Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của lứatuổi vị thành niên học đường nói chung, đối với lứa tuổi vị thành niên ở trunghọc cơ sở đã có một số nghiên cứu nhưng ch
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, trong đó bao gồm cả sức khỏe
về thể chất lẫn sức khỏe tinh thần Để có một sức khỏe toàn diện, chúng taphải có một chế độ chăm sóc sức khỏe hợp lí Một trong những yếu tố ảnhhưởng trực tiếp nhất đến sức khỏe là tình trạng dinh dưỡng
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) lứa tuổi vị thành niên bắt đầu từ 10-19tuổi, đây là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn Nó đánh dấu bằngnhững thay đổi xen lẫn nhau về mặt thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hộichuyển từ đơn giản sang phức tạp Khác với các thời kỳ phát triển khác củatrẻ, lứa tuổi vị thành niên là thời kỳ trẻ chủ yếu tự quyết định việc ăn uốngcủa mình và có khả năng tự chăm sóc cho bản thân vì vậy sự quan tâm củacha mẹ về chế độ ăn của trẻ đã giảm đi đáng kể
Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng về tâmsinh lý và dinh dưỡng, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển đầy đủ của cơ thể,hoàn thiện các cơ quan, chức phận [1] Tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổinày liên quan chặt chẽ với lứa tuổi trước cũng như sau đó
Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2000 cho kết quả tỷ lệ béo phì
là 6-10% cho từng nhóm tuổi, trong đó trẻ em lứa tuổi học đường chiếm tỷ lệcao [2] Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng,bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em thì tỷ lệ thừa cân, béo phì đang giatăng dẫn đến thay đổi mô hình bệnh tật, tử vong [3]
Thừa cân, béo phì ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ khi trưởngthành Những trẻ béo sẽ ngừng tăng trưởng sớm Trước dậy thì, chúng thườngcao hơn so với tuổi nhưng khi dậy thì, chiều cao ngừng phát triển và trẻ có xuhướng thấp hơn so với bạn bè Ngoài ra, thừa cân béo phì không chỉ ảnhhưởng đến hành vi học tập của trẻ mà còn kéo theo nguy cơ cao mắc các bệnh
Trang 2mạn tính không lây như tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, sỏi mật, viêmkhớp sau này Vấn đề quan trọng nữa là kiến thức, thực hành dinh dưỡng ,chăm sóc SKSS của các em cũng chưa được tốt: tỷ lệ rửa tay trước khi ăn thấp
và số trẻ đúng khi tự nhận xét về sự gầy béo của bản thân còn chưa cao [4],[5]
Khi bị thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến tiềm lực sức khỏe, sự pháttriển của não bộ và tư duy Nếu trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến khảnăng học tập, lao động, sáng tạo và gây tổn thất rất nhiều về mặt kinh tế [6]
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của lứatuổi vị thành niên học đường nói chung, đối với lứa tuổi vị thành niên ở trunghọc cơ sở đã có một số nghiên cứu nhưng chỉ mới chú trọng nhiều đến vấn đềphát triển thể lực mà chưa đề cập tới tình trạng dinh dưỡng
Thị trấn Triệu Sơn - Thanh Hóa là một nơi có tỷ lệ dân cư đông đúc vàhội tụ nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, các ông bố bà mẹ thường tập trungvào việc làm ăn để nâng cao mức thu nhập cho gia đình Vì vậy, việc dànhthời gian chăm sóc cho con cái sẽ ít đi, nhất là đối với những trẻ ở độ tuổi vịthành niên là điều không tránh khỏi
Với mong muốn khảo sát được tình hình dinh dưỡng của đối tượng vàxác định được một số yếu tố liên quan, trên cơ sở đó có những khuyến nghịvới nhà trường, gia đình để chăm sóc tốt hơn cho con em mình Chúng tôi đã
tiến hành đề tài nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của học sinh trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn Thanh Hóa năm 2016” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng của học sinh trường Trung học cơ sở
Thị Trấn Triệu Sơn, Thanh Hóa năm 2016.
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của học
sinh trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn, Thanh Hóa năm 2016.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm sức khỏe
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là một trạng thái hoàntoàn thoải mái về mặt thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ làkhông có bệnh hay thương tật [7],[8] Vì vậy sức khỏe được coi là tài sản quýgiá của con người, sức khỏe đã có và tồn tại từ khi con người sinh ra cho đếnkhi chết, nhưng mức độ thì thường xuyên thay đổi trong suốt cuộc đời [9].Các định nghĩa khác cũng được đưa ra, trong số đó có định nghĩa gần đâynhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân [10] Sứckhỏe là quyền lợi cơ bản nhất của con người và phải được nhìn nhận như tàisản của con người, của xã hội cùng giống như bất kỳ của cải vật chất nào [8]
Có một sức khỏe tốt là một trong những quyền cơ bản của con người
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đó là các đặctrưng cá nhân: sinh học và di truyền, tính nhạy cảm của mỗi cá nhân, trình độhọc vấn, thu nhập kinh tế, lối sống lành mạnh hay buông thả, sự tác động củamôi trường sống, môi trường làm việc, mạng lưới tổ chức y tế và khả năngtiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và một số nhân tố không kémphần quan trọng đó là dinh dưỡng Sức khỏe con người thường xuyên thayđổi trong suốt cuộc đời, nhưng giai đoạn phát triển từ sơ sinh đến trưởngthành là giai đoạn chứa đựng hàng loạt các biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trongthời kỳ dậy thì
1.1.2 Khái niệm tuổi vị thành niên
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vị thành niên nằm trong độ tuổi từ10-19 chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu từ 10-14 tuổi, giai đoạn sau từ 15-19
Trang 4Trong quá trình phát triển, lứa tuổi vị thành niên phải trải qua những thay đổi
về thể chất, tâm lý, xã hội, hành vi tình dục, sự tự nhận thức và tự đánh giá.Những chuyển biến đột ngột và to lớn này có thể gây ra nhiều sức ép lớn,khiến các em lo lắng Vì thế, ở lứa tuổi này các em cần sự hướng dẫn tại từnggiai đoạn phát triển và ở từng vấn đề một [11] Trên thế giới, lứa tuổi VTNchiếm khoảng 20-30%, con số này cao hơn ở các nước nghèo, và ở Việt Nam,theo số liệu điều tra dân số năm 2009 là gần 20%
Sự phát triển trong 10 năm thứ hai của cuộc đời đòi hỏi một lượng lớncác chất dinh dưỡng Nhu cầu đề nghị chung (RDAs) cho lứa tuổi này nhiềukhi không đáp ứng được nhu cầu của nhiều cá thể Ở giai đoạn thiếu niên, nhucầu dinh dưỡng ở trẻ trai và trẻ gái ở cùng độ tuổi không khác nhau nhiều,nhưng đến giai đoạn này do tốc độ tăng trưởng và phát triển ở tuổi dậy thì nênnhu cầu dinh dưỡng ở hai giới khác nhau rõ rệt Sau tuổi dậy thì, sự khác biệt
về nhu cầu trở nên ổn định [12] Trẻ dần hoàn thiện thể lực, sinh lý để trởthành người lớn
Lứa tuổi vị thành niên có giai đoạn dậy thì - giai đoạn cơ thể phát triểnnhanh cả về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp và có những biến đổi về tâm sinh
lý nên đã có những vấn đề phát sinh như hành vi tình dục và những ảnhhưởng khi không có đủ kiến thức: mang thai ngoài ý muốn, sinh con sớm, cácbệnh lây nhiễm qua đường tình dục đặc biệt là HIV/AIDS có ảnh hưởng rấtlớn đến tương lai sau này của các em Lứa tuổi này cơ thể phát triển nhanh, cónhiều thay đổi về tâm sinh lý đặc biệt là tầm vóc Do đó, nhu cầu năng lượng
và các chất dinh dưỡng cao, đặc biệt là vitamin và chất khoáng (A, D, C, sắt,canxi ) giúp cho các em phát triển bình thường Chất đạm là nền tảng xâydựng cơ thể và đặc biệt quan trọng với lứa tuổi này Chất béo cần thiết với sốlượng vừa phải, tránh ăn quá nhiều chất béo Tinh bột cũng là phần quan
Trang 5trọng trong quá trình ăn uống của trẻ vị thành niên vì nó là chất cung cấpnhiều năng lượng và có trong những thực phẩm giá rẻ [13].
