Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có một sốnghiên cứu về sử dụng rượu/bia trên các nhóm đối tượng khác nhau.. “Đơn vị rượu” được áp dụng tại một số quốc gia Mức độ an toàn trong sử dụng
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê ế của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), toàn thế giớihiện có hơn 2 tỉ người từ 15 tuổi trở lên có sử dụng rượu/bia chiếm gần50% dân số thuộc nhóm tuổi này [1] Sử dụng rượu/bia với mức độ hợp
lý có thể đem lại cho con người cảm giác hưng phấn, khoan khoái, lưuthông khí huyết… Song rượu/bia là chất kích thích, gây nghiện do vậyngười sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫnđến tình trạng lạm dụng rượu/bia
Ở Việt Nam, uống rượu/bia có từ lâu đời, nhiều nơi đã coi như là mộttập quán cần thiết và thú vị Hiện nay, tần suất uống bia của người Việt Namkhá cao Mặc dù Việt Nam xếp thứ ba về tiêu thụ rượu/bia trong số các quốcgia châu Á, nhưng mức độ uống bia trung bình tương đương thậm chí vượtquốc gia xếp ở vị trí thứ nhất là Nhật Bản, với 2 lần/tuần Theo một nghiêncứu gồm hơn 60.000 thành viên của website Vinaresearch.net, trong số 1030người tham gia khảo sát cho thấy tỉ lệ uống bia thường xuyên là 38,3%.Trong đó, hơn một nửa trong số này cho biết mỗi tuần họ thường uống biatrung bình từ 2-3 lần/tuần Trong số 395 người thuộc nhóm tuổi 20-35, cứ 10người thì có 4 người uống bia khoảng 2-3 lần/tuần và 4 người uống bia trungbình từ 3-4 lần/tháng Trong khi đó, ở nhóm tuổi nhỏ hơn, từ 18-19 tuổi mức
Trang 2hại của rượu, trong đó có hơn 320.000 ca tử vong ở độ tuổi từ 15 đến 29.Nghiện rượu là nguyên nhân chính của 30% bệnh nhân nhập viện tâm thần,
15 – 30% vào viện nội khoa và 80% vào khoa bỏng [6]
Tại Việt Nam, lạm dụng rượu là vấn đề phổ biến ở nam giới Theo báocáo về gánh nặng bệnh tật do tử vong và tàn tật năm 2008, rượu là nguyênnhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật không tử vong ở nam giới (14%).Theo kết quả điều tra hộ gia đình của Viện chiến lược và chính sách y tế năm
2008 có 8% người lạm dụng rượu và 3% người lạm dụng bia đã bị tai nạnthương tích lúc làm việc sau khi sử dụng rượu/bia [4]
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, theomột công bố của TCYTTG, trong khi lượng rượu tiêu thụ các nước phát triển
có xu hướng giảm, thì ở các nước đang phát triển lại có xu hướng tăng [5].Đồng thời những hậu quả của rượu/bia đối với sức khỏe con người cũngtăng lên Tiêu thụ rượu/bia ở Việt Nam có xu hướng gia tăng nhanh Mức tiêuthụ rượu/bia bình quân đầu người (trên 15 tuổi) đã tăng từ 1,6 lít rượu và10,04 lít bia năm 2000 lên 4,1 lít rượu và 22 lít bia năm 2008 8
Lạm dụng rượu/bia được xác định có mối quan hệ nhân quả đối với hơn
60 vấn đề sức khỏe [10] Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có một sốnghiên cứu về sử dụng rượu/bia trên các nhóm đối tượng khác nhau [10][8][4] Tuy nhiên nghiên cứu về sử dụng rượu/bia và mối liên quan đến tìnhhình sức khỏe chưa được thực hiện Những thông tin về sử dụng rượu/bia vàmối liên quan đến sức khỏe sẽ có giá trị cho quá trình vận động chính sách y
tế công cộng
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu chính:
1 Mô tả thực trạng sử dụng rượu/bia của người dân tại 3 tỉnh thuộc ba
miền Bắc, Trung và Nam Việt Nam năm 2013.
2 Phân tích mối liên quan giữa thực trạng sử dụng rượu/bia với tình
trạng sức khoẻ tại địa bàn nghiên cứu.
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm về rượu/bia
1.1.1 Một số khái niệm :
1.1.1.1 Rượu :
Trong hóa học rượu là một hợp chất hữu cơ chứa nhóm –OH
Theo định nghĩa trong từ điển Oxford: Rượu là một chất hóa học hữu
cơ có tên khoa học là ethyl alcohol được tổng hợp từ quá trình lên men củađường và tinh bột như gạo, nếp hay các loại trái cây với nhiều tên gọi nhưrượu đế, bia, rượu vang, champagne
1.1.1.2 Bia :
Là một loại đồ uống chứa cồn (<5%) được sản xuất bằng quá trình lênmen đường lơ lửng trong môi trường lỏng và nó không được chưng cất saukhi lên men, dung dịch đường không bị lên men thu được từ quá trình ngâmnước gọi là hèm bia hay “nước ủ bia”, hạt ngũ cốc thông thường được sửdụng đem ủ bia là lúa mạch
Trang 5“Đơn vị rượu” là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loạirượu/bia với nhiều nồng độ khác nhau Hiện chưa có quy ước hay thỏathuận nào về việc xác định một “đơn vị rượu chuẩn” chung cho mọi quốcgia, tuy nhiên gần đây các nước trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn “đơn vịrượu” thường có từ 8-14 gram rượu nguyên chất chứa trong dung dịch đó.
