HÀ THỊ HIỀN NGỌCNGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, THÍNH LỰC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐIẾC ĐỘT NGỘT TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA KHÓA 2010 - 2016..
Trang 1HÀ THỊ HIỀN NGỌC
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, THÍNH LỰC
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐIẾC ĐỘT NGỘT
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
KHÓA 2010 - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HÀ THỊ HIỀN NGỌC
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, THÍNH LỰC
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐIẾC ĐỘT NGỘT
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
KHÓA 2010 - 2016
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Quang Trung
Trang 3Đây là lần đầu tiên tôi làm một nghiên cứu khoa học, không tránh khỏi những bỡ ngỡ, va vấp Bên cạnh tôi luôn có những thầy cô, bạn bè và gia đình giúp đỡ Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo đại học, Bộ môn Tai Mũi Họng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Quang Trung là người
thầy đã đưa cho tôi một đề tài thú vị và chỉ bảo cho tôi rất nhiều từ bước lấy
số liệu đến chỉnh sửa khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công nhân viên của khoa Tai mũi họng, Phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Đại Học Y Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi được tiếp xúc với bệnh nhân và tra cứu hồ sơ bệnh án trong quá trình thu thập số liệu
Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong hội đồng khoa học đã chỉ bảo tận tình cho tôi để hoàn thiện khóa luận một cách tốt nhất
Tôi cảm ơn bố mẹ và những người thân trong gia đình đã luôn là chỗ dựa tinh thần, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.Tôi gửi lời cảm ơn tới các bạn bè của tôi đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Hà Thị Hiền Ngọc
Trang 5Tôi xin cam đoan đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, thính lực
và đánh giá kết quả điều trị điếc đột ngột tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội"
là do tôi thực hiện, các số liệu trong đề tài hoàn toàn trung thực, chưa từng công bố tại bất kỳ nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Hà Thị Hiền Ngọc
Trang 6PTA
DecibenNgưỡng nghe trung bình
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Điếc đột ngột là một cấp cứu trong chuyên ngành Tai Mũi Họng, là tình trạng tổn thương cấp tính bộ phận tiếp âm của cơ quan thính giác, xảy ra trong một thời gian ngắn Bệnh được miêu tả lần đầu tiên trong y văn bởi Cornet và Escat vào năm 1906 Về định nghĩa, phần lớn các tác giả thống nhất: Điếc đột ngột là một điếc tiếp nhận trên 30dB ở ít nhất 3 tần số liên tiếp, xảy ra một cách đột ngột tối đa trong vòng 72 giờ
Theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì điếc đột ngột chiếm tỉ lệ từ 5-20
ca trên 100.000 người trong 1 năm [1] Theo Đức thì tỉ lệ này là 20 ca trên 100.000 người trong 1 năm [2] Người ta ước tính có khoảng 15.000 ca bị điếc đột ngột hàng năm trên thế giới, trong đó có khoảng 4.000 ca là ở Mỹ [3] Ở Việt Nam, tác giả Cao Minh Thành tổng kết tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương trong 5 năm thì điếc đột ngột chiếm khoảng 4,5% trong các bệnh lý về tai [4]
Nguyên nhân của điếc đột ngột vẫn chưa rõ ràng, có nhiều giả thuyết được đưa ra như: co thắt mạch, nhiễm vi rút, bệnh tự nhiên, chấn thương,… Tuy nhiên việc chẩn đoán nguyên nhân điếc đột ngột cho đến nay vẫn còn rất khó khăn, phần lớn là các trường hợp điếc đột ngột không tìm thấy nguyên nhân [3] Do đó vấn đề điều trị điếc đột ngột chủ yếu vẫn là điều trị bao vây
sử dụng các thuốc giãn mạch, tăng tuần hoàn tai trong, hồi phục thần kinh, Corticoid toàn thân hoặc tiêm hòm nhĩ, kháng histamine… và phải điều trị cấp cứu ngay trong những giờ đầu Cho đến nay chưa có phác đồ nào có thể điều trị hiệu quả điếc đột ngột
Tuy nhiên theo nghiên cứu của Lương Hồng Châu [5], điều quan trong nhất là bệnh nhân phải được điều trị càng sớm càng tốt Vì vậy việc chuẩn đoán sớm bệnh và nâng cao hiểu biết của cộng đồng về điếc đột ngột là hết sức cần thiết
Trang 12Đề góp phần tổng kết hệ thống bệnh cảnh lâm sàng, thính lực và hiệu quả điều trị điếc đột ngột nhằm giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời hiệu
quả, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, thính lực
và đánh giá kết quả điều trị điếc đột ngột tại Bệnh viện Đại Học Y Hà Nội”
với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng và thính lực của bệnh nhân điếc đột ngột
2 Đánh giá kết quả điều trị điếc đột ngột tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Đại Học Y Hà Nội
Trang 13có 2 tác giả Dishoek và Hallgerg vào năm 1955đã đưa ra 2 giả thiết chính được xem như là những căn nguyên hay gặp nhất của điếc đột ngột, đó là do mạch máu và do nhiễm vi rút [8].
