1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN

65 288 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tìm hiểu những thông tin về thực trạng chăm sóc hỗ trợ của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS, nghiên cứu: “Thực trạng chăm sóc, hỗ trợ của gia đình đối với người nhiễm

Trang 1

ĐẶNG THỊ TRANG

THùC TR¹NG CH¡M SãC, Hç TRî CñA GIA §×NH

§èI VíI NG¦êI NHIÔM HIV/AIDS §ANG §IÒU TRÞ ARV T¹I C¸C PHßNG KH¸M NGO¹I TRó TØNH VÜNH PHóC

N¡M 2015 Vµ YÕU Tè LI£N QUAN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ YHDP

Khóa 2010 – 2016

.T

Trang 2

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Minh Sơn, người Thầy đã trực tiếp truyền thụ những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, tận tình hướng dẫn em trong nghiên cứu khoa học, trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Đại học, các thầy cô trong Viện đào tạo YHDP & YTCC, đặc biệt các thầy cô bộ môn Dịch

Tễ, trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập, tiếp cận với nghiên cứu khoa học và hoàn thành đề tài.

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình sử dụng số liệu và thực hiện khóa luận này.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè những người luôn ở bên tôi, chăm sóc, động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày…… tháng……năm 2016

Sinh viên

Đặng Thị Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi: - Phòng đào tạo Đại học – Trường Đại học Y Hà Nội

- Viện Đào tạo YHDP & YTCC

- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp bộ môn Dịch tễ họcTôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, do tôi trực tiếp phân tích và xử lý dựa trên

sự cho phép sử dụng số liệu của cơ sở nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của khóa luận này chưa từng được công bố trên bất

kì tạp chí hay một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày……tháng……năm 2016

Tác giả

Đặng Thị Trang

Trang 4

CHƯƠNG 1 4

TỔNG QUAN 4

1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.1 Khái niệm về HIV/AIDS và điều trị thuốc kháng vi rút HIV (ARV) 4

1.1.2 Điều trị kháng virut HIV bằng thuốc ARV 4

1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS và điều trị ARV trên Thế giới và Việt Nam 6

1.2.1 Trên thế giới 6

1.2.2 Tại Việt Nam 8

1.3 Công tác chăm sóc hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam 9

1.3.1 Tầm quan trọng của sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS 9

1.3.2 Nội dung chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS 10

1.3.3 Một số nghiên cứu về chăm sóc hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS 12

1.3.4 Một số đặc điểm về tình hình nhiễm HIV/AIDS tại địa bàn nghiên cứu 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16

2.1.1 Địa điểm: Tại cả hai phòng khám ngoại trú trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc: 16

2.1.2 Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015 17

2.2 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 17

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 17

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 18

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 18

2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu 20

2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 21

2.5.1 Công cụ 22

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 22

Trang 5

CHƯƠNG 3 25

KẾT QUẢ 25

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 25

3.2 Thực trạng chăm sóc, hỗ trợ của gia đình 27

3.2.1 Chăm sóc, hỗ trợ của gia đình khi ĐTNC có NTCH, tác dụng phụ của thuốc 27

3.2.2 Chăm sóc, hỗ trợ tuân thủ điều trị ARV 30

3.2.3 Thực trạng chăm sóc, hỗ trợ về tinh thần 30

3.3 Một số yếu tố liên quan đến chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS 33

CHƯƠNG 4 36

BÀN LUẬN 36

4.1 Thông tin chung 36

4.1.1 Tuổi 36

4.1.2 Giới 37

4.1.3 Trình độ học vấn 37

4.1.4 Tình trạng hôn nhân 38

4.1.5 Nghề nghiệp 38

4.2 Thực trạng chăm sóc hỗ trợ của gia đình: 38

4.3 Một số yếu tố liên quan đến sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS 44

4.4 Hạn chế của nghiên cứu 46

KẾT LUẬN 48

KHUYẾN NGHỊ 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 25

Trang 6

Bảng 3.4: Mức độ hỗ trợ của gia đình cho BN tuân thủ điều trị 30

Bảng 3.5: Mức độ chăm sóc, hỗ trợ của gia đình về mặt tinh thần 31

Bảng 3.6: Nội dung và hình thức hỗ trợ về KT-XH của gia đình cho ĐTNC.32 Bảng 3.7: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC với sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình 33

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về ĐTNC 34

và sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình 34

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về người chăm sóc 34

và sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình 35

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa yếu tố thuộcvề gia đình và sự chăm sóc, hỗ trợ .35

Trang 7

Biểu đồ 3.1: Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 26

Biểu đồ 3.2: Tình trạng sống cùng gia đình của đối tượng nghiên cứu 27

Biểu đồ 3.3: Mức độ chăm sóc, hỗ trợ về NTCH, tác dụng phụ của thuốc 28

Biểu đồ 3.4: Mức độ chăm sóc của gia đình về dinh dưỡng cho ĐTNC 29

Biểu đồ 3.5: Sự kỳ thị, phân biệt đối xử trong gia đình đối với bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS 31

Biểu đồ 3.6: Người chăm sóc, hỗ trợ chính trong gia đình 33

Trang 8

(Acquired Immune Deficiency Syndrone)

(Human Immunodeficiency Virus)

UNAIDS Chương trình phối hợp phòng chống HIV/AIDS của Liên Hợp Quốc

(Joint United Nations Programme on HIV/AIDS)

(World Health Organization)

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trải qua hơn ba thập kỷ, HIV đã nhanh chóng lan rộng trên phạm vi toàn

cầu, trở thành một đại dịch lớn Với những nỗ lực không ngừng của cộng

đồng cùng tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, song cho đến nay