Bảng 1.1 “Đơn vị rượu” được áp dụng tại một số quốc gia
Mức độ an toàn trong sử dụng rượu/bia được đề ra theo những căn cứ
từ kết quả nghiên cứu về các nguy cơ do rượu/bia gây ra đối với sức khỏe.Với mức độ dung nạp này, những hậu quả của rượu/bia đối với sức khỏethường ở mức tối thiểu Theo TCYTTG: lý tưởng nhất vẫn là không uốngrượu/bia; nếu đã uống chỉ nên giữ ở mức không quá 3 đơn vị rượu/ ngày đối
Trang 6Theo GS Lê Sĩ Liêm, ở Việt Nam thì không quá 2 đơn vị rượu/ ngàyđối với nam (tương đương 20g rượu nguyên chất/ ngày và ít hơn 14 đơn vị/tuần) và với nữ là không quá 1 đơn vị rượu/ ngày (tương đương 10g rượunguyên chất/ ngày và ít hơn 7 đơn vị/ tuần) [19]
1.1.2.2 Lạm dụng rượu/bia :
Lạm dụng rượu/bia là sử dụng rượu/bia với mức độ không hợp lý dẫnđến sự biến đổi về chức năng hoặc xuất hiện dấu hiệu về lâm sàng Theo quychuẩn của TCYTTG, phụ nữ uống trên 14 đơn vị rượu/ tuần và trên 2 đơn vịrượu/lần; nam giới uống trên 21 đơn vị rượu/ tuần, hơn 3 đơn vị rượu/lần;người trên 65 tuổi uống trên 14 đơn vị rượu/tuần và hơn 2 đơn vị rượu/lầnđược coi là người lạm dụng rượu/bia [20]
Bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 mục F10.1, TCYTTG đã liệt kêlạm dụng rượu/bia vào loạn rối loạn hành vi và tâm thần do sử dụng các chấthoạt động hướng thần với đặc điểm là sử dụng rượu/bia gây ra tổn hại về sứckhỏe Những tổn hại này bao gồm về mặt thể chất và mặt tinh thần [21]
Năm 1992, trong bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10, TCYTTG đã liệt
kê nghiện rượu vào loại rối loạn hành vi và tâm thần do sử dụng các chất hoạtđộng hướng thần với những tiêu chí chẩn đoán:
- Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu
Trang 7- Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng: thời gian bắt đầu, thờigian kết thúc, mức sử dụng.
- Xuất hiện hội chứng cai khi ngừng sử dụng rượu hoặc giảm liều
- Tăng mức độ sử dụng
- Dần dần sao nhãng những thú vui hoặc sở thích trước đây
Khi có từ 3 biểu hiện nêu trên trở lên trong vòng 1 năm sẽ được chẩnđoán là nghiện rượu/bia Quá trình nghiện rượu/bia diễn ra chậm, khó nhậnbiết và qua 4 giai đoạn bao gồm giai đoạn triệu chứng, giai đoạn tiền nghiện,giai đoạn nguy kịch và giai đoạn mạn tính [21]
Như vậy lạm dụng rượu/bia và nghiện rượu/bia đều là những rối loạnliên quan đến việc sử dụng rượu/bia ở những mức độ khác nhau Nghiệnrượu/bia chỉ được xác định khi có tình trạng phụ thuộc rượu/bia về tâm lý,sinh lý Lạm dụng rượu/bia là việc sử dụng rượu/bia gây ra những hậu quảxuấu nhưng không bị phụ thuộc rượu/bia
1.1.2.4 Sơ lược về bộ câu hỏi sàng lọc về rượu ( ( AUDIT )
