1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37 39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội

61 473 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 756 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỖ THỊ THANH VÂNTÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG CỦA PHỤ NỮ MANG THAI TUẦN 37- 39 TẠI 8 XÃ HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI Chuyên ngành : Dinh dưỡng ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y

Trang 1

ĐỖ THỊ THANH VÂN

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG CỦA PHỤ NỮ MANG THAI

TUẦN 37- 39 TẠI 8 XÃ HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐỖ THỊ THANH VÂN

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG CỦA PHỤ NỮ MANG THAI

TUẦN 37- 39 TẠI 8 XÃ HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI

Chuyên ngành : Dinh dưỡng

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Trương Tuyết Mai

2 TS Hương Lan

Trang 3

BMI: Chỉ số khối cơ thể

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ có thai 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ 3

1.1.3 Cân nặng trong thời kỳ mang thai 5

1.1.4 Các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai 7

1.2 Tình trạng vi chất dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai 8

1.2.1 Thiếu máu dinh dưỡng 8

1.2.2 Thiếu kẽm 10

1.2.3.Thiếu folate 13

1.2.4.Thiếu Vitamin D 15

1.2.5 Thiếu Canxi 19

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng 24

2.2 Địa điểm và thời gian 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.3.1 Cỡ mẫu 24

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu và thu thập thông tin 25

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 30

3.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Thông tin về lần mang thai này 31

3.3 Cân nặng và khẩu phần hàng ngày 34

3.4 Tình trạng thiếu máu và thiếu vi chất dinh dưỡng 37

Trang 5

4.2 Khẩu phần hàng ngày của phụ nữ mang thai tuần 37-39 so với nhu cầu khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Việt Nam 404.3 Thực trạng thiếu máu và các vi chất dinh dưỡng của phụ nữ mang thai tuần 37-39 404.4 Một số mối liên quan với tình trạng thiếu vi chất, khẩu phần hàng ngày

và khả năng tăng cân ở phụ nữ mang thai tuần 37-39 40

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 41

DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Bảng 1.1 Đánh giá BMI theo WHO 4

Bảng 1.2 Mức tăng cân của bà mẹ và bào thai trong thai kì 6

Bảng 2.1 Mức tăng cân của bà mẹ và bào thai trong thai kì 26

Bảng 2.2 Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu 28

Bảng 3.1 Tuổi của các đối tượng tham gia nghiên cứu 30

Bảng 3.2 Tuổi thai của các đối tượng tại thời điểm tham gia nghiên cứu .30

Bảng 3.3 Trình độ học vấn 31

Bảng 3.4 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.5 Số lần khám thai đến thời điểm nghiên cứu 31

Bảng 3.6 Số con hiện có 32

Bảng 3.7 Việc tập luyện thể dục trong 3 tháng gần đây 32

Bảng 3.8 Thời gian tập luyện 32

Bảng 3.9 Tiếp xúc với ánh nắng trong 6 tháng trước 33

Bảng 3.10 Các triệu chứng trong thai kỳ 33

Bảng 3.11 Các chỉ số nhân trắc của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.12 Tăng cân so với trước khi có thai 34

Bảng 3.13 Việc uống sữa trong thai kỳ 35

Bảng 3.14 Tần xuất sử dụng sữa 35

Bảng 3.15 Nhu cầu năng lượng trong khẩu phần hàng ngày 35

Bảng 3.16 Lượng protein tiêu thụ trong khẩu phần hàng ngày 36

Bảng 3.17 Lượng lipid tiêu thụ trong khẩu phần hàng ngày 36

Bảng 3.18 Lượng glucid tiêu thụ trong khẩu phần hàng ngày 36

Bảng 3.19 Lượng vitamin và chất khoáng tiêu thụ trong khẩu phần hàng ngày .36

Trang 7

Bảng 3.22 Tỷ lệ thiếu kẽm theo nghề nghiệp 37

Bảng 3.23 Tỷ lệ thiếu vitamin D theo nghề nghiệp 38

Bảng 3.24 Tỷ lệ thiếu máu theo tuổi thai 38

Bảng 3.25 Tỷ lệ thiếu vitamin D theo tuổi thai 38

Bảng 3.26 Tỷ lệ thiếu kẽm theo tuổi thai 39

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời của người phụ nữ,đặc biệt là trong thời kì mang thai Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữtrong thời kì mang thai là đối tượng dễ bị tổn thương nhất về dinh dưỡng vìvậy họ cần được bảo vệ sức khỏe và duy trì dinh dưỡng tốt để lao động sảnxuất và làm tròn thiên chức sinh sản

Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy tình trạng dinh dưỡng của người

mẹ, đặc biệt là tình trạng vi chất dinh dưỡng khi mang thai là nhân tố quyết địnhchính về cân nặng sơ sinh và tiềm năng phát triển chiều cao của trẻ Điều đó cónghĩa là tình trạng dinh dưỡng của người mẹ cần phải được chuẩn bị từ trước khi

có thai và cần được duy trì tốt trong suốt thời kỳ mang thai Ở Việt Nam, tìnhtrạng dinh dưỡng bà mẹ trước và trong khi mang thai còn kém Thiếu máu dinhdưỡng của phụ nữ, đặc biệt của phụ nữ mang thai còn phổ biến

Thiếu vi chất dinh dưỡng ở phụ nữ có thai là vấn đề có ý nghĩa sứckhỏe cộng đồng [1],[2] Trên thực tế, các đối tượng nguy cơ thường bị thiếu

đa vi chất dinh dưỡng như sắt, acid folic, kẽm, vitamin D…không phải chỉthiếu đơn độc một vi chất dinh dưỡng [3] Thiếu vi chất dinh dưỡng sẽ để lạinhững hậu quả nặng nề, ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống sau này của

cả mẹ và con [4] Báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2009-2010 cho thấy tỷ

lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là 28,8%, phụ nữ mang thai là 36,5%,cao nhất là vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên lên tới gần 60% [5]

Theo dõi tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai tại TP.HCM doTrung tâm Dinh dưỡng tiến hành, cũng cho thấy tỉ lệ thiếu máu ở phụ nữmang thai là 17,5%, trong đó thiếu máu do thiếu sắt chiếm gần 60% Các vichất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của thai nhi cũng thiếu nhiều ở phụ

nữ mang thai Tỷ lệ thiếu kẽm là 34,6%, thiếu vitamin D là 59,3%

Trang 9

Thiếu dinh dưỡng, thiếu máu và thiếu vi chất ở phụ nữ mang thai có thểgây nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con Mẹ dễ bị sẩy thai, nhau tiềnđạo, nhau bong non, cao huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, ối vỡ sớm, băng huyếtsau sanh, nhiễm trùng hậu sản Con bị nhẹ cân, sinh non tháng, suy thai, thờigian điều trị hồi sức kéo dài, tăng tỉ suất và bệnh suất sơ sinh hơn so với trẻkhông thiếu máu Con những bà mẹ thiếu máu giai đoạn sớm thai kỳ có nguy

cơ bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác Phụ nữ mang thai thiếu acid folic có thểgây những dị tật ống thần kinh của thai nhi như vô sọ, gai đôi cột sống Điềutra do Trung tâm Dinh dưỡng TP Hồ Chí Minh tiến hành cho thấy lượng sắt

và acid folic trong khẩu phần ăn của phụ nữ mang thai chỉ đạt khoảng 40%nhu cầu khuyến nghị

Từ tình hình thực tế trên, nhận thấy tỉ lệ thiếu dinh dưỡng và vi chất ởphụ nữ mang thai tại các vùng núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long còncao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng và tình trạng thiếu

vi chất ở phụ nữ mang thai giai đoạn 37-39 tuần tại huyện Hoài Đức, Hà Nội,một huyện thuộc đồng bằng sông Hồng, được sát nhập vào thành phố Hà Nộinăm 2008, nơi vấn đề dinh dưỡng và vi chất của phụ nữ mang thai chưa đượcquan tâm rộng rãi, nhằm 2 mục tiêu:

1 Đánh giá tăng cân nặng và khẩu phần của phụ nữ mang thai tuần 37-39 tại 8 xã thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 2015.