HIV/AIDS vẫn đang tiếp tục có những diễn biến phức tạp và để lại hậu quả

nghiêm trọng

Trước sự gia tăng số người nhiễm HIV và số người chuyển sang giai đoạn AIDS, công tác chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS ngày càng trở nên cấp thiết Tại Việt Nam, các chương trình phòng chống HIV/AIDS đang nỗ lực cải thiện và nâng cao các phương thức chăm sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS Trong đó việc điều trị bằng các thuốc ARV đóng vai trò rất quan trọng Mặc dù điều trị thuốc ARV không giúp điều trị khỏi cho người nhiễm HIV nhưng nó là giải pháp dự phòng và điều trị tốt nhất, làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm trùng cơ hội, giảm tỷ lệ tử vong, kéo dài và cải thiện chất lượng sống cho nhiều người đang phải chung sống với HIV/AIDS , Dưới sự tài trợ của Chương trình Quốc gia phòng chống HIV/AIDS, dự án quỹ Toàn Cầu, Chương trình điều trị ARV ở Việt Nam đã được triển khai và

mở rộng Việc gia tăng số người được điều trị bằng ARV đã giúp giảm đáng

kể số tử vong do AIDS hàng năm

Người nhiễm HIV/AIDS là nhóm đối tượng nhạy cảm, có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế cũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Thái độ cư xử của gia đình và cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS còn nhiều nặng nề, vẫn còn một bộ phận đáng kể bệnh nhân bị kì thị, phân biệt đối

xử, xa lánh Những điều đó gây không ít khó khăn đến quá trình điều trị ARV của bệnh nhân Người nhiễm HIV cần được sự quan tâm, chăm sóc hỗ

Trang 10

trợ từ phía gia đình và cộng đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ được tiếp cận với các dịch vụ y tế, cũng như các hoạt động xã hội, chống kỳ thị, phân biệt đối xử, dự phòng lây nhiễm.

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, với dân số 1.041.400 người Trước đại dịch HIV/AIDS, Vĩnh Phúc cũng không nằm ngoài vùng bao phủ của HIV/AIDS Tính đến hết năm 2015, lũy tích các trường hợp nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh là 3721 người Để đạt được hiệu quả trong chăm sóc toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS, trong những năm qua tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động truyền thông đa dạng phòng chống HIV/AIDS, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS Gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc cùng chung tay với cộng đồng trong công tác chăm sóc điều trị cho người nhiễm HIV, đẩy lùi sự lây lan của đại dịch, giảm gánh nặng cho y tế và xã hội Việc tìm hiểu thực trạng, chăm sóc, hỗ trợ của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS là cơ sở định hướng phù hợp cho các chương trình trong thời gian tới Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề này

Với mong muốn tìm hiểu những thông tin về thực trạng chăm sóc hỗ trợ

của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS, nghiên cứu: “Thực trạng chăm

sóc, hỗ trợ của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015 và yếu tố liên quan” được tiến hành với hai mục tiêu sau:

MỤC TIÊU

1 Mô tả thực trạng chăm sóc, hỗ trợ của gia đình đối với người nhiễm

HIV/AIDS đang điều trị ARV tại hai phòng khám ngọai trú trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình

cho người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại hai phòng khám

Trang 11

ngoại trú tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015.

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về HIV/AIDS và điều trị thuốc kháng vi rút HIV (ARV) HIV được viết tắt của cụm từ “Humman immunodeficeny Virus” là vi rút

gây suy giảm miễn dịch ở người

AIDS là viết tắt của cụm từ “Acquired immunodeficeny Syndrom” là hội

chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra Dùng để chỉ giai đoạn

cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng

cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong Thời gian trung bình từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS là

5 năm tuy nhiên còn tùy thuộc vào khả năng đáp ứng miễn dịch của từng người

Người nhiễm HIV: Theo quy định của Bộ Y Tế, Việt Nam, một người

được chuẩn đoán nhiễm HIV khi mẫu huyết thanh của họ phát hiện kháng thể dương tính cả ba lần xét nghiệm bằng ba loại sinh phẩm khác nhau với nguyên lý phản ứng và phương pháp chuẩn bị kháng nguyên khác nhau

1.1.2 Điều trị kháng virut HIV bằng thuốc ARV

ARV (Anti-retroviral) là thuốc đặc hiệu dùng cho người nhiễm HIV hoặc bị phơi nhiễm với HIV, nhằm hạn chế sự phát triển của virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người hoặc dự phòng lây nhiễm HIV và không phải là thuốc điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội ở người nhiễm HIV

Quyết định số 3047 ban hành ngày 22/7/2015 về “Hướng dẫn, quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS” của Bộ Y Tế quy định :

Trang 13

Nguyên tắc điều trị kháng virut HIV bằng thuốc ARV

- Phối hợp thuốc: Dùng phối hợp ít nhất 3 loại thuốc ARV;

- Điều trị sớm: Điều trị ngay khi người bệnh đủ tiêu chuẩn nhằm ngăn chặn khả năng nhân lên của HIV, giảm số lượng HIV trong máu và giảm phá hủy tế bào miễn dịch;

- Điều trị tiếp tục, suốt đời: người bệnh cần được điều trị ARV suốt đời

và theo dõi trong suốt quá trình điều trị

- Đảm bảo tuân thủ điều trị ARV: người bệnh cần thực hiên uống thuốc đúng liều, đúng giờ đúng cách theo quy định

Tiêu chuẩn điều trị ARV:

Người lớn và

trẻ ≥ 5 tuổi

CD4 ≤ 500 tế bào/mm3Điều trị không phụ thuộc số lượng tế bào CD4 trong trường hợp:

- Giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 bao gồm cả mắc lao

- Có biểu hiện của viêm gan B (VGB) mạn tính nặng

- Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú nhiễm HIV

- Người nhiễm HIV có vợ/chồng không bị nhiễm HIV

- Người nhiễm HIV thuộc các quần thể nguy cơ bao gồm: người tiêm chích ma túy, phụ nư bán dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới

- Người nhiễm HIV ≥ 50 tuổi

- Người nhiễm HIV sinh sống, làm việc tại khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa

Yêu cầu về tuân thủ điều trị kháng virus HIV bằng thuốc ARV:

Trang 14

- Đảm bảo 3 đúng (3Đ): Đúng thuốc, Đủ liều và Đều đặn.