Bộ câu hỏi này được TCYTTG thiết kế năm 1982 với mục đích pháthiện sớm các vấn đề liên quan tới sử dụng rượu và phù hợp với tất cả cácnước trên thế giới kể cả nước phát triển và đang phát triển [22] Quá trình xâydựng bộ công cụ AUDIT thông qua nhiều giai đoạn với sự tham gia của nhiềunhà nghiên cứu bằng việc rà soát lại các tài liệu, các kết quả xét nghiệm vàcác quy trình lâm sàng để đưa ra các tiêu chí cụ thể Các kết quả sau đó đượctiến hành nghiên cứu so sánh trên 6 quốc gia thuộc các vùng lãnh thổ khácnhau như Nauy, Australia, Kenya, Bulgaria, Mexico và Mỹ Việc nghiên cứuđược tiến hành dựa vào các xét nghiệm cận lâm sàng, bao gồm xét nghiệm
Trang 8máu tìm các dấu ấn (marker) của rượu, các thông tin dân số học, sức khỏe….các mục AUDIT sau đó được lựa chọn đảm bảo có giá trị, phù hợp với lâmsàng, và bao phủ hầu hết các vấn đề liên quan đến sử dụng rượu/bia Công cụnày khác với công cụ sàng lọc khác là nó dựa vào số liệu nghiên cứu từ nhiềuquốc gia, dựa trên cơ sở khung khái niệm và phân tích thống kê rõ ràng để lựachọn các đề mục, nó cũng nhấn mạnh vào việc phát hiện các sử dụng ở mức
độ báo động có nguy hại hơn là hậu quả của lạm dụng hay sử dụng phụ thuộcrượu/bia., và c Công cụ này cũng nhấn mạnh vào các biểu hiện cụ thể trongthời gian gần nhất thay vì hỏi về các vấn đề đối tượng đã từng có trong thờiđiểm nào đó Từ khi được khuyến cáo sử dụng, nhiều nghiên cứu đã cho thấycông cụ này có nhiều giá trị ứng dụng và đây là công cụ sàng lọc các vấn đềliên quan đến sử dụng rượu tốt nhất ở các cơ sở chăm sóc y tế ban đầu
Bộ câu hỏi AUDIT gồm 10 câu hỏi, mỗi câu hỏi được cho điểm từ 0-4 điểm.Tổng số điểm của bộ câu hỏi AUDIT là 40
Sử dụng AUDIT trong sàng lọc cộng đồng cho phép phân loại đốitượng thành 4 nhóm nguy cơ khác nhau, bao gồm:
Vùng nguy cơ I: Điểm AUDIT < 8
Vùng nguy cơ II: Điểm AUDIT từ 8-15
Vùng nguy cơ III: Điểm AUDIT từ 16-19
Vùng nguy cơ IV: Điểm AUDIT > 20Trong nghiên cứu này điểm AUDIT từ 8 điểm trở lên được coi là lạmdụng rượu/bia
Tại Việt Nam, nghiên cứu đánh giá bộ công cụ AUDIT của PGS.TS.Kim Bảo Giang và các cộng sự thực hiện vào tháng 8/2005, trên 500 đốitượng tuổi từ 18-60 tại Ba Vì, Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy AUDIT
Trang 9hoàn toàn có thể được áp dụng tại các vùng nông thôn Việt Nam vì chỉ cầnmột khoảng thời gian ngắn để có thể hoàn thành một cuộc phỏng vấn sử dụngAUDIT, việc phỏng vấn dựa vào điều tra viên và rất dễ quản lý Các nghiêncứu viên sau khi thảo luận cũng đã đồng thuận rằng nội dung và ngôn từ củaAUDIT là phù hợp với việc xác định các vấn đến liên quan rượu/bia ở ViệtNam Đối tượng phỏng vấn có thể dễ dàng hiểu và trả lời được các câu hỏitrong AUDIT Đối với việc sàng lọc những người uống trong quần thể chung,nên sử dụng điểm chia 7/8 tức là những người có điểm AUDIT≥8 sẽ được xếpvào nhóm lạm dụng rượu/bia [22].