2 Đánh giá tình trạng thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu vitamin D, acid folic, chỉ

số PTH của phụ nữ mang thai tuần 37-39 tại các điểm nói trên.

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN

1.1 Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ có thai

1.1.1 Khái niệm

Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và

hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Tình trạngdinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinhdưỡng Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinhdưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý, mức độhoạt động thể lực và trí lực Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằnggiữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ [6]

Tình trạng dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng đối với phụ nữ trong

độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt là khi mang thai Chế độ dinh dưỡng có mức ảnhhưởng rất lớn tới sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi Dinhdưỡng tốt góp phần rất lớn trong sự hình thành và phát triển của bào thai,đặc biệt trong 3 tháng cuối, thời điểm quyết định cân nặng và sự hoàn thiệncủa thai nhi.

1.1.2 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thôngtin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sởcác thông tin số liệu đó [6]

Một số phương pháp định lượng thường được sử dụng trong đánh giátình trạng dinh dưỡng như: nhân trắc học, điều tra khẩu phần, tập quán ănuống, thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng [7]

Trong các phương pháp trên, nhân trắc học thường có mặt trong hầu hếtcác điều tra cơ bản Chỉ số cân nặng, chiều cao, kích thước vòng eo/vòng

Trang 11

mông và bề dày nếp gấp da thường được áp dụng trong đánh giá tình trạngdinh dưỡng.

Gần đây, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tổ chức Lương nông Liên

hiệp quốc (FAO) khuyến nghị dùng "chỉ số khối cơ thể" (Body Mass Index,

BMI) để nhận định tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành [8],[9] Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cân nặng (kg) chia cho chiềucao (m) bình phương

BMI =

Dựa vào chỉ số BMI, tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thànhđược phân loại như sau:

Bảng 1.1 Đánh giá BMI theo WHO [10]

Gầy

(còn gọi là thiếu năng lượng trường diễn

CED-Chronic Energy Deficiency)

BMI của phụ nữ mang thai phản ánh nhiều về tình hình khối mỡ hơn

là khối nạc, và do vậy liên quan chặt chẽ với cân nặng Ngày nay người ta

đã chứng minh được rằng có một mối liên quan tác động qua lại giữa BMIcủa mẹ tại thời điểm thụ thai, sự lên cân trong quá trình có thai và cân nặng

Cân nặng (Kg)[Chiều cao (m)]2

Trang 12

sơ sinh Cũng đã được xác định rất rõ rằng những phụ nữ có BMI thấp đồngthời không tăng cân đủ mức yêu cầu là những người có nguy cơ cao nhất vềkhả năng sinh con có cân nặng sơ sinh thấp [11].

1.1.3 Cân nặng trong thời kỳ mang thai

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng dinh dưỡng củangười mẹ (chỉ số BMI), khẩu phần ăn của mẹ, sự tăng cân của bà mẹtrong thời gian mang thai có liên quan đến cân nặng sơ sinh

Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới [12] ở những người mẹ cócân nặng dưới 40 kg tỷ lệ sơ sinh có cân nặng dưới 2500g cao gấp 2,5 lần

so với nhóm bình thường Những bà mẹ có chế độ dinh dưỡng hợp lý,được bổ sung các chất dinh dưỡng một cách đầy đủ sẽ sinh ra những đứa trẻkhoẻ mạnh

Theo Abrams và Abba, nguy cơ trẻ sơ sinh nhẹ cân ở những người mẹ

có BMI thấp (< 18.5) hoặc có cân nặng trước khi mang thai thấp là rất cao[13], [14] Cân nặng sơ sinh thấp được cho là nguyên nhân chính gây nênhơn 50% trẻ em ở Nam Á bị thiếu cân

Hơn nữa, việc phụ nữ có chỉ số BMI thấp trước khi mang thai cũng ảnhhưởng một cách tiêu cực đến sức khỏe người mẹ, nghiên cứu của Frongillo vàUNICEF/EAPRO cho thấy những phụ nữ thấp bé thường có nguy cơ tử vongcao, dễ mắc bệnh hơn so với người bình thường, đồng thời khả năng lao độngcũng kém hơn so với người bình thường

Tuy nhiên, việc tăng cân trong thai kì đối với những phụ nữ có chỉ sốBMI ≥25 cũng là một vấn đề quan trọng vì những bà mẹ thừa cân-béo phìthường dễ mắc các bệnh mạn tính không lây Đáng chú ý là hội chứngchuyển hóa có xu hướng tăng nhanh và liên quan chặt chẽ tới sự gia tăng củathừa cân-béo phì [15] Các bà mẹ béo phì có nhiều khả năng sinh con béo phì,đặc biệt khi họ mắc bệnh tiểu đường trong thời kỳ có thai [16]

Trang 13

Chính vì vậy, việc tăng cân nặng trong thai kì dựa vào chỉ số BMI của phụ

nữ trước sinh là rất quan trọng

Cần phải hiểu rằng, việc lên cân tỉ lệ nghịch với chỉ số BMI, vì thế phụ

nữ gầy hơn sẽ lên cân nhiều hơn khi có thai so với những người mẹ trướckhi có thai có cân nặng bình thường Người ta ước tính phụ nữ ở các nướcđang phát triển có cân nặng 44−55 kg sẽ có thể sinh con có CNSS >3 kg nếu

họ lên được 10,5 kg trong suốt thai kỳ

Nhất là giai đoạn 3 tháng cuối, thời kỳ này thai nhi phát triển nhanh, vìthế nếu chế độ dinh dưỡng của người mẹ thiếu năng lượng và vi chất dinhdưỡng, cùng với công việc nặng nhọc, căng thẳng của mẹ có thể làm tăngnguy cơ trẻ đẻ nhẹ cân (dưới 2,5kg)

Dựa vào chỉ số BMI của mẹ, viện Dinh Dưỡng Việt Nam đã đưa rakhuyến nghị về mức tăng cân trong thời gian mang thai [17]

Bảng 1.2 Mức tăng cân của bà mẹ và bào thai trong thai kì.

