Theo như nghiên cứu của tiến sĩ Bottomley A 1998 thì những triệu chứng lo âu rấtphổ biến trên bệnh nhân ung thư nhưng lại thường ít được chẩn đoán và điều trị dẫnđến nhiều trường hợp ngư
Trang 2TRỊNH PHƯƠNG THẢO
T×NH TR¹NG LO ¢U Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN TR£N BÖNH NH¢N UNG TH¦ §IÒU TRÞ T¹I TRUNG T¢M
Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện
Mã số: 60720701 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS TRƯƠNG VIỆT DŨNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Long - Chủ tịch hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học - Bộ Y tế, thầy đãtận tình hướng dẫn, định hướng và chỉ bảo cặn kẽ cho em trong suốt quá trình thựchiện đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Ban Lãnh đạo và Phòng Đào tạo sau đạihọc của Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi
để em có thể hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đạihọc Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo môi trường học tập thuận lợi cho em trongsuốt thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô của Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tếCông cộng, trường Đại học Y Hà Nội đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho emtrong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo Trung tâm Y học hạt nhân và Ungbướu - bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề tàinghiên cứu này
Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, người thân,bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ để em không ngừng học tập và phầnđấu trưởng thành như ngày hôm nay
Hà Nội, ngày 31 tháng 05 năm 2016
Học viên
Trịnh Phương Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội.
- Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Y Hà Nội.
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng _ Trường Đại học Y
Hà Nội.
- Bộ môn Tổ chức và quản lý y tế - Trường Đại học Y Hà Nội.
- Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ năm học 2015-2016.
Em xin cam đoan đây là nghiên cứu của em Các số liệu, cách xử lý, phântích số liệu là hoàn toàn trung thực và khách quan Các kết quả nghiên cứu này chưađược công bố ở trên bất kỳ tài liệu nào
Hà Nội, ngày 31 tháng 05 năm 2016
Học viên
Trịnh Phương Thảo
Trang 5Số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật
Tiêu chuẩn chẩn đoán các bệnh tâm thần phiên bản 4
Tổ chức đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu
HADS Thang đánh giá lo âu và trầm cảm tại bệnh việnICD – 10 Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh ung thư 3
1.1.1 Những khái niệm cơ bản về bệnh ung thư 3
1.1.2 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ung thư 4
1.1.3 Các nguyên tắc và phương pháp điều trị ung thư 5
1.1.4 Dịch tễ học và gánh nặng của bệnh ung thư 6
1.2 Rối loạn lo âu 8
1.2.1 Một số khái niệm về lo âu 8
1.2.2 Phân loại các rối loạn lo âu 9
1.2.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu 10
1.3 Rối loạn lo âu trên bệnh nhân ung thư 10
1.3.1 Tâm lý của bệnh nhân ung thư 10
1.3.2 Một số nghiên cứu về lo âu trên bệnh nhân ung thư 11
1.3.3 Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.2 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 18
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 18
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu 18
2.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 19
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 19
Trang 72.6 Khống chế sai số trong nghiên cứu 22
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 23
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 30
3.2.1 Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu 30
3.2.2 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu 32
3.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 39
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 45
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 45
4.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 49
4.2.1 Tỉ lệ lo âu chung 49
4.2.2 Tỉ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học 50
4.2.3 Tỉ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm bệnh 51
4.2.4 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm môi trường bệnh viện 52
4.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 53
4.3.1 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu (phân tích đơn biến) 54
4.3.2 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu (phân tích đa biến) 58
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 60
KẾT LUẬN 60
KHUYẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 1.1 Phân biệt u lành và u ác theo đặc tính sinh học 3 Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý 9 Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 24 Bảng 3.2 Thông tin chung về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu 27 Bảng 3.3 Thông tin chung về môi trường bệnh viện 29 Bảng 3.4 Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang HADS 30 Bảng 3.5 Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang SAS 31 Bảng 3.6 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm thông tin
cá nhân 32 Bảng 3.7 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm bệnh 35 Bảng 3.8 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm môi
trường bệnh viện 37 Bảng 3.9 Mối liên quan giữa các yếu tố về nhân khẩu học đến tình trạng lo
âu của bệnh nhân 39 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa các yếu tố về kinh tế đến tình trạng lo âu của
người bệnh 40 Bảng 3.11 Mối liên quan giữa các loại ung thư và quá trình điều trị đến tình
trạng lo âu của bệnh nhân 41 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa các yếu tố về môi trường bệnh viện đến tình
trạng lo âu của bệnh nhân42 Bảng 3.13 Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của người bệnh 43
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, bệnh ung thư đang là một trong những nguyên nhân gây tử vonghàng đầu trên toàn thế giới với một tốc độ gia tăng đáng báo động [1] Theo như lờikêu gọi Hành động toàn cầu chống ung thư của Tổ chức y tế thế giới (WHO) vàHiệp hội phòng chống ung thư quốc tế (UICC), năm 2000 đã có 22,4 triệu ngườiđang sống với ung thư trong đó có 10,1 triệu ca mới mắc Căn bệnh này cũng đã lấy
đi mạng sống của 6,2 triệu người chiếm 12,6% nguyên nhân của tất cả các trườnghợp tử vong và con số này thậm chí còn nhiều hơn so với tỷ lệ tử vong gây ra bởiHIV/AIDS, lao và sốt rét cộng lại [2] Đến năm 2002, số người chết vì ung thư đãtăng lên là 6,7 triệu người và sau hai năm số bệnh nhân tử vong do ung thư đã là 7,4triệu chiếm hơn 13% nguyên nhân gây ra tất cả các trường hợp tử vong [3], [4] Mớiđây, theo nghiên cứu về gánh nặng ung thư toàn thế giới của Tổ chức đánh giá gánhnặng bệnh tật toàn cầu (GBD), năm 2013 có 14,9 triệu ca mới mắc, 8,2 triệu ngườichết vì ung thư chiếm 15% nguyên nhân trong tất cả các trường hợp tử vong [5].Trên đà gia tăng ngày càng nhanh, người ta dự đoán rằng sau 2 thập kỉ nữa, sẽ cókhoảng 20 triệu người mới mắc ung thư và hơn 10 triệu người chết vì căn bệnh nàymỗi năm [6]
Tại Việt Nam, theo báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2014 của Bộ Y tế vànhóm đối tác, mỗi năm ước tính có 125.000 trường hợp mới mắc và hơn 80.000người chết vì ung thư Cũng theo báo cáo trên, tại Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh ung thưtăng nhanh cùng với việc hơn 70% số bệnh nhân đến khám và chữa trị đều đã ở giaiđoạn III hoặc IV dẫn đến những tổn thất rất nặng nề đối với toàn xã hội [7]
Ngày nay, nền y học và khoa học kĩ thuật phát triển hiện đại với nhữngphương pháp điều trị tiên tiến, hiệu quả đã mang thêm niềm hi vọng cho bệnh nhânung thư nhưng những gánh nặng mà họ phải chịu đựng vẫn là rất lớn [8] Bên cạnhviệc đối mặt với các vấn đề về kinh tế như trang trải viện phí hay đau đớn về thểxác, suy giảm sức khỏe thì những tổn thương về tinh thần, lo lắng, căng thẳng cũng
là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư
Trang 10Theo như nghiên cứu của tiến sĩ Bottomley A (1998) thì những triệu chứng lo âu rấtphổ biến trên bệnh nhân ung thư nhưng lại thường ít được chẩn đoán và điều trị dẫnđến nhiều trường hợp người bệnh không tuân theo sự chăm sóc y tế tốt nhất để cóthể phát huy tối đa hiệu quả phục hồi [9] Một nghiên cứu khác của A Malekian vàcộng sự (2008) cho thấy lo âu, trầm cảm có thể mang đến những tác động tiêu cựcsâu sắc với người bệnh ung thư về cả tình trạng chức năng, chất lượng cuộc sống,thời gian nằm viện và hiệu quả điều trị do đó việc đánh giá đúng mức và điều trịnhững rối loạn này là rất quan trọng [10].