1.2 Tình hình sử dụng rượu/bia trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình sử dụng rượu/bia trên thế giới
1.2.1.1 Mức độ tiêu thụ
Mặc dù rượu/bia là những mặt hàng không được khuyến khích sử dụngnhưng trên thực tế nhu cầu tiêu dùng lại rất lớn và phổ biến ở mọi quốc gia,trừ những nước theo đạo Hồi Ước tính 1/3 dân số thế giới (hơn 2 tỉ người) có
sử dụng rượu; 80% số người trên 15 tuổi ở Tây Âu, Đông Âu và các nướcphát triển ở Tây Thái Bình Dương, 57% dân số ở các nước đang phát triển có
Trang 101.2.1.2 Mức độ sử dụng
Phần lớn những người uống rượu/bia thường không sử dụng hàng ngày.Theo kết quả về một nghiên cứu về sử dụng rượu/bia tại 12 quốc gia đangphát triển cho thấy 50% nam giới có uống rượu ít nhất 1 lần/tuần Người caotuổi có khuynh hướng sử dụng rượu/bia hàng ngày nhiều hơn so với nhómthanh niên Tại Scotland, 29% nam giới ở lứa tuổi 65-74 uống rượu trên 5lần/tuần Tỉ lệ này trong nhóm từ 16-24 tuổi chỉ có 9% [16]
Nam giới có khuynh hướng sử dụng rượu/bia nhiều hơn nữ giới Tuynhiên, tại các nước phát triển, nữ giới sử dụng rượu/bia cũng chiếm tỉ lệ cao
Ở Scotland, theo số liệu năm 2003 có 73% số nam giới và 59% số nữ giới trên
16 tuổi sử dụng rượu/bia; 16% nam giới và 8% nữ giới uống rượu/bia ít nhất
5 lần/tuần; Năm 2002, lượng rượu/bia tiêu thụ trung bình /người là 17,7 đơn
vị rượu/người đối với nam giới và 6,7 đơn vị rượu/người đối với nữ giới [14].Theo kết quả điều tra quốc gia hộ gia đình ở Mỹ, 84% dân số Mỹ (trên 12tuổi) đã từng uống rượu Tỉ lệ uống rượu ở nam là 69,8% và ở nữ là 61,5% ỞCanada, 82% nam giới và 76,8% nữ giới trên 15 tuổi có uống rượu [15] ỞNew Zealand, con số này ở nam giới và nữ giới lần lượt là 88% và 83%
Các nước đang phát triển, những người uống rượu/bia chủ yếu là namgiới Tại khu vực Đông Nam Á, ước tính khoảng 45% nam giới (>15 tuổi) có
sử dụng rượu, tỉ lệ này trong nhóm nữ là 5% 58,3% nam giới ở Ấn Độ cóuống rượu, số nữ giới uống rượu chỉ chiếm 1,5% Maylaysia là một quốc giaphần lớn dân số theo đạo hồi nhưng số liệu điều tra cho thấy 12% dân số cóuống rượu/bia, trong đó chủ yếu là nam giới Lào, 19,2% nam giới và 5,3%
nữ giới uống rượu/bia
Trang 111.2.1.3 Tuổi bắt đầu sử dụng rượu/bia
Trên thế giới, lứa tuổi uống rượu/bia nhiều nhất là 15-50 tuổi, trong đólứa tuổi 16-24 thường xuyên uống rượu Tuy nhiên, khuynh hướng sử dụngrượu/bia ở lứa tuổi vị thành niên ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu.Tuổi lần đầu uống rượu/bia cần được xác định bởi 2 lí do Thứ nhất, cácnghiên cứu cho thấy sử dụng rượu/bia ở lứa tuổi càng sớm thì nguy cơ saunày trở thành người nghiện rượu/bia càng cao [104] Thứ hai là những trẻ vịthành niên uống rượu/bia có nguy cơ cao bị các chấn thương không chủ địnhnguyên nhân có liên quan đến uống rượu/bia như tai nạn giao thông, ngã,bỏng, đuối nước Tuổi lần đầu uống rượu/bia bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vănhóa và xã hội Trẻ em trai có khuynh hướng sử dụng rượu/bia ở lứa tuổi nhỏhơn trẻ em gái .[16]
Tại Châu Âu, Trung tâm nghiên cứu về hành vi uống rượu/bia ở lứatuổi học sinh tiến hành điều tra 4 năm/lần ở 35 quốc gia trong khu vực chokết quả nam thanh niên lần đầu tiên uống rượu/bia ở lứa tuổi 13,6 và nữ thanhniên là 13,9 tuổi 95% thiếu niên ở tuổi 13 đã từng uống rượu, 5% thiếu niên
ở tuổi 11; 12% ở lứa tuổi 11 và 29% ở tuổi 15 uống rượu/bia hàng tuần
Ở Mỹ, 70% học sinh phổ thông trung học đã từng uống rượu/bia, mặc
dù tuổi được phép uống rượu/bia theo luật pháp là từ 18-21 tuổi (tùy theotừng bang); tuổi bắt đầu sử dụng rượu/bia là 13,1 tuổi [104]
Cộng hòa Séc, lứa tuổi lần đầu uống rượu/bia là 12 Scotland, số liệu năm
2004 cho thấy 67% trẻ nam và 69% trẻ nữ 13 tuổi đã từng uống rượu/bia, tăng10% so với năm 1990; con số này ở lứa tuổi 15 lần lượt là 86% với trẻ nam và90% với trẻ nữ [16]
Trang 12Tại Malaysia, 45% thanh niên dưới 18 tuổi thường xuyên uốngrượu/bia [174].