Mức tăng cân 3 tháng đầu

(Quý I)

3 tháng giữa (Quý II)

3 tháng cuối (Quý III)

Trang 14

Thế giới

Thiếu cân ở phụ nữ mang thai là một vấn đề sức khỏe cộng đồng, phổbiến ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á và châu Phi Theo sốliệu báo cáo năm 2012 của Safe the Children, có từ 10-20% phụ nữ ở vùngCận Saharan châu Phi và 25-35% phụ nữ vùng Nam Á có chỉ số BMI<18.5

ở mức nặng [18]

Các nước có tỷ lệ phụ nữ mang thai có chỉ số BMI thấp ở mức cao từ

24 - 40% tập trung nhiều ở châu Á, trong đó Banglades và Ấn Độ là haiquốc gia có tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 30 và 36% Egyp, South Africa vàMozambique có tỷ lệ ở mức thấp từ 5-9% Uganda, Tanzania, Kenya,Nigeria, Congo và Nigeria có tỷ lệ ở mức vừa (10-19%) [19]

Bên cạnh đó, tỷ lệ thừa cân, béo phì trên toàn cầu cũng ở mức báođộng Số liệu năm 2008 cho thấy có đến 1,5 tỷ người thừa cân (BMI ≥ 25),trong đó gần 200 triệu phụ nữ béo phì (BMI ≥ 30), chiếm tỷ lệ 14%

Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kểtrong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người dân, đặc biệt đốivới nhóm đối tượng có nguy cơ cao là trẻ em và phụ nữ Theo kết quả tổngđiều qua dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ phụ nữ độ tuổi sinh đẻ có BMI<18.5 khácao (26,3%) năm 2000, năm 2005 là 20,9% và đến năm 2012, tỷ lệ này giảmxuống còn 18,0 % [5], [20] Về diễn biến có thể thấy rõ tỷ lệ phụ nữ độ tuổi sinh

đẻ có chỉ số BMI thấp giảm dần từ năm 2000 đến nay Trong 12 năm qua đãgiảm được 31,5% so với tỷ lệ ban đầu, với tốc độ giảm trung bình 2,6%/năm

Việt Nam đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp và chịu gánh nặng kép vềdinh dưỡng Bên cạnh thiếu năng lượng trường diễn, tình trạng thừa cân-béo phìxuất hiện, tồn tại và có xu hướng gia tăng Theo kết quả của tổng điều tra dinhdưỡng 2012 cho thấy, tỷ lệ phụ nữ độ tuổi sinh đẻ có chỉ số BMI ≥ 25 là 8,2%[21]

Trang 15

1.2 Tình trạng vi chất dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai

1.2.1 Thiếu máu dinh dưỡng

a Vai trò của Hb trong thiếu máu dinh dưỡng

Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng

Hemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn mức bình thường do thiếu mộthay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu, bất kể do nguyênnhân gì [22]

Thiếu máu, được định nghĩa khi nồng độ Hemoglobin (Hb) trong máuthấp Thiếu máu do mất máu hoặc suy giảm hình thành Hb Một số vitaminnhư B12, acid folic và riboflavin ảnh hưởng đến sự hình thành của Hb nhưngyếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất là thiếu sắt và sự thiếu hụt vi chất dinhdưỡng thường hay xảy ra không những ở các nước đã phát triển mà còn xảy

ra ở các nước đang phát triển

b Nguyên nhân, hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng.

Nguyên nhân thiếu máu dinh dưỡng

Thiếu máu dinh dưỡng xảy ra do rất nhiều nguyên nhân, trong đónguyên nhân do thiếu sắt chiếm tới 50% tổng số người thiếu máu ở các nướcđang phát triển Một nửa số thiếu máu còn lại là do thiếu những chất dinhdưỡng khác như thiếu folate, kẽm, đồng, selen, vitamin A, B2, B12 vàvitamin C hoặc thiếu máu do một số bệnh bội nhiễm, nhiễm trùng mạn, các

bệnh bất thường huyết sắc tố và hồng cầu.

Trang 16

Thiếu sắt là kết quả của sự cân bằng sắt âm tính kéo dài, có thể dokhông đủ lượng sắt (do hàm lượng sắt trong chế độ ăn không đủ hoặc hấp thukhông đủ), do tăng nhu cầu về sắt hoặc mất sắt mạn tính do chảy máu (mấtmáu) Phụ nữ ở lứa tuổi sinh sản có nguy cơ cao bị thiếu sắt vì bị mấtsắt trong khi hành kinh [23].

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thiếu sắt là do khẩu phần ăn khôngcung cấp đủ chất sắt Nguồn cung cấp sắt chủ yếu từ 2 nguồn sắt chính từthực phẩm là sắt hem và sắt không hem Sắt heme tạo ra Hemoglobin vàMyoglobin Nguồn thực phẩm giầu sắt hem là thịt, cá, thịt gia cầm và tiết Sắtheme có thể được hấp thu dễ dàng ở ruột và ít bị ảnh hưởng bởi sự có mặt củamột số chất làm tăng hay cản trở hấp thu sắt Sắt không hem, có nhiều trongcác loại thực phẩm nguồn gốc thực vật (khoảng 85%) và thường khó hấp thu

Khẩu phần của người Việt Nam nói chung và phụ nữ có thai Việt Namnói riêng thuộc loại khẩu phần có giá trị sắt trung bình Đây là một trongnhững nguyên nhân dẫn tới thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt ở phụ nữ tuổisinh đẻ Việt Nam [24]

Nhu cầu sắt tăng cao ở trẻ em dưới 5 tuổi và phụ nữ tuổi sinh đẻ Phụ

nữ tuổi sinh đẻ bắt đầu từ khi có kinh nguyệt, nhu cầu sắt trung bình xấp xỉ1,4 mg/ngày Tuy nhiên, lượng sắt này khó có thể đáp ứng đủ nếu chỉ dựa vàokhẩu phần ăn [25]

Đối với phụ nữ có thai, nhu cầu sắt tăng cao để phát triển bào thai, nhauthai và cho người mẹ Tổng số lượng sắt cần thiết đối với phụ nữ có thai làkhoảng 1000 mg [26], vì thế phụ nữ trong suốt quá trình mang thai cần thêmkhoảng 700-850 mg sắt mới đáp ứng nhu cầu cho mẹ, bào thai, lúc chuyển dạ

và trong khi sinh

Hậu quả của thiếu máu dinh dưỡng

Những người mẹ bị thiếu máu, đặc biệt là thiếu máu nặng (Hb<70g/L),

tỷ lệ tử vong khi sinh khá cao Trong thời kỳ mang thai, người mẹ bị

Trang 17

thiếu máu có mức tăng cân thấp, nguy cơ đẻ non, sẩy thai hoặc đẻ con nhỏ,yếu, nguy cơ suy dinh dưỡng; biểu hiện khuyết tật quá trình myelin hóa, làmchậm dẫn truyền thần kinh, dẫn đến chậm phát triển về trí lực, và trẻ thường

bị thiếu máu, thiếu sắt ngay trong giai đoạn 6 tháng đầu ngay sau khi sinh[27]

c Thực trạng thiếu máu dinh dưỡng

Thế giới

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới , hiện có đến 1/3 dân số trên thếgiới bị thiếu máu, tập trung nhiều nhất ở phụ nữ mang thai (với 40-45% phụ nữmang thai trên thế giới bị thiếu máu, phần lớn là ở các nước đang phát triển); Tỷ

lệ thiếu máu ở phụ nữ không có thai khoảng 30% tiếp đến là trẻ dưới 5 tuổi vàlứa tuổi học sinh

Việt Nam

Việt Nam nằm trong Khu vực Đông Nam Á là vùng có vấn đề sức khỏecộng đồng về thiếu máu ở mức độ nặng (WHO 2008) Việt Nam hiện có tỷ lệthiếu máu ở phụ nữ có thai rất cao

Theo số liệu của tổng điều tra về thiếu máu năm 2008, có tới 36,5%phụ nữ có thai bị thiếu máu [28]

1.2.2 Thiếu kẽm

a Vai trò của kẽm.

