên ngôn Alma - Ata (1978) nước ta đã chấp nhận
và cam kết thực hiện 8 nội dung của chăm sức sức khoẻ ban đầu và thêm 2nội dung: quản lí sức khoẻ và củng cố mạng lưới y tế cơ sở Do tiếp cận vớinhững khái niệm mới, những phương pháp, kỹ năng mới về y tế cộng đồng,cùng với những khó khăn về kinh tế của đất nước nên chúng ta còn lúng túngtrong việc thực hiện các nội dung CSSKBĐ Song màng lưới y tế xã vẫn hoạtđộng do còn được bao cấp (Năm 1985 có 8.970 trạm y tế xã hoạt động)
- Do vẫn được bao cấp về thuốc và được miễn phí khi sử dụng các dịch
vụ CSSK nên mọi người khi ốm đau đều tiếp cận dễ dàng với trạm y tế xã vàcác dịch vụ y tế Nhà nước Song do suy thoái kinh tế, ngân sách dành cho y tếgiảm sút, thiếu thuốc thiết yếu, chất lượng dịch vụ y tế giảm sút không đápứng được nhu cầu CSSK ngày càng tăng của nhân dân
(3) Hoạt động của y tế xã/phường thời kỳ đổi mới (1987 đến nay):
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) quyết định "đổi mới"
chuyển nền kinh tế cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng Xãhội chủ nghĩa, chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần Sau khi có Nghị quyếtkhoán 10 - nông nghiệp khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình Những nămđầu của thập kỷ 90, y tế xã do không còn được bao cấp nên thiếu điều kiệnhoạt động do đó nhiều trạm y tế xã bị xuống cấp thậm chí có nơi tan rã, hoạtđộng chăm sóc sức khoẻ ở nông thôn sa sút và tạm thời ngừng trệ, người dân
tự lo lấy về sức khoẻ, bệnh tật của mình Từ khi có Nghị quyết của Ban chấphành Trung ương Đảng khoá VIII, Chính phủ đã có Quyết định 58/TTg vàquyết định 131/TTg quy định một số vấn đề về tổ chức, chế độ chính sách,
Trang 19trả lương cho cán bộ y tế xã Từ đó đến nay màng lưới y tế xã từng bước đượckhôi phục lại, trạm y tế xã được củng cố về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế,chất lượng cán bộ ngày càng được nâng lên, cán bộ có trình độ đại học vàtrung học chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ cao, mỗi trạm y tế xã ít nhất đã có 3 - 4cán bộ y tế được vào biên chế chính thức, hoạt động của trạm y tế xã đã đivào nề nếp Chức năng nhiệm vụ của trạm y tế xã đã được quy định cụ thể.Đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản cũng được củng cố và phát triển ở giai đoạnnày
Theo số liệu thống kê của Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế, đến ngày31/12/2011 trên toàn quốc tổng số chung thôn, bản, tổ dân phố: 129.451; tổng
số thôn, bản, ấp, tổ dân phố có NVYTTB hoạt động 107.257; tỷ lệ thôn bản,
tổ dân phố có NVYTTB hoạt động: 82,86%; tổng số NVYTTB có phụ cấp81.888 bằng 81,16% Về chuyên môn trong tổng số 100.897 NVYTTB trình
độ chuyên môn sơ học trở lên là 39.714 (39,4%); điều dưỡng được đào tạo
Về phụ cấp của YTTB: Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số75/2009/QĐ-TTg ngày 11/5/2009 quy định chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tếthôn bản Nguồn kinh phí chi trả phụ cấp tại các xã vùng khó khăn do Ngân sáchTrung ương thực hiện Tại các xã còn lại sẽ do ngân sách địa phương chi trả Đốivới những địa phương khó khăn, chưa cân đối được nguồn, ngân sách Trung ương
sẽ hỗ trợ kinh phí với bình quân mỗi thôn, bản 1 nhân viên y tế [20], [44]
Trang 201.2.3 Chức năng nhiệm vụ của y tế xã/phường trong chăm sóc sức khỏe ban đầu
* Trạm Y tế xã/phường:
Bộ Y tế đã xác định trạm y tế (TYT) xã/phường/thị trấn (gọi chung làtrạm y tế cơ sở) là đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với dân, nằm trong hệthống y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các kỹ thuật CSSKBĐ cho nhândân tại cộng đồng Về pháp lí trạm y tế xã có 4 chức năng hoạt động và 11nhiệm vụ Hoạt động của TYT được tiến hành theo 10 nội dung CSSKBĐ; 4lĩnh vực hoạt động chính của TYT xã/phường là:
+ Đông y, châm cứu, thuốc nam
+ Giáo dục truyền thông DS - KHHGĐ
+ Cung ứng thuốc thiết yếu
- Hoạt động tại cộng đồng:
Thực hiện các chương trình y tế đang triển khai tại xã/phường
- Hoạt động tại hộ gia đình:
+ Thu thập thông tin y tế
+ Thăm khám sức khoẻ, chữa bệnh tại nhà, lập sổ sức khoẻ
+ Hướng dẫn kiểm tra công tác vệ sinh phòng dịch
+ Hướng dẫn kiểm tra vườn thuốc, tủ thuốc gia đình
- Tham mưu cho Hội đồng nhân dân, UBND xã/phường về:
+ Các biện pháp về lồng ghép hoạt động y tế
+ Biện pháp lồng ghép về phòng chống tệ nạn xã hội
+ Đưa hoạt động y tế vào kế hoạch của UBND xã/phường
Trang 21+ Chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục pháp luật về y tế.