- Cần đảm bảo tuân thủ điều trị, hàng tháng uống thuốc đủ ít nhất 95% số lần và số thuốc cần uống trong 1 tháng

Khi phát hiện ra quên uống thuốc theo lịch, người bệnh phải uống ngay liều thuốc vừa quên Tiếp theo tính thời gian uống liều kế tiếp theo lịch như thường lệ, cụ thể:

- Nếu thời gian đến liều kế tiếp còn trên 4 tiếng, uống liều đó vào đúng thời gian theo lịch trình đã định

- Nếu thời gian đến liều uống kế tiếp còn dưới 4 tiếng, không được uống theo lịch trình cũ mà phải đợi trên 4 tiếng mới được uống

- Nếu quên hơn 2 liều trong 1 tuần, người bệnh phải báo cho bác sĩ điều trị để được hướng dẫn

1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS và điều trị ARV trên Thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện vào tháng 6/1981 tại Mỹ Đến năm 2013, theo báo cáo của WHO, nhiễm mới HIV tiếp tục có xu hướng giảm nhưng không phải ở tất cả mọi nơi Ước tính 2,1 triệu [1,9-2.400.000] người mới nhiễm HIV trên toàn cầu năm 2013, ít hơn 15% so với 2,5 triệu [2,3-2.700.000] người nhiễm virus trong năm 2009 Số người chết vì các nguyên nhân liên quan đến HIV giảm 22% từ năm 2009 đến năm

2013, đưa thế giới lên trên đà vượt mục tiêu của việc giảm tử vong liên quan đến HIV đạt 25% vào năm 2015 Tính đến cuối năm 2013, số người nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống trên toàn cầu là 35 triệu người (dao động từ 33,2 triệu đến 37,2 triệu), trong đó trẻ em dưới 15 tuổi là 3,2 triệu Số người nhiễm HIV mới đã giảm đến mức thấp nhất trong hơn hai thập kỷ qua Điều

đó minh chứng cho những nỗ lực của toàn thế giới trong việc đẩy lùi đại dịch HIV toàn cầu Châu Phi là châu lục chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch

Trang 15

HIV/AIDS Khu vực Sahara và Châu Phi là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất thế giới với 24,7 triệu người, tiếp đến là Châu Á Thái Bình Dương với 4,8 triệu người nhiễm HIV

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên tại Châu Á được phát hiện tại Thái Lan vào năm 1985, đến cuối những năm 90, Campuchia, Myanmar và Thái Lan công bố dịch đáng lo ngại trên toàn đất nước Dịch tễ học lây nhiễm HIV ở khu vực này có nhiều hình thái khác biệt, tại Thái Lan và Campuchia hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu qua quan hệ tình dục (QHTD) khác giới, nhưng một số nước khác như Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia hình thái lây nhiễm vẫn chủ yếu qua tiêm chích ma túy (TCMT) và tình trạng lây truyền qua QHTD khác giới đang có xu hướng tăng

Người nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận với điều trị ARV trên toàn cầu với khoảng 12,9 triệu người điều trị ARV cuối năm 2013 Tỷ lệ tử vong do HIV đã giảm 22% trong những năm gần đây - từ 2.0 triệu [1,8-2.100.000] trong 2009-1.500.000 [1,4-1,7 triệu] vào năm 2013 Theo ước tính của WHO, việc mở rộng điều trị ARV đến tất cả những người sống chung với HIV sẽ ngăn chặn 21 triệu ca tử vong liên quan đến AIDS vào năm 2030 Việc tiếp cận với điều trị ARV giúp giảm tỷ lệ mắc với hầu hết các NTCH và tác dụng giảm biểu hiện rõ nhất trong năm đầu tiên điều trị (từ 57%- 91%) Điều trị ARV đã giúp giảm chi phí đáng kể cho bệnh nhân, gia đình và ngành y tế từ việc ngăn chặn các nhiễm trùng cơ hội (NTCH) Điều trị ARV sớm giúp giảm tỷ lệ tử vong và tăng tuổi thọ cho bệnh nhân nhưng nó cũng làm tăng những thách thức để đạt được mục tiêu điều trị cho tất cả người nhiễm HIV/AIDS đủ điều kiện theo hướng dẫn của WHO Ước tính khoảng 11,7 triệu người điều trị ARV ở các nước có thu nhập trung bình và thấp vào năm 2013, con số đó chỉ đại diện cho ít hơn một phần ba người sống chung với HIV ở các nước này Tỷ lệ bệnh nhân được tiếp cận điều trị trên toàn

Trang 16

cầu tăng từ 54% năm 2011, lên 65% (đạt 9,7 triệu người) năm 2012 Đến tháng 6 năm 2015, toàn cầu có 15,8 triệu người được tiếp cận điều trị ARV