Tình trạng dinh dưỡng chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy xuất hiệnsớm hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ Cần quan tâmđặc biệt đến nhu cầu dinh dưỡng của lứa tuổi này nhất là đối với nữ vị thànhniên Tình trạng dinh dưỡng của các em là yếu tố quan trọng góp phần làmxuất hiện sớm hay muộn một trong các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ Các
em gái cần được nuôi dưỡng tốt trong hiện tại cũng như để chuẩn bị làm mẹtrong tương lai Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các thiếu nữ có tìnhtrạng dinh dưỡng tốt thường có hành kinh sớm so với các thiếu nữ có tìnhtrạng dinh dưỡng kém Tốc độ tăng trưởng nói chung ở thiếu nữ có hành kinhsớm cao hơn so với thiếu nữ có hành kinh muộn [9]
Như vậy, vấn đề sức khỏe và sự phát triển của lứa tuổi vị thành niên làmột vấn đề bức thiết cho xã hội
1.2 Tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên
Từ lâu người ta đã biết mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng dinhdưỡng và tình trạng sức khỏe Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểmchức phận, cấu trúc và các chỉ tiêu hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầudinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ănuống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể [12] Số lượng và loại thựcphẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theotuổi, giới, tình trạng sinh lý (thời kỳ có thai, cho con bú ) và mức độ hoạtđộng thể lực, trí lực Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng chủ yếu phụ thuộcvào tình trạng sức khỏe của cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cânbằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có tình trạng dinhdưỡng không tốt ( thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khỏehoặc dinh dưỡng hoặc cả hai
Trang 6Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên ta có thểdựa vào các chỉ số nhân trắc như chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI(cân nặng/chiều cao2) là một trong những phương pháp đánh giá tình trạngdinh dưỡng và có khả năng phát hiện những thiếu hụt dinh dưỡng ở thời kỳbệnh lý lâm sàng Theo nghiên cứu của Ye Gang thì các số đo về nhân trắc(cân nặng/chiều cao) là rất cơ bản và tiện lợi cho đánh giá tình trạng dinhdưỡng ở lứa tuổi này Tình trạng dinh dưỡng trong quần thể phản ánh quátrình nuôi dưỡng, môi trường và bệnh tật trước đây Vì vậy trong giai đoạntuổi vị thành niên nếu dinh dưỡng kém sau này khi mang thai sẽ dẫn đến suydinh dưỡng bào thai làm giảm trọng lượng của trẻ sơ sinh [14]
Tình trạng dinh dưỡng chịu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng, tìnhtrạng sức khỏe, chăm sóc và lao động
1.2.1 Suy dinh dưỡng/Thiếu dinh dưỡng protein- năng lượng
Thiếu dinh dưỡng Protein – năng lượng là loại thiếu dinh dưỡng quantrọng nhất ở trẻ em, với biểu hiện là tình trạng chậm lớn và hay đi kèm vớicác bệnh nhiễm khuẩn Thiếu dinh dưỡng Protein – năng lượng ở trẻ emthường xảy ra do:
- Chế độ ăn thiếu về số lượng và kém về chất lượng
- Tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi và viêmcấp đường hô hấp Tình trạng phổ biến của suy dinh dưỡng liên quan chặt chẽvới tình trạng kinh tế xã hội, sự nghèo đói, sự kém hiểu biết, trình độ học vấnthấp, thiếu an ninh thực phẩm, vệ sinh kém và sự lưu hành của các bệnhnhiễm khuẩn Các nguyên nhân này thường đa dạng và đan xen phức tạp, đặcbiệt là ở cộng đồng nghèo [12]
Phân loại suy dinh dưỡng có hai cách là phân loại theo lâm sàng vàphân loại trên cộng đồng Trên lâm sàng có hai thể suy dinh dưỡng là thể teo
Trang 7đét (marasmus) và thể phù (kwashiorkor), trong đó thể teo đét hay gặp trênlâm sàng hơn so với thể phù
Suy dinh dưỡng thể teo đét là thể thiếu dinh dưỡng rất nặng, do chế độ
ăn thiếu cả năng lượng lẫn protein Suy dinh dưỡng thể teo đét có thểxảy ra ngay trong năm đầu tiên, điều này khác với suy dinh dưỡng nặngthể phù – chủ yếu xảy ra ở nhóm 1-3 tuổi Cai sữa quá sớm hoặc thức ăn
bổ sung không hợp lý là nguyên nhân phổ biến dẫn tới thể suy này Khi
đó, đứa trẻ rơi vào tình trạng kém ăn, các bệnh nhiễm khuẩn thường gắnliền với vòng luẩn quẩn đó là tiêu chảy và viêm đường hô hấp
Suy dinh dưỡng thể phù thường gặp ở trẻ trên 1 tuổi, nhiều nhất là giaiđoạn từ 1-3 tuổi Hiếm gặp ở người lớn, nhưng vẫn có thể gặp khi xảy
ra nạn đói nặng nề, nhất là đối với phụ nữ Thường do chế độ ăn quánghèo về protein và glucid tạm đủ hoặc thiếu nhẹ ( nhất là đối với chế
độ ăn sam chủ yếu dựa vào khoai sắn) Suy dinh dưỡng thểKwashiorkor thường kèm theo tình trạng nhiễm khuẩn từ vừa đến nặng.Tình trạng thiếu các vi chất dinh dưỡng như thiếu vitamin A, thiếu máu
do thiếu sắt nặng thường biểu hiện khá rõ rệt ở những đứa trẻ bịKwashiorkor [15]
Phân loại trên cộng đồng: từ 2005, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đãnghiên cứu và đưa ra thang phân loại dựa vào cân nặng và chiều cao theo cácchỉ số như sau: Cân nặng/tuổi, Chiều cao/tuổi, Cân nặng/chiều cao
- Những trẻ có Cân nặng/tuổi từ -2SD trở lên được coi là bình thường.Suy dinh dưỡng được chia ra các mức độ sau:
Từ dưới -2SD đến -3SD: suy dinh dưỡng độ I
Từ dưới -3SD đến -4SD: suy dinh dưỡng độ II
Dưới -4SD: suy dinh dưỡng độ III
Trang 8Chiều cao/tuổi: từ 2SD trở lên coi là bình thường, từ dưới 2SD đến 3SD: suy dinh dưỡng độ I, dưới -3SD: suy dinh dưỡng độ II
Cân nặng/chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới 2SD