+ Xã hội hoá công tác CSSKND
Trạm y tế xã là y tế tuyến đầu, nơi nhân dân tiếp xúc đầu tiên với hệthống y tế nhà nước, còn là nơi cuối cùng để thực hiện tất cả các hoạt độngbảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân [10]
* Y tế thôn/bản:
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 07/2013/TT-BYT ngày 08/3/2013Quy định tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của cô đỡ thôn, bản, cụ thể:
- Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:
+ Thông tư này quy định về tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhânviên y tế thôn, bản, ấp, buôn, làng, phum, sóc (sau đây gọi là thôn, bản)
+ Nhân viên y tế thôn, bản bao gồm:
(a) Nhân viên y tế thôn, bản làm công tác chăm sóc cức khỏe ban đầu(sau đây gọi là nhân viên y tế thôn, bản);
(b) Nhân viên y tế thôn, bản làm công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ vàtrẻ em (sau đây gọi là cô đỡ thôn, bản) ở thôn, bản có nhiều người dân tộc thiểu
số sinh sống, còn tồn tại phong tục, tập quán không đến khám thai, quản lý thai
và đẻ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xãhội đặc biệt khó khăn, có diện tích rộng, giao thông khó khăn, phức tạp, khả ăngtiếp cận của người dân với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hạn chế
+ Nhân viên y tế tổ dân phố áp dụng tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụtheo quy định của Thông tư này
+ Thông tư này không áp dụng đối với cộng tác viên của các chươngtrình y tế
- Tiêu chuẩn của nhân viên y tế thôn/bản, cô đỡ thôn, bản:
+ NVYTTB làm công tác CSSKBĐ có trình độ chuyên môn về y
từ sơ cấp trở lên hoặc đã qua các lớp đào tạo nhân viên y tế thôn/bản theokhung chương trình do Bộ Y tế quy định, tối thiểu là 3 tháng Cô đỡ thôn, bản
Trang 22đã hoàn thành khóa đào tạo có thời gian từ 6 tháng trở lên theo khung chươngtrình đào tạo cô đỡ thôn, bản của Bộ Y tế.
+ Đang sinh sống, làm việc ổn định tại thôn/bản; tự nguyện tham gialàm nhân viên y tế thôn/bản
+ Có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội,
có khả năng vận động quần chúng và được cộng đồng tín nhiệm
+ Có đủ sức khoẻ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định
- Chức năng:
+ Nhân viên y tế thôn/bản có chức năng tham gia các hoạt độngCSSKBĐ tại thôn/bản
+ Cô đỡ thôn, bản có chức năng tham gia công tác CSSKBMTE tại thôn, bản
- Nhiệm vụ của NVYTTB:
(1) Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng;
(2) Tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế tại cộng đồng;(3) Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và KHHGĐ;
(4) Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường;
(5) Tham gia thực hiện các chương trình y tế tại thôn/bản;
(6) Vận động, hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tạigia đình để phòng và chữa một số chứng, bệnh thông thường;
(7) Tham gia giao ban định kỳ với TYT xã/phường, thị trấn; tham giacác khoá đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan y tế cấptrên tổ chức và tự học tập để nâng cao trình độ;
(8) Quản lý và sử dụng hiệu quả túi y tế thôn/bản;
(9) Thực hiện ghi chép, báo cáo kịp thời, đầy đủ theo quy định
- Nhiệm vụ của cô đỡ thôn, bản:
(1) Tuyên truyền, vận động về chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em;(2) Thực hiện chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi mang thai;
Trang 23(3) Định kỳ chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ tại nhà;