Đặc biệt tại một số quốc gia đang phát triển ở khu vực Nam Mỹ nhưPorto Alegre, Brazil, tuổi bắt đầu uống rượu/bia rất thấp: 10,1 tuổi(Pechansky và Barros,1995) Duy chỉ có ở những quốc gia theo đạo Hồi, Ttỉ
lệ thiếu niên 15 tuổi uống rượu/bia thấp
1.2.1.4 Các nhân tố làm gia tăng tình trạng lạm dụng rượu/bia
Theo TCYTTG, lạm dụng rượu/bia là việc sử dụng rượu/bia với mức
độ không thích hợp (phụ nữ, người trên 65 tuổi uống trên 14 đơn vị rượu mỗituần, hơn 2 đơn vị rượu mỗi ngày, hơn 1/2 đơn vị rượu mỗi giờ; nam giới 65tuổi trở xuống uống trên 21 đơn vị rượu mỗi tuần, hơn 3 đơn vị rượu mỗingày, hơn 1 đơn vị rượu mỗi giờ; trẻ em sử dụng rượu/bia) dẫn đến sự biến đổi
về chức năng của cơ thể hoặc xuất hiện dấu hiệu về lâm sàng ảnh hưởng có hạiđến sức khỏe người sử dụng hoặc sử dụng rượu/bia trong trường hợp pháp luậtnghiêm cấm
Cùng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi khu vực; lượngtiêu thụ rượu/bia cũng gia tăng do sự gia tăng về mức sống Giữa mức độ sửdụng rượu/bia với điều kiện kinh tế của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và từngcộng đồng luôn có mối tương quan chặt chẽ, đặc biệt là ở các nước đang pháttriển Quá trình toàn cần cầu hóa và tự do hóa thương mại đang diễn ra nhanhchóng cùng với quy luật thị trường; các công ty sản xuất và kinh doanhrượu/bia lớn trên thế giới đang hướng tới thị trường giàu tiềm năng tiêu thụ đó
là các quốc gia đang phát triển, nhất là các nước ở châu Á
Không chỉ thế, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán và chuẩn mực
Trang 13hành vi cũng là những nhân tố quan trọng chi phối trực tiếp tới mức độ lạmdụng rượu/bia của mỗi cá nhân cũng như từng khu vực Định kiến, quan niệmcủa cộng đồng về hành vi sử dụng rượu/bia của từng cá nhân có sự khác biệtrất rõ theo mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo
Uống rượu/bia là một hành động được chấp nhận và được coi là mộtnét văn hóa truyền thống của nhiều quốc gia Rượu/bia thường hay được sửdụng trong các dịp lễ, hội, các cuộc vui chơi giải trí, các sự kiện văn hóa, thểthao lớn Tại nhiều nước, mức độ tiêu thụ rượu/bia gia tăng mạnh vào nhữngngày công nhân được nhận lương, còn được gọi là “payday drinking”
1.2 12 Tình hình sử dụng rượu/bia tại Việt Nam
Sức tiêu thụ rượu/bia bình quân/người/năm cũng gia tăng Ước tính,mức tiêu thụ bia khoảng 15,8 lít (gần bằng 2/3 so với mức tiêu thụ trung bìnhtoàn thế giới); mức tiêu thụ rượu bình quân là 3,9 lít (mức chung của toàn cầu
là 6 lít) [223]
Bình quân mỗi người dân Việt Nam tiêu thụ gần 16 lít bia và 4 lít rượutrong một năm Hiện có khoảng 95,7% người sử dụng rượu/bia ở Việt Namthường xuyên uống các loại rượu/bia thủ công do tư nhận nhân tự nấu Sốlượng 90% rượu/bia trên thị trường do tư nhân nấu tương đương khoảng 250triệu lít/năm [223]
Các báo cáo nghiên cứu gần đây ở Việt Nam đều cho thấy tỉ lệ uống rượucủa nam giới cao hơn nữ giới Theo nghiên cứu của Đàm Viết Cương tiến hànhtrên 1.200 hộ gia đình tại 3 tỉnh cho thấy tỉ lệ nam (64%) và nữ (1%) [23]
Sự khác biệt về tỉ lệ sử dụng rượu/bia giữa các nhóm tuổi, các báo cáonghiên cứu khá thống nhất về xu hướng sử dụng rượu/bia theo nhóm tuổi Tỉ
Trang 14lệ nam giới uống rượu/bia tăng mạnh dưới 25 tuổi và đạt đỉnh cao ở nhómtuổi 35-45 và dưới 40% với độ tuổi về hưu Tuổi bắt đầu uống rượu thường từ
22 tuổi theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và chính sách y tế [235]
Theo nghiên cứu của Kim Bảo Giang và cộng sự, tại huyện Thanh Oai,