Như vậy có thể thấy bên cạnh việc điều trị về thể chất thì người bệnh ung thưrất cần được quan tâm chăm sóc về mặt tinh thần Những cảm xúc tiêu cực, lo âu,buồn phiền mà bệnh nhân ung thư đang trải qua hàng ngày cần phải được chú ý pháthiện, tìm hiểu và có những giải pháp chăm sóc phù hợp nhằm mang đến hiệu quảđiều trị tốt nhất và nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy vậy việc nghiên cứu các vấn
đề này tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu –Bệnh viện Bạch Mai được thành lập từ tháng 12 năm 2008 và đã có những thànhtựu to lớn trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư với những kỹ thuật tiên tiến,hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới Hiện nay, chưa có nghiêncứu nào về vấn đề lo âu của bệnh nhân ung thư được điều trị tại đây, do đó chúng
tôi thực hiện đề tài “Tình trạng lo âu và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân
ung thư điều trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai năm 2015” với
hai mục tiêu sau:
1 Mô tả tình trạng lo âu của bệnh nhân ung thư điều trị tại Trung tâm Y họchạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai năm 2015
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu của bệnh nhân ung thưđiều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai
Trang 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh ung thư
1.1.1 Những khái niệm cơ bản về bệnh ung thư
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích của các tác nhân sinhung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chếkiểm soát về phát triển của cơ thể [11]
Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u Khác với khối u lành tính chỉ pháttriển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, khối u ác tính giống như hình
“con cua” với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơ thể hoặc giống như
rễ cây lan trong đất Các tế bào của khối u ác tính có khả năng di căn tới các hạchbạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới tửvong Cùng với di căn xa, tính chất của bệnh ung thư hay tái phát đã làm cho điềutrị bệnh khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh [11]
Bảng 1.1 Phân biệt u lành và u ác theo đặc tính sinh học [12]
U lành tính U ác tính
Tế bào biệt hóa cao Ít biệt hóa
Hiếm có phân bào Luôn có gián phân
Phát triển chậm Phát triển nhanh
Không xâm lấn Xâm lấn lan rộng
Không có hoại tử Hay có hoại tử trung tâm
Có vỏ bọc Không có vỏ hoặc ranh giới
Rất ít tái phát Luôn tái phát
Không di căn Di căn
Ít ảnh hưởng tới cơ thể Ảnh hưởng nặng tới cơ thể
Hiện nay, người ta biết có đến hơn 200 loại ung thư trên cơ thể người, nhữngloại ung thư này có đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng có nhiều điểm khácnhau về nguyên nhân gây bệnh, tiến triển của bệnh, về phương pháp điều trị và vềtiên lượng bệnh [11]
Trang 121.1.2 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ung thư [11]
1 Triệu chứng báo hiệu ung thư
Là những dấu hiệu lâm sàng xuất hiện tương đối sớm có thể giúp chẩn đoánsớm được một số bệnh ung thư Các dấu hiệu này thường nghèo nàn, ít đặc hiệu, ítảnh hưởng tới người bệnh nên dễ bị bỏ qua Một số triệu chứng sớm cần chú ý như:
ho kéo dài, xuất huyết tiết dịch bất thường, thay đổi thói quen đại tiểu tiện, rối loạntiêu hóa kéo dài, đau đầu, ù tai một bên, nói khó, nuốt khó, nổi u, hạch, cục cứngbất thường và xuất hiện các vết loét dai dẳng, khó liền v v
- Triệu chứng xâm lấn và chèn ép: do tổ chức ung thư xâm lấn, chèn ép vào cơquan lân cận, ung thư phế quản chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên gây phù áo khoác.Khối u vòm mũi họng chèn ép vào các dây thần kinh sọ gây liệt dây thần kinh sọ.Ung thư cổ tử cung chèn ép niệu quản gây phù, vô niệu, ure huyết cao…
- Triệu chứng di căn: theo đường bạch mạch di căn hạch, theo đường máu gây
di căn các tạng gan phổi, di căn phúc mạc gây cổ trướng, di căn xương gây gãyxương bệnh lý…
1.1.2.2 Hội chứng cận ung thư
Là một nhóm các triệu chứng lâm sàng và sinh học do hoạt động mang tính chất
nội tiết của một số ung thư Một số hội chứng cận ung thư thường gặp như : hội
chứng Cushing (là hội chứng thường gặp nhất), hội chứng Schwartz – Bartter, hộichứng cường calci huyết, hội chứng cường giáp trạng, các biểu hiện thần kinh cơ,biểu hiện xương khớp, biểu hiện bệnh lý da v…v
Trang 131.1.3 Các nguyên tắc và phương pháp điều trị ung thư Error: Reference source
not found
Ung thư là bệnh rất đa dạng về chủng loại, khác nhau về nguyên nhân, sự pháttriển, vị trí tổn thương, giai đoạn và tiên lượng bệnh, do đó để điều trị đạt hiệu quảcần áp dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau và chỉ định trên từng trường hợp
cụ thể theo các nguyên tắc:
- Nguyên tắc phối hợp
- Xác định rõ mục đích điều trị
- Lập kế hoạch điều trị
- Bổ sung kế hoạch điều trị
- Theo dõi sau điều trị
Một số phương pháp điều trị ung thư thường áp dụng :
- Phẫu thuật: là phương pháp điều trị cơ bản, nó cho phép loại bỏ phần lớn tổ chứcung thư song nó chỉ thực hiện triệt để được khi bệnh ở giai đoạn sớm, tổ chứckhối u còn khu trú Với giai đoạn muộn hơn, phẫu thuật không lấy hết đượcnhững tổ chức ung thư đã xâm lấn rộng ra xung quanh (trên vi thể), do vậy việctái phát tại chỗ kèm theo di căn xa là không thể tránh khỏi nếu người bệnh chỉđược điều trị bằng phẫu thuật đơn độc
- Xạ trị: là phương pháp điều trị được chỉ định khá rộng rãi, nó tiêu diệt được các tếbào ung thư đã xâm lấn rộng ra các vùng xung quanh khối u nguyên phát, là nơiphẫu thuật không thể với tới được Song khi điều trị sẽ gây tổn thương các tổ chứclành và không điều trị được khi tế bào ung thư đã di căn xa hoặc với những loại ungthư biểu hiện toàn thân (bệnh bạch cầu, bệnh u lympho ác tính…)
- Hóa trị liệu: là phương pháp điều trị toàn thân bằng cách đưa các loại thuốc hóachất vào cơ thể (uống, tiêm, truyền, tĩnh mạch, truyền động mạch…) nhằm mụcđích tiêu diệt tất cả các tế bào ung thư đã và đang lưu hành trong cơ thể ngườibệnh Tuy nhiên hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư cũng gây hủy hoại tế bào lành,
và có nhiều tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân, vì vậy liều lượng hóachất đưa vào cơ thể bị hạn chế, có nhiều bệnh bản thân hóa chất không điều trị triệt
để được mà phải phối hợp với các phương pháp điều trị khác
Trang 14- Nội tiết, miễn dịch…là những phương pháp điều trị hỗ trợ các phương phápkhác, bản thân nó không có tác dụng điều trị triệt để căn bệnh ung thư.