Tầm quan trọng của kẽm đối với cơ thể động vật lần đầu tiên đã đượcTodd et al đề cập tới vào năm 1934 [29] với chức năng phát triển và sinh sản.Sau đó nhiều chức năng quan trọng của kẽm được phát hiện thêm Kẽm đượcbiết đến như một vi chất dinh dưỡng cần thiết trong khoảng 30 năm gần đây.Kẽm tồn tại trong các loại thức ăn dưới dạng Zn2+ và được phân bố rộng rãitrong cơ thể sau khi được hấp thu

Kẽm có vai trò trong sự trưởng thành của hồng cầu Các mô tả ban đầu

Trang 18

của những trường hợp thiếu kẽm bao gồm cả thiếu máu như một dấu hiệu rõràng, có thể đó là kết quả của sự phối hợp với thiếu sắt hoặc một ảnh hưởngđặc hiệu của kẽm lên sự trưởng thành thành của tế bào hồng cầu Nồng độkẽm huyết thanh thấp trong quá trình có thai được coi là một dấu hiệu báotrước quan trọng của cân nặng sơ sinh thấp, và chế độ ăn của mẹ thiếu kẽm cómối liên quan với tăng gấp đôi nguy cơ cân nặng sơ sinh thấp và tăng nguy cơ

đẻ non [29]

b Nguyên nhân và hậu quả thiếu kẽm

Nguyên nhân

Do thiếu hụt kẽm dự trữ từ trong bào thai

Giai đoạn 3 tháng cuối đặc biệt là 2 tuần trước khi sinh là giai đoạnchính tập trung dự trữ các vi chất dinh dưỡng quan trọng trong bào thaicho chức năng sống và phát triển của trẻ sau khi ra đời Vì vậy ở nhữngtrẻ có CNSST (do thiếu dinh dưỡng trong bào thai) đặc biệt những trẻ sinhnon sẽ bỏ qua mất giai đoạn dự trữ này, dẫn tới nồng độ các vi chất dinhdưỡng trong đó bao gồm nồng độ kẽm rất thấp ở trẻ sơ sinh [30]

Do thiếu hụt kẽm trong sữa mẹ, và khẩu phần ăn bổ sung

Việt Nam với tập quán ăn uống kiêng khem gây thiếu dinh dưỡngthường áp dụng cho phụ nữ có thai, bà mẹ nuôi con bú và trẻ nhỏ, hoặc dochế độ ăn nghèo đạm thịt, cá, nhưng lại quá nhiều các thực phẩm ngũ cốcgiàu phytat gây ức chế hấp thu kẽm, là những nguyên nhân hàng đầu dẫnđến sự thiếu hụt kẽm trong khẩu phần trên toàn quốc Theo Tổ chức Tư vấnQuốc tế về kẽm (IZiNCG) khoảng 27,8% người Việt nam đang có nguy cơthiếu kẽm căn cứ vào tình hình khẩu phần hàng ngày có lượng kẽm đạtthấp 9,2 mg và tỷ số phytate/kẽm là 21,6 dẫn tới hạn chế hấp thu kẽm Điềunày được xem là hậu quả của sự nghèo nàn dẫn đến thiếu các vi chất dinhdưỡng quan trọng này trong sữa mẹ [31]

Trang 19

Do khả năng hấp thu kẽm kém

Hàm lượng kẽm trong cơ thể cũng tương tự sắt, vào khoảng 1,5 mgđến 2,5 mg Hàm lượng này được duy trì bởi lượng kẽm được hấp thukhoảng 5 mg/ngày Kẽm được hấp thu chủ yếu ở ruột non Trong thựcnghiệm ở chuột, người ta còn thấy kẽm được hấp thu ở cả đại tràng Trongđiều kiện chuẩn, tỷ lệ hấp thu kẽm là 33% Tất nhiên tỷ lệ hấp thu này phụthuộc nhiều vào các điều kiện như hàm lượng kẽm trong thức ăn, nguồn gốcthức ăn và sự có mặt của các chất ức chế hay các chất kích thích sự hấp thukẽm Hàm lượng kẽm trong thức ăn càng thấp thì tỷ lệ hấp thu chất này càngcao [32]

Có mối liên quan tương đối chặt giữa hiện tượng bài tiết kẽm nội sinh

và sự hấp thu kẽm Lượng kẽm dữ trữ trong cơ thể càng thấp thì sự bài tiếtkẽm nội sinh càng được hạn chế Cơ chế và vai trò của sự bài tiết kẽm nộisinh chưa được nghiên cứu kỹ nhưng dường như có sự liên quan giữa bàitiết kẽm với vai trò của tụy và các tế bào ruột Người ta nhận thấy hàmlượng kẽm trong tá tràng còn cao hơn cả trong thức ăn Đó chính là do sựbài tiết của niêm mạc ruột Sau khi đã bài tiết kẽm ra ngoài lòng ruột,niêm mạc ruột lại tái hấp thu một phần lượng kẽm đó để giữ cân bằng Tại

tá tràng, 40-70% lượng kẽm kẽm được hấp thu vào trong cơ thể [33]

Đặc biệt kém hấp thu kẽm trong những trường hợp bệnh lý gây giảm

độ toan dạ dày, tiêu chảy kéo dài, hội chứng kém hấp thu, dị dạng ở dạ dày,ruột… [34]

Hậu quả thiếu kẽm

Gây dị dạng thai: Thiếu kẽm ở phụ nữ có thai không gây dị tật về cấutrúc thai nhi nhưng điều này một số tài liệu còn đang chưa thống nhất từnhững năm 1980 thiếu kẽm đã được giả thuyết gây ra các dị dạng ống

Trang 20

thần kinh Nhưng những báo cáo trước đây đã công bố các thông tin về khảnãng folate có thể phòng các dị tật ống thần kinh ở thai nhi Những nghiêncứu khác gần đây đã cho thấy, một cách gián tiếp rằng giảm nồng độ kẽmtrong chế độ ăn, nước uống ở các cộng đồng gây ra tỷ lệ cao hơn các dị tậtống thần kinh Nói một cách khác các nghiên cứu gần đây liên tục tìm thấymối liên hệ giữa nồng độ kẽm huyết thanh hoặc kẽm hồng cầu thấp ở phụ

nữ có thai và các dị tật tủy sống hoặc dị tất ống thần kinh ở thai nhi [35]

c Thực trạng thiếu kẽm

Thế giới.

Các nghiên cứu trước đây ở các nước châu Á đã cho thấy tỷ lệ cao của

sự thiếu hụt kẽm ở phụ nữ mang thai: 45 % phụ nữ Trung Quốc thiếu kẽmtrong lần mang thai thứ ba (< 10,5 µmol / L) [36], 55 % phụ nữ Bangladeshthiếu kẽm trong lần mang thai thứ hai (< 8,6 µmol / L) [37] và 65% phụ nữ

Ấn Độ thiếu kẽm trong lần mang thai thứ ba (9,9 µmol/L) [38]

Việt Nam

Ngày 18/6/2015, tại Hội thảo về dinh dưỡng dự phòng cho vị thànhniên và nữ thanh niên, PGS.TS Lê Bạch Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinhdưỡng Quốc gia cho biết, theo một số nghiên cứu điều tra tình trạng kẽm ở trẻ

em và phụ nữ Việt Nam thời gian gần đây cho thấy, tỷ lệ thiếu kẽm ở phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49 tuổi) là 67,2%, tỷ lệ thiếu kẽm ở phụ nữ có thai

là 90%, trẻ em dưới 5 tuổi là 81,2%

1.2.3.Thiếu folate (acid folic)

a Vai trò của folate

Folate là thuật ngữ khoa học dùng để chỉ một loại vitamin thuộc nhóm B(vitamin B9) hay còn được gọi là acid folic Acid folic được biết rõ và tổnghợp từ năm 1945 -1946 khi được phát hiện ở phụ nữ có thai người Hindu - Ấn