Tiếp đó, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác về nguyên nhân và phương pháp điều trị điếc đột ngột Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào làm sáng tỏ được cơ chế sinh bệnh học của điếc đột ngột
1.1.2 Tại Việt Nam
Năm 1966 lần đầu tiên tác giả Lê Sỹ Nhơn [8] miêu tả 1 trường hợp lâm sàng của một bệnh nhân nữ 19 tuổi bị điếc đột ngột điều trị tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Bạch Mai được đăng trong cuốn “Tai Mũi Họng tài liệu nghiên cứu” Sau đó năm 1995, Lương Hồng Châu và cộng sự đã có báo cáo
về 37 trường hợp điếc đột ngột tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương [9].Tiếp theo, Phạm Trường Minh (2000) [10] và Nguyễn Thúy Vân (2005) [11] cũng đã có những công trình nghiên cứu về điếc đột ngột tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương
Trang 141.2 Giải phẫu sinh lý ứng dụng
1.2.1 Giải phẫu tai trong.
Tai trong nằm toàn bộ trong xương đá với 2 chức năng chính:
- Chức năng nghe: do ốc tai đảm nhận
- Chức năng thăng bằng: do tiền đình và các ống bán khuyên đảm nhận [12],[13]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xin trình bày về ốc tai - bộ phận đảm nhận chức năng nghe của tai trong
1.2.1.1 Ốc tai xương (Mê nhĩ xương)
o Đáy có đường kính khoảng 9cm
o Lấn vào thành hòm nhĩ tạo thành gờ gọi là ụ nhô
Trang 15- Loa đạo xương bọc ngoài loa đạo màng
- Trong lòng ống có 1 mảnh xương mỏng gọi là mảnh xoắn ốc chia ống này thành 2 ngăn, ngăn trên là vịn tiền đình và ngăn dưới là vịn nhĩ
Hai vịn này chứa dịch và thông nhau ở đỉnh ốc tai [15]
1.2.1.2 Ốc tai màng (còn gọi là ống ốc tai)
Hình 1.2: Ốc tai màng [ 16 ]
Nằm trong ốc tai xương, có cấu trúc hình lăng trụ tam giác với 3 thành [14]:
- Thành trên: là màng Reissner ngăn cách ống ốc tai và vịn tiền đình, một đầu bám vào mảnh xoắn ốc, một đầu bám vào mặt trong của ống xoắn ốc
- Thành dưới: Là màng đáy có cấu trúc đáy ốc tai hẹp và dày càng lên cao càng rộng và mỏng (dày đáy ≈ 150µm, dày đỉnh ≈ 450µm) Cấu trúc này làm cho nó tiệp nhận âm thanh theo vùng Nhìn chung âm có tần số cao được tiếp nhận ở vùng đáy, âm có tần số thấp được tiếp nhận
ở vùng đỉnh
Trang 16- Thành ngoài: là mảnh vòng quanh, ở đây cốt mạc dầy và gồ thành dây chằng xoắn ngoài, phía trong có lớp vân mạch, với nhiều mạch máu và một lớp biểu mô tầng [15],[16].