Như vậy có thể thấy mỗi phương pháp chỉ giải quyết được một khâu trong quátrình điều trị, do đó theo như nguyên tắc phối hợp, các phương pháp này sẽ bổ sungcho nhau tạo thành một quá trình điều trị hoàn chỉnh mang lại hiệu quả tốt nhất chongười bệnh Và việc phối hợp các phương pháp điều trị cũng là chỉ định bắt buộcđối với nhiều loại ung thư
1.1.4 Dịch tễ học và gánh nặng của bệnh ung thư
1.1.4.1.Trên thế giới:
Ung thư đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tửvong trên toàn thế giới, với khoảng 14 triệu người mới mắc và 8,2 triệu ca tử vongvào năm 2012 [1] Số lượng các trường hợp mới mắc dự kiến sẽ tăng khoảng 70%trong 2 thập kỷ tớivà hiện nay hơn 60% tổng số các trường hợp mới mắc hàng nămcủa thế giới xảy ra ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ Các vùng này cũngchiếm đến 70% các ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới [1], [13]
Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy 5 loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới
là ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày vàung thư gan Đối với nữ giới là ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ungthư cổ tử cung và ung thư dạ dày [13]
Sử dụng thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh ung thư,gây
ra khoảng 20% các ca tử vong do ung thư và 70% các ca tử vong vì ung thư phổitrên toàn cầu [13] Ung thư do nhiễm virus như HBV / HCV và HPV chiếm tơi 20%các ca tử vong do ung thư ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp [14]
Theo báo cáo về Ung thư toàn cầu năm 2008, gánh nặng ung thư đã tăng gấpđôi trong ba mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, và người ta ước tính rằng điều này
sẽ tăng gấp đôi một lần nữa từ năm 2000 đến năm 2020 và gần gấp ba vào năm
2030 trên toàn thế giới [8] Mỗi năm, ước tính nền kinh tế toàn cầu phải chi 1,16nghìn tỷ đô la Mỹ dành cho phòng chống và điều trị ung thư còn những tổn hại vềkinh tế toàn cầu do ung thư gây ra cho các cá nhân, gia đình và xã hội ước tínhkhoảng 2,5 nghìn tỷ đô la Mỹ [15] Bên cạnh những thiệt hại về kinh tế, theo nghiên
Trang 15cứu của Tổ chức GBD năm 2013 đã có 14,9 triệu ca mắc ung thư, 8,2 triệu ca tửvong và 196,3 triệu DALYs (số năm sống bị mất đi do bệnh, tàn tật hay chết sớm).Trong đó, 56% DALYs đến từ các ca mới mắc phải, 62% do tử vong và 70%DALY thuộc về các nước đang phát triển Tỉ lệ các ca tử vong do ung thư trongtổng số các ca tử vong tăng từ 12% (năm 1990) lên 15% (năm 2013) và gánh nặngbệnh tật tăng nhiều nhất ở các nước đang phát triển [5]
Có thể thấy, trước đây ung thư được coi là một căn bệnh của phương Tây vàcác nước phát triển thì ngày nay, phần lớn gánh nặng ung thư được tìm thấy ở cácnước thu nhập trung bình và thấp [8]
1.1.4.2 Tại Việt Nam:
Theo thống kê của Bộ Y tế, có khoảng 125.000 trường hợp mới mắc và hơn80.000 ca tử vong do ung thư mỗi năm Dự báo vào năm 2020 sẽ có ít nhất 189
344 ca ung thư mới mắc [7] Trong tổng số ca ung thư, nữ chiếm 43% và nam giới57% Bốn loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là ung thư gan, phổi, dạ dầy vàđại trực tràng, chiếm 66% tổng số ca ung thư mới mắc ở nam giới Ở nữ giới, bốnloại phổ biến nhất là ung thư vú, phổi, gan, cổ tử cung, chiếm gần 50% tổng số caung thư mới mắc ở nữ [16] Tỷ lệ bệnh nhân ung thư đến khám và điều trị sớmcòn thấp, năm 2009 một nghiên cứu tại 5 bệnh viện ung thư cho thấy có 28,6%bệnh nhân đến khám trong giai đoạn I và II của tất cả các loại ung thư, đối với ungthư vú có 50,5% đến sớm, ung thư cổ tử cung 46,0% đến sớm và ung thư đại trựctràng 32,2% đến sớm [17]
Thống kê năm 2010, tổng số năm mất đi do tử vong sớm của bệnh nhân ungthư tại Việt Nam là 2.319.533 YLLs, chiếm 19,2 % tổng số YLLs của tất cả các loạibệnh Về gánh nặng bệnh tật tính theo DALY, năm 2010 có 2.357.549 DALYs doung thư, chiếm 11% DALYs của tất cả các loại bệnh Nhìn vào con số trên có thểthấy ở nước ta, tỉ lệ bệnh nhân tử vong do ung thư cao, bệnh nặng mới đi khámchữa nên thường tử vong nhanh, số năm sống tàn tật thấp [7]
1.2 Rối loạn lo âu
1.2.1 Một số khái niệm về lo âu
Trang 161.2.1.1 Lo âu bình thường
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn vàcác mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại,vươn tới Lo âu cũng là tín hiệu cảnh báo trước những mối đe dọa đột ngột, trực tiếp
do đó giúp con người tồn tại và thích nghi Lo âu bình thường có chủ đề rõ ràngtrong cuộc sống như công việc, học tập… và mang tính chất nhất thời Khi những
sự kiện trong đời sống ảnh hưởng đến tâm lý chủ thể hết tác động thì lo âu cũngkhông còn hoặc còn lại rất ít triệu chứng [19]
1.2.1.2 Lo âu bệnh lý
Khác với lo âu bình thường, lo âu bệnh lý có thể xuất hiện không có liên quantới một mối đe dọa rõ ràng nào hoặc các sự kiện tác động đã chấm dứt nhưng vẫncòn lo âu, mức độ lo âu cũng không tương xứng với bất kì một đe dọa nào để có thểtồn tại hoặc kéo dài Khi mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt các hoạt động, lúc đó đượcgọi là lo âu bệnh lý [20]
Lo âu bệnh lý thường kéo dài và lặp đi lặp lại với các triệu chứng như: mạchnhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, run rẩy, bất an Lo
âu bệnh lý cũng là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không có chủ đề rõ ràng,mang tính chất mơ hồ, vô lý [21], [22]
Theo Andrew R Getzfeld (2006), sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo âubệnh lý là ở mức độ khó khăn trong kiểm soát hoặc loại bỏ lo âu [23]
Trang 17
Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý [24]
- Lo âu không làm ảnh hưởng đến
công việc, hoạt động hàng ngày
- Lo âu gây mất ổn định các hoạtđộng, ảnh hưởng đến nghề nghiệp,cuộc sống xã hội
- Lo âu có thể kiểm soát được - Lo âu không thể kiểm soát được