Để phân biệt thiếu dinh dưỡng mới xảy ra gần đây hay đã lâu, tác giảWaterlow đã đề nghị một cách phân loại như sau: thiếu dinh dưỡng thể gầycòm (wasting – tức là hiện nay đang thiếu dinh dưỡng) biểu hiện bằng cânnặng theo chiều cao thấp so với chuẩn; thiếu dinh dưỡng thể còi cọc (stunting– tức là thiếu dinh dưỡng trường diễn) dựa vào chiều cao so với tuổi, thấp sovới chuẩn
Trong các phần mềm tính tỷ lệ SDD hiện nay, người ta sử dụng SD Scorehay Z-score tương đương:
Z-score =K í c h t h ướ c đ o đượ c−S ố trung b ì nh c ủ a qu ầ n t h ể t h amk h ả o Độl ệ c h c h u ẩ n c ủ a qu ầ n t h ể t h amk h ả o [15].Hiện nay, ở các nước đang phát triển tỷ lệ SDD trẻ em học đường cònkhá cao, đặc biệt là trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo Nghiên cứu củaHadiu và cộng sự ở vùng dân nghèo, thành phố Ujang Pankang của Indonesiacho thấy có tới 55% trẻ em học đường thấp còi, 10% gầy còm [16] Lứa tuổihọc đường ít gặp tình trạng SDD nặng trừ khi có nạn đói vì ở lứa tuổi này trẻphát triển chậm hơn so với thời kì trẻ dưới 5 tuổi, và chúng có thể đòi ăn khi
bị đói Một nghiên cứu chỉ ra rằng, tại Ấn Độ tỷ lệ SDD cao nhất ở các khuvực ven đô thị (30,2% và 53,2% theo tiêu chí Ấn Độ và quốc tế) Tại các khuvực đô thị và đô thị cao, tỷ lệ SDD là 14,1% và 9,8% tương ứng theo các tiêuchí Ấn Độ; 27,1% và 19,2% tương ứng theo tiêu chuẩn quốc tế của nhóm trẻ
10 - 19 tuổi [17]
Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ởlứa tuổi học đường Tỷ lệ thiếu cân của học sinh nữ 11-15 tuổi tại một sốtrường THCS Thành phố Huế (2007) là 19,4%, trong đó SDD nữ chiếm15,5% [18] Nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Dũng, Khương Văn Duy cho
Trang 9thấy, tỷ lệ SDD ở trẻ nữ 12-13 tuổi ở nội thành Hà Nội là 21,2% và ở ngoạithành là 42,2% [2] Theo nghiên cứu của Phạm Ngọc Khái ở trẻ tuổi họcđường Thái Bình cho thấy có trên 49% trẻ em bị nhẹ cân (1997), đến năm
2002 vẫn còn 48,7% trẻ em tuổi học đường suy dinh dưỡng thể nhẹ cân [19],[20] Năm 2005, tại vùng nông thôn thuộc huyện Bình Lục, Hà Nam tỷ lệthấp còi trẻ em 11-14 tuổi là 32,4% [21]
Ngoài việc ảnh hưởng đến sự phát triển tổng thể, SDD còn làm tăngnguy cơ mắc bệnh, để lại những hậu quả nặng nề SDD ảnh hưởng rõ rệt đếnphát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của trẻ và khả năng lao động khiđến tuổi trưởng thành SDD hoặc kém hấp thu có thể dẫn đến những rối loạnnghiêm trọng, chẳng hạn như rối loạn tạo xương, thiếu máu và hội chứng liênquan đến thiếu hụt vitamin, khoáng chất, axit béo thiết yếu, các axit amin, vànguyên tố vi lượng SDD có liên quan đến tuổi kinh nguyệt có muộn (cũngnhư vô kinh thứ phát), trong khi mức độ béo phì vừa phải có liên quan đếntrưởng thành tình dục sớm [22]
Vấn đề suy dinh dưỡng hiện nay đang phổ biến tại các các nước đangphát triển, cộng đồng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùngđồng bào dân tộc thiểu số Kèm theo đó là hậu quả của việc thiếu năng lượngtrường diễn, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, sức khỏe tâm thần
1.2.2 Thừa cân – béo phì
Thừa cân: là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so vớichiều cao
Béo phì: là tình trạng tích lũy thái quá và không bình thường của lipidtrong tổ các tổ chức mỡ tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [23]
Thừa cân - béo phì đang tăng lên mức báo động trên khắp thế giới ởngười lớn và cả trẻ em Đó thực là một mối đe dọa tiềm ẩn trong tương lai
Có hai nhóm nguyên nhân chính về thừa cân - béo phì là béo phì đơn thuần
Trang 10(không có nguyên nhân sinh bệnh học) và béo phì bệnh lí (béo phì có cácvân đề bệnh lí liên quan gồm: bệnh lí do nội tiết, do sử dụng thuốc ) Cácnghiên cứu cho thấy gần 80% béo phì đơn thuần ở trẻ em có liên quan đếnchế độ ăn, bao gồm:
- Ăn quá nhiều năng lượng: trẻ em ăn nhiều dầu, mỡ, gạo Tỷ lệ chất béotrong khẩu phần ăn quá cao
- Các thói quen ăn nhanh, ăn thêm bữa phụ vào buổi tối trước khi đi ngủ,thích ăn các món xào, uống nhiều nước ngọt
- Giảm các hoạt động thể lực để tiêu hao năng lượng như: hoạt động thểthao, nhảy dây, đá cầu Trẻ thường bị nhốt trong nhà, thiếu sân chơi,chương trình học quá căng thẳng, xem ti vi nhiều, chơi trò chơi điện tử
- Một số yếu tố có thể xem là yếu tố nguy cơ:
+ Yếu tố gia đình: con cái của những người béo phì có nguy cơ béo phìcao gấp 3 lần con các gia đình bình thường Trong gia đình nhiều ngườibéo phì thì nguy cơ béo phì của trẻ càng cao
+ Điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội: ở các nước phát triển có mối liênquan nghịch giữa tình trạng kinh tế xã hội với béo phì, ngược lại ở cácnước đang phát triển có tình trạng kinh tế càng cao càng dễ béo phì hơn
do quan niệm béo là biểu hiện sự giàu có, béo là khỏe mạnh
+ Ngủ ít: lý do ngủ ít dẫn đến béo phì chưa rõ, cũng có thể là do hoạtđộng tiêu mỡ của cơ thể chủ yếu vào tối và đêm khuya, vì vậy sự ngủ ítlàm giảm tiêu mỡ [24]
Ở các nước đang phát triển béo phì tồn tại song song với thiếu dinhdưỡng (BMI<18,5) gặp nhiều ở đô thị hơn ở nông thôn Ở Mỹ có nhiềunghiên cứu về vấn đề thừa cân béo phì, báo cáo số liệu cho thấy gần 13 triệu(16,9%) của trẻ em Mỹ tuổi từ 2-19 bị béo phì, hơn một phần ba (35%) người
Mỹ trưởng thành bị béo phì tương ứng khoảng hơn 78 triệu người trưởng
Trang 11thành [25] Tỷ lệ người trưởng thành béo phì ở Hồng Kông là 20% nam, 75%nữ; Canada 15%, Hà Lan 8%, Anh 26% [26].