(4) Hướng dẫn thực hiện KHHGĐ, cung cấp và hướng dẫn sử dụng baocao su, viên thuốc uống tránh thai theo quy định của Bộ Y tế;
(5) Phối hợp tham gia thực hiện các chương trình y tế tại thôn, bản;(6) Tham gia giao ban định kỳ với TYT xã, tham gia các khóa đào tạo,tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan y tế cấp trên tổ chức để nângcao trình độ;
(7) Quản lý và sử dụng hiệu quả Túi cô đỡ thôn, bản;
(8) Thực hiện ghi chép, báo cáo kịp thời, đầy đủ theo hướng dẫn của TYT xã
- Mối quan hệ của NVYTTB:
+ Nhân viên YTTB chịu sự quản lý, chỉ đạo và trực tiếp hướng dẫn vềchuyên môn kỹ thuật của trạm y tế xã
+ Nhân viên YTTB chịu sự quản lý, giám sát về hoạt động của Ủy bannhân dân cấp xã, Trưởng thôn, bản
+ Nhân viên YTTB có mối quan hệ phối hợp với các tổ chức quần
chúng, đoàn thể tại thôn, bản [11], [12]
1.3 Tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKBĐ tại tỉnh Ninh Bình và huyện Nho Quan
1.3.1 Công tác tổ chức:
- Theo số liệu của Sở Y tế Ninh Bình, tính đến 31 tháng 12 năm 2012,
toàn tỉnh Ninh Bình có: tổng số thôn, bản, tổ dân phố là 3.265; số thôn, bản, tổ dân phố có NVYTT hoạt động là 3.118; tỷ lệ thôn bản, tổ dân phố có NVYTT
hoạt động chiếm 95,5% Về trình độ chuyên môn: số đại học, trung học và sơhọc là 1.271 (40,8%); điều dưỡng từ 3-9 tháng là 1.405 (45,1%); cán bộ khác là
442 (14,1%)
- Về chế độ phụ cấp: thực hiện theo Quyết định số 75/2009/QĐ-TTgngày 11/5/2009 quy định chế độ phụ cấp đối với NVYTTB Tỉnh Ninh Bình
Trang 24đã chi trả cho 100% NVYTTB có chế độ phụ cấp, phụ cấp thực hiện theoNghị quyết số 25/2010/NQ - HĐND ngày 17 tháng 12 năm 2009 của HĐNDtỉnh Ninh Bình về việc bãi bỏ Nghị quyết số 36/2006/NQ-HĐND ngày12/12/2006 của HĐND tỉnh về mức phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, bản.
Cụ thể là các thôn thuộc phường/xã được hưởng 0,3 mức lương cơ bản/tháng;các thôn, bản thuộc các xã miền núi hưởng 0,5 mức lương cơ bản/tháng [30]
1.3.2 Tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKBĐ:
Theo nghiên cứu của Đỗ Văn Dung (2010) về thực trạng cung cấp và
sử dụng dịch vụ CSSKBĐ tại cộng đồng của tỉnh Ninh Bình, cho thấy bức tranhtương đối toàn diện về đội ngũ cán bộ y tế xã, chất lượng cung cấp và sử dụngdịch vụ CSSKBĐ Tác giả tuy chưa đánh giá riêng giữa hoạt động của TYT vàYTTB, nhưng cũng có thể cho chúng ta thấy vai trò hoạt động của YTTBtrong việc cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKBĐ tại cộng đồng, cụ thể:
(1) Thực trạng nhân lực y tế tại xã:
- Đội ngũ cán bộ y tế xã phường có độ tuổi trung bình 39,9% Nhóm tuổi
31-40 chiếm tỷ lệ cao nhất (31-40,4%), nhóm tuổi từ 51 trở lên tỷ lệ thấp nhất13,9% Phân bố giới tính cán bộ nữ là chủ yếu chiếm 80,14%
- Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế xã chủ yếu là y sỹ và điềudưỡng chiếm 31,8%; bác sỹ chiếm tỷ lệ 11,3%; nữ hộ sinh 13,2%; dược sỹ vàdược tá chiếm tỷ lệ thấp
- Tỷ lệ % trạm y tế xã có bác sỹ 56,7%
- Tỷ lệ CBYT được làm việc đúng chuyên môn đào tạo 93,6%
- Kiến thức của CBYT về các nội dung CSSKBĐ: kể được trên 6 nộidung 46,1%; không kể được nội dung nào 1,4% Tỷ lệ CBYT được tập huấn
về chuyên môn 85,8%
- Nhận thức của CBYT về các tiêu chí của dịch vụ y tế để đáp ứngtốt nhu cầu CSCKBĐ là: có trình độ chuyên môn tốt 88,7%; địa điểm và
Trang 25thời gian thuận lợi 73%; thái độ niềm nở nhiệt tình 72,3%; không phải chờđợi lâu 27%.