Trang 21

Độ bị mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to Acid folic là thuật ngữ chung của acidpteroylmonoglutamic (PGA)

Chức năng chính của folate là hoạt động như một Coenzyme trong mộtCarbon transfer, đóng vai trò quan trọng trong tổng hợp Purine vàPyrimidine [39] Folate có tác dụng hình thành nhân hem của hemoglobin Folate còn là chất cần thiết cho phát triển và phân chia các tế bào

Vai trò của folate tới thai sản

Các nghiên cứu được tiến hành từ những năm 1950 và 1960 đã rút rakết luận rằng biệc bổ sung acid folic đã làm giảm tỷ lệ thiếu folate ở phụ nữ

có thai và việc bổ sung acid folic trước sinh ở chu kỳ 3 tháng giữa và cuối đãtrở thành một biện pháp can thiệp cộng đồng thông dụng Năm 1970, Tổchức Dinh dưỡng và Thực phẩm của Mỹ đã khuyến nghị việc bổ sung aicdfolic (200- 400 µg/d) cho phụ nữ có thai và điều này đã được áp dụng rộngrãi ở các nước phát triển [40]

Trong những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu đã nghi ngờ

về mối liên quan giữa tình trạng folate của mẹ và khả năng dị tật ở thai nhi,đặc biệt là những dị tật ở ống thần kinh Việc bổ sung folic acid trước khi cóthai đã làm giảm hẳn tỷ lệ xuất hiện dị tật ống thần kinh

b Nguyên nhân và hậu quả của thiếu folate

Hậu quả

Trang 22

Thiếu acid folic (folate) thường làm tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh không đủ cân

và thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ của người mẹ Biểu hiện lâm sàngcủa thiếu folate gồm mệt mỏi, khó tập trung, cáu gắt, đau đầu, hồi hộp vàthở ngắn, thở gấp khi bệnh tiến triển nặng hơn và thường có các đặc điểmgiống với tình trạng thiếu vitmain B12 Thiếu folate gây ra các khuyết tậtống thần kinh ngay từ thời kỳ bào thai Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụngliều bổ sung folate khi mang thai (khoảng 0,4 - 5,0 mg) có thể ngăn ngừađược các khuyết tật này [41]

c Thực trạng thiếu folate.

Thế giới

Trên thế giới hiện nay đã công nhận vai trò của acid folic trong phòngchống thiếu máu, đặc biệt là phòng chống khuyết tật ống thần kinh ở thainhi Tại Trung Quốc, tỉ lệ trẻ dị tật ống thần kinh giảm 80% nhờ việc bổsung 400µg/ngày acid folic cho phụ nữ mang thai, tại New England là 70%

và Canada là 35%

Việt Nam

Việt nam không có số liệu quốc gia về tình trạng thiếu folate ở trẻ em

và phụ nữ Tuy nhiên, kết quả điều tra tình trạng vi chất dinh dưỡng tiến hành

ở 19 tỉnh thành năm 2010 cho thấy ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tỷ lệ thiếu folate là2,7%, thiếu folate giới hạn là 25,1% Tỷ lệ trẻ em thiếu folate là 0,6% và thiếufolate giới hạn là 6,4% Như vậy nghiên cứu này cho thấy không có thiếufolate ở phụ nữ và trẻ em Việt Nam, tuy nhiên, tỷ lệ thiếu folate giới hạn ởphụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trong cộng đồng có thể làm tăng nguy cơ dị tậtống thần kinh ở trẻ đẻ ra [21]

1.2.4.Thiếu Vitamin D

a Vai trò của Vitamin D:

Trang 23

Vitamin D là một trong các xúc tác hấp thu quan trọng nhất của canxi

và phốt pho Nó cũng có nhiều vai trò trong sự phân chia tế bào, sự bài tiết vàchuyển hóa của các hormon, bao gồm cả hormone tuyến cận giáp và insulin.Vitamin D (canxiferol) được tổng hợp trong da của hầu hết các loài động vật,bao gồm cả con người, từ tiền thân của nó là 7-dehydrocholesterol, dưới tácđộng của ánh nắng mặt trời [42] Quá trình tổng hợp này sản xuất một vitamin

tự nhiên, được biết đến là vitamin D3 Vitamin D cũng có thể thu được từ chế

độ ăn uống, phân tử có nguồn gốc từ thực vật được gọi là vitamin D2 Cả haidạng vitamin D đều chuyển hóa trong cơ thể con người Vitamin D3 làchuyển hóa đầu tiên ở gan tạo thành 25-hydroxyvitamin D (25-OH-D3), vàsau đó trong thận thành 1,25-dihydroxyvitamin D (1,25-(OH)2-D3), là dạnghoạt động sinh học mạnh nhất của vitamin D [43],[44]

Vitamin D rất quan trọng đối với sự phát triển và tăng trưởng củaxương, nhờ vào việc điều hòa lượng canxi được hấp thụ từ chế độ ăn uống.Trong một nghiên cứu được tiến hành ở Mỹ cho thấy mật độ khoáng xương ởnhững trẻ sơ sinh được sinh vào mùa đông cao hơn so với những trẻ sinh vàomùa hè [42],[45],[46] Trong ba tháng cuối của thai kỳ, nồng độ vitamin Dtrong máu của bà mẹ mang thai tăng lên và nó cũng được tổng hợp nhiều hơn

ở nhau thai [47] Vitamin D được cho là có thể giúp vận chuyển canxi quanhau thai tới bào thai đang phát triển, bằng cách tăng các protein liên kết vớicalci Bổ sung vitamin D trong quá trình mang thai sẽ có tác dụng tốt đối vớisức khỏe xương của thai nhi và sức khỏe nói chung của trẻ trong một năm.Một nghiên cứu trên hơn 100 phụ nữ, đã cho thấy việc bổ sung vitamin D ở

bà mẹ mang thai đã cải thiện đáng kể lượng canxi, chiều dài và cân nặngcủa thai nhi, và đã có các biểu hiện liền xương nhanh chóng ở thóp Trongquá trình phát triển của thai nhi vitamin D cần cho sự khoáng hóa bộ xương

và cần cho sự tăng trưởng xương và cơ Sự phát triển của bộ xương trong quá

Trang 24

trình mang thai được cho là có thể có ảnh hưởng lâu dài về sau, có liên quantới gãy xương và loãng xương Dung nạp một lượng tối ưu vitamin D là rấtquan trọng cho sự phát triển và duy trì xương.

b Nguyên nhân và hậu quả của thiếu Vitamin D

Nguyên nhân

Theo nghiên cứu năm 2010 của Viện dinh dưỡng, thì có 56,2% phụ nữtrong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 - 49 tuổi) ở nông thôn Việt Nam bị thiếu vitamin

D Khi có thai nhu cầu canxi tăng, do đó nhu cầu vitamin D cũng tăng Việc

bổ sung vitamin D của phụ nữ có thai còn hạn chế như: ăn uống không đầy

đủ, thai phụ hay ốm nghén, kiêng không ra ngoài nên ít được tiếp xúc với ánhnắng buổi sáng Ngoài ra các yếu tố khác liên quan đến thiếu vitamin D nhưnghề nghiệp, người làm nhân viên văn phòng có nguy cơ thiếu vitamin D caogấp 2 lần so với công nhân và nông dân [48]

D hàng ngày cho phụ nữ mang thai Liều 400 IU trong các viên vitamin tổnghợp sử dụng trong thời kỳ mang thai thường là không đủ cho hầu hết phụ nữ khikhông tiếp xúc với ánh nắng mặt trời thường xuyên

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng sự thiếu hụt vitamin D ở người

mẹ có thể ảnh hưởng đến điểm số phát triển trí tuệ thể chất của trẻ Theo mộtnghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học ở Tây Ban Nha về sự liên quangiữa nồng độ vitamin D trong máu trên 2000 phụ nữ mang thai và sự phát

Trang 25

triển tinh thần của trẻ trong giai đoạn từ 1 năm đến 14 tháng tuổi Các nhànghiên cứu nhận thấy rằng sự thiếu hụt vitamin D ở người mẹ có thể ảnhhưởng đến điểm số phát triển trí tuệ thể chất của trẻ [50],[51].

c Thực trạng thiếu vitamin D.