Hà Nội, tỉ lệ sử dụng rượu/bia trong 12 tháng chiếm 49,6% đối tượng phỏngvấn ở Ở nhóm nam, tỉ lệ có sử dụng rượu/bia là 79,8% còn ở nữ giới là17,4% Nhóm tuổi (26-45) có tỉ lệ sử dụng rượu/bia cao nhất (55,5%) Nhómtuổồi (16-25) có tỉ lệ sử dụng thấp nhất (35,4%) Ởở nhóm nam đặc biệtnhóm tuổi (26-45) có tỉ lệ sử dụng rượu/bia cao nhất (91,8%) Trong cácnhóm ngành nghề, nhóm thợ và công nhân có tỉ lệ sử dụng rượu/bia cao nhất(61,2%) Nam giới ở các nhóm học vấn và kinh tế cao hơn có tỉ lệ sử dụngrượu/bia cao hơn nhóm học vấn thấp và nhóm nghèo [8]
Trong số những người có sử dụng rượu/bia, tỉ lệ sử dụng rượu/biathường xuyên từ 4 lần trở lên/ 1 tuần là 22,7% ở nhóm nam có sử dụngrượu/bia, tỉ lệ nam uống rượu/bia một tuần từ 4 lần trở lên là khá cao (27%)
Nữ có sử dụng rượu/bia, chủ yếu chỉ uống trên 1 tháng 1 lần và mỗi lần chủyếu uống từ 1-2 cốc (97,8%) Tỉ lệ uống trung bình 1-2 cốc/ một lần uốngchiếm đa số (74,6%) Tỉ lệ uống nhiều từ 5 cốc chuẩn trở lên trong một lầnuống chung cho cả hai giới là 6,5%, ở nam là 8,1% [811]
Theo nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng về lạm dụng rượu, nghiện rượutại Quất Động cho thấy tuổi lạm dụng rượu tập trung chủ yếu ở lứa tuổi 35-44.Tuổi bắt đầu uống rượu chủ yếu từ 15-34 chiếm 75,19% Nam giới lạm dụngrượu là chủ yếu chiếm 99,22% Đối tượng lạm dụng rượu chủ yếu là làmruộng chiếm 82,95% Đây là một xã chủ yếu làm nghể nông nghiệp [7]
Trang 151.3 Ảnh hưởng của rượu/bia đối với sức khỏe
1.3.1 Lợi ích khi sử dụng rượu/bia đúng cách
Theo một số tài liệu khi uống rượu/bia đúng cách và phù hợp thì có một
số lợi ích cho sức khỏe [24] Rượu/bia có nồng độ thấp như bia hoặc rượuvang nếu uống điều độ từ 10-14 gram mỗi ngày có lợi rõ rệt như kích thíchtiêu hóa, phòng ngừa một số bệnh như tim mạch, các bệnh thoái hóa, quátrình lão hóa và một số bệnh ung thư
- Tim mạch: Cơ chế ngăn ngừa bệnh tim mạch của rượu nho và bia làmtăng L-HDL có lợi và làm L-LDL đồng thời phân hủy nhanh các chất làm hưhại thành mạch như homocystein Do đó rượu nhẹ có tác dụng ngừa đượcchứng xơ vữa động mạch vành và huyết khối
- Bệnh thoái hóa: Đối với quá trình lão hóa nhanh, rượu nho và bia cóthể ngăn ngừa nhờ tác dụng của chất phenolic có trong rượu vang đỏ và chấtphytooestrogen có trong bia có tác dụng ngăn ngừa loãng xương, ức chế cácchất hóa học có hại, chống lại quá trình oxy hóa, giảm quá trình thoái hóa
- Ngừa một số bệnh ung thư: Nhờ các chất phenolic, resveratrol kể trên.Theo các chuyên gia liều lượng rượu/bia thích hợp thay đổi theo cấutrúc di truyền, có người uống nhiều mà vẫn không ảnh hưởng đến sức khỏe,
do vậy họ đã khuyến cáo, liều lượng có lợi nhất cho sức khỏe dao động từ 14g mỗi ngày và chỉ nên uống lúc ăn hoặc đã uống là phải ăn [254]
10-1.3.2 Tác hại của rượu/bia
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh tác hại của rượu/bia đối vớisức khỏe con người như sau:
Trang 161.3.2.1 Hậu quả đối với sức khỏe cá nhân :
* Tác hại của rượu/bia với s ức khỏe theo nồng độ của rượu trong máu
Bảng 1.2 Tác hại của rượu/bia theo nồng độ
Nồng độ của rượu/bia trong máu
lẫn, say
>500 Liệt trung tâm hô hấp, ngừng tim,
chết do rượu tác dụng lên hành não
Nguồn: Sách giáo khoa Dược lý học, nhà xuất bản Y học Hà Nội
Bảng trên thể hiện tác dụng của rượu/bia với sức khỏe tăng lên khinồng độ rượu/bia trong máu tăng
Rượu là một chất được hấp thu nhanh, 90% qua màng ruột mà khôngcần tiêu hóa như thức ăn khác nên tác dụng của rượu có ngay chỉ sau 10 phútuống và đạt đỉnh cao trong máu chỉ sau 40-60 phút Khi nồng độ là 0,05 g/dL,người uống thấy bớt bị ức chế và tăng khả năng giao tiếp Khi nồng độ tănglên 0,4g/dL, người uống bắt đầu lơ mơ Khi nồng độ 0,5g/dL người rơi vào
Trang 17hôn mê Còn từ 0,6g/dL trở lên thì người uống bị liệt cơ hô hấp và tử vong.