(2) Thực trạng cơ sở vật chất, CSSKBĐ tại trạm y tế xã:
- Tổng số lượt khách hàng trung bình/năm tới trạm để khám điều trị 6535
- Tổ chức làm việc tại trạm: có bảng thông báo giờ làm việc 20,7%; cóbảng giới thiệu các dịch vụ 72,4%; có bảng thông báo quyền khách hàng 65,5%
- Tình hình vệ sinh của các trạm: có dụng cụ để rác 79,3%; có nguồn cungcấp nước sạch thường xuyên 31%; có nhà vệ sinh đảm bảo hợp vệ sinh 82,8%
- Tỷ lệ % TYT có cơ sở vật chất phục vụ khách hàng khi chờ đợi: có khuvực ngồi chờ 86,2%; có ghế ngồi 75,8%; có nước uống khi ngồi chờ 58,6%
- Tỷ lệ % TYTX có phòng truyền thông 72,6%; có phòng phòng chốngnhiễm khuẩn riêng 93,1%; có vòi nước sạch và rửa tay có xà phòng 79,3%
- Tỷ lệ mới mắc 19,42; tỷ lệ mắc bệnh chung 26,57%
- Tỷ lệ trẻ sơ sinh có trọng lượng dưới 2500g 11,6%; trẻ em 0- 5 tuổi bịsuy dinh dưỡng 18,7%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi được theo dõi bằng biểu đồ99,6%; tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 99,5%; tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm phònguốn ván 99,8%; tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai từ 3 lần trở lên 96,7%
(3) Thực trạng sử dụng dịch vụ CSSKBĐ của người dân:
- Hiểu biết của người dân về các nội dung hoạt động CSSKBĐ tại xãTCMR 90,4%; điều trị bệnh thông thường 87,3%; giáo dục sức khoẻ 86,4%;bảo vệ bà mẹ trẻ em KHHGĐ 76,7%
- Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu 94,8%; tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh 76%
- Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch: nước máy 34,7%; nước mưa48,6%; nước giếng khoan 5,3%
- Nơi khám bệnh đầu tiên khi ốm là: YTT 23%, trạm y tế xã 38,8%;thày thuốc tư nhân 30,3%; tuyến huyện, tỉnh 7,9%
Trang 26- Lý do không sử dụng dịch vụ CSSKBĐ tại trạm y tế là không tintưởng chuyên môn 79,1%; thiếu phương tiện thuốc thiết yếu 48,5%; thái độphục vụ không tốt 26,7%.
- Lý do người ốm khám bệnh ở trạm y tế xã chiếm tỷ lệ cao nhất là gầnnhà 39,2%; tin tưởng chuyên môn 33,1%; thái độ phục vụ tốt 32,3%
- Tỷ lệ phụ nữ 15-49 có con dưới 24 tháng tuổi sử dụng dịch vụCSSKBĐ tại xã cao 95%
- Tỷ lệ phụ nữ khi có thai đi khám tại trạm y tế 54,3%; tuyến trên25,9%; y tế tư nhân 13,9% [22]
1.3.3 Tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ YTT tại huyện Nho Quan
Tại huyện Nho Quan mạng lưới y tế thôn, đội đã có hàng chục năm nay
và có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân của huyện, huyện Nho Quan đã phủ 100% thôn, đội cóNVYTTB Toàn huyện có 286 thôn, đội với 286 NVYTTB và họ được hưởngchế độ phụ cấp theo quy định
Trình độ chuyên môn của đội ngũ NVYTTB chưa đồng đều, khoảng 1/3
số cán bộ mới có trình độ chứng chỉ YTT, trình độ học vấn vẫn còn một số ởtrình độ THCS, chất lượng họat động còn nhiều bất cập, một số NVYTTBchưa định hình rõ các chức năng nhiệm vụ của mình, hoạt động thụ động chỉtham gia một số chương trình y tế khi có sự điều động của TYT, chính quyền
xã, thôn v.v [46]
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- NVYTTB
- Hộ gia đình (chủ hộ hoặc người nắm vững thông tin có tuổi từ 18 tuổi trở lên)
- Người liên quan đến quản lý dịch vụ YTTB: giám độc TTYT, trạmtrưởng TYT, chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND xã, trưởng thôn
2.1.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình NhoQuan là một huyện miền núi nằm phía tây bắc của tỉnh Ninh Bình phía bắcgiáp các huyện Yên Thủy và Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp huyệnThạch Thành tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp thị xã Tam Điệp, phía đông giápcác huyện Gia Viễn, Hoa Lư Nho Quan có diện tích tự nhiên 475 km² (gần 1/3diện tích cả tỉnh) và dân số 172.514 người (năm 2012), trong đó người Kinhchiếm gần 90% và người Mường trên 10% Có dòng sông Bôi nối với sôngHoàng Long đổ ra sông Đáy Huyện có 3 quốc lộ 12B, 45, 38B; đại lộ Tràng
An và các tỉnh lộ 438, 477, 492 chạy qua Nho Quan gồm có thị trấn NhoQuan, và 26 xã đều là miền Núi