Hình 1.3: Thiết diện cắt ngang qua ốc tai [ 17 ]
1.2.1.3 Cơ quan Corti
Hình 1.4: Cơ quan Corti
Là đơn vị chức năng của cơ quan thính giác, cơ quan này nằm trên màng đáy trong ống ốc tai có cấu trúc phức tạp bao gồm:
Trang 17- Màng mái: Là một phần màng xoắn trên toàn bộ chiều dài của cơ quan Corti Phía trong màng có 1 trụ rung chuyển trụ này lệch vào phía trong so với trụ màng đáy để tạo nên sự dịch chuyển các lông của tế bào thần kinh ở màng mái.
- Các trụ sắp xếp thành 2 dãy: trụ trong và trụ ngoài, các trụ này hội tụ lại thành 1 khoang hình tam giác gọi là đường hầm Corti [15],[17]
- Các tế bào nâng đỡ
o Tế bào nâng đỡ trong: đi từ chân màng mái tới dựa vào trụ trong
o Tế bào nâng đỡ ngoài: gồm các lớp
Tế bào Deiters
Tế bào Hansen
Tế bào Claudius
- Tế bào giác quan:
o Tế bào lông trong
o Tế bào lông ngoài
- Tế bào lông trong và lông ngoài của cơ quan Corti được chi phối bởi 2 loại dây thần kinh hướng tâm và ly tâm
Vai trò của các sợi ly tâm là ức chế những điểm khác nhau của cơ quan Corti, điều này giúp ta có thể hướng sự chú ý vào các âm nhất định và bỏ qua các âm khác
Trang 18hưởng đến chức năng nghe và thăng bằng của tai trong.
1.2.2 Chi phối thần kinh ốc tai
- Dây thần kinh ốc tai: nguyên ủy từ hạch xoắn Từ hạch này các tế bào hướng tâm 2 cực cho sợi đi ra tới các sợi tế bào lông trong và tế bào lông ngoài để nhận cảm giác âm thanh, còn sợi đi vào tạo thành các dây nhỏ qua trụ ốc tai tới đáy ốc tai trong tụ họp thành dây thần kinh ốc tai
- Phần ốc tai và phần tiền đình của dây VIII nằm trong 1 bao chung trong ống tai trong, có liên quan đến dây VII, sau đó thoát ra ở lỗ ống tai trong rồi đi đến hành tủy [17],[18]
Hình 1.5: Dây thần kinh ốc tai 1.2.3 Phân bố mạch máu của tai trong
- Động mạch tai trong cấp máu cho tai trong
Trang 19- Nguyên ủy của động mạch tai trong là động mạch thân nền hay động mạch tiểu não trước dưới
- Sau khi cấp máu cho VIII nó đi tiếp rồi phân ra làm 3 nhánh tận cấp máu cho mê nhĩ màng [18]
o Động mạch tiền đình trước: cấp máu phần sau trên cầu nang và xoan nang, đầu bóng của 2 ống bán khuyên nằm và đứng
o Động mạch ốc tai tiền đình: cấp máu cho xoan nang và phần lớn cầu nang rồi chia 2 nhánh vào thân vào phần sau xoan nang, đầu và bóng của ống bán khuyên đứng ngang và 1 nhánh đến vòng xoắn ốc tai
o Động mạch ốc tai riêng: cấp máu ốc tai và cho 1 nhánh nối với động mạch ốc tai tiền đình
- Ốc tai được cấp máu bởi một mạch máu nhỏ ít nhánh nối, do đó phần
ốc tai có thể bị đe dọa khi 1 trong những động mạch sau thiếu máu: động mạch tai trong, động mạch tiểu não trước dưới, động mạch thân nền hoặc động mạch đốt sống
Trang 20Hình 1.6: Sự cấp máu cho tai trong [ 19 ].