1.2.2 Tại Việt Nam

Theo thống kê của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở tất cả tỉnh, thành phố với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường Trong 6 tháng đầu năm 2015, số người xét nghiệm phát hiện mới nhiễm HIV là 3.204 người, số người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS

là 1.326 người, số người nhiễm HIV tử vong là 438 người Lũy tích số người nhiễm HIV đang còn sống 227.114 người, số bệnh nhân AIDS là 71.115 và số

tử vong 74.442 người Số người nhiễm HIV phát hiện mới tiếp tục có xu hướng giảm, nhưng lũy tích số người nhiễm HIV còn sống tiếp tục gia tăng

Một số hành vi nguy cơ liên quan đến HIV/AIDS đang có những thay đổi theo hướng phức tạp và khó kiểm soát, can thiệp Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đang có xu hướng gia tăng liên tục từ năm 2007 đến nay, cảnh báo sự lây lan của dịch trong cộng đồng dân cư, bao gồm cả những nhóm người được coi là có hành vi nguy cơ thấp Về phân bố theo nhóm tuổi, người nhiễm HIV thuộc nhóm 30- 39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất

Tại Việt Nam, điều trị thuốc ARV cho người nhiễm HIV/AIDS được triển khai từ năm 1995 và các đầu mối chăm sóc y tế cho người nhiễm HIV/AIDS được đặt tại các phòng khám ngoại trú (PKNT) Tại các PKNT bệnh nhân sẽ được tiếp cận liệu pháp điều trị ARV, hỗ trợ điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội, khám, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, tư vấn, hỗ trợ về cải thiện cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng Hiện nay, toàn quốc có 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại xã/phường; đang điều trị ARV tại 23 trại giam và 33 Trung tâm 06 Hiện có 95.752 bệnh nhân đang điều trị ARV, trong đó 91.156 người lớn, 4.596 trẻ em Việc điều trị ARV

Trang 17

sớm có tác động rất mạnh trong việc giảm AIDS, giảm tử vong và giảm nhiễm HIV mới , HIV/AIDS đang chuyển đổi dần từ “ một bệnh tử hình” sang “một bệnh mạn tính có thể kiểm soát được” Điều này đã mở ra niềm hi vọng cho bệnh nhân HIV/AIDS cũng như mở rộng chương trình hành động

có liên quan sử dụng thuốc ARV là vũ khí để điều trị và dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS Tiêu chuẩn điều trị ARV đã được mở rộng, tuy nhiên chỉ có trên 40% người nhiễm HIV còn sống trong năm 2014 được tiếp cận với điều trị bằng thuốc ARV Việc đảm bảo duy trì điều trị ARV gặp rất nhiều khó khăn khi các nguồn tài trợ cắt giảm mạnh, nhiều nhà tài trợ đã dừng viện trợ cho phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam, nguy cơ bệnh nhân không có thuốc điều trị khi không có dự án.Trong khi đó, nguồn Chương trình mục tiêu quốc gia cho phòng chống HIV/AIDS cũng cắt giảm, không ổn định: từ 245 tỷ năm

2013, cắt 2/3, xuống còn 83 tỷ năm 2014 và năm 2015 được bố trí 120 tỷ, tăng không đáng kể Như vậy trong thời gian tới, để đảm bảo hiệu quả điều trị cho bệnh nhân, góp phần giảm gánh nặng cho ngành y tế thì việc chăm sóc

hỗ trợ của gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng

1.3 Công tác chăm sóc hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Tầm quan trọng của sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS

HIV/AIDS là một bệnh mãn tính, đòi hỏi người nhiễm phải đối mặt với nhiều thách thức để duy trì sức khỏe, phòng tránh biến chứng NTCH và tránh lây nhiễm cho mọi người Gia đình và các mối quan hệ xã hội không thể thiếu trong việc cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần của người nhiễm HIV/AIDS Các điều tra trên thế giới đều khẳng định vai trò quan trọng của gia đình đối với người nhiễm HIV Những người nhận được sự chăm sóc tốt

từ gia đình thường có chất lượng cuộc sống tốt hơn, nhận thức về sức khỏe tốt

Trang 18

hơn, các triệu chứng của trầm cảm ít hơn và tuân thủ tốt điều trị ARV Nghiên cứu tại Thái Lan về lợi ích của gia đình và các mối quan hệ xã hội đối với người nhiễm HIV cũng chỉ ra rằng gia đình đóng vai trò quan trọng trong

hỗ trợ người nhiễm ổn định tâm lý, giảm sự sợ hãi, tự kì thị, tuân thủ điều trị

và có một cuộc sống tốt hơn Ngoài ra, chăm sóc hỗ trợ của gia đình còn giúp giảm chi phí cho điều trị, góp phần giảm gánh nặng cho hệ thống y tế cũng như giảm tác động đến kinh tế - xã hội

1.3.2 Nội dung chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS

Bộ Y tế đã ra Quyết định 1781/QĐ-BYT ngày 27/5/2010 của Bộ trưởng Bộ

Y Tế về “Quy định và Hướng dẫn thực hiện Chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà và cộng đồng” Trong đó gồm đầy đủ, chi tiết những nội dung, quy định chuyên môn về chăm sóc người nhiễm HIV tại nhà và cộng đồng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú Dựa vào những hướng dẫn, quy định chúng tôi xây dựng 4 nội dung chăm sóc, hỗ trợ cụ thể:

Chăm sóc hỗ trợ về thể chất

- Chăm sóc, gọi cán bộ y tế (CBYT) đến hoặc đưa đến cơ sở y tế (CSYT) khi mắc NTCH thông thường tại nhà như: Lao, Bệnh nhiễm nấm, Bệnh ký sinh trùng, bệnh do Vi rút và các bệnh nhiễm trùng khác

- Kịp thời phát hiện và xử trí các tác dụng phụ của thuốc khi bệnh nhân gặp phải như đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, sốt…

- Kịp thời đưa bệnh nhân đến cơ sở điều trị khi thấy họ có dấu hiệu bệnh

Vàng da, vàng mắt; Hoa mắt, chóng mặt, da xanh, niêm mạc nhợt

- Chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh cá nhân khi người bệnh không tự làm được như vệ sinh cơ thể (giữ gìn cơ thể, quần áo sạch sẽ, khô ráo, tránh loét …) và

Trang 19

vệ sinh môi trường sống.