Thế giới

Trước đây, thiếu vitamin D chỉ được báo cáo ở một số cộng đồng người

da trắng Gần đây, với tỷ lệ loãng xương ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia,thiếu vitamin D đã được nghiên cứu ở một số nước châu Á như Trung Quốc,

Ấn Độ, Hàn Quốc, Việt Nam [52],[53],[54] Tỷ lệ thiếu vitamin D ở phụ nữMalaysia là 49%, ở phụ nữ Trung Quốc là 9,4% ở phụ nữ có thai Ấn Độ là84% Các nghiên cứu khác cho thấy, tỷ lệ thiếu vitamin D ở phụ nữ tuổi sinh

đẻ của Hàn Quốc là 57%, Thái Lan 47%

Trên thế giới, có khoảng 1 tỷ người thiếu vitamin D (25 OHD≤50nmol/l) hoặc không đủ vitamin D (25OHD > 51- ≤ 75 nmol/l) Những đốitượng hay gặp là trẻ nhỏ, phụ nữ có thai và người già Thiếu hụt vitamin D ởtrẻ em có thể gây ra chậm phát triển, có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh còixương Ở người lớn, thiếu vitamin D làm trầm trọng thêm cả thiếu xương,loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương Các nghiên cứu ở trẻ em và thanhthiếu niên người Mỹ gốc Phi và châu Á cũng cho thấy, khẩu phần ăn thiếucanxi ảnh hưởng tới quá trình dị hóa vitamin D và phát triển bệnh thiếuvitamin D và bệnh còi xương Càng ngày có nhiều báo cáo về thiếu/không đủvitamin D trong các thử nghiệm ở châu Á Ví dụ, tỷ lệ thiếu vitamin D đãđược báo cáo ở trẻ sơ sinh và bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ ở Ấn Độ Mông

Cổ và Trung Quốc có tỷ lệ thiếu hụt vitamin D cao nhất trên thế giới Khôngđủ/thiếu vitamin D cũng đã phát hiện ở phụ nữ Hong Kong và Indonesia, và ởtrẻ em từ Malaysia, mặc dù họ sống gần đường xích đạo

Việt Nam

Trang 26

Tại Việt Nam, dữ liệu về thiếu vitamin D là còn rất ít Một cuộc khảo sát

đô thị tại TP Hồ Chí Minh trên 205 nam giới và 432 phụ nữ cho thấy tỷ lệ thiếuvitamin D ở nam giới là 20%, thấp hơn đáng kể hơn so với ở phụ nữ (46%)

Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng đối với phụ nữ có thai 6 tháng

cuối, nhu cầu khuyến nghị (RDA-là mức ăn vào hàng ngày được khuyến nghị

chính thức nhằm đảm bảo đủ nhu cầu dinh dưỡng của khoảng 97-98% ngườikhỏe mạnh của một nhóm tuổi nhất định và theo giới) về vitamin D là 600-800IU [55]

Theo nghiên cứu năm 2012 của Viện Dinh dưỡng thì tỷ lệ thiếuvitamin D là 59,3% ở phụ nữ thành thị và 56,2% ở phụ nữ nông thôn [48]

1.2.5 Thiếu Canxi

a Vai trò của Canxi

Canxi là chất khoáng thiết yếu rất cần cho cơ thể người với số lượngđòi hỏi cao so với các loại chất khoáng khác như sắt, đồng, kẽm canxi làthành phần chủ yếu cấu tạo nên bộ xương và răng, nhưng cũng là một yếu tốkhông thể thiếu tạo nên quá trình đông máu và còn tham gia vào các hoạtđộng co giãn tế bào cơ Thiếu canxi cơ thể mệt mỏi, răng và xương mất chấtkhoáng; ở trẻ em sẽ bị còi xương, người lớn tuổi bị loãng xương [45],[52]

Với phụ nữ có thai, canxi không những cần cho mẹ mà còn rất cần chothai Nguồn cung cấp canxi cho con là do sự thẩm thấu canxi từ máu mẹ quarau thai vào máu con Phần lớn lượng canxi này cùng với phốt pho cấu tạonên bộ xương thai nhi

Đối với phụ nữ có thai, để đánh giá mức độ thiếu canxi có thể sử dụng cácchỉ số hóa sinh như Hormon của tuyến cận giáp (Parahormon - PTH), C-telopeptide (CTx)

Hormon PTH là một polypeptide gồm có 110 acid amin PTH đóng vaitrò trong điều hòa nồng độ ion Ca++ và ion phosphate (PO4- - -) trong huyết

Trang 27

tương Dưới tác dụng của hormone, nồng độ ion canxi huyết tương tăng lênnhưng ngược lại nồng độ ion phosphate lại giảm đi Ở mô xương, PTH gắn vớireceptor trên màng tế bào xương và tế bào tạo xương Quá trình gắn này sẽ làmhoạt hóa bơm Canxi, làm tế bào xương và tế bào tạo xương sẽ bơm ion canxi từdịch xương vào dịch ngoại bào Khi bơm này được hoạt hóa mạnh sẽ làm giảmnồng độ ion Canxi trong dịch xương, khi bơm không hoạt động thì làm cho muốicanxi phosphate lại tiếp tục lắng động vào khuôn xương (Trong xương, các tếbào xương và tế bào tạo xương liên hệ với nhau làm thành một hệ thống tế bàotiếp nối nhau trải khắp xương và bề mặt của xương chỉ trừ vùng tiếp giáp với các

tế bào hủy xương) [56]

b Nguyên nhân và hậu quả thiếu canxi.

Nguyên nhân

Sự hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể người phụ thuộc vào sựcung cấp đầy đủ một số yếu tố khác như phốt pho và đặc biệt là vitamin D.Sau khi được hấp thu tại ruột, canxi được chuyển vào máu và đi tới các cơquan sử dụng của cơ thể Phần lớn canxi được sử dụng cho tạo xương, quátrình này cần vitamin D Hormon cận giáp (parthyroid) đóng vai trò chủ yếutrong điều hoà canxi máu ở mức bình thường Khi canxi máu giảm, cơ thể sẽtăng tiết hormone này để huy động canxi từ xương vào máu, kích thích thận

và ruột tăng hấp thu canxi và phốt pho Tham gia điều hoà canxi máu còn cóhormone canxitonin do tuyến ức bài tiết, tác dụng ngược với papathyroid.Canxi được đào thải qua thận và được tái hấp thu tới 99%, chỉ còn 1% đượcbài tiết ra ngoài, một số bài tiết qua đường tiêu hoá Thiếu vitamin D thì dùcung cấp đủ canxi cơ thể cũng không thể hấp thu được Khi canxi không đượccung cấp đủ, nồng độ chất này trong máu giảm, tuyến cận giáp sẽ tăng cườnghoạt động để tiết ra nhiều hormon hơn làm cho canxi trong xương và răng