1.2.4 Sinh lý nghe
Sinh lý nghe có hai phần cơ bản là:
- Sinh lý truyền âm
- Sinh lý tiếp âm
Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chỉ giới hạn trình bày phần sinh
lý nghe tiếp âm
Sự phát sinh xung động thần kinh từ ốc tai:
Trong loa đạo luôn có điện thế thường xuyên, khi kích thích âm sẽ xuất hiện điện thế vi âm, và điện thế tập hợp dẫn đến sự giải phóng chất trung gian hóa học trong tế bào lông làm xuất hiện điện thế hoạt động ở các khớp thần kinh Điện thế hoạt động truyền qua sợi thần kinh và chuyển thành luồng thần kinh
Đường dẫn truyền thần kinh thính giác
Sau khi năng lượng sóng âm được truyền vào ngoại dịch của tai trong qua cửa sổ bầu dục, năng lượng này sẽ tác động lên cơ quan Corti và được chuyển thành các xung động thần kinh theo các sợi trục của các tế bào lông tập trung về hạch Corti rồi dẫn truyền theo bó loa đạo của dây thần kinh số VIII đi theo ống tai trong và thân não
Đường đi của luồn thần kinh qua 3 kinh đoạn [20]:
- Kinh đoạn I: từ loa đạo đến hành tủy
- Kinh đoạn II: từ hành tủy đến đồi thị có những sợi cùng bên và sợi chéo bên, ngoài ra còn có các sợi ngắn cùng bên và chéo bên phức tạp hơn và chưa được xác định rõ
Trang 21- Kinh đoạn III: từ thể gối trong đến vỏ của thùy thái dương, vùng Hesche Mỗi khu vực thính giác trên vỏ đều nhận của cả 2 tai.
1.3 Đặc điểm bệnh học của điếc đột ngột
Schuknecht [22] với công trình nghiên cứu trên xương thái dương đã
cho thấy rằng có mối liên quan giữa điếc đột ngột với tình trạng nhiễm virus
David và Johnson [23] đã chứng minh khả năng virus cúm và quai bị
có thể tác động vào tai trong trên động vật thí nghiệm
Các bệnh lý có thể gây điếc đột ngột như: quai bị, thủy đậu, zona, HIV, cúm, sởi
• Do mạch máu
Nghiên cứu của Kimura và Perlman (1957) cho thấy rằng ngừng cung cấp của động mạch tai trong ở chuột lang trên 30 phút sẽ dẫn tới mất chức năng của ốc tai không thể hồi phục
Các bệnh lý mạch máu có thể gây điếc đột ngột:
o Tăng huyết áp
o Bệnh Berger
Trang 22o Bệnh máu tăng đông
o Tăng độ nhớt của máu
• Do chấn thương
Chấn thương làm rách màng nhĩ, gây dò ngoại dịch, như vỡ xương đá, chấn thương do áp lực hoặc sau phẫu thuật vào vùng cửa sổ tròn và cửa sổ bầu dục Cũng có thể gặp điếc đột ngột do bị điện giật, tia xạ
• Do rối loạn chuyển hóa
Các nguyên nhân gây rối loạn chuyển hóa toàn thể:
o Đái tháo đường
o Tăng lipid máu
o Suy giáp trạng
o Nhiễm toan máu do nguyên nhân tại thận
Các rối loạn chuyển hóa thường đưa đến tình trạng thiếu máu của động mạch tai trong hoặc gây tình trạng nhiễm độc tai trong
• Do miễn dịch
Điếc đột ngột có thể gặp trên những bệnh nhân bị Luput, viêm nút quanh động mạch hay hội chứng Cogan Theo McCabe, điếc đột ngột có liên
Trang 23quan tới bệnh tự miễn ở tai trong Test ức chế miễn dịch dương tính ở những bệnh nhân nghiên cứu, và điều trị bằng Corticoid có kết quả tốt.