- Chăm sóc dinh dưỡng, ăn uống như cung cấp đủ dinh dưỡng, ăn chín, uống sôi… cho người bệnh

Hỗ trợ tuân thủ điều trị ARV

Điều trị ARV là điều trị lâu dài, suốt đời, cần tuân thủ điều trị tốt để có được hiệu quả điều trị Những hoạt động mà gia đình hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị giữ một vai trò rất quan trọng, bao gồm:

- Nhắc nhở bệnh nhân uống thuốc, đáp ứng đủ 3Đ (đúng thuốc, đủ liều, đều đặn) và việc cất giữ, bảo quản thuốc;

- Giúp BN khắc phục những khó khăn dẫn đến việc quên thuốc, bỏ thuốc;

- Hỗ trợ trong việc kết nối giữa bệnh nhân và cơ sở điều trị trong việc theo dõi quá trình bệnh nhân điều trị;

- Nhắc nhở, đi cùng hoặc đưa bệnh nhân đi tái khám, lĩnh thuốc

Chăm sóc, hỗ trợ về tinh thần

- An ủi, động viên người bệnh chống lại những thái độ và hành vi tiêu cực của người nhiễm HIV/AIDS: căng thẳng, khủng hoảng, suy sụp, rối loạn thần kinh hoặc có ý định tự tử, bạo hành người khác …

- Nhắc nhở giúp người bệnh phòng lây nhiễm HIV trong gia đình;

- Tư vấn, thuyết phục các thành viên trong gia đình giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS trong gia đình;

- Giới thiệu, động viên người bệnh tự tin, chủ động tham gia các hoạt động xã hội do các CLB, cơ sở y tế,… tổ chức

Hỗ trợ về Kinh tế- xã hội

- Tìm kiếm công ăn việc làm phù hợp với sức khoẻ của người bệnh;

- Đưa người bệnh đến các cơ sở giáo dục, học tập, hướng nghiệp và đào tạo nghề, hỗ trợ kinh phí đi học;

- Tạo công ăn việc làm, cho người bệnh vay vốn để họ tự làm ra kinh tế,

Trang 20

tự nuôi được bản thân và có thể hỗ trợ gia đình;

- Trợ cấp tiền, vật chất hàng tháng khi người bệnh không còn khả năng lao động;

- Bảo vệ bệnh nhân khi họ gặp phải các vấn đề về pháp lý theo đúng các quy định của pháp luật

1.3.3 Một số nghiên cứu về chăm sóc hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS

Hoạt động chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS đang được đặt ra là một trọng tâm của chương trình phòng chống HIV/AIDS Theo UNAIDS, chăm sóc toàn diện người nhiễm HIV/AIDS gồm các nội dung: tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ dinh dưỡng, thực phẩm và điều trị (điều trị thuốc kháng vi rút và điều trị các bệnh NTCH)

Chăm sóc sức khỏe không chỉ kết thúc khi bệnh nhân ra khỏi bệnh viện, mà còn phải được tiếp tục thực hiện tại nhà Các gia đình có thể hỗ trợ bệnh nhân trong việc dùng thuốc kháng virus chỉ đơn giản bằng cách quan sát, nhắc nhở họ khi cần thiết, giúp bệnh nhân có thói quen uống thuốc đúng Nghiên cứu tại Nigeria về vai trò hỗ trợ của gia đình đối với người nhiễm HIV và sự tuân thủ điều trị của họ đã chỉ ra rằng hầu hết họ nhận được sự chăm sóc từ người bạn đời của họ (53,3%); bố, mẹ (29,6%)

và 87,3% nhận được sự hỗ trợ của gia đình về tuân thủ điều trị Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự hỗ trợ của gia đình với sự tuân thủ điều trị của người bệnh

Mặt khác, nghiên cứu tại Nam Phi cho thấy, tỷ lệ lớn người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV nói rằng họ đã nhận được hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình Sự hỗ trợ này bao gồm hỗ trợ về tâm lý, hỗ trợ tài chính, chăm sóc thể chất và hỗ trợ tuân thủ điều trị Có 75,5% đối tượng trong nghiên cứu này hài lòng với sự hỗ trợ chung mà họ nhận được từ phía gia

Trang 21

đình Điều này tương đồng với những phát hiện của Evian (2003), chỉ ra rằng tuân thủ hiệu quả điều trị khi người bệnh có mối quan hệ tốt với gia đình hoặc bạn bè, những người có thể hỗ trợ họ về tinh thần và xã hội

Hầu hết những người bị nhiễm HIV/AIDS, trong quá trình bệnh tật của mình, đều trải một số rối loạn tâm thần như trầm cảm và lo âu Phát hiện của Buhrich và Judd tiếp tục cho thấy khoảng 70% số bệnh nhân có HIV có triệu chứng bệnh như lo âu và trầm cảm Vì vậy, hơn ai hết, những người nhiễm HIV/AIDS rất cần sự thấu hiểu, động viên, hỗ trợ về tinh thần từ tất cả mọi người, đặc biệt là những người thân thiết trong gia đình Theo Afolabi BA và cộng sự trong một nghiên cứu tại Nigeria, có 92,6% bệnh nhân hài lòng với

sự hỗ trợ tâm lý từ gia đình, trong đó 82,3% được đối xử như các thành viên khác trong gia đình Có được sự hỗ trợ, khuyến khích động viên từ gia đình

sẽ là nguồn động lực mạnh mẽ giúp bệnh nhân vượt qua mặc cảm, tự ty, đấu tranh với bệnh tật và hòa nhập cuộc sống