Địa hình huyện Nho Quan hầu hết là đồi núi, bao gồm các xã phía TâyBắc, Tây Nam và phía Bắc huyện, bên cạnh đó còn có một số xã thuộc bánsơn địa và đồng chiêm trũng Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tâysang Đông, độ cao so với mặt nước biển từ +3 đến +5 độ Do đặc điểm địa lý
tự nhiên phức tạp, Nho Quan thường chịu hậu quả nặng nề ro thiên tai gây ra,
Trang 28khi nắng kéo dài thì vùng đồi núi hay bị hạn hán, vùng chiêm chũng hay bị lũlụt Trong khi đó người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp và trồng rừng,cho nên hay bị mất mùa Về văn hóa xã hội ở huyện thì dân trí thấp hơn sovới các huyện khác, mặt bằng kinh tế xã hội của huyện thấp hơn nhiều so vớimặt bằng chung của tỉnh; tuy nhiên trong những năm gần đây tình hình kinh
tế xã hội đang có nhiều thay đổi, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 9,97% năm 2009xuống 8,09% năm 2013, hộ cận nghèo năm 2013 là 6,68% (theo tiêu chí mới).Đến nay, toàn huyện có 242 khu dân cư tiên tiến và tiên tiến xuất sắc, đạt gần85%, số hộ gia đình văn hoá chiếm 83%, 48 trường đạt chuẩn quốc gia, 6 xãđạt chuẩn quốc gia về y tế Về tình hình công tác y tế, Nho Quan là huyện vẫncòn một số phong tục tập quán cũ như sử dụng phân tươi bón lúa, hoa mầu,rau quả vẫn còn ở một số xã; vì vậy mô hình bệnh tật của huyện Nho Quancòn phức tạp, chính vì những hậu quả đó mà tình hình bệnh dịch hay xảy ra sovới các huyện khác; khi người dân bị ốm đau cũng gặp nhiều khó khăn trongviệc đi lại khi tiếp cận với các dịch vụ y tế Hiện tại, hệ thống y tế của huyện
có 1 bệnh viện đa khoa, 1 TTYT, 4 phòng khám đa khoa khu vực, 27 TYT xã,
1 hiệu thuốc, 27 đại lý thuốc thuộc các xã, mạng lưới y tế tư nhân trên địa bànkhá phong phú (2 PKĐKKV, 48 người hành nghề tư nhân, 6 nhà thuốc và 41đại lý thuốc) góp phần không nhỏ trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dânđịa phương
Tại huyện Nho Quan mạng lưới y tế thôn, đội đã có hàng chục năm nay
và có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân của huyện, huyện Nho Quan đã phủ 100% thôn, đội cóNVYTTB Toàn huyện có 286 thôn, đội với 286 NVYTTB [36], [46]
Trang 292.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu của đề tài, chúng tôi sử dụng thiết kếnghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứuđịnh lượng với định tính
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
a Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:
- Phỏng vấn NVYTTB: toàn huyện có 286 NVYTTB, chúng ta phỏng vấntoàn bộ số nhân viên đó Thực tế chúng ta đã phỏng vấn được 283 đối tượng
- Phỏng vấn HGĐ:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho so sánh sự khác nhau giữa 2 tỷ lệ ở
2 quần thể:
) , ( 2
Z n
) 2 1 (
) 2 1 ( 2 ) 1 1 ( 1
p p
p p
p p
Thay các giá trị vào công thức ta có n1 = n2 = 262
Ước tính có một số HGĐ từ chối phỏng vấn, phiếu sai nên cộng thêm10% n và làm chòn, cỡ mẫu cho mỗi quần thể trong nghiên cứu này là 300HGĐ [23]
Cách chọn mẫu:
- NVYTTB: Mẫu toàn bộ (phụ lục 9)
- HGĐ: Chọn mẫu nhiều giai đoạn
Trang 30+ Giai đoạn 1: Chọn xã nghiên cứu
Huyện Nho Quan có tổng số 27 xa miền núi Trong đó có 6 xã đạtchuẩn về y tế theo tiêu trí quốc gia, còn lại 21 xã không đạt chuẩn [10] Tachọn toàn bộ xã đạt chuẩn (6 xã), và 6 xã không đạt chuẩn đưa vào mẫunghiên cứu (bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên)
Danh sách các xã đạt chuẩn: Gia Tường, Thị trấn Ngo Quan, ĐồngPhong, Thượng Hòa, Thanh Lạc và Kỳ Phú
Danh sách các xã không đạt chuẩn: Gia Thủy, Gia Sơn, Văn Phú, VănPhong, Phú Long và Phú Lộc
+ Giai đoạn 2: chọn cụm nghiên cứu theo phương pháp 30 cụm (PPS):
6 xã đạt chuẩn (toàn bộ số xã dạt chuẩn):
Xã đạt chuẩn Dân số Tỷ lệ dân số (%) Số cụm của từng xã
+ Giai đoạn 3: chọn HGĐ
Trang 31Mỗi cụm nghiên cứu chọn 10 HGĐ theo phương pháp quay cổ chai Đếngiữa thôn tiến hành quay cổ chai, đi theo hướng chỉ của chai để tìm HGĐ đầutiên, sau đó ra khỏi ngõ đi theo hướng tay phải vào các nhà kề ngõ nhau, chođến khi đủ 10 HGĐ.