•Dò mê đạo: các nguyên nhân gây dò ngoại dịch tai trong gồm:
o Do chấn thương: chủ yếu là chấn thương vỡ xương đá
o Do sang chấn vào vùng khớp bàn đạp – tiền đình
o Do Chelesteatoma trong bệnh lý tai xương chũm
o Dò mê đạo sau viêm mê nhĩ do lao, giang mai
1.3.2.2 Nguyên nhân sau ốc tai
• Do tổn thương dây thần kinh thính giác:
o U dây thần kinh số VIII
o U góc cầu tiểu não
o Viêm dây thần kinh thính giác
• Do tổn thương dây thần kinh trung ương
o Khối u hành não cầu
o U củ não sinh tư
o Bệnh sơ cứng rải rác
1.3.2.3 Điếc đột ngột không tìm thấy nguyên nhân
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân gây điếc đột ngột nhưng phần lớn các trường hợp lại không tìm thấy nguyên nhân Nhưng có 1 số giả thuyết về nguyên nhân bệnh sinh được nhiều người nhắc đến là: thuyết do virus, do mạch máu…
1.3.3 Triệu chứng lâm sàng và CLS
1.3.3.1 Triệu chứng cơ năng
Trang 24• Nghe kém: là triệu chứng chủ yếu, nghe kém ở 1 hoặc 2 bên tai xuất hiện một cách đột ngột Bệnh thường xảy ra ban đêm hoặc buổi sáng thức dậy Đa số nghe kém xuất hiện và tiến triển nhanh trong vòng vài phút đến vài giờ, cũng có khi tăng dần trong 1 vài ngày Nghe kém ở nhiều mức độ khác nhau, đa số là điếc nặng, có khi là điếc đặc.
• Ù tai: Là triệu chứng gây khó chịu nhất cho người bệnh, ù tai thường xuất hiện cùng nghe kém đôi khi xuất hiện trước Đa số là ù tai tiếng cao như tiếng ve kêu, tiếng còi tàu, cũng có thể là ù tai tiếng trầm như tiếng cối xay, tiếng sóng vỗ
• Chóng mặt: Bệnh nhân có thể bị chóng mặt quay thật sự nếu có tổn thương phần tiền đình ngoại biên nhưng có thể chỉ là cảm giác mất thăng bằng, bồng bềnh như say sóng nếu tổn thương phần tiền đình trung ương
• Cảm giác đầy tai: được bệnh nhân mô tả như bị nút tai
• Ngoài ra có thể gặp đau đầu, sốt, đau tai.…
1.3.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng
- Đo thính lực bằng âm thoa: Điếc tiếp nhận Weber lan về bên lành
- Thính lực đồ đơn âm: Điếc tiếp nhận ở các mức độ khác nhau Ngưỡng nghe đường khí và đường xương đều tăng, biểu hiện: đồ thị đường khí
và đường xương đều xuống thấp và luôn song hành, có thể trùng nhau hoặc chênh lệch nhau không quá 10dB
1.3.4 Các dạng thính lực đồ
- Thính lực đồ dạng đi lên: biểu đồ thính lực có dạng đi lên giảm nhiều
ở các tần số trầm, giảm ít ở các tần số cao, do tổn thương các tế bào vùng đỉnh nhiều hơn vùng đáy Người bệnh nghe kém hơn ở các âm
trầm tốt hơn ở các âm cao (Hình 1.7).
Trang 25
Hình 1.7: Thính lực đồ dạng đi lên Hình 1.8: Thính lực đồ dạng đi xuống
- Thính lực đồ dạng đi xuống: biểu đồ thính lực có dạng đi xuống, giảm nhiều ở các tần số cao, giảm ít ở các tần số trầm Do tổn thương các tế bào vùng đáy nhiều hơn vùng đỉnh Người bệnh nghe tốt hơn ở các âm
trầm (Hình 1.8).
- Thính lực đồ dạng nằm ngang: biểu đồ thính lực có dạng nằm ngang, mức độ giảm ở các tần số gần như nhau, do tổn thương các tế bào kể
cả vùng đáy và vùng đỉnh Loại thính lực đồ này thường gặp trong
trường hợp sũng nước mê nhĩ (Hình 1.9).
Hình 1.9: Thính lực đồ dạng ngang Hình 1.10: Thính lực đồ dạng hình đĩa.
- Thính lực đồ dạng hình đĩa: biểu đồ thính lực có dạng chữ V, giảm nhiều hơn ở các tần số trung bình, giảm ít ở các tần số trầm và tần số cao
Người bệnh nghe kém hơn ở các âm có tần số trung bình (Hình 1.10).
- Thính lực đồ dạng “lưng lừa”: biểu đồ thính lực có dạng parabol đỉnh ở trên, giảm nhiều ở các tần số trầm và tần số cao, giảm ít ở các tần số trung bình Người bệnh nghe tốt hơn ở các âm có tần số trung bình
(Hình 1.11).