Một nghiên cứu định tính nhằm phân tích những thách thức mà những người chăm sóc gia đình gặp trong chăm sóc tại nhà khi họ đã cố gắng tiếp cận điều trị y tế cho bệnh nhân AIDS tại nhà trong bối cảnh chăm sóc y tế còn hạn chế Ban đầu bệnh nhân chỉ tham gia điều trị tại các cơ sở y tế một cách độc lập Những người chăm sóc thường chỉ biết về bệnh của người nhà khi đã

ở giai đoạn muộn và họ đã không thể thực hiện chăm sóc, hỗ trợ khi người bệnh giấu giếm tình trạng của mình Trong một nghiên cứu tại Nam Phi, mức

độ hỗ trợ từ gia đình là lớn hơn khi so sánh với các nghiên cứu khác, những người tiết lộ tình trạng nhiễm HIV của họ thường nhận được hỗ trợ từ gia đình của họ Có 73,5% người nhiễm chưa từng bị gia đình từ chối hỗ trợ khi

họ công khai tình trạng của mình Đây là bằng chứng mạnh mẽ chứng tỏ rằng mọi người đang trở nên chấp nhận hơn với HIV

Tuy nhiên, một nghiên cứu khác về nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS

Trang 22

chỉ ra rằng sự chăm sóc hỗ trợ chưa đáp ứng được nhu cầu của đối tượng: 45% người được hỗ trợ khi gặp NTCH; 48% người được hỗ trợ tuân thủ điều trị; 21,1% người được nhận hỗ trợ về tài chính và 24,54% nhận được hỗ trợ

về pháp lý

Tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu về thực trạng chăm sóc hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV còn rất ít, hoặc được lồng ghép vào các nghiên cứu khác Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà (2004) tại tỉnh Phú Thọ, tỷ lệ gia đình biết người nhà nhiễm HIV là 93,3%, thái độ của gia đình người nhiễm chủ yếu là chấp nhận với tỷ lệ 89,9% Tỷ lệ người nhận được sự chăm sóc hỗ trợ về thể chất chiếm 67,7%

Nghiên cứu của Quỹ hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS (2013) cho thấy, tỷ

lệ người nhiễm HIV/AIDS nhận được sự hỗ trợ về dinh dưỡng còn thấp (32,9%); tỷ lệ được hỗ trợ về kinh tế chưa đáp ứng được nhu cầu của người nhiễm, chỉ có 22% người được hỗ trợ

1.3.4 Một số đặc điểm về tình hình nhiễm HIV/AIDS tại địa bàn nghiên cứu

Theo số liệu thống kê Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Vĩnh Phúc, tính đến hết tháng 4-2015, lũy tích các trường hợp nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh là 3535 người, trong đó nữ giới chiếm 26,7%, số bệnh nhân AIDS là

1846, tử vong do AIDS là 719 người Có 133/137 xã/phường/thị trấn phát hiện người nhiễm HIV/AIDS Vĩnh Phúc không phải tỉnh thuộc điểm nóng của HIV/AIDS nhưng tại tỉnh công tác phòng, chống HIV/AIDS luôn được quan tâm, chú trọng, các hoạt động truyền thông được đẩy mạnh đến tuyến cơ

sở, tổ chức và phát triển các câu lạc bộ hỗ trợ người nhiễm HIV tại các huyện Vĩnh Yên, Lập Thạch, Sông Lô Tuy nhiên sự hỗ trợ này không thể bao phủ hết bệnh nhân toàn tỉnh

Hiện nay, Vĩnh Phúc có 2 phòng điều trị ngoại trú ARV (Trung tâm

Trang 23

Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh và Bệnh viện đa khoa huyện Sông Lô) và 20 điểm cấp phát miễn phí thuốc ARV ổn định tại các trung tâm y tế, trạm y tế

xã, phường, thị trấn, tạo điều kiện hỗ trợ và giúp đỡ người nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận và chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất, giúp nâng cao chất lượng sống, giảm lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng Tuy nhiên, trước tình hình các nguồn hỗ trợ quốc tế đang bị cắt giảm và tiến tới chấm dứt vào năm 2017, để duy trì hiệu quả điều trị ARV, giảm gánh nặng cho ngành y tế, cần thiết phải tìm hiểu thực trạng chăm sóc hỗ trợ của gia đình cho người nhiễm HIV/AIDS để từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp

Trang 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm: Tại cả hai phòng khám ngoại trú trên địa bàn tỉnh Vĩnh

là 1.041.400 người, có 7 dân tộc anh, em sinh sống trên địa bàn tỉnh gồm: Kinh, Sán Dìu, Nùng, Dao, Cao Lan, Mường Tỉnh có 9 đơn vị hành chính: 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện và 137 xã/phường/thị trấn

Trang 25

Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ số 2, đường sắt Hà Nội – Lào Cai và đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai – Vân Nam (Trung Quốc), là cầu nối giữa vùng Trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân Những lợi thế về vị trí địa lý kinh

tế đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó, tỉnh Vĩnh Phúc phải đối mặt với tình hình nghiện chích ma tuý, mại dâm, và các tệ nạn xã hội khác rất phức tạp Điều đó cũng tạo điều kiện cho việc gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.2 Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015.