Do vậy, hiện nay nồng độ rượu trong máu cho phép để lái xe tại phần lớn cácnước trên thế giới là từ 0,08-0,1g/dL [25]
Hậu quả lâu dài khi uống nhiều và uống liên tục đến sức khỏe
Nhiều nghiên cứu cho thấy, nghiện rượu gây ra các rối loạn:
- Dinh dưỡng: Làm tăng tỉ lệ mỡ, giảm tỉ lệ đường trong máu Rượu
có thể cung cấp một lượng calo nhất định không hề bổ sung protein,vitamin, muối khoáng cho cơ thể Lượng calo tức thời đó tạo ra một cảmgiác no, người uống mất hết cảm giác thèm ăn và cơ thể thiếu hụt nhữngchất dinh dưỡng cần thiết Rượu gây giãn mạch amus, đặc biệt là các mạchmáu bên ngoài, từ đó người ta có cảm giác ấm chỉnh nhiệt lượng tự nhiêncủa cơ thể không còn hiệu lực Uống cồn trong mùa đông có thể dẫn đếnlạnh cho đến chết
- Về thể chất: Các nghiên cứu đã đưa ra kết luận có mối liên quan giữa
sử dụng rượu với hơn 60 loại bệnh khác nhau [7][8] Rượu làm ứ đọng nhiềuchất mỡ ở gan, gây gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan, tràn dịch ổ bụng , cóthể gây viêm thực quản, dạ dày, chảy máu đường tiêu hóa, bệnh tim mạch,huyết áp cao Do rối loạn vận mạch não và thiếu hụt vitamin (thiamin) nênngười nghiện rượu thường có những tổn thương ở hệ thần kinh biểu hiện dướidạng viêm đa chi dưới, giảm thị lực hai mắt, viêm não kiểu Gayet-Wernickedẫn đến chứng quên kèm bịa đặt chuyện, rối loạn định hướng, nhận biết sailệch Nếu không được chữa trị kịp thời, tình trạng viêm não đó sẽ không phụchồi và trở thành bệnh tâm thần Sergei Korsakoff
- Vấn đề tâm lý: Lạm dụng rượu/bia là nguyên nhân gây ảnh hưởngtrực tiếp tới sức khỏe tâm thần với những biểu hiện cụ thể như: hoang tưởng,trì trệ trí tuệ, tâmn thần phân liệt và được xác định là một trong những nguyên
Trang 18nhân hàng đầu dẫn đến gánh nặng bệnh tậất lớn của rối loạn tâm thần Theo
số liệu của Bệnh viện Tâm thần Trung Ương, tỉ lệ bệnh nhân tâm thần dorượu/bia chiếm từ 5-6% bệnh nhân tâm thần [26] Lạm dụng rượu/bia còn làmngười sử dụng bị biến đổi về nhân cách và trí tuệ Trong báo cáo đánh giáchương trình mục tiêu của Bộ Y tế cho thấy, năm 2002-2003, điều tra trên
67380 người thì có 14,9% có biểu hiện tâm thần, trong đó 5,3% do rượu/bia.Theo một nghiên cứu của Phạm Quang Lịch, rối loạn trí nhớ ở bệnh nhânnghiện rượu mạn tính là 71,6% [27]
- Đối với phụ nữ mang thai: Mẹ có thai mà nghiện rượu thì con sinh ra
sẽ bị chậm phát triển tâm thần và thường bị rối loạn tâm lý, đồng thời cónhững biến dạng nhất định ở cơ thể, đặc biệt là ở đầu và mặt, đặc biệt nếu sửdụng rượu/bia trong thời gian mang thai có thể gây nên hội chứng rượu ở trẻ
sơ sinh (Fetal alcohol syndrom FAS) [284]
1.3 23 Hậu quả đối với sức khỏe cộng đồng :
Nghiện rượu xếp thứ 5 trong 10 nguy cơ đối với sức khỏe [1] Năm
2000, khoảng 3,2% dân số thế giới (1,8 triệu người) tử vong do những nguyênnhân liên quan đến sử dụng rượu Tại Châu Âu, rượu/bia là nguyên nhân tửvong của 63.000 người lứa tuổi 15-29 (năm 2002) Tử vong do chấnthương không chủ định và có chủ định liên quan đến sử dụng rượu chiếm40-60% Tại Mỹ, rượu là nguyên nhân thường gặp nhất gây tử vong ởnhóm tuổ3 i 25-45 Nghiện rượu là căn bệnh chính của 30% bệnh nhân nhậpvào viện tâm thần, 15-30% vào viện nội khoa và 80% vào khoa bỏng.Tổng cục thống kê Đức ghi nhận trong năm 2000 có 16.000 người chết vìuống rượu, trong số đó có 9.555 trường hộp hợp chết là do xơ gan Năm
2004, thanh tra về các chất gây nghiện của Chính phủ Đức đã báo cáo có
40000 trường hợp chết tại Đức do uống quá nhiều rượu, trong số đó có17.000 người là do xơ gan Thêm vào đó, hàng năm có khoảng 2200 trẻ
Trang 19sinh ra có khuyết tật vì người mẹ lạm dụng rượu [10 4 ].