Tại quốc gia Ai Cập, đi cùng với suy dinh dưỡng, thừa cân béo phìcũng là một vấn đề đáng quan tâm Số liệu thống kê năm 2014 cho thấy rằng
từ năm 2006 đến năm 2014 tỷ lệ thừa cân tăng từ 23,6% đến 32,5%, ở namchỉ số này lần lượt là 25,6% và 30,7% Tỷ lệ béo phì cũng khác nhau ở hainhóm: ở nữ là 7,4% và 7,0%; ở nam là 8,2% và 6,8% tương ứng với hai mốcthời gian là năm 2006 và 2014 [27]
Ở Việt Nam khảo sát năm 2005 tại một huyện duyên hải miền trung –Phú Cát tỉnh Bình Định với tổng số 41268 học sinh tiểu học và trung học cơ
sở, tỷ lệ thừa cân- béo phì là 0,12% [28] Theo kết quả nghiên cứu của TrầnThị Minh Hạnh và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 về tình trạngdinh dưỡng học sinh trung học cơ sở thì tỷ lệ thừa cân – béo phì là 22,5%(trong đó 15,7% thừa cân và 6,8% béo phì) [29]
Thừa cân – béo phì ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của trẻ Béo phì
ở trẻ em là nguy cơ béo phì ở người lớn Những trẻ béo sẽ ngừng tăng trưởngsớm, trước dậy thì chúng thường cao hơn so với tuổi nhưng khi dậy thì, chiềucao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn bạn bè Sự mặc cảm về hìnhdáng cơ thể ở độ tuổi này cũng gây không ít khó khăn cho các em Vì vậy cầnphải theo dõi chiều cao, cân nặng của trẻ thường xuyên để phát hiện sớmSDD hoặc thừa cân, béo phì để xử lý kịp thời Và đối với trẻ VTN, cách tốtnhất là tăng cường hoạt động thể lực với các loại hình và mức độ thích hợp(như thể dục nhịp điệu, đi bộ, chạy nhảy, bơi lội ) Cùng với việc đảm bảomột khẩu phần ăn hợp lý, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, khuyến khích ăn rau
và hoa quả, hạn chế sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chấtdinh dưỡng và đồ uống có đường, sẽ làm giảm nguy cơ mắc các bệnh mạntính sau này như bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường hay các rối
Trang 12loạn dạ dày, ruột Các bệnh mạn tính này đã tiêu tốn rất nhiều kinh phí đểđiều trị và có ảnh hưởng rõ ràng tới tuổi thọ của con người.
Hiện nay, tỷ lệ thừa cân và béo phì đã có xu hướng gia tăng nhất là tạicác đô thị lớn Theo dõi tình trạng thể lực của học sinh Hà Nội, ta thấy, năm
1995, tỷ lệ thừa cân béo phì là 2,6%, năm 2000 tăng đến 5,6% [30] Và đếnnăm 2011, tỷ lệ thừa cân của học sinh khu vực nội thành Hà Nội là 17,7%,béo phì là 8,3% Trong đó, tỷ lệ thừa cân của nam là 26,6%, béo phì là 15%,cao hơn tỷ lệ thừa cân của nữ là 8,7% và béo phì nữ là 4% [31]
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên
1.3.1 Yếu tố kinh tế xã hội
Một trong những biểu hiện của tình trạng kinh tế, xã hội đó là vấn đềthu nhập Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1991) về ảnh hưởng của tìnhtrạng kinh tế - xã hội đến sự phát triển của trẻ học đường ở Banglades chothấy: trẻ từ các gia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổicao hơn so với trẻ từ các gia đình có thu nhập thấp [32]
Một số nghiên cứu khác ở Thái Lan cũng thấy rằng tình trạng dinhdưỡng của trẻ em tuổi học đường cần được lưu tâm, học sinh ở tầng lớp xã hộithấp có tỷ lệ mắc các bệnh thiếu dinh dưỡng cao [33] Nghiên cứu mới đây tạiBrazil cho thấy tỷ lệ thiếu cân và thấp còi cao hơn trong các hộ gia đình tìnhtrạng kinh tế xã hội thấp và trong hộ gia đình có điều kiện vệ sinh kém [34]
Ở nước ta nền kinh tế đang còn trong thời kì chuyển tiếp, ranh giới giàu
và nghèo ngày càng rõ rệt đã ảnh hưởng không ít đến dinh dưỡng và sức khỏecủa trẻ em Bên cạnh tỷ lệ SDD còn khá cao, tỷ lệ thừa cân béo phì đã có xuhướng gia tăng đặc biệt tại các đô thị lớn [35] Một nghiên cứu khác ở ViệtNam cho thấy trẻ em ở gia đình giàu có trọng lượng cao hơn trẻ em ở gia đìnhnghèo [36]
Trang 13Một thực tế trong xã hội là quy mô hộ gia đình cũng ảnh hưởng đếnviệc tiếp cận lương thực – thực phẩm, vì số người không hợp lí với thu nhậpthì bình quân thấp sẽ dẫn đến chế độ dinh dưỡng kém Vì vậy, kích cỡ giađình cũng ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt là các nướcđang phát triển Các tác giả còn cho thấy tình trạng học vấn của cha mẹ cóliên quan đến chất lượng bữa ăn của trẻ [37].