- Lo âu gây khó chịu đôi chút, không
nặng nề
- Lo âu hết sức khó chịu, bồn chồn,căng thẳng
- Lo âu giới hạn trong một số tình
huống có thật, hoàn cảnh đặc trưng,
cụ thể
- Lo âu trong mọi tình huống bất kỳ,luôn có xu hướng chờ đợi những kếtcục xấu
- Lo âu chỉ tồn tại trong một thời
điểm nhất định
- Lo âu kéo dài ngày này qua ngày kháctrong khoảng thời gian ít nhất 6 tháng
1.2.2 Phân loại các rối loạn lo âu [25]
Phân loại theo ICD-10
- Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ gồm: lo âu ám ảnh sợ khoảng trống, lo âu ámảnh sợ xã hội, lo âu ám ảnh sợ đặc hiệu, các rối loạn lo âu ám ảnh sợ khác, lo âu ámảnh sợ không biệt định
- Các rối loạn lo âu khác gồm : rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa, rốiloạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm, các rối loạn lo âu hỗn hợp khác, các rối loạn lo âukhông biệt định khác, rối loạn lo âu không biệt định
Phân loại theo DSM – IV
- Rối loạn lo âu không biệt định bao gồm rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm
- Rối loạn hoảng sợ không bao gồm ám ảnh sợ đám đông
- Rối loạn lo âu lan tỏa
- Rối loạn hoảng sợ bao gồm ám ảnh sợ đám đông
- Ám ảnh sợ đám đông không có tiền sử rối loạn hoảng sợ
- Ám ảnh sợ xã hội
- Ám ảnh sợ đặc hiệu
- Rối loạn ám ảnh nghi thức
Trang 18- Rối loạn stress cấp
- Rối loạn stress sau sang chấn
1.2.3 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn lo âu
Những người bị rối loạn lo âu thường cảm thấy rất sợ hãi, không chắc chắncùng với những biểu hiện đa dạng và phức tạp Họ thường xuyên lo lắng và khôngthể kiểm soát sự lo lắng, không thể thư giãn, khó tập trung, khó ngủ và duy trì giấcngủ, hay bất chợt giật mình, bồn chồn và cáu gắt Ngoài ra các triệu chứng cơ thểthường gặp là: mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, căng thẳng, đau nhức cơ bắp, runrẩy, co giật, ra mồ hôi nhiều, hồi hộp, khó thở, cảm giác như hết hơi, buồn nôn…[26], [27]
1.3 Rối loạn lo âu trên bệnh nhân ung thư
1.3.1 Tâm lý của bệnh nhân ung thư.
Mặc dù ngày nay với những tiến bộ không ngừng trong y học đã giúp pháthiện sớm và kéo dài số năm sống cho bệnh nhân ung thư nhưng khi đối mặt với cănbệnh này, người bệnh không chỉ lo lắng về sự sống và cái chết mà còn rất nhiềunhững vấn đề khác bao gồm sự đau đớn trong cơ thể, những tác dụng phụ gây ra bởicác phương pháp điều trị, những thương tật vĩnh viễn hoặc suy giảm chức năng các
cơ quan, quan hệ xã hội, khả năng chi trả… tác động đến tâm lý của họ [28], [29]
Sự cẳng thẳng tâm lý này diễn ra hàng ngày không chỉ với bệnh nhân ung thư màcòn ảnh hưởng đến gia đình bệnh nhân và những người chăm sóc khác Những tổnthương về cả thể chất và tâm thần này có thể gây ra tình trạng mất khả năng laođộng hoặc thực hiện các vai trò xã hội của người bệnh [30] Bên cạnh đó, những rốiloạn tâm lý tiến triển hàng ngày mà không được chú ý đến có thể ảnh hưởng lớn đếnviệc điều trị ung thư và gây tử vong sớm Do đó cần có những can thiệp để cải thiệnđời sống tinh thần sẽ có thể mang đến những hiệu quả điều trị tốt hơn cho ngườibệnh ung thư [29]
1.3.2 Một số nghiên cứu về lo âu trên bệnh nhân ung thư
Năm 2001, Zabora J, BrintzenhofeSzoc K, Curbow B, Hooker C và Piantadosi
S đã tiến hành một nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ căng thẳng tâm lý của các bệnh
Trang 19nhân ung thư với cỡ mẫu rất lớn gần 4500 người (n = 4496) Kết quả cho thấy tỷ lệ
lo âu, căng thẳng và đau khổ về tâm lý trung bình là 35,1% và số điểm trung bìnhcao nhất đối với các triệu chứng lo âu, trầm cảm thuộc về nhóm bệnh nhân ung thưtuyến tụy [31]
Nhằm đánh giá ảnh hưởng của lo âu, trầm cảm đến chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân ung thư, Smith EM, Gomm SA và Dickens CM (2003) đã sử dụng công
cụ Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS) tiến hành nghiên cứu trên 68bệnh nhân gồm 33 nam và 35 nữ Kết quả cho thấy có 25% bệnh nhân lo âu ( điểm
số lo âu ≥ 11), 22% bệnh nhân trầm cảm và những rối loạn này có liên quan đến sự
suy giảm chất lượng cuộc sống [32] Cùng cho kết luận rối loạn lo âu làm giảm chấtlượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư là nghiên cứu của Stark D, Kiely M vàSmith A (2002) với cỡ mẫu n=178 cho kết quả 48% bệnh nhân có triệu chứng lo âu
và 18% lo âu thực sự Nghiên cứu này sử dụng thang đo HADS và S-TAI
(State-Trait Anxiety Inventory) [33] Một nghiên cứu của Teunissen SC và cộng sự năm
2007 cũng sử dụng thang đo HADS cho thấy tỉ lệ lo âu trên bệnh nhân ung thư là34% (n=79) [34]
Như vậy có thể thấy, những biểu hiện rối loạn lo âu là thường gặp trên bệnhnhân ung thư [35], và để đánh giá tình trạng lo âu ở những bệnh nhân ung thư giai
đoạn cuối, một nghiên cứu của Elissa Kolva và cộng sự (2011) với 194 bệnh nhân
cho kết quả 18,6% có các triệu chứng lo âu và 12,4% lo âu thực sự [36] Một nghiên
cứu khác của Stark D và cộng sự (2004) lại xem xét tình trạng lo âu của bệnh nhân
ung thư khi đã được điều trị thuyên giảm Nghiên cứu này sử dụng bảng câu hỏi đo
sự lo lắng với 95 bệnh nhân ung thư đã được điều trị thuyên giảm và kết quả là hơn1/3 trường hợp có các triệu chứng lo âu, sau đó các bác sĩ sử dụng các liệu pháp trấn
an tinh thần nhưng sự lo âu không vì thế mà giảm đi, như vậy lo âu vẫn có thể làmột vấn đề kể cả sau khi bệnh nhân ung thư đã được điều trị [37]
Xạ trị hiện nay đang là một phương pháp điều trị được chỉ định rộng rãi với nhiềuloại ung thư [11], để đánh giá những căng thẳng tâm lý của người bệnh ung thư đang
xạ trị ở Sydney - Australia, Mackenzie và cộng sự (2013) đã tiến hành nghiên cứu
Trang 20trên 454 bệnh nhân bằng thang đo HADS cho kết quả 15% (HADS-A ≥11) [38] Mộtnghiên cứu khác cũng về vấn đề lo âu của người bệnh ung thư đang xạ trị do E Frick