- Thính lực đồ dạng điếc sâu: biểu đồ thính lực dạng điếc sâu, ngưỡng nghe tăng cao, ở nhiều tần số không đáp ứng, người bệnh bị điếc hoàn
toàn (Hình 1.12).
Trang 26-Hình 1.11: Thính lực đồ dạng "lưng lừa" Hình 1.12: Thính lực đồ dạng điếc sâu
1.3.5 Tiến triển tiên lượng
- Tiến triển tự nhiên của điếc đột ngột: theo các nghiên cứu trên thế giới thì tỉ lệ tự khỏi trong vòng 2 tuần của điếc đột ngột dao động từ 25% - 68% tùy từng thời gian [24],[25]
- Nhưng trên lâm sàng khó phân loại trường hợp nào tự khỏi, trường hợp nào không
- Sự cải thiện trong điếc đột ngột được định nghĩa là sự tăng ít nhất 10dB PTA trên thính lực đơn âm hoặc 15% trên thính lực lời
- Tác giả Siegel đã phân ra 4 mức độ cải thiện bệnh [26]
I Toàn bộ Sức nghe cuối cùng < 25dB
II Một phần > 15dB và sức nghe cuối cùng từ 25 – 45dBIII Kém > 15dB và sức nghe cuối cùng từ > 45dB
IV Không cải thiện < 15Db
- Các yếu tố tiên lương: theo phân loại H.E.A.R [27]
• H – Mức độ điếc: điếc càng nặng tiên lượng càng xấu, các trường hợp điếc đặc thì khả năng phục hồi là hiếm
Trang 27• E – Thời gian kể từ khi phát bệnh đến khi điều trị: Bệnh nhân đến càng muộn thì tiên lượng càng xấu.
• A – Loại thính lực đồ: Các loại thính lực đồ type A và B tiên lượng tốt hơn các loại còn lại
• R – Triệu chứng kèm theo: Bệnh nhân có triệu chứng chóng mặt, mất thăng bằng, ù tai, đau đầu, sốt kèm theo thì tiên lượng xấu hơn
• Ngoài ra, tuổi cao, các nguy cơ về tim mạch, rối loạn chuyển hóa, sự phơi nhiễm với tiếng ồn cũng là những yếu tố tiên lượng xấu
- Thuốc có tác dụng tăng cường oxy máu, làm giảm sự thiếu máu cục bộ
và thiếu oxy: Piracetam (Nootropyl), thuốc có 2 tác dụng chính là chống kết dính tiểu cầu và chống co thắt tại vi mạch
- Thuốc làm giảm tính thấm thành mạch, ngăn ngừa sự ứ dịch ở tai trong: kháng Histamine, Corticoid…
- An thần: Seduxen, Gardenale…
- Vitamin nhóm B tổng hợp, Vitamin E, Vitamin C, kẽm
1.3.6.2 Điều trị nguyên nhân:
Trong các trường hợp tìm thấy nguyên nhân
1.3.6.3 Một số liệu pháp điều trị hỗ trợ
Trang 281.4 Đánh giá hiệu quả điều trị điếc đột ngột
Dựa vào các tiêu chí sau:
1.4.1 Ngưỡng nghe đường khí ở từng tần số
So sánh ngưỡng nghe đường khí ở từng tần số trước vào sau điều trị, qua
đó tính được số dB hồi phục sau điều trị
1.4.2 Ngưỡng nghe trung bình P.T.A
Do nhận thấy trong điếc tiếp nhận thiếu hụt thính lực ở các tần số cao là chủ yếu nên áp dụng công thức tính [28]:
PTA = [dB(500)+ dB(1000) + dB(2000) + dB(4000)]/4
1.4.3 Mức độ nghe kém
- Mức độ nghe kém theo ngưỡng nghe trung bình
- Mức độ nghe kém theo tỉ lệ phần trăm thiếu hụt sức nghe theo bảng Fowler – Sabine
- Mức độ hồi phục thính lực theo hướng dẫn Hội tai mũi họng và phẫu thuật đầu cổ Hoa Kỳ năm 2012 [29]
Trang 29Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 46 bệnh nhân được chẩn đoán là điếc đột ngột, khám và điều trị tại khoa Tai Mũi Họng, bệnh viện Đại Học Y Hà Nội từ tháng 1/2014 – 5/2016