1.3.2 Khẩu phần ăn
Để đảm bảo cho cơ thể một sự phát triển đầy đủ và cân đối, yếu tố quantrọng hàng đầu là chế độ dinh dưỡng và diễn biến về mức tiêu thụ lương thực -thực phẩm của trẻ là một phần thiết yếu của việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Ngay từ thời xa xưa, các nhà y học cổ đại đã biết được vai trò của dinhdưỡng trong phòng và điều trị bệnh Hypocrat khuyên rằng tùy theo tuổi tác,công việc, thời tiết nên ăn ít hay nhiều, ít ăn một lúc hay rải rác nhiều bữa.Trong việc điều trị ông viết: “Thức ăn cho bệnh nhân phải là một phương tiệnđiều trị và trong phương tiện điều trị của chúng ta phải có chất dinh dưỡng”,
“hạn chế và thiếu chất bổ rất nguy hiểm đối với người mắc bệnh mạn tính”[38] Theo quan niệm hiện nay, một khẩu phần hợp lý nghĩa là: cung cấp đủnhiệt lượng theo nhu cầu cơ thể; có đủ các chất dinh dưỡng cần thiết và cácchất dinh dưỡng ở một tỷ lệ cân đối, thích hợp [12]
Một số công trình nghiên cứu cho thấy ăn uống hợp lý là yếu tố căn bảnnhất cho sự tăng trưởng và phát triển Năng lượng, protein, chất béo, vitamin
và các yếu tố vi lượng cần được cung cấp đầy đủ và tăng cường dự trữ cácchất trong cơ thể [35]
Ở mức độ dinh dưỡng vĩ mô, trẻ ăn quá nhiều hoặc quá ít các chất sinhnhiệt dài ngày gây nên tình trạng suy dinh dưỡng protein năng lượng Trongkhi đó ở mức độ vi mô thiếu canxi, sắt và các yếu tố vi lượng khác cũng nhưvitamin trong chế độ ăn có thể gây nên một số bệnh như quáng gà, thiếumáu ở phụ nữ
Trang 14Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, sự cung cấp đầy đủ năng lượng cho trẻ
em, một chế độ dinh dưỡng hợp lí cho trẻ em trong những năm đầu đời sẽ gópphần cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể phát triển ở giai đoạn dậy thì [39]
Chế độ ăn uống là yếu tố không nhỏ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng vàphát triển VTN Ở trẻ nữ, tuổi VTN là thời kỳ dự trữ các chất dinh dưỡngchuẩn bị cho giai đoạn mang thai, tiết sữa và các công việc nặng nhọc khác
mà sắp phải trải qua Sự bùng nổ tăng trưởng tại lứa tuổi này được điều khiểnbằng hoocmon Nhu cầu dinh dưỡng đã có liên quan tương đối chặt chẽ vớitrọng lượng cơ thể và sự phát triển cơ thể ở từng thời kỳ Trong giai đoạn dậythì, chiều cao tăng khoảng 25%, còn trọng lượng cơ thể tăng 50% so vớingười trưởng thành [1] Thiếu dinh dưỡng (thiếu về số lượng và chất lượng)cũng như sự mất cân đối trong khẩu phần ăn dẫn đến sự tăng trưởng chậm và
có thể gây nên suy dinh dưỡng cấp hay mạn tính và nhiều dạng thiếu dinhdưỡng khác [39]
Theo Nut Blain (1969) nhận định rằng có mối liên quan giữa chiều cao,cân nặng với nhu cầu năng lượng của cơ thể và đã kết luận: nhu cầu nănglượng của mỗi cơ thể phụ thuộc vào trọng lượng của mỗi cơ thể đó Nhưngnhu cầu năng lượng rất đa dạng nó không chỉ phụ thuộc vào trọng lượng màcòn phụ thuộc vào đặc tính riêng của từng cá thể Ví dụ Widdwson (1997) đãghi nhận những đứa trẻ nhẹ cân đôi khi ăn nhiều hơn những trẻ béo, vì vậykhi nghiên cứu nhu cầu năng lượng của trẻ em lứa tuổi đến trường và lứa tuổiVTN, chúng ta cần quan tâm đến sự khác nhau giữa nhu cầu năng lượng đãkhuyến cáo nói chung và nhu cầu riêng của từng người [4] Vậy để cho sứckhỏe cộng đồng thanh thiếu niên phát triển tốt, khi khuyến cáo chế độ dinhdưỡng và các loại thực phẩm sử dụng thì sự thay đổi thành phần các chất dinhdưỡng cũng như thực phẩm tiêu thụ trong cơ thể đã thu được qua khẩu phần
ăn góp phần quyết định sức khỏe con người
Trang 15Có một đặc điểm rất đặc trưng cho quá trình tăng trưởng ở lứa tuổi vịthành niên là sự khác nhau ở từng cá thể về thời gian bắt đầu dậy thì Vì vậy, cókhi trẻ 14 tuổi đã trưởng thành còn 17 tuổi chưa phát triển đầy đủ Do đó nhucầu dinh dưỡng phải căn cứ vào tuổi sinh học thì tốt hơn là căn cứ vào tuổi đời
1.3.3 Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và tập quán ăn uống của trẻ
Sức khỏe của học sinh là một bộ phận quan trọng của sức khỏe cộngđồng, các dịch vụ sức khỏe trong nhà trường mang lại hiệu quả kinh tế caobởi vì trẻ học tập và vui chơi cùng với nhau sẽ học tập nhau và trẻ sẽ chia sẻnhững gì chúng được học cho cha mẹ và những người khác
Tuy nhiên ở lứa tuổi này trẻ cũng đã phần nào tự chăm lo về sức khỏe,
do vậy gia đình ít quan tâm hơn Vì vậy, trẻ có thể có những biểu hiện khácnhau về dinh dưỡng, có những hiểu biết đúng hoặc sai Những biểu hiện vàthói quen dinh dưỡng của trẻ ảnh hưởng đến sự lựa chọn thực phẩm, cách ănuống của trẻ, cuối cùng là ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Một số nghiên cứu cho thấy tập tính ăn uống của trẻ có liên quan đếntình trạng dinh dưỡng Những trẻ ăn nhiều đồ ngọt, thức ăn giàu chất béothường có dấu hiệu thừa cân, béo phì [13] Ngược lại những trẻ ăn kiêng, bỏbữa sáng thường là những trẻ thiếu dinh dưỡng [9]
Thói quen ăn uống, sở thích ăn uống đã ảnh hưởng đến tình trạng dinhdưỡng của trẻ Những trẻ thích ăn nhiều đồ ngọt, thức ăn nhanh chế biến sẵnthường có nguy cơ thừa cân nhiều hơn những trẻ kiêng ăn những thứ trên.Bên cạnh đó, kinh tế gia đình là yếu tố góp phần ảnh hưởng tình trạng dinhdưỡng của trẻ Những trẻ ở gia đình có mức sống cao có nguy cơ thừa cânhơn những trẻ ở gia đình nghèo Kiến thức, sự hiểu biết của gia đình và củatrẻ về dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Sự hiểubiết cũng như quan tâm của gia đình với trẻ và của tự bản thân trẻ về dinhdưỡng sẽ tránh nguy cơ thừa và thiếu dinh dưỡng
Trang 161.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng vị thành niên
1.4.1 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng vị thành niên
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thôngtin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở cácthông tin số liệu đó Người ta dùng hai phương pháp là phương pháp định tính
và định lượng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Phương pháp định lượng:
Nhân trắc học; Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống; Các thămkhám thực thể/dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứngthiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng; Các xét nghiệm cận lâm sàng chủyếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bài tiết (máu, nước tiểu ) để pháthiện mức bão hòa chất dinh dưỡng; Các kiểm nghiệm chức phận để xácđịnh các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng; Điều tra tỷ lệbệnh tật và tử vong; Sử dụng các thống kê y tế để tìm hiểu mối liênquan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng; Đánh giá cácyếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe
Gần đây, một số phương pháp định tính cũng đã được sử dụng trongđánh giá tình trạng dinh dưỡng
Trong nghiên cứu tiến hành đánh giá dinh dưỡng dựa theo chỉ sốBMI Trẻ vị thành niên được tính cho lứa tuổi từ 10-19 tuổi, từ năm
1995, theo quy ước của Tổ chức Y tế thế giới, đối với trẻ vị thành niên,dùng chỉ số khối cơ thể BMI
Công thức tính chỉ số BMI = cân nặng(kg)
chiều cao2(m)
Do đặc điểm của lức tuổi này là cơ thể đang phát triển, chiều cao chưa
ổn định nên không thể dùng một ngưỡng BMI như người trưởng thành
mà BMI được tính theo giới và tuổi của trẻ
Trang 18+ <-2 SD: Trẻ SDD thể gầy còm, mức độ vừa+ -2 SD ≤ Z-score ≤ 1 SD: Trẻ bình thường+ >1 SD: Trẻ thừa cân
+ >2 SD: Trẻ béo phì
Trang 19Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn, tỉnhThanh Hóa Trường được thành lập vào năm 1990 với tiền thân là trườngNăng khiếu Triệu Sơn, sau đổi tên thành trường THCS Triệu Thị Trinh vàonăm 1996, đến năm 2007 với chủ trương chung của tỉnh Thanh Hóa 2 trườngTHCS Triệu Thị Trinh với 16 lớp (700 học sinh) và THCS Tô Vĩnh Diệnđược sát nhập lại và mang tên là trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn Vớitruyền thống 20 năm phát triển, trải qua rất nhiều khó khăn, nhà trường đãvươn lên xây dựng, trưởng thành và đạt được nhiều thành tích nhất định, vịthế nhà trường ngày càng được khẳng định rõ nét
Trang 20Trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn được xây dựng trên địa bàn Phố TôVĩnh Diện, Thị Trấn Triệu Sơn, Thanh Hóa Là một trường luôn đạt chấtlượng cao so với các trường trong huyện về giáo dục, học sinh chủ yếu là connhân dân ở Thị Trấn và một số học sinh con em ở các xã khác.
Hiện nay, trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn với quy mô 11 lớp (4 khối)với 408 học sinh, số cán bộ công nhân viên là 29, 2 tổ chuyên môn và 1 tổhành chính Với chất lượng bình quân: học sinh lên lớp 100%, 50% học sinhkhá giỏi, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THCS vào THPT công lập 100%, số giải học sinhgiỏi khoảng 88 giải, trong đó có 4 giải học sinh giỏi cấp tỉnh và 84 học sinhgiỏi cấp huyện
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 03/2016 đến05/2016
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ 11 đến 14 tuổi đang học tại trườngTHCS Thị Trấn Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Tiêu chuẩn chọn đối tượng:
o Học sinh từ 11 đến 14 tuổi trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn.
o Cơ thể không bị dị dạng, dị tật bẩm sinh.
o Tự nguyện đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 21Z1-α /2 = 1,96 là giá trị tương ứng của hệ số giới hạn tin cậy, với độ tin cậycủa ước lượng là 95%
p: tỷ lệ điều tra trước: 12,2% (tỷ lệ SDD của học sinh THCS ở Thái Bình năm 2015) [24]
ε: khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ cỡ mẫu và tỷ lệ của quần thể, chọn ε = 0,2
Vậy theo công thức tính cỡ mẫu: n = 1,962 x 0,12 x 0,88
(0,12 x 0,2)2 ≈ 359Trường có tổng số 408 học sinh, do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên toàn bộ học sinh trong trường có mặt tại thời điểm nghiên cứu
2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu 1: Mô tả tình
trạng dinh dưỡng của
học sinh trường trung
- Thói quen dinh dưỡng
- Kinh tế hộ gia đình
- Nghề nghiệp
Tần suất tiêu thụ thựcphẩm/tháng
Tỷ lệ học sinh hay ănquà vặt
Trang 222.6 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phát vấn: Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn để điều tra
và thu thập thông tin về kiến thức thực hành dinh dưỡng, hoạt động thểlực và một số thông tin khác của học sinh
Cân đo nhân trắc:
o Cân nặng: Dùng cân Tanita có độ chính xác đến 0,1kg Cân đượcđặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, thuận tiện cho đối tượng bướclên bước xuống cân Cân được kiểm tra và chỉnh trước khi cân.Kết quả được ghi theo kg với 1 số lẻ Khi cân, trẻ cởi bớt quần
áo, giầy dép, mũ chỉ mặc quần áo mỏng, đứng giữa bàn cân,không được cử động, mắt nhìn thẳng [40]
o Đo chiều cao đứng: bằng thước Microtoise với độ chính xác 0,1 cm Để thước đo theo chiều đứng vuông góc với mặt đất nằmngang, thước có độ chia đến mm Người được đo bỏ dép guốc, đichân không, đứng thẳng quay lưng vào thước đo Gót chân,mông vai và đầu theo một đường thẳng đứng, mắt nhìn ra phíatrước theo đường thẳng nằm ngang, bỏ xuôi hai tay theo hai bênmình Dùng thước vuông áp sát đỉnh đầu vuông góc với thước vàghi kết quả với một số lẻ [40]
o Xác định tuổi của trẻ: Dựa theo cách tính tuổi của WHO 2006
- Tuổi của trẻ được tính dựa vào ngày sinh của trẻ và ngày điều tra
+ Ngày tháng năm sinh của trẻ - Ngày điều tra : Số tuổihiện có
Ví dụ: 11 tuổi – 11 tuổi 11 tháng 29 ngày: 11 tuổi
12 tuổi – 12 tuổi 11 tháng 29 ngày: 12 tuổi
Trang 232.6.2 Cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Đánh giá chỉ số Z-score BMI theo tuổi (WHO năm 2007):
+ <-3 SD: Trẻ SDD thể gầy còm, mức độ nặng+ <-2 SD: Trẻ SDD thể gầy còm, mức độ vừa+ -2 SD ≤ Z-score ≤ 1 SD: Trẻ bình thường+ >1 SD: Trẻ thừa cân
+ >2 SD: Trẻ béo phì [41]
2.7 Sai số và hạn chế sai số
2.7.1 Sai số thu thập thông tin
Đây là những sai số trong quá trình thu thập thông tin gây ra bởi cácđiều tra viên: chưa giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể cho học sinh điền bộcâu hỏi
Cách khắc phục:
Tập huấn và giải thích kỹ nội dung bộ câu hỏi cho điều tra viên
Phát triển bộ câu hỏi đơn giản dễ hiểu
2.7.2 Sai số nhớ lại
Sai số này xảy ra do học sinh (đối tượng nghiên cứu) phải nhớ lại thờiđiểm trước đó
2.7.3 Sai số không trả lời
Là sai số do sự khác biệt giữa những học sinh trả lời và những học sinhkhông trả lời khi được nhận bộ câu hỏi bao gồm: không trả lời hoàn toàn vàkhông trả lời một số câu hỏi
Khắc phục:
Các phiếu không điền hoàn toàn: loại bỏ
Các phiếu trả lời thiếu quá nhiều phiếu đó loại bỏ, chỉ giữ lại nhữngphiếu chỉ thiếu từ 1-2 thông tin không phải là biến phụ thuộc
Trang 24 Các biến số, chỉ số được trình bày theo tần suất và tỷ lệ phần trăm.