và cộng sự (2007) dùng thang đo HADS cho 63 bệnh nhân được kết quả tỉ lệ lo âu là28,6% [39], [40] Bên cạnh đó, trong một nghiên cứu của K.A Neilson và cộng sự(2010) cho thấy có một sự thay đổi đáng kể về tỉ lệ lo âu của những bệnh nhân ungthư vùng đầu và cổ trước và sau xạ trị Tỉ lệ lo âu trước khi xạ trị là 30% và đã giảmcòn 17% sau khi xạ trị, những bệnh nhân là nam giới có các triệu chứng lo âu nhiềuhơn do sự lo lắng về khả năng quan hệ tình dục sau này của họ [41]
Ung thư vú hiện đang là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới [13], trong mộtnghiên cứu trên 354 bệnh nhân ung thư vú do Maggie Watson và cộng sự (1991)thực hiện nhằm đánh những phản ứng tâm lý của người bệnh cho thấy có 16% lo âu
và các dấu hiệu kiểm soát sự tức giận cùng thái độ bất lực có mối liên quan với
bệnh tật [42] Ngoài ra, Diane Bodurka-Beversvà cộng sự (2000) thực hiện một
nghiên cứu cũng về vấn đề căng thẳng tâm lý nhưng trên các bệnh nhân ung thưbuồng trứng có kết quả 29% lo âu (n=246) [43]
Ung thư đường tiêu hóa đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối vớicác bệnh nhân ung thư ở IRAN và cũng là loại ung thư phổ biến trên toàn thế giới
Một nghiên cứu đã được tiến hành bởi Azadeh Tavoli và cộng sự (2007) nhằm
xem xét những rối loạn lo âu trên nhóm bệnh nhân này và liệu việc biết về chẩnđoán bệnh có ảnh hưởng đến tâm lý của họ hay không Nghiên cứu sử dụng thang
đo HADS với 142 bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa ( 29% ung thư thực quản,30% ung thư dạ dày, 3% ung thư ruột non, 22% ung thư đại tràng và 16% ung thưtrực tràng), tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,1 (SD = 14,8), 56% nam giới, 52%biết về chẩn đoán ung thư của họ và 48% không biết Kết quả điểm số lo âu trungbình là 7,6 (SD = 4,5), có tới 47,2% bệnh nhân có các triệu chứng rối loạn lo âu,không khác biệt đáng kể giữa giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân với tỉ
lệ lo âu Về tuổi tác thì nhóm 30-39 tuổi có biểu hiện lo âu hơn hẳn những nhómtuổi khác (p=0,005) Bên cạnh đó, điểm số giữa những người biết về chẩn đoánung thư của mình là 9,1 (SD = 4,2) lại cao hơn đáng kể giữa so với những bệnh
Trang 21nhân không biết là 6,3 (SD = 4,4) Ở các nước Trung Đông, việc nhận được chẩnđoán mắc ung thư đối với họ gần như là cầm chắc cái chết do đó người nhà thườngyêu cầu bác sĩ không nói với bệnh nhân tình trạng bệnh của họ Điều này có thểlàm cho những người bệnh trong nhóm không biết chẩn đoán của mình có thêmnhiều hi vọng hơn do đó có thể dẫn đến điểm số về lo âu cũng thấp hơn [44].
Ngoài ra, một nghiên cứu khác của Nordin K và cộng sự (1996) trên 141 bệnh
nhân ung thư đường tiêu hóa cho kết quả 15% bị rối loạn lo âu theo thang đoHADS [45], trong năm 1997 Nordin K và cộng sự tiếp tục làm một nghiên cứukhác cũng đo theo thang HADS trên các bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa(n=139) thì tỉ lệ lo âu là 17% [46] Môt nghiên cứu khác tại Trung Quốc năm 2004trên 108 bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa của Ke-Jun Nan và cộng sự đã sử dụngthang đo SAS (Zung self-rating anxiety scale) cho kết quả tới 46,3% bệnh nhân bị
lo âu ( tổng điểm >50%) [47]
Như vậy có rất nhiều nghiên cứu cho thấy các triệu chứng lo âu trên bệnh nhânung thư là thường gặp, tuy nhiên việc ước tính tỉ lệ lo âu của người bệnh ung thư lạirất khác nhau, có báo cáo đã cho thấy tỉ lệ này dao động trong khoảng từ 1,5% đếngần 50% [48] Tại Việt Nam, những nghiên cứu về lo âu trên bệnh nhân ung thư là rấthạn chế Năm 2014, Trương Thị Phương đã nghiên cứu về tỉ lệ lo âu trầm cảm trênbệnh nhân ung thư tại bệnh viện K (n=290) sử dụng thang đo HADS cho kết quả27,2% có triệu chứng lo âu trong đó tỉ lệ lo âu thực sự là 11,4% Điểm lo âu trungbình là 5,7± 3,8 (min=0, max=19), tỉ lệ lo âu nữ (19,7%) cao hơn so với nam (4,4%).Loại ung thư vú và cổ tử cung cho tỷ lệ lo âu cao nhất 26,3% và 19,6% [40]
1.3.3 Một số nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu trên bệnh nhân ung thư.
Nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ lo âu và những mối liên quan trên bệnh nhân ungthư, Ryan Spencer và cộng sự năm 2010 đã tiến hành nghiên cứu trên 635 ngườicho thấy có 7,6% bị rối loạn lo âu, phụ nữ, những bệnh nhân bị suy giảm thể chấtnặng và bệnh nhân trẻ tuổi xuất hiện nhiều dấu hiệu lo âu hơn Bên cạnh đó, nhữngbệnh nhân bị rối loạn lo âu có biểu hiện ít tin tưởng vào bác sĩ hơn, họ cảm thấy
Trang 22không thoải mái khi đặt câu hỏi về sức khỏe của mình và thường ít có khả năng hiểuđược các thông tin lâm sàng mà bác sĩ nói Họ cũng có nhiều biểu hiện nghi ngờnhững phương pháp điều trị mà bác sĩ đưa ra cũng như nghĩ rằng sự điều trị đókhông thể kiểm soát đầy đủ những triệu chứng của họ [49]
Trong một nghiên cứu của N Aass S.D Fosså, A.A Dahl và T.J Aloe (1997) tiếnhành với 716 bệnh nhân ung thư đo được tỉ lệ lo âu là 13% theo thang HADS Nhữngbệnh nhân nội trú có nguy cơ bị các rối loạn tâm thần cao gấp hai lần những bệnh nhân ởphòng khám ngoại trú Nghiên cứu cũng cho thấy các triệu chứng lo âu xuất hiện ở nữgiới nhiều hơn nam, sự suy giảm chức năng cơ thể, mệt mỏi, đau đớn cùng với việc hạnchế khả năng lao động có ảnh hưởng đến sự lo âu của người bệnh [50]
Một nghiên cứu khác đã được thực hiện bởi Patricia A, ParkerWalter, F Baile,Carl de Moor và Lorenzo Cohen (2002) với mục tiêu xác định những triệu chứngrối loạn tâm lý và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư.Nghiên cứu được tiến hành với 351 bệnh nhân và các kết quả phân tích chỉ ra rằngnhững người bệnh lớn tuổi có sự hỗ trợ xã hội tốt hơn sẽ bớt lo âu hơn (p <0,001),nam giới có ung thư không tái phát và những người không phải điều trị tích cựccũng cho báo cáo chất lượng cuộc sống tốt hơn về sức khỏe thể chất (p <0,05).Những người bệnh lớn tuổi, có gia đình, có học vấn, có hỗ trợ xã hội tốt cũng cóchất lượng cuộc sống tốt hơn về sức khỏe tâm thần (p <0,05) Những bệnh nhân có