b Đối với nghiên cứu định tính:
- Thảo luận nhóm: 2 nhóm NVYTTB của:
1 xã đạt chuẩn: xã Gia Tường (10 người)
1 xã không đạt chuẩn: Văn Phong (10 người)
- Phỏng vấn sâu: gồm 6 cuộc, với các đối tượng:
+ Giám đốc TTYT huyện
+ 2 phó chủ tịch UBND xã (Gia Tường, Văn Phong)
+ 2 trưởng trạm y tế xã (Gia Tường, Văn Phong)
+ 1 trưởng thôn (Gia Tường)
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
a Nghiêu cứu định lượng:
+ Nội dung chi tiết bảng hỏi: phụ lục 1
+ Địa điểm thu thập số liệu: tại nhà riêng của NVYTTB
+ Điều tra viên: 06 cán bộ y tế của TTYT huyện Nho Quan
+ Giám sát viên: là người nghiên cứu và 1 giảng viên của trường Caođẳng Y tế Ninh Bình Người nghiên cứu trực tiếp điều tra 10% số phiếu (30phiếu) Giám sát viên có nhiệm vụ hỗ trợ ĐTV trong quá trình điều tra, kiểmtra lại các phiếu đã điều tra và điều tra lại 5% số phiếu của ĐTV
Trang 32+ Số phiếu điều tra thực tế là 283 phiếu Có 3 phiếu điều tra sai (hỏng).
- Điều tra HGĐ:
+ Nội dung chi tiết của bảng hỏi: phụ lục 2, phụ lục 3
+ Địa điểm thu thập số liệu: tại HGĐ của 12 xã
+ Điều tra viên: 06 cán bộ y tế của TTYT huyện Nho Quan và 06 giảngviên của trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
+ Giám sát viên: là người nghiên cứu và 1 giảng viên của trường Caođẳng Y tế Ninh Bình Người nghiên cứu trực tiếp điều tra 10% số phiếu (60phiếu), và điều tra lại 10% phiếu của ĐTV
+ Số HGĐ thực tế điều tra: 600
- Bộ công cụ đã được kiểm nghiệm và chỉnh sửa trước khi tập huấn
- Tập huấn bộ công được triển khai tại TTYT 1 buổi trong 3 giờ, thànhphần gồm lãnh đạo TTYT, trưởng các khoa phòng của TTYT, 02 giám sátviên và 12 ĐTV, bộ công cụ đã được thông qua và giải đáp mọi thắc mắc
b Nghiên cứu định tính:
- Thảo luận nhóm:
+ Đối tượng nghiên cứu: NVYTTB
+ Số lượng: 2 cuộc
+ Thời gian: mỗi cuộc 90 phút
+ Nội dung: thảo luận nhóm tập trung theo chủ đề (phụ lục 4)
+ Hướng dẫn thảo luận nhóm: người nghiên cứu
+ Công cụ hỗ trợ: máy ghi âm, bản ghi chép nội dung thảo luận nhóm
- Phỏng vấn sâu:
+ Đối tượng nghiên cứu: giám đốc TTYT, phó chủ tịch xã, trạm trưởngTYT, trưởng thôn
+ Số lượng: 6 cuộc
+ Thời gian: mỗi cuộc 90 phút
+ Nội dung: phỏng vấn sâu theo chủ đề (phụ lục 5, 6, 7, 8)
Trang 33+ Người phỏng vấn: người nghiên cứu
+ Công cụ hỗ trợ: máy ghi âm, bản ghi chép nội dung phỏng vấn
2.2.4 Một số định nghĩa chỉ tiêu nghiên cứu
- Dịch vụ YTTB: là những chăm sóc y tế cơ bản, thiết yếu mà NVYTTB
có khả năng cung cấp đáp ứng nhu cầu của người dân tại cộng đồng
- NVYTTB: là người được UBND xã và TTYT huyện quyết định làmnhiệm vụ y tế thôn Văn bằng chuyên môn do các trường y - dược cấp
- Túi Y tế thôn: gồm o1 túi (bao) đựng và các thiết bị, phương tiệnđược trang bị theo quy định của Bộ Y tê (Khi kiểm đếm túi YTT, nếu nhưTúi Y tế thôn không có ruột hoặc chỉ có 1 – 2 loại dụng cụ không quan trọngthì nhóm tác giả coi Túi đó là không có)
- Túi thuốc: một số loại thuốc thông thường thiết yếu mà NVYTTBđược trang bị hoặc tự trang bị
- Phương tiện, dụng cụ y tế: một số phương tiện, dụng cụ thiết yếu phục
vụ cho công tác chuyên môn tại thôn
- Tiêu chuẩn xác định kinh tế hộ gia đình bệnh nhân:
Căn cứ chỉ thị số 1752/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quyđịnh tiêu chí hộ nghèo giai đoạn 2011-2015 và quyết định số 09/2011/QĐ-TTg rangày 30/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành về việc chuẩn hộ nghèo, hộcận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau:
+ Đối với khu vực nông thôn:
Hộ nghèo: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng trở xuống
Hộ cận nghèo: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 520.000 đồng/người/tháng
-+ Đối với khu vực thành thị:
Hộ nghèo: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng trở xuống
Trang 34Hộ cận nghèo: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 650.000 đồng/người/tháng [21].