Trang 28

phân giải, đi vào máu gây nên tình trạng loãng xương, tiêu xương, xốp xương,gãy xương ở người lớn và còi xương ở trẻ em [57]

Bình thường có khoảng 15% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ bị thiếucanxi Khi có thai, nhu cầu canxi tăng lên: Trong 3 tháng đầu, nhu cầu là800mg, 3 tháng giữa là 1.000mg, 3 tháng cuối và khi nuôi con bú là 1.500mg

vì thai càng lớn thì xương thai nhi càng phát triển Trong khi đó việc bổ sungcanxi không đầy đủ như chế độ ăn nghèo nàn, thai phụ ăn kiêng và khôngdùng thêm sản phẩm có canxi [58]

Hậu quả

Tạo xương được bắt đầu từ rất sớm trong bào thai Sau khi sinh, bộxương được canxi hoặc xương hoá, rắn chắc lại do sự lắng đọng các chấtkhoáng vào trong xương Canxi và phốt pho là những chất khoáng chủ yếutrong xương, nên việc cung cấp đầy đủ hai chất này trong thời mang thai làrất cần thiết

Hiện tượng thiếu canxi xảy ra khá phổ biến tại Việt Nam bởi với tậpquán ăn uống truyền thống, khẩu phần ăn của người Việt Nam chỉ đáp ứngđược khoảng 50% nhu cầu canxi hàng ngày của cơ thể Thiếu canxi ở phụ nữmang thai càng trầm trọng hơn bởi nhu cầu về canxi ở phụ nữ khi có thai tănggấp đôi nhu cầu của người bình thường và tăng dần theo sự phát triển của thainhi Thiếu canxi ở mẹ dễ dẫn đến còi xương, mềm xương ở thai nhi, trẻ đẻ ra

có thóp rộng, xương sọ mềm quấy khóc trong những tháng đầu [59],[60],[61] Những biểu hiện lâm sàng của hiện tượng thiếu canxi dễ nhận thấy trongthời kỳ mang thai là: đau mỏi cơ bắp, chuột rút, đôi khi có rối loạn nhịp tim,trầm trọng hơn, bà mẹ có thể bị ngất xỉu do hạ huyết áp, hoặc co giật Nhữngtrường hợp này nếu xét nghiệm sẽ thấy nồng độ canxi trong máu hoặc huyếtthanh giảm

Trang 29

Đẻ non, hoặc thai chết lưu có nhiều nguyên nhân gây nên Hiếm khithiếu canxi đơn thuần gây đẻ non, hoặc thai chết lưu [61] Tuy nhiên, bà mẹmang thai được bổ sung đủ canxi sẽ có huyết áp ổn định hơn, hạn chế đượctình trạng sinh non và bé sinh ra khỏe mạnh, dễ nuôi hơn Việc bổ sung đủcanxi trong thai kỳ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chiều cao của các

bé sau này Để có hệ xương khỏe mạnh, bé cần đủ canxi ngay từ khi còn làbào thai Sau khi bé được sinh ra, mẹ vẫn cần bổ sung đầy đủ canxi để có thểcung cấp đủ canxi cho bé thông qua sữa mẹ và tránh được tình trạng mẹ bịmất xương, dẫn đến loãng xương sau này

Tiêu chuẩn canxi cần hấp thu mỗi ngày đối với người trưởng thành trungbình là 800 mg nhưng qua điều tra thì mức hấp thu đó hầu như không đủ (ví dụ ở

Mỹ, phụ nữ da trắng 640 mg, phụ nữ da đen 452 mg; ở Trung Quốc: phụ nữ nôngthôn 378 mg, phụ nữ thành thị 452 mg, còn phụ nữ ở thành phố lớn 600mg) Khi

có thai, nhu cầu canxi tăng lên: trong 3 tháng đầu, nhu cầu là 800 mg nhưng 3tháng giữa là 1.000 mg, 3 tháng cuối và khi nuôi con bú là 1.500 mg vì thai cànglớn thì xương thai nhi càng phát triển [55]

Người có thai thiếu canxi có thể thấy mệt mỏi, đau nhức bắp cơ, tê chân,đau lưng, đau khớp, răng lung lay, chuột rút, nặng hơn nữa thì lên cơn co giật.Đối với thai, thiếu canxi sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng ngay khi còn trong bụng mẹ,

bị còi xương bẩm sinh, biến dạng các xương gây dị hình, lùn thấp

Thiếu canxi ngắn hạn không có triệu chứng rõ ràng Về lâu dài,thiếu canxi nếu không được điều trị có thể dẫn đến loãng xương Nguy cơgãy xương cũng tăng lên, đặc biệt ở người lớn tuổi [62],[63] Thiếu canxicũng có thể gây ra bệnh còi xương, mặc dù nó thường liên quan với thiếuvitamin D [45],[64]

c Thực trạng thiếu canxi.

Thế giới

Các nghiên cứu ở trẻ em và thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi và châu

Trang 30

Á cũng cho thấy, khẩu phần ăn thiếu canxi ảnh hưởng tới quá trình dị hóavitamin D và phát triển bệnh thiếu vitamin D và bệnh còi xương

Kết quả một nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy; chế độ ăn của trẻ cócanxi thấp <350 mg/ngày Ở Mông Cổ, còi xương cũng phổ biến do lượngcanxi khẩu phần thấp

Việt Nam

Nghiên cứu của Thúy và Cs năm 2010 cho thấy mức tiêu thụ canxiđáp ứng 51,1% nhu cầu khuyến nghị trung bình của phụ nữ (EAR- mức

khuyến nghị vi chất dinh dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu của một nửa số người

khỏe mạnh phù hợp với lứa tuổi và giới) Ở phụ nữ tỷ lệ thiếu nhẹ canxi(nồng độ ion-canxi huyết thanh từ 0,9 - 1,15 nmol/l) là 83.3%

Theo nghiên cứu của Phạm Vân Thuý, Trần Thuý Nga, Lê Thị Hợp - ViệnDinh dưỡng năm 2012, kết quả cho thấy: Không có đối tượng bị thiếu canxi mức

độ nặng, tỷ lệ thiếu canxi ở phụ nữ là 15% Phụ nữ trong nhóm có điều kiện kinh

tế xã hội thấp nhất có tỷ lệ thiếu canxi mức độ nhẹ thấp hơn (69,3%) nhưng tỷ lệthiếu canxi mức trung bình (28%) cao hơn so với nhóm khác Phụ nữ ở mứcnghèo nhất có nguy cơ thiếu canxi mức độ trung bình thấp hơn 2 - 3 lần và cónguy cơ thiếu canxi mức độ nhẹ cao hơn 2 - 3 lần [65]