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Người nhiễm HIV/AIDS đang được điều trị ARV tại 2 phòng khám ngoại trú: Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Vĩnh Phúc và bệnh viện

Đa khoa (BVĐK) huyện Sông Lô, đảm bảo các tiêu chuẩn:

- Người bệnh nhiễm HIV/AIDS (16 tuổi trở lên dựa theo tiêu chuẩn phân loại giai đoạn lâm sàng theo Quyết định số: 3047/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 22/7/2015 về việc Ban hành hướng dẫn quản lý, điều trị

và chăm sóc HIV/ AIDS);

- Tỉnh táo, có khả năng hiểu và trả lời các câu hỏi của điều tra viên;

- Đã được thông báo và đồng ý, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bị các bệnh hoặc có yếu tố về tâm thần kinh, không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi;

- Không hợp tác tham gia nghiên cứu, không thuộc danh sách quản lý

Trang 26

của hai phòng khám và điều trị ngoại trú của nghiên cứu.

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đã sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang nhằm thu thập các dữ liệu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc, hỗ trợ của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại hai phòng khám tại thời điểm nghiên cứu

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.3.2.1 Cỡ mẫu

Sử dụng công thức ước lượng một tỉ lệ trong quần thể của nghiên cứu

mô tả cắt ngang:

Trong đó:

- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt trong nghiên cứu

- Z1-α/2: Hệ số giới hạn tin cậy, phụ thuộc vào mức ý nghĩa thống kê của

α, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn α = 0,05 ứng với giá trị của Z1- α/2 = 1,96 (thu được từ bảng Z)

- p: Là tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS không được chăm sóc hỗ trợ của gia đình, chọn p = 0,17 (từ nghiên cứu của Nguyễn Văn Định về “Hiệu quả can thiệp tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng ở 5 huyện của Nghệ An, 2008-2012”.)

- d: là sai số tuyệt đối, chọn d = 0,05 (5%)

Thay vào công thức trên, tính toán theo lý thuyết ta được n= 217 Ước tính tỷ lệ từ chối tham gia nghiên cứu là 5% và làm tròn số được cỡ mẫu là

Trang 27

+ Bước 1: Lập 2 danh sách bệnh nhân đang điều trị ARV của 2 PKNT đủ tiêu chuẩn nghiên cứu tổng số là 433 người.

+ Bước 2: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được áp dụng:

n cỡ mẫu chọn 227, k = 433/227 = 1,9 hay 02 người)

Trang 28

2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Tỷ lệ % BN gặp NTCH; tác dụng phụ của thuốc

Tỷ lệ % BN được chăm sóc hỗ trợ khi mắc NTCH và gặp tác dụng phụ của thuốc ARV

Tỷ lệ % các mức độ chăm sóc

Chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh, dinh dưỡng

Tỷ lệ % BN ốm đến mức không tự chăm sóc bản thân

Tỷ lệ % BN được chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng

Tỷ lệ % theo mức độ nhắc nhở

Hỗ trợ tái khám, lĩnh

thuốc

Tỷ lệ % BN được hỗ trợ tái khám, lĩnh thuốc hàng tháng

Tỷ lệ % mức độ hỗ trợ

Hỗ trợ khắc phục khó khăn dẫn đến quên thuốc, bỏ thuốc

Tỷ lệ % BN quên thuốc, bỏ thuốc

Tỷ lệ % BN được hỗ trợ khắc phục khó khăn dẫn đến quên thuốc, bỏ thuốc

Tỷ lệ % mức độ hỗ trợ

Hỗ trợ kết nối thông tin giữa BN và cơ sở

điều trị

Tỷ lệ % BN được hỗ trợ kết nối thông tin giữa BN và cơ sở điều trị

Tỷ lệ % BN được chăm sóc hỗ trợ chống lại thái độ, hành vi tiêu cực

Tỷ lệ % mức độ hỗ trợ

Tư vấn, hỗ trợ giảm kỳ thị của gia đình và tự

Trang 29

Trợ cấp tiền, vật chất hàng tháng

Tỷ lệ % BN được trợ cấp tiền, vật chất hàng tháng

Hỗ trợ học nghề, hướng nghiệp

Tỷ lệ % BN được hỗ trợ học nghề và hướng nghiệp

Mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC và sự chăm sóc, hỗ trợ

Tự kỳ thị, giấu diếm tình trạng nhiễm HIV/AIDS

Mối liên quan giữa sự tự kỳ thị, giấu diếm tình trạng nhiễm HIV/AIDS và

sự chăm sóc, hỗ trợYếu tố

Mối liên quan giữa kiến thức, kỹ năng chăm sóc hỗ trợ BN của người chăm sóc và sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình

Người chăm sóc được tập huấn về chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS

Mối liên quan giữa người chăm sóc được tấp huấn về chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS và sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình

Yếu tố

thuộc

về gia

đình

Loại kinh tế gia đình

Mối liên quan giữa loại kinh tế gia đình và sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình

Tham gia câu lạc bộ/nhóm

Mối liên quan giữa gia đình có người tham gia câu lạc bộ/nhóm và sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình

Kỳ thị, phân biệt đối

xử trong gia đình

Mối liên quan giữa sự kỳ thị, phân biệt đối xử trong gia đình và sự chăm sóc hỗ trợ của gia đình

2.5 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

Trang 30

2.5.1 Công cụ

- Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo mục tiêu: (phụ lục)

A: Thông tin chung về ĐTNC

B: Thực trạng chăm sóc, hỗ trợ của gia đình

C: Một số yếu tố liên quan

- Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên các quy định về chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà và cộng đồng được quy định tại Quyết định số 1781/QĐ-BYT ngày 27/05/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về Quy định và hướng dẫn thực hiện chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà và cộng đồng