-Trong quá trình điều tra về kinh tế hộ gia đình bệnh nhân chúng tôi đãthu thập thông tin từ hai nguồn là từ bệnh nhân (hoặc người nhà bệnh nhân)
và từ sổ sách thống kê của ủy ban nhân dân xã Chúng tôi quy ước:
Hộ nghèo tương ứng mức kinh tế nghèo
Hộ cận nghèo tương ứng mức kinh tế trung bình
Ngoài hai loại trên còn lại là mức kinh tế khá (thu nhập bình quân từ651.000 đồng/người/tháng trở lên ở thành phố, từ 521.000 đồng/người/thángtrở lên ở nông thôn)
- HGĐ: hộ gia đình là “có một hoặc nhiều người sống chung trong mộtmái nhà hoặc một đơn vị nơi ở, chia sẻ việc chi tiêu và thường ăn chung” [41]
- Trường hợp ốm đau nghiên cứu được định nghĩa là tình trạng bấtthường về sức khỏe kéo dài từ nửa ngày trở lên Tình trạng bất thường này tựngười được hỏi nhận thức và báo cáo Như vậy, kết quả sẽ phụ thuộc vàonhận thức về bệnh và thái độ khi trả lời Có mối liên hệ giữa ốm đau và bệnh tật,
vì có bệnh mới bị ốm Khi đã nói ra là ốm có nghĩa là có yêu cầu được chữabệnh Yêu cầu có thể chưa hoàn toàn đúng với nhu cầu được khám chữa bệnh.Nhu cầu khám chữa bệnh lại được xác định bằng cách phát hiện các triệu chứng
cơ năng, thực thể Yêu cầu hay “bệnh tự khai” hay “ốm đau” lại thể hiện ở triệuchứng cơ năng, một số biểu hiện thực thể, sự giảm chức năng, mất khả năng laođộng Người trả lời phỏng vấn có thể là từng người ốm đau trong 4 tuần quahoặc thông qua người nắm rõ thông tin nhất thường là chủ hộ
2.3 Các biến số nghiên cứu
2.3.1 Các biến số về cung cấp dịch vụ YTTB:
- Thông tin chung NVYTTB;
- Những quy định về tổ chức, nhân lực đang thực hiện;
- Địa điểm làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho YTTB;
Trang 35- Các hoạt động theo chức trách, nhiệm vụ được giao;
- Mức độ hài lòng của người dân với các điều kiện, chính sách và cácyếu tố liên quan;
- Các yếu tố liên quan;
- Các kiến nghị, đề xuất về tổ chức, nhân lực và chính sách liên quan đểduy trì tính bền vững của nguồn nhân lực trong việc nâng cao chất lượng cungcấp dịch vụ YTTB
2.3.2 Các biến số về sử dụng dịch vụ YTTB:
- Thông tin chung về người sử dụng dịch vụ YTTB;
- Tình hình ốm đau của người dân;
- Tình hình sử dụng dịch vụ YTTB;
- Các yếu tố liên quan
2.4 Xử lý số liệu
- Phần nghiên cứu định lượng: sử dụng phần mềm SPSS 18.0
- Phần nghiên cứu định tính: chọn lọc và trích dẫn thông tin
2.5 Hạn chế, khó khăn của đề tài
- Do hạn chế về nguồn nhân lực và thời gian nên nghiên cứu chỉ dừng lại
ở mức mô tả, có phân tích chỉ nói lên thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụYTTB tại một huyện nên việc suy rộng kết quả nghiên cứu cho các huyệnkhác trong tỉnh cũng như các địa phương khác sẽ hạn chế Nghiên cứu cắtngang ở một thời điểm nên không suy rộng kết quả nghiên cứu ở các thờiđiểm (mùa) khác được
- Sai số nhớ lại
- ĐTV gợi ý trả lời làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu liên quan đến chính sách xã hội, liên quan tới quyền
và lợi ích của đối tượng nghiên cứu
Trang 36Trong nghiên cứu chúng ta phải bảo vệ, giữ bí mật những thông tin của đốitượng nghiên cứu, đặc biệt những thông tin thu được qua nghiên cứu định tính
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng xét duyệt của trường Đại học Dược Thái Bình thông qua và có sự đồng ý nhất trí của đối tượng nghiên cứu
Trang 37Y-Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ Y tế thôn, bản
3.1.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ y tế thôn, bản
3.1.1.1 Thông tin chung về nhân viên Y tế thôn, bản
Bảng 3.1 Phân bố NVYTTB theo giới tính, tuổi, hôn nhân, học vấn và
chuyên môn, chuyên ngành (n=283)
Trang 38NVYTTB mới có chứng chỉ YTTB chiếm tỷ lệ cao nhất (42%), trình
độ sơ cấp chiếm 35,7%, số có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp trở lênchiếm tỷ lệ còn thấp (22,3%)
Bảng 3.2 Thu nhập của NVYTTB/tháng
Trang 39Kiêm nhiệm công tác dinh dưỡng là 124 người: số thu nhập thêm trongtháng chủ yếu từ 10-16 ngàn (66,9%), thu nhập 50 ngàn chiếm 31,5%.