sự hỗ trợ nhiều hơn sẽ bớt lo lắng và có kết quả chất lượng cuộc sống tốt hơn, do đóviệc đánh giá tình trạng hỗ trợ xã hội đối với bệnh nhân ung thư có thể giúp xácđịnh những nguy cơ rối loạn tâm lý [51]
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ, trong một nghiên cứu củaLueboonthavatchai P năm 2007 trên 300 người bệnh ung thư vú ở Thái Lan nhằmxác định tỷ lệ và các yếu tố tâm lý có liên quan của sự lo âu trầm cảm của họ đã chokết quả tỉ lệ lo âu thực sự là 16,0% và có các triệu chứng lo âu là 19,0% Các yếu tốliên quan đến sự lo âu là tình trạng hỗ trợ xã hội, hoàn cảnh gia đình và các triệuchứng đau đớn, mệt mỏi [52] Cùng với mục tiêu xác định các yếu tố liên quan đến
sự lo âu trên bệnh nhân ung thư, năm 2013, Hong JS và Tian J tiến hành nghiên
Trang 23cứu với cỡ mẫu n = 1217 người bệnh tại Trung Quốc Theo đó các yếu tố liên quanđến lo âu của bệnh nhân là tình trạng bệnh (P <0,0001), đau (P = 0,0003), tuổi (P
<0,0001),và trình độ học vấn (P <0,0001) [53]
Có thể thấy trên thế giới việc nghiên cứu về vấn đề này rất được quan tâm, tuynhiên tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế Theo viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ (NIH),
có gần một nửa những bệnh nhân ung thư cho thấy có các triệu chứng lo âu, đau khổ
về tâm thần Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng này là: sự hạn chế về khảnăng thực hiện các hoạt động hàng ngày, triệu chứng thể chất và các tác dụng phụ củathuốc hay phương pháp điều trị gặp phải, các bệnh lý tâm thần hoặc các vấn đề vềtình cảm, tuổi tác, giới tính, màu da, điều kiện gia đình và trình độ học vấn [54]
1.3.3 Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu ở bệnh nhân ung thư
Có nhiều thang điểm trắc nghiệm để đánh giá các mức độ rối loạn tâm lý ở bệnhnhân, trong đó có thang đo lo âu Zung, thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory), thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale– HARS), thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện (HADS)…
- Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self - Rating Anxiety Scale):do W.W.
Zung (1971) đề xuất là một phương pháp xác định mức độ lo lắng ở những bệnhnhân có các triệu chứng lo âu chủ yếu tập trung vào những rối loạn phổ biến nhất,những vấn đề căng thẳng thường gây ra lo lắng [55] Test này được Tổ chức Y tếThế giới (WHO) thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu bao gồm 20 câu hỏitrong đó 15 câu hỏi về gia tăng sự lo lắng và 5 câu giảm Có hai dạng đánh giá là tựđánh giá và đánh giá lâm sàng Các câu hỏi được tính điểm theo 4 mức tần suất xuấthiện triệu chứng:
+ 1 điểm: không có hoặc ít thời gian
+ 2 điểm: đôi khi
+ 3 điểm: phần lớn thời gian
+ 4 điểm: hầu hết hoặc tất cả thời gian
Kết quả được đánh giá :
T < 50% : Không có lo âu bệnh lý
Trang 24T > 50% : Có lo âu bệnh lý [43], [52].
- Thang tự đánh giá mức độ lo âu S-TAI (State-Trait Anxiety Inventory):
Để đo lường sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng lo âu hiệntại Có hai loại phiên bản cho cả người lớn và trẻ em Công cụ này là 2 bảng tự đánhgiá gồm tổng số 40 câu hỏi, mỗi bảng là 20 câu, người bệnh sẽ tự đánh giá theo cácmức độ và được quy ra điểm: 1 điểm, 2 điểm, 3 điểm và 4 điểm Ở mỗi bảng, sốđiểm nằm trong khoảng 20-80 điểm, điểm càng cao thì càng cho thấy sự lo lắngnhiều hơn Với người lớn, thời gian yêu cầu để hoàn thành bảng đo là 10 phút Đây
là một phương pháp đánh giá nhanh chóng, đơn giản, dễ dàng và rất phổ biến trênthế giới, được dịch ra nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên khi muốn tìm sựthay đổi về tâm lý trong một khoảng thời gian ngắn thì thang đo này vẫn còn hạnchế do mục đích tìm các dấu hiệu lo âu đã tồn tại trong thời gian dài [56]
- Thang đánh giá lo âu Hamilton (Hamilton anxiety rating scale –
HARS) : Đây là thang đo được sử dụng rất rộng rãi trên lâm sàng đặc biệt là trong
các nghiên cứu hiệu quả điều trị lo âu [57], [58] Thang đo này bao gồm 14 nhómcâu hỏi cho các triệu chứng và tương đối chi tiết, thường được sử dụng đánh giá cáctriệu chứng lo âu trong rối loạn lo âu lan tỏa [24]
- Thang đánh giá lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS :
Đây là công cụ có giá trị và đáng tin cậy để sàng lọc, đánh giá các triệu chứng lo âu
và trầm cảm của bệnh nhân tại bệnh viện [59], [60] Thang đo này rất đơn giản, dễhiểu và dễ dàng hoàn thành trong khoảng thời gian chưa đến 5 phút, gồm 14 câu hỏi
tự trả lời về những triệu chứng của chính người bệnh trong thời gian tuần kế trước,bao gồm 7 câu đánh giá lo âu (HADS – A) và 7 câu cho trầm cảm (HADS – D).Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo các mức độ tương ứng với các số điểm từ 0 đến 3.Sau khi tính tổng điểm cho mỗi phần, từ 11 điểm trở lên là rối loạn lo âu hay trầmcảm thực sự, từ 8 đến 10 điểm là có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0đến 7 điểm là bình thường [56], [61], [62]
Nhìn chung HADS là công cụ đáng tin cậy, ngắn gọn, dễ sử dụng và có độnhạy cao với sự thay đổi [55] Bên cạnh đó, thang đo này rất dễ thực hiện để phát
Trang 25hiện một tỉ lệ lớn những rối loạn lo âu thường gặp ở bệnh nhân ung thư [63], [64].Tại Việt Nam, thang đo này đã được mua bản quyền và dịch sang tiếng Việt bởiKhoa nghiên cứu y học hành vi thuộc Trường Đại học New South Well, Úc [40].
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Trang 26Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu – Bệnhviện Bạch Mai từ 01/09/2015 đến 30/06/2016.