Ngày đăng: 01/07/2016, 10:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Baqui AH, Zaman K, Persson LA, et al. (2003), “Simultaneous weekly supplementation of iron and zinc is associated with lower morbidity due to diarrhea and acute lower respiratory infection in Bangladeshi infants”, J Nutr, (133), pp. 4150-4157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simultaneousweekly supplementation of iron and zinc is associated with lowermorbidity due to diarrhea and acute lower respiratory infection inBangladeshi infants”, "J Nutr
Tác giả: Baqui AH, Zaman K, Persson LA, et al
Năm: 2003
14. Barbara A.Bowman and Robert M.Rusell (2005), “Present knowledge in Nutrition”. Eighth Edition. ILSI Press Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Present knowledgein Nutrition
Tác giả: Barbara A.Bowman and Robert M.Rusell
Năm: 2005
15. WHO (2009), “Global Database on Vitamin A Deficiency”. Geneva, World Health Organization Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Database on Vitamin A Deficiency
Tác giả: WHO
Năm: 2009
16. Hop Le Thi, Mai Le Bach &amp; Khan Nguyen Cong (2003), “Trends in Food Production and Food Consumption in Vietnam During the Period 1980-2000”, Mal J Nutr, 9(1), pp. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trends inFood Production and Food Consumption in Vietnam During thePeriod 1980-2000”, "Mal J Nutr
Tác giả: Hop Le Thi, Mai Le Bach &amp; Khan Nguyen Cong
Năm: 2003
17. Nhà xuất bản Y học (2014), “ Chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em”, tr.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻem
Tác giả: Nhà xuất bản Y học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học (2014)
Năm: 2014
18. Save the Children (2012), "State of the World’s mother 2012", pp. 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: State of the World’s mother 2012
Tác giả: Save the Children
Năm: 2012
22. Trường Đại học Y Hà Nội and Bộ môn Dinh Dưỡng - An toàn Thực phẩm (2012), “Thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt. Trong Dinh dưỡng và Vệ sinh an toàn thực phẩm”, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt. Trong Dinh dưỡngvà Vệ sinh an toàn thực phẩm
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội and Bộ môn Dinh Dưỡng - An toàn Thực phẩm
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
24. Hòa Phạm Thị Thúy (2003), "Hiệu quả của bổ sung sắt/acid folic đối với tình trạng thiếu máu thiếu sắt của phụ nữ có thai ở một số vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ", Luận án Tiến sỹ Y học. Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, pp. 139-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của bổ sung sắt/acid folic đốivới tình trạng thiếu máu thiếu sắt của phụ nữ có thai ở một số vùngnông thôn đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Hòa Phạm Thị Thúy
Năm: 2003
25. INACG (1981), " Iron deficiency in women. Washington, DC:ILSI,"pp. pp.4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iron deficiency in women. Washington, DC:ILSI
Tác giả: INACG
Năm: 1981
26. Willcoks J (1977), "The assessment of fetal growth", Pro, Nutr, Soc,, pp.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The assessment of fetal growth
Tác giả: Willcoks J
Năm: 1977
27. Gary Fleason and Nevin Scrimhaw (2007), "An Overview of the Funtional significance of iron deficiency. In Nutritional Anemia", Sight and Life press, pp. 45 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Overview of theFuntional significance of iron deficiency. In Nutritional Anemia
Tác giả: Gary Fleason and Nevin Scrimhaw
Năm: 2007
28. Bộ Y tế, Viện dinh dưỡng (2012), “ Kết quả chủ yếu của tổng điều tra giới thiệu chiến lược giai đoạn 2011- 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế, Viện dinh dưỡng (2012)," “ Kết quả chủ yếu của tổng điều tragiới thiệu chiến lược giai đoạn 2011- 2020
Tác giả: Bộ Y tế, Viện dinh dưỡng
Năm: 2012
29. Todd WR, Elvehjem CA, Hart EB. Zinc in the nutrition of the rat. Am J Physiol 1934; 107: 146-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zinc in the nutrition of the rat. AmJ Physiol 1934
30. “Micronutrient Deficiencies in the First Months of Life”(2003), edited by Francois M Delange and Keith P West Jr, Karger Medical and Sciencetific Pulisher Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Micronutrient Deficiencies in the First Months of Life"”
Tác giả: “Micronutrient Deficiencies in the First Months of Life”
Năm: 2003
31. Hop Le Thi, Gross R, Giay T, Sastroamidjojo S, Schultink W, Lang NT, (2000), “Premature complementary feeding is associated with poorer Vietnamese children growth of The Journal of Medical Investigation”, J Nutr, 57 (130), pp. 2683-2690 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Premature complementary feeding is associatedwith poorer Vietnamese children growth of The Journal of MedicalInvestigation”, "J Nutr
Tác giả: Hop Le Thi, Gross R, Giay T, Sastroamidjojo S, Schultink W, Lang NT
Năm: 2000
32. FAO/WHO (1988), “Requirements of vitamin A, iron, folate and vitamin B12”, Report of a Joint FAO/WHO Expert Consultation. Food and Agriculture Organization of the United Nations, (FAO Food and Nutrition Series, ( 23), Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Requirements of vitamin A, iron, folate andvitamin B12”, "Report of a Joint FAO/WHO Expert Consultation. Foodand Agriculture Organization of the United Nations
Tác giả: FAO/WHO
Năm: 1988
34. Shrimpton R. (1993), “Zinc deficiency - It is wide spread but under- recognized?” SCN News, 9, pp 123-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zinc deficiency - It is wide spread but under-recognized
Tác giả: Shrimpton R
Năm: 1993
35. Mahomed K, Bhutta Z, Middleton P. (2007), “Zinc supplementation for improving pregnancy and infant outcome”, Cochrane Database Syst. Rev. CD000230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zinc supplementationfor improving pregnancy and infant outcome
Tác giả: Mahomed K, Bhutta Z, Middleton P
Năm: 2007
36. Ma AG, Chen XC, Xu RX, Zheng MC, Wang Y, Li JS. “Comparison of serum levels of iron, zinc and copper in anaemic and non-anaemic pregnant women in China”. Asia Pac J Clin Nutr. 2004;13:348-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparisonof serum levels of iron, zinc and copper in anaemic and non-anaemicpregnant women in China
41. Black RE. (2001), “Micronutrients in pregnancy”. Br.J.Nutr, 85 (Suppl.2), pp. 193-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Micronutrients in pregnancy
Tác giả: Black RE
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Đánh giá BMI theo WHO [10] - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 1.1. Đánh giá BMI theo WHO [10] (Trang 12)
Bảng 3.2. Tuổi thai của các đối tượng tại thời điểm tham gia nghiên cứu - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.2. Tuổi thai của các đối tượng tại thời điểm tham gia nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.1. Tuổi của các đối tượng tham gia nghiên cứu - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.1. Tuổi của các đối tượng tham gia nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.4. Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.4. Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (Trang 39)
Bảng 3.3. Trình độ học vấn - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.3. Trình độ học vấn (Trang 39)
Bảng 3.7. Việc tập luyện thể dục trong 3 tháng gần đây - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.7. Việc tập luyện thể dục trong 3 tháng gần đây (Trang 40)
Bảng 3.12. Tăng cân so với trước khi có thai - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.12. Tăng cân so với trước khi có thai (Trang 42)
Bảng 3.14. Tần xuất sử dụng sữa - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.14. Tần xuất sử dụng sữa (Trang 43)
Bảng 3.15. Nhu cầu năng lượng trong khẩu phần hàng ngày - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.15. Nhu cầu năng lượng trong khẩu phần hàng ngày (Trang 43)
Bảng 3.16. Lượng protein tiêu thụ trong khẩu phần hàng ngày - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.16. Lượng protein tiêu thụ trong khẩu phần hàng ngày (Trang 44)
Bảng 3.22. Tỷ lệ thiếu kẽm theo nghề nghiệp - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.22. Tỷ lệ thiếu kẽm theo nghề nghiệp (Trang 45)
Bảng 3.25. Tỷ lệ thiếu vitamin D theo tuổi thai - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.25. Tỷ lệ thiếu vitamin D theo tuổi thai (Trang 46)
Bảng 3.24. Tỷ lệ thiếu máu theo tuổi thai - TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG và THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG của PHỤ nữ MANG THAI TUẦN 37  39 tại 8 xã HUYỆN HOÀI đức, hà nội
Bảng 3.24. Tỷ lệ thiếu máu theo tuổi thai (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w