Nguồn thu nhập chính của NVYTTB là nghề nông (89%), thu nhập từcông tác YTTB chiếm tỷ lệ nhỏ nhất (0,7%)
Thu nhập bình quân đầu người/tháng của NVYTTB hầu hết là ở mứckhông nghèo (96,5%), vẫn còn 3,5% ở mức nghèo
Bảng 3.3 Phân bố NVYTTB theo thâm niên công tác; địa điểm, thời điểm
và thời gian làm việc trong ngày (n=283)
Thời gian trung bình: 9 năm 6 tháng; ít nhất: 1 tháng; nhiều nhất: 41 năm
2 Địa điểm làm việc (thường xuyên):
Thời gian trung bình: 1 giờ 30; thời gian ít nhất: 30 phút; thời gian nhiều nhất: 4 giờ
Thâm niên công tác của NVYTTB tương đối dài, hơn một nửa số họ(53%) có thâm niên trên 10 năm Thời gian công tác trung bình là 9 năm 6tháng Địa điểm làm việc của NVYTTB phần lớn tại các HGĐ của người dân(56,2%), làm việc tại nhà riêng của họ chiếm 20,8%, số còn lại làm việc tại nhà
Trang 40văn hóa thôn (19,8%) và trạm y tế (3,2%) Thời điểm làm việc của ĐTNC tươngđối linh động, tùy từng hoàn cảnh và công việc mà họ triển khai công việc(60,8%), số làm việc tranh thủ vào buổi trưa (49,1%) và buổi tối (45,6%) tươngđối phổ biến, số làm việc vào giờ hành chính (13,1%) và sáng sớm (12,7%) diễn
ra ít hơn Thời gian mà NVYTTB dành cho công tác y tế trong ngày chủ yếuchiếm 2 giờ (48,4%) và 1 giờ (44,9%) Thời gian trung bình là 1 giờ 30 phút
3.1.1.2 Hoạt động chuyên môn của nhân viên y tế thôn, bản
Bảng 3.4 Phân bố NVYTTB theo chủ đề tập huấn trong năm qua (n=283)
Có tập huấn 277 97,9Không được tập huấn 6 2,1
3 So cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường 86 30,4
4 Các chương trình y tế tại cộng đồng 236 83,4
Bảng 3.4 cho thấy: trong năm qua có 97,9% NVYTTB được dự các lớpđào tạo, tập huấn về y tế Trong số các chủ đề, các chương trình y tế tại cộngđồng được tổ chức nhiều nhất (83,4%), sau đó là CSSKSS (57,2%), TT-GDSK(43,1%), Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường 30,4%, thống kê báocao 32,5% và thấp nhất là nuôi trồng và sử dụng thuốc nam 14,1%
Qua PVS ông Hoàng Anh T, giám đốc TTYT huyện Nho Quan cho
hay: “TTYT và TYT đã quan tâm tập huấn cho đội ngũ NVYTTB nhưng thực
tế trình độ chuyên môn, tay nghề của anh em chưa đồng đều,còn nhiều hạn chế, bất cập do bằng cấp chuyên môn rất khác nhau vì vậy công tác đào tạo, tập huấn cho đội ngũ này vẫn cần phải quan tâm hơn nữa, đặc biệt là những anh em ở trình độ từ sơ cấp trở xuống mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ”.
Bảng 3.5 Phân bố NVYTTB theo các đối tượng quản lý (n=283)