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân có đầy đủ các điều kiện dưới đây:
- Bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định bất kỳ loại ung thư nào Còn khảnăng giao tiếp và sẵn sàng trả lời câu hỏi
- Từ 18 tuổi trở lên
- Đang điều trị tại trung tâm Y học hạt nhân và Ung Bướu – Bệnh viên Bạch Mai
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân được xác định không đủ thể lực và tinh thần để hoàn thành nghiêncứu hoặc phỏng vấn bởi điều tra viên (mê sảng, mất trí nhớ, đã được chẩn đoánbệnh lý tâm thần)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu
2.3.2.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượng một tỷ
lệ trong quần thể, với α=0,05; ε = 0,15; p = 0,27 Error! Reference source not
found.:
Trong đó:
- n: cỡ mẫu tối thiểu cần thiết
- α: mức ý nghĩa thống kê (Chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, thayvào bảng ta được Z(1 – α/2) = 1,96)
- p: tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng lo âu trong nghiên cứu của TrươngThị Phương (2014)
Trang 27- ε: sai số mong muốn giữa mẫu và quần thể (sai số tương đối)
Như vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết trong nghiên cứu là 462 Xem xét tỷ lệ loạitrừ là 10%, vậy cỡ mẫu cần thiết là 510 bệnh nhân
2.3.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu bằng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện
2.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin
Thông tin thu thập qua bộ câu hỏi có sẵn được thiết kế dựa trên nhóm biến
số chỉ số và thang đo lường về sự lo âu và trầm cảm tại bệnh viện (HospitalAnxiety and Depression – HADS) và thang tự đánh giá lo âu Zung Self - RatingAnxiety Scale
Về thang HADS trong nghiên cứu này chỉ sử dụng 7 câu hỏi nằm trong phần
đo lo âu (HAS) Mỗi câu có 4 mức độ trả lời tương ứng với điểm 0,1,2,3
Kết quả được phân tích theo tổng điểm các câu hỏi theo các mức độ:
Từ 0 đến 7 điểm: bình thường
Từ 8 đến 10 điểm: có thể có triệu chứng của lo âu
Từ 11 đến 21 điểm: lo âu thực sự
Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng điểm cắt 8
Với thang đo lo âu của Zung có 20 câu hỏi, mỗi câu có 4 mức độ trả lời tươngứng điểm số 1,2,3,4 Tổng điểm 80 điểm
* Không lo âu : ≤ 40 điểm:
* Lo âu mức độ nhẹ : 41 - 50 điểm
* Lo âu mức độ vừa : 51 - 60 điểm
* Lo âu mức độ nặng : 61 - 70 điểm
* Lo âu mức độ rất nặng : 71 - 80 điểm
2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin
Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn bệnh nhân theo bộ câu hỏi
2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Trang 28Mục tiêu
Nhóm Biến số
Thông tin
chung
Thôngtin cánhân
Giới
Tỷ lệ % nam và nữ: Số bệnh nhân (BN) nam(nữ) trên tổng số BN tham gia nghiên cứu(NC)
Tuổi Tỷ lệ %: tỷ lệ BN từng nhóm tuổi trên tổng
số BN tham gia NC
Tình trạnghôn nhân
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng loại tình trạnghôn nhân trên tổng số BN tham gia NC.Trình độ học
vấn
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm trình độhọc vấn trên tổng số BN tham gia NC
Nghề nghiệp Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng loại nghề nghiệp
trên tổng số BN tham gia NC
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm kinh tế giađình trên tổng số BN tham gia nghiên NC.Chi phí điều
trị ngườibệnh chi trả/
tháng
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm chi phí
Khả năngchi trả
Tỉ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm khả năngchi trả trên tổng số BN tham gia nghiên cứuThông
tin vềtìnhtrạngbệnh
Loại ung thư + Tỷ lệ % : tỷ lệ mỗi loại hoặc nhóm bệnh
ung thư trên tổng số BN tham gia NC
+ Tỷ lệ % theo giới: tỷ lệ mỗi loại hoặcnhóm bệnh ung thư theo giới nam/nữ trêntổng số BN nam/nữ tham gia NC
+ Tỷ lệ % theo nhóm tuổi: tỷ lệ mỗi loại
Trang 29Mục tiêu
Nhóm Biến số
hoặc nhóm bệnh ung thư theo nhóm tuổi của
BN trên tổng số BN ở mỗi nhóm tuổi ấy.Giai đoạn
bệnh
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN thuộc các nhóm giai đoạnbệnh khác nhau trên tổng số BN tham gia NC.Thời gian
được chẩnđoán bệnh
Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm khoảng thời gianchẩn đoán bệnh của các BN trên tổng số BNtham gia NC
Các phươngpháp điều trị
khi điều trị
Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm mức độ tác dụng phụ khiđiều trị ở BN trên tổng số BN tham gia NC
Thôngtin vềmôitrườngbệnhviện
Ảnh hưởng
từ lo âu củangười bệnhkhác
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo các nhóm mức độ ảnhhưởng từ lo âu của người bệnh khác trêntổng số BN tham gia nghiên cứu
Cơ sở vậtchất bệnhviện
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo các nhóm trả lời về cơ
sở vật chất bệnh viện trên tổng số BN thamgia nghiên cứu
Thái độphục vụ củanhân viên ytế
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo các nhóm trả lời vềthái độ phục vụ của nhân viên y tế trên tổng
số BN tham gia nghiên cứu
Niềm tin vàothầy thuốc
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo các nhóm mức độ tintưởng với thầy thuốc trên tổng số BN thamgia nghiên cứu
Tỉ lệ BN theo các đặc điểm thông tin cá nhân
bị lo âu trên tổng số BN tham gia nghiên cứu
Trang 30Mục tiêu
Nhóm Biến số
nhân (%)
Tỉ lệ lo âu theo cácđặc điểm về tìnhtrạng bệnh
Tỉ lệ BN theo các đặc điểm về tình trạng bệnh bị lo âu trên tổng số BN tham gia nghiên cứu (%)
Tỉ lệ lo âu theo cácđặc điểm môi trườngbệnh viện
Tỉ lệ BN bị lo âu theo các đặc điểm môi trường bệnh viện (%)
2.6 Khống chế sai số trong nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu được hỏi về các triệu chứng lo âu của họ trong tuần
kế trước theo thang tự đánh giá HADS, do đó dễ mắc phải sai số nhớ lại
- Các biện pháp khống chế sai số được áp dụng bao gồm xin ý kiến chuyêngia, chuẩn hoá bộ câu hỏi thông qua điều tra thử, tập huấn điều tra viên một cách kỹlưỡng và giám sát chặt chẽ quá trình điều tra
- Trong quá trình nhập số liệu, bộ số liệu được nhập lại 10% số phiếunhằm kiểm tra thông tin nhập một cách kỹ lưỡng nhất, hạn chế sai số một cáchtối đa
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu sau khi được làm sạch sẽ được nhập vào máy tính và quản lý bằngphần mềm Epidata 3.1
- Các số liệu được xử lý và phân tích sử dụng phần mềm Stata 10.0
- Trong quá trình xử lý, các số liệu bị thiếu, vô lý, ngoại lai được kiểm tra vàkhắc phục
- Các thông kê mô tả và thống kê suy luận thực hiện thông qua tính toán giátrị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho các biến định lượng và tỷ số, tỷ lệ cho cácbiến định tính
Trang 31- Phân tích được thực hiện thông qua các test thống kê thích hợp
- Mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 được áp dụng
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Trước khi tham gia nghiên cứu, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được cungcấp thông tin rõ ràng liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu Đối tượngđược thông báo là tự nguyện quyết định tham gia vào nghiên cứu hay không
- Việc phỏng vấn phải được tiến hành vào thời điểm thuận tiện cho người bệnh
- Các thông tin thu thập được từ các đối tượng chỉ phục vụ cho mục đíchnghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật
- Đối tượng được quyền dừng sự tham gia hoặc rút khỏi nghiên cứu bất cứlúc nào
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 33Bảng 3.1 trình bày thông tin chung của đối tượng nghiên cứu Theo đó, trong
tổng số 510 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 254 là nam giới chiếm tỷ lệ 49,8%
Về trình độ học vấn của đối tượng tham gia nghiên cứu, nhóm có trình độ phổthông chiếm tỉ lệ cao nhất với 59,22%; nhóm đã tốt nghiệp đại học chiếm 32,16%
và nhóm có trình độ sau đại học chiếm tỉ lệ thấp nhất 8,63%
Về nghề nghiệp hiện tại của các bệnh nhân trong nghiên cứu, đối tượng lànông dân chiếm tỉ lệ cao nhất với 26,86%, tiếp sau đó là những người đã về hưuchiếm 24,90%, nhóm lao động tự do, công nhân và nội trợ lần lượt là
Trang 3413,31%,11,57% và 5,29% Chỉ có 2 đối tượng tham gia nghiên cứu không có việclàm chiếm 0,39% và không có đối tượng nào đang là sinh viên.