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Thông báo về mục đích nghiên cứu cho hiệu trưởng và học sinh thamgia nghiên cứu, nghiên cứu tiến hành sau khi có sự đồng ý của hiệutrưởng và học sinh tham gia nghiên cứu
Đảm bảo tính bảo mật thông tin cho đối tượng tham gia nghiên cứu
Các số liệu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ chocác mục đích khác
Tất cả điều tra viên trong nhóm nghiên cứu sẽ được tập huấn và hiểu rõnghiên cứu, tiến hành một cách cẩn thận
Các kết quả của nghiên cứu sẽ được phản hồi cho trường
Trang 25Chương 3 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Nhận xét: Kết quả Biểu đồ 3.1 cho thấy:
Cao nhất là nhóm tuổi 12 có 136 học sinh, chiếm 33,5% Sau đó là nhómtuổi 11 nghiên cứu 108 học sinh, chiếm 26,7% Thấp hơn là nhóm tuổi 13, 14tương ứng 80, 81 học sinh; chiếm tỷ lệ 19,8%, 20%
Trang 2692%
Nghèo, cận nghèo Khác
Biểu đồ 3.2: Phân loại kinh tế hộ gia đình của học sinh
Nhận xét: Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy: Số gia đình thuộc hộ nghèo, cận
nghèo (có sổ hộ nghèo) chiếm tỷ lệ thấp 8,1%
Bảng 3.1: Trình độ học vấn và nghề nghiệp của bố học sinh
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.1 cho thấy:
Nghề nghiệp của bố học sinh phân bố khá đồng đều trong các nghề nhưcán bộ nhà nước(20,3%), nông dân(21,2%) và buôn bán(20%) Bố chủ yếu
Trang 27hoàn thành hết chương trình THCS và THPT(≈60 %) Bên cạnh đó trình độđại học/sau đại học cũng chiếm tỷ lệ tương đối là 23,7%.
Bảng 3.2: Trình độ học vấn và nghề nghiệp của mẹ học sinh
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.2 cho thấy:
Mẹ của các học sinh chủ yếu hoàn thành hết chương trình THCS vàTHPT (≈60 %) Sau đó là trình độ đại học/sau đại học chiếm 20% Nghềnghiệp của mẹ học sinh phân bố khá đồng đều trong các nghề như nông dân26,4% và buôn bán 25,4% Tiếp đến có 18,8% cán bộ nhà nước Các nghềkhác chiếm tỷ lệ thấp hơn
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn
Bảng 3.3: Cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh theo tuổi và
n Cân nặng
(kg)
Chiều cao (cm)
Trang 2811 60 35,4 ± 7,4 141,9 ± 9,6 48 36,7 ± 5,0 146,0 ± 7,0
12 63 41,5 ± 8,4 151,5 ± 6,8 73 40,3 ± 7,6 150 ± 7,7
13 41 43,8 ± 7,0 158,2 ± 9,5 39 43,2 ± 6,6 155,5 ± 6,2
14 44 48,7 ± 7,6 163,8 ± 6,5 37 45,3 ± 4,3 156,3 ± 5,5
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.3 cho thấy:
- Với học sinh nam:
+ Cân nặng tăng nhanh ở tuổi 11 - 12, sau đó tăng chậm lại Trungbình mỗi năm tăng 5 kg
+ Chiều cao tăng nhanh hơn ở tuổi 11 - 12, trung bình tăng khoảng
10 cm Ở độ tuổi 12 - 14 chậm hơn mỗi năm tăng trung bình 5 cm
- Với học sinh nữ:
+ Cân nặng tăng đều ở các độ tuổi từ 11 14, tăng cao nhất là từ 11
-12 tuổi tăng trung bình khoảng 4 kg Ở ngưỡng tuổi -12 - 14 đã có sựtăng chậm lại, cân nặng trung bình tăng 2 kg
+ Chiều cao, ở nữ tăng nhanh ở độ tuổi 11 - 13, chiều cao tăng trungbình 4cm/năm Độ tuổi 13 – 14 tăng chậm hơn, tăng trung bình1cm/năm
Ở cả nam và nữ, sự tăng trưởng về cân nặng và chiều cao chủ yếu tăngnhanh ở lứa tuổi 11 - 13, chứng tỏ đây chính là độ tuổi dậy thì của các
Trang 2914 44 18,1 ± 2,3 37 18,6 ± 1,6
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.4 cho thấy:
Chỉ số BMI tăng dần theo độ tuổi và không có sự khác biệt nhiều Cụthể ở học sinh nam các lứa tuổi 11, 12, 13, 14 chỉ số BMI lần lượt là 17,5 ±2,4; 18,0 ± 2,9; 17,4 ± 2,1; 18,1 ± 2,3 Ở học sinh nữ BMI theo các tuổi11,12,13,14 lần lượt là 17,2 ± 1,7; 17,8 ± 2,6; 17,8 ± 2,0; 18,6 ± 1,6 Riêng ởhọc sinh nam chỉ số BMI thấp nhất ở lứa tuổi 13
Trang 30Bảng 3.5: Tình trạng dinh dưỡng theo tuổi và giới của học sinh
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.5 cho thấy:
- Tình trạng suy dinh dưỡng chung của học sinh trường THCS Thị TrấnTriệu Sơn là 4,9% Tình trạng suy dinh dưỡng khác nhau ở các lứa tuổi
và cũng khác nhau giữa nam và nữ Cao nhất ở lứa tuổi 13 (8,8%) sau
đó là lứa tuổi 14 (4,9), 12 (4,4%) và 11 (2,8%)
- Tỷ lệ thừa cân chung là 12,4% Khác nhau ở các lứa tuổi Cao nhất ởlứa tuổi 12 (19,1%), sau đó là lứa tuổi 11 (13,9%) và giảm dần ở cáclứa tuổi sau 13 (7,5%), 14 (3,7%)
3.3 Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của học sinh trường THCS Thị Trấn Triệu Sơn
3.3.1 Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của học sinh
Trang 31Biểu đồ 3.3: Kiến thức của học sinh về các nhóm thức ăn cần thiết trong
bữa ăn chính hàng ngày
Nhận xét: Kết quả Biểu đồ 3.3 cho thấy:
Có 85,9% em trả lời nhóm thịt, cá, hải sản Tiếp đến là nhóm thựcphẩm rau, củ, quả, chín (78,5%) và nhóm thực phẩm giàu glucid (57,5%) Sau
đó là 42,5% học sinh chọn đậu đỗ, lạc, vừng Có 31,4% học sinh cho rằngtrứng, sản phẩm từ trứng và sữa, chế phẩm từ sữa (29,1%) cũng cần thiếttrong mỗi bữa ăn hàng ngày Qua đó cho thấy hiểu biết của học sinh về việccung cấp sữa hàng ngày còn tương đối thấp
Trang 321 bữa (n=3) 2 bữa (n=5) 3 bữa (n=396)
Nhận xét: Kết quả Biểu đồ 3.4 cho thấy: Học sinh biết nên ăn 3 bữa chính
chiếm tỷ lệ cao 98% Tỷ lệ học sinh ăn 3 bữa chính/ngày cũng tương đồng vớihiểu biết của các em
Bảng 3.6: Tiếp nhận nguồn thông tin về kiến thức dinh
dưỡng của học sinh
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.6 cho thấy: Nguồn kiến thức từ nhà trường là
cao nhất chiếm 72,6%; tiếp đến ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè chiếm 58,3%;
Trang 33và ti vi/radio là 49,1%; sau đó là các nguồn thông tin từ cán bộ y tế Cácnguồn thông tin khác chiếm tỷ lệ không đáng kể.