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Điếc đột ngột 1 hoặc 2 bên tai
- Khám thực thể không có tổn thương tai ngoài và tai giữa
- Điếc tiếp nhận, ngưỡng nghe đường khí và đường xương đều tăng trên 30dB ở ít nhất 3 tần số kế tiếp nhau
- Nhĩ đồ 2 tai bình thường
- Đo thính lực đơn âm trước, trong và sau khi điều trị
- Thời gian từ khi bị bệnh đến khi điều trị không quá 4 tuần
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Có bệnh lý về tai như chảy mủ tai, thủng màng nhĩ…
- Điếc dẫn truyền hay điếc hỗn hợp
- Nhĩ đồ bệnh lý
- Điếc do chấn thương xương đá hay do phẫu thuật
- Ngưỡng nghe trung bình < 30dB (PTA)
- Thời gian từ khi bị bệnh đến khi điều trị hơn 4 tuần
Trang 302.2 Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu: Mẫu thuận tiện gồm 46 bệnh nhân (N=46) đủ các tiêu chuẩn
của điếc đột ngột điều trị tại bệnh viện Đại Học Y Hà Nội từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2016:
2.2.3 Phương tiện nghiên cứu
- Máy nội soi Tai - Mũi - Họng
- Máy đo thính lực đồ đơn âm
- Máy đo nhĩ lượng
2.2.4 Các bước tiến hành thu thập số liệu
• Lựa chọn bệnh nhân và thu thập số liệu
- Tất cả các bệnh nhân có nghe kém một cách đột ngột được đo thính lực đồ đơn âm để chuẩn đoán xác định
- Khai thác tiểu sử về bệnh liên quan: tăng huyết áp, tiểu đường, xơ vữa động mạch, tăng cholesterol máu, bệnh lý tuyến giáp …
- Tất cả bệnh nhân được nằm và theo dõi tại bệnh viện theo phác đồ:Điều trị nội khoa với các nhóm thuốc chính sau:
Trang 31 Thuốc giãn mạch: Divascol 10mg × 1 ống tiêm tĩnh mạch
Thuốc tăng chuyển hóa: Nootropin 3g × 2 ống pha với 2 chai Glucose 5% Truyền tĩnh mạch
Thuốc kháng histamin: Clarityne 10mg × 1 viên uống lúc 20h
Thuốc an thần: Diazepam 5mg × 2 viên uống 21h
Vitamin: B1, B6, B12
Sau 5 đến 10 ngày điều trị thính lực không cải thiện tiến hành:
Tiêm Dexamethason 4mg/1ml × 1 ống tiêm hòm nhĩ
Sau tiêm bệnh nhân được nằm nguyên không nói, không nuốt, không xì mũi trong vòng 20 phút và theo dõi tai biến
Bệnh nhân được tiêm 1 ngày 1 lần và kéo dài một tuần đến 10 ngày
- Theo dõi khả năng phục hồi thính lực dựa triệu chứng lâm sàng, và kết quả thính lực đồ
• Thính lực đồ được tiến hành 3 lần:
- Lần 1: Khi mới vào viện
- Lần 2: Sau điều trị 5 ngày
• Dựa vào bảng Fowler – Sabine để đánh giá sự hồi phục thính lực
- Tai bình thường có thiếu hụt là 0%
Trang 32- Tai không nghe được (điếc đặc) có thiếu hụt là 100%
• Đối chiếu ngưỡng nghe theo từng tần số để biết % thiếu hụt sức nghe ghi sẵn trên bảng tính Thiếu hụt sức nghe của tai bằng tổng số thiếu hụt của 4 tần số chính: 500Hz, 1000Hz, 2000Hz, 4000Hz
• So sánh sự thiếu hụt sức nghe trước và sau điều trị dựa vào phân loại mức độ nghe kém
- Mức độ nghe kém theo ngưỡng nghe kém theo I.S.O
Hồi phục hoàn toàn: Mức PTA sau điều trị chênh lệch trong khoảng 10dB so với tai bên đối diện
Hồi phục một phần: Mức PTA cải thiện > 10 dB