Nhóm bệnh nhân sử dụng bảo hiểm y tế cho các chi trả chăm sóc tại bệnh việnchiếm 89,41% và không sử dụng chiếm 10,59%
Về tình trạng kinh tế gia đình của 510 bệnh nhân trong nghiên cứu: có 31người thuộc hộ nghèo chiếm 6,08%; 108 người thuộc hộ cận nghèo chiếm 21,18%
và nhóm không nghèo là 371 người chiếm 72,75%
Chi phí điều trị trung bình hàng tháng bệnh nhân phải chi trả là 16,1 triệu đồng(SD=11,1) với 61,57% bệnh nhân có mức chi phí điều trị trên 10 triệu đồng mộttháng và 38,43% số bệnh nhân có chi phí điều trị hàng tháng dưới 10 triệu đồng
Về khả năng chi trả của các bệnh nhân trong nghiên cứu, nhóm đủ khả năngchiếm 34,31%; nhóm phải vay nợ một phần chiếm tỉ lệ lớn nhất với 55,49%; nhómphải vay nợ toàn bộ chiếm 10,20%
Trang 35
Bảng 3.2 Thông tin chung về tình trạng bệnh của đối tượng nghiên cứu
Loại ung thư
Trang 36Nhận xét:
Bảng 3.2 trình bày thông tin chung về tình trạng bệnh của đối tượng nghiêncứu Theo đó, tỷ lệ các loại ung thư phân bố trên bệnh nhân cao nhất là ung thư đạitrực tràng, dạ dày, thực quản chiếm 28,04%, theo sau là ung thư phổi chiếm21,96%, ung thư vú chiếm 14,5%, ung thư gan chiếm 10,96%, ung thư đầu cổ là10,59%, ung thư vú chiếm 9,61% và các ung thư khác chiếm 2,16%
Về giai đoạn bệnh của các đối tượng nghiên cứu, có 20,39% bệnh nhân bị ungthư nặng, di căn nhiều; 20,78% bệnh nhân nhẹ, không di căn; có tỉ lệ cao nhất lànhóm bệnh nhân ở mức độ trung bình, ít di căn chiếm 58,82%
Thời gian trung bình kể từ khi được chẩn đoán ung thư là 11,4 tháng(SD=7,9), trong đó nhóm có thời gian được chẩn đoán từ 6 tháng trở xuống chiếm26,08%, nhóm trên 6 tháng chiếm 73,92%
Trong số các đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân đã phẫu thuật và xạ trị là30%, tỷ lệ bệnh nhân đã phẫu thuật và hóa trị là 32,35%, nhóm đã hóa trị và xạ trị là24,9%, nhóm mới chỉ phẫu thuật là 10,96% và chỉ có 1,96% số bệnh nhân đã sửdụng phương pháp điều trị khác (liệu pháp hormone và miễn dịch trị liệu)
Về tiến triển bệnh , có 49,8% số bệnh nhân trong nghiên cứu cho biết tiến triểnbình thường, 38,82% có tiến triển tốt và 11,37% tiến triển xấu đi
Về tác dụng phụ khi điều trị, có tới 43,53% đối tượng nghiên cứu gặp nhiềutác dụng phụ, 40,59% bệnh nhân cho biết tác dụng phụ ở mức trung bình, chỉ15,88% bệnh nhân gặp ít tác dụng phụ khi điều trị
Trang 37Bảng 3.3 Thông tin chung về môi trường bệnh viện
Ảnh hưởng từ lo âu của người bệnh khác
Cơ sở vật chất của bệnh viện
Đầy đủ/ rộng rãi/ Tiện nghi 9 1,76
Trang 38Về cơ sở vật chất của bệnh viện, hầu hết bệnh nhân cho rằng thiếu thốn vàchật chội (87,65%); 10,59% cho rằng cơ sở vật chất phù hợp và 1,96% bệnh nhânthấy đầy đủ, tiện nghi.
Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, 82,16% bệnh nhân cho biếtthái độ phục vụ của nhân viên y tế tốt, còn lại 17,84% cho rằng thái độ phục vụtrung bình, không có trường hợp nào cho biết thái độ phục vụ kém
Về niềm tin vào thầy thuốc, 95,1% đối tượng nghiên cứu thấy tin tưởng vàobác sĩ, chỉ có 4,71% tin tưởng trung bình và 1 trường hợp là không tin chiếm 0,2%
3.2 Tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu
3.2.1.1 Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu theo thang HADS
Theo thang đo HADS, điểm lo âu trung bình của các bệnh nhân tham gianghiên cứu là 7,0 (SD= 3,7) trong đó điểm lo âu cao nhất là 19 và thấp nhất là 0điểm Trong số 510 đối tượng nghiên cứu, có 208 người cho thấy có lo âu ( tổngđiểm>7) chiếm 40,78%, trong đó 16,86% là lo âu thực sự
Bảng 3.4 Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang HADS
Bình thường (0 – 7đ) 302 59,22
Có triệu chứng lo âu (8-10đ) 122 23,92
Lo âu thực sự (11 – 21đ) 86 16,86
3.2.1.2 Điểm lo âu của đối tượng nghiên cứu theo SAS
Theo thang đo SAS, điểm lo âu trung bình của các bệnh nhân tham gianghiên cứu là 37,1 (SD= 6,5) trong đó điểm lo âu cao nhất là 57 và thấp nhất là
24 điểm Trong số 510 đối tượng nghiên cứu, có 171 người cho thấy có lo âu(tổng điểm>40) chiếm 33,53%, trong đó 31,96% là lo âu mức độ nhẹ; 1,57% lo
âu mức độ vừa; không có trường hợp nào cho thấy lo âu nặng và rất nặng theothang SAS
Trang 39Bảng 3.5 Tỉ lệ các mức độ lo âu của bệnh nhân theo thang SAS
3.2.1.3 Lựa chọn kết quả lo âu giữa hai thang đo HADS và SAS
Đối với 2 thang đo HADS Và SAS, sau khi kiểm định sự tin cậy của thang đoqua hệ số Cronbach’s alpha và hệ số tương quan biến - tổng dựa trên các câu hỏi và câutrả lời của đối tượng nghiên cứu trong mỗi thang cho kết quả hệ số Cronbach’s alphacủa thang HADS và thang SAS đều rất tốt, lần lượt là 0,883 và 0,841
Về hệ số tương quan biến - tổng cho biết mức độ liên kết giữa một câu hỏivới các câu hỏi còn lại trong thang đo cần có giá trị> 0,3 thì thang đo HADS cho kếtquả tốt với 7/7 câu hỏi và thang Zung đạt 15/20 câu
Do vậy các tỉ lệ lo âu trong luận văn này sẽ được phân tích theo kết quả củathang HADS
Trang 403.2.2 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.6 Tỷ lệ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo các đặc điểm thông tin cá
nhân
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Lo âu Không
n(%)
Có n(%) Giới tính