1000 - 2000ml (n=239)
> 2000ml (n=72)
Biều đồ 3.5: Kiến thức của học sinh về lượng nước uống cần thiết trong
một ngày
Nhận xét: Kết quả Biểu đồ 3.5 cho thấy:
Có 59% em trả lời cần cung cấp 1000-2000ml nước cho cơ thể trongmột ngày Bên cạnh đó tỷ lệ học sinh lựa chọn lượng nước cần cho 1 ngày là500-1000 ml và >2000 ml vẫn còn (≈17%) Một số ít học sinh trả lời lượngnước cần thiết cung cấp cho cơ thể trong 1 ngày là <500 ml
Trang 34Bảng 3.7: Kiến thức của học sinh về phòng tránh béo phì
và suy dinh dưỡng Kiến
Tăng cường rau và hoa quả cho bữa ăn hàng ngày 275 67,9
Ăn đa dạng các thực phẩm và rèn luyện thể lực 128 31,6Phòng
Chỉ nên ăn thịt và dầu mỡ, nên ăn ít rau 9 2,2
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.7 cho thấy:
- Để phòng tránh béo phì, tỷ lệ học sinh cho rằng cần tập thể dục đềuđặn, tăng cường rau và hoa quả cho bữa ăn hàng ngày khá cao, tươngứng 77%; 67,9% Tiếp đến là ăn đủ các nhóm thực phẩm cần thiết31,6% Tỷ lệ học sinh trả lời bỏ không ăn sáng và không nên uống sữathấp, chiếm 1% và 2,7%
- Bên cạnh đó, để phòng tránh suy dinh dưỡng, có 90,7% học sinh lựachọn ăn đủ các nhóm thực phẩm cần thiết và 56,1% đảm bảo vệ sinh antoàn thực phẩm
Trang 35Biểu đồ 3.6: Tần suất ăn sáng của học sinh
Nhận xét: Kết quả từ Biểu đồ 3.6 cho thấy: Đa số các em thường xuyên
ăn sáng (70,1%) Có 20,5% em thỉnh thoảng và 7,2% hiếm khi ăn sáng Vẫncòn 2,2% em không bao giờ ăn sáng
65.90%
34.10%
Có (n=267) Không (n=138)
Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ học sinh hay ăn quà vặt
Nhận xét: Kết quả từ Biểu đồ 3.7 cho thấy: tỷ lệ học sinh hay ăn quà
vặt tương đối cao chiếm 65,9%
Trang 36Bảng 3.8: Thói quen sử dụng đồ ăn vặt của học sinh
Nhận xét: Kết quả từ Bảng 3.8 cho thấy: Các em thường ăn vặt nhiều
nhất là hoa quả (39,5%) Sau đó đến các đồ ăn vặt như bánh ngọt, kẹo(36,8%) và bim bim, bỏng ngô, ô mai (35,1%) Sữa chua, kem, chè là đồ ănhọc sinh ít ăn vặt nhất
> 2000ml (n=58)
Biểu đồ 3.8: Lượng nước học sinh uống trong một ngày
Nhận xét: Kết quả từ Biểu đồ 3.8 cho thấy: Phần lớn các em uống từ
1000-2000 ml (53,6%) Có 24,7% các em uống 500-1000 ml và 14,3% uống
>2000ml nước mỗi ngày Vẫn còn 7,4% học sinh uống <500 ml một ngày
Trang 376 - 8 giờ 8 - 10 giờ < 6 giờ > 10 giờ 0%
Biểu đồ 3.9: Thời gian ngủ một ngày của học sinh
Nhận xét: Biểu đồ 3.9 cho thấy: Đa số các em có giấc ngủ từ 6 - 8 giờ
(51,1%) Tiếp đến có 32,4% em ngủ từ 8-10 giờ và 10,6% em ngủ < 6 giờ.Vẫn còn 5,9% em ngủ > 10 giờ/ngày
Bảng 3.9: Thói quen giải trí của học sinh
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.9 cho thấy: Phần lớn các em giải trí bằng sử
dụng internet và smartphone, tỷ lệ tương ứng 70,6%; 60,5% Tiếp đến là xem
ti vi (59,8%) Khá ít em có thói quen hoạt động thể dục thể thao (15,5%)
Trang 38Bảng 3.10: Tần suất tiêu thụ thực phẩm trong tháng
Thỉnh thoảng (2-6 lần/tuần)
Hiếm khi (2-3 lần/tháng)
Nhận xét: Kết quả Bảng 3.10 cho thấy:
Thực phẩm tiêu thụ chủ yếu trong ngày của các em là ngũ cốc(gạo,ngô ) (95,8%) Rau, củ và hoa quả xuất hiện thường xuyên trong bữa ăncủa học sinh (rau, củ: 84% và hoa quả: 63,2%) Thịt, trứng, sữa xuất hiệntrong ngày nhiều Tần suất tiêu thụ sữa của các em tương đồng với sự hiểubiết về việc cung cấp sữa cần thiết trong ngày (28,6%)
Bảng 3.11: Cách chế biến món ăn của gia đình học sinh
Cách chế biến Hàng ngày
Thỉnh thoảng (2-3 lần/tuần)
Hiếm khi (2-3 lần/ tháng)