- Bộ câu hỏi sau khi được thiết kế đã được nhóm điều tra thử nghiệm trên 9 đối tượng tại PKNT Trung Tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Vĩnh Phúc trước khi tiến hành nghiên cứu và đã được chỉnh sửa dễ hiểu, rõ ràng, phù hợp với văn hóa ngôn ngữ địa phương của địa bàn nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp đối tượng là người bệnh HIV/AIDS đang điều trị tại

*Sai số hệ thống:

- Sai số do điều tra viên: Điều tra viên bỏ sót câu hỏi trong khi phỏng vấn bộ câu hỏi, điều tra viên không hiểu rõ câu trả lời của đối tượng

Trang 31

Cách khắc phục: Tập huấn kỹ cho điều tra viên, thực hiện giám sát điều tra,

được thử nghiệm bộ công cụ và thực hành kỹ năng điều tra

- Sai số do đối tượng: Đối tượng không hiểu rõ câu hỏi

Cách khắc phục: Bộ câu hỏi thiết kế rõ ràng, dễ hiểu, tránh hiểu nhầm

Điều tra viên hỏi từng câu hỏi, kiểm tra chéo thông tin bằng cách lặp lại câu hỏi

- Sai số trong quá trình thu thập số liệu

Cách khắc phục: Giám sát, kiểm tra số liệu tại thực địa để kịp thời sửa

chữa, bổ sung cho chính xác

- Sai số trong quá trình làm sạch số liệu và nhập liệu

Cách khắc phục: Đọc phiếu và làm sạch trước khi nhập liệu, tạo các tệp

check của phần mềm nhập liệu nhằm hạn chế sai số trong quá trình nhập liệu Làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích

2.7 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu đã thu thập được kiểm soát, làm sạch bởi các giám sát viên ngay tại thực địa trước khi nhập vào máy tính

- Số liệu sau khi được đọc và làm sạch được nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1

- Phân tích bằng phần mềm Stata 12.0 để phân tích số liệu, bảng 2x2 để tính toán tỷ suất chênh (OR), giá trị p và khoảng tin cậy 95% (95% CI) được

sử dụng để tìm mối liên quan giữa các yếu tố

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

- Đối tượng tham gia nghiên cứu được nghe giải thích về mục đích nghiên cứu trước khi tham gia nghiên cứu

- Các đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu đảm bảo không gây hại cả về thể chất và tinh thần của đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 32

- Đảm bảo giữ bí mật các thông tin mà đối tượng tham gia nghiên cứu cung cấp.

- Thông tin thu thập trung thực, khách quan

- Thông tin thu thập chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu

- Các kết quả nghiên cứu sẽ được thông báo cho cơ sở nơi tiến hành nghiên cứu và có những khuyến nghị thích hợp

- Các kết quả nghiên cứu phục vụ cho việc xây dựng các chương trình chăm sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS tại địa bàn nghiên cứu

Ngày đăng: 01/07/2016, 10:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (Trang 33)
Bảng 3.2: Chăm sóc, hỗ trợ của gia đình khi ĐTNC có NTCH, tác dụng - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng 3.2 Chăm sóc, hỗ trợ của gia đình khi ĐTNC có NTCH, tác dụng (Trang 35)
Bảng 3.3: Mức độ chăm sóc của gia đình về vệ sinh cho đối tượng nghiên cứu - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng 3.3 Mức độ chăm sóc của gia đình về vệ sinh cho đối tượng nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 3.4: Mức độ hỗ trợ của gia đình cho BN tuân thủ điều trị - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng 3.4 Mức độ hỗ trợ của gia đình cho BN tuân thủ điều trị (Trang 38)
Bảng 3.5: Mức độ chăm sóc, hỗ trợ của gia đình về mặt tinh thần - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng 3.5 Mức độ chăm sóc, hỗ trợ của gia đình về mặt tinh thần (Trang 39)
Bảng 3.6: Nội dung và hình thức hỗ trợ về KT-XH của gia đình cho ĐTNC - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng 3.6 Nội dung và hình thức hỗ trợ về KT-XH của gia đình cho ĐTNC (Trang 40)
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC với sự - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC với sự (Trang 41)
Bảng phân tích mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về người chăm sóc  với sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho thấy, người chăm sóc có sức khỏe  tốt/bình thường có khả năng chăm sóc hỗ trợ tốt cho ĐTNC gấp 2,65 lần  người chăm sóc có sức khỏe yếu/ kém - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng ph ân tích mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về người chăm sóc với sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình cho thấy, người chăm sóc có sức khỏe tốt/bình thường có khả năng chăm sóc hỗ trợ tốt cho ĐTNC gấp 2,65 lần người chăm sóc có sức khỏe yếu/ kém (Trang 43)
Bảng trên cho thấy: Những người có tình hình tài chính của gia đình  thuộc nhóm khá giả/bình thường nhận được sự chăm sóc hỗ trợ tốt gấp 2,49  lần từ phía gia đình so với những người thuộc gia đình kém/ thiếu thốn và sự  khác biệt này có ý nghĩa thống kê  - THỰC TRẠNG CHĂM sóc, hỗ TRỢ của GIA ĐÌNH đối với NGƯỜI NHIỄM HIVAIDS ĐANG điều TRỊ ARV tại các PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ TỈNH VĨNH PHÚC năm 2015 và yếu tố LIÊN QUAN
Bảng tr ên cho thấy: Những người có tình hình tài chính của gia đình thuộc nhóm khá giả/bình thường nhận được sự chăm sóc hỗ trợ tốt gấp 2,49 lần từ phía gia đình so với những người thuộc gia đình kém/ thiếu thốn và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w