Lạm dụng rượu/bia chiếm 4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, chỉ sau sửdụng thuốc lá (4,1%) và cao huyết áp (4,4%) Ở Châu Âu, 22% gánh nặngbệnh tật ở nam giới và 1,5% gánh nặng bệnh tật ở nữ giới nguyên nhân dorượu Hậu quả lạm dụng rượu chiếm 9,2% DALYs ở các quốc gia phát triển
và 6,3% DALYs ở những quốc gia đang phát triển, có tính đến các vấn đềnhư rối loạn tâm thần (nghiện rượu, trầm cảm, tâm thần do rượu) và nhữngchấn thương không chủ định (tai nạn giao thông, bỏng, ngã, đuối nước )nguyên nhân do rượu [104]
Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng: Nếu gia tăng mức bìnhquân sử dụng 1 lít rượu/người thì tỉ lệ tử vong sẽ tăng 1.,3% Lạm dụngrượu/bia là nguyên nhân gây giảm 9,8% tuổi thọ đối với nam giới ở các nướcđang phát triển [104][28]
Trang 20Bảng 1.3 Các bệnh có rượu là nguyên nhân
Bảng 1.3 Các bệnh có rượu là nguyên nhân
2 Rối loạn tâm thần và hành vi do rượu F10
Nguồn: Faculty of Health and Applied Social Sciences, Liverpool John
Moores University (2008)
Trang 21Bảng 1.4 Các bệnh mạn tính có liên quan đến rượu
9 Động kinh và trạng thái động kinh G40-G41
14 Đột quỵ do xuất huyết não I60-I62, I69.0-I69.2
15 Đột quỵ do nhồi máu não I63-I66, I69.3-I69.4
17 Hội chứng chảy máu dạ dày thực quản K22.6
Nguồn: Faculty of Health and Applied Social Sciences, Liverpool John
Moores University (2008)
Trang 22Bảng 1.5 Các chấn thương trực tiếp liên quan đến rượu
1 Tai nạn giao thông
2 Tai nạn giao thông khi đi bộ
4 Tại nạn giao thông đường hàng không V95-V97
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu :
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu :
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 tỉnh/ thành phố thuộc 3 miền Bắc,Trung và Nam Việt Nam là Thái Bình, Nghệ An, Kiên Giang
Mỗi tỉnh chọn 1 huyện và 01 quận/thị xã, trong mỗi quận/huyện/thị xãchọn 2 xã/phường có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương đồng
Trang 24- Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc
Việt Nam Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội110 km
về phía đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía tây nam TháiBình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phíatây bắc, Hải Phòng ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ở phía tây
và tây nam Phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ) Thái Bình được chiathành 7 huyện và 1 thành phố trực thuộc Năm 2011, Thái Bình có 1.786.000người với mật độ dân số 1.138 người/km² Thái Bình thuộc vùng duyên hảiBắc Bộ và mang những đặc trưng về kinh tế, văn hóa, chính trị của các tỉnhBắc Bộ [12]
Nghệ An thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía
nam giáp giáp tỉnh Hà Tĩnh Hà Tĩnh , , phía đông phía đông giáp giáp biểnĐông biển Đông , , phía tây bắc phía tây bắc giáp tỉnh tỉnh Huaphanh Huaphanh (Lào), ), phía tây phía tây giáp giáp tỉnh Xiengkhuang (Lào), phía tây nam giáptỉnh Borikhamxay (Lào) Nghệ An bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 3 thị xã và
17 huyện Dân số Nghệ An (theo điều tra dân số ngày 01/04/2009) có2.912.041người Trên toàn tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc cùng sinh sốngnhư người Thái, người Mường bên cạnh dân tộc chính là người Kinh Cùngthời điểm này Nghệ An có 37 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống Nghệ
An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu,đông; có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển [13]
Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu
Long ở µmiền Nam Việt Nam§ µmiền Nam Việt Nam§ Trung tâm tỉnh là thànhphố Rạch Giá, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía Tây Kiên Giangtiếp giáp Campuchia ở phía Bắc với đường biên giới dài 54 km và vịnh TháiLan ở phía Tây có đường bờ biển dài hơn 200 km Ngoài ra Kiên Giang có hơn
100 đảo lớn nhỏ ngoài biển Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Kiên Giang
Trang 25đạt gần 1.726.200 người, mật độ dân số đạt 272 người/km² Về dân tộc và tôngiáo, Kiên Giang là địa bàn cư trú của hơn 15 dân tộc khác nhau Trong
đó, người Kinh chiếm khoảng 85,5% Kiên Giang nằm tận cùng về phía tây namcủa Việt Nam, nơi giao thoa văn hóa của nhiều vùng miền cả nước, bản sắc vănhoá tỉnh nhà cũng vì thế mà có thể nói Kiên Giang là tỉnh mang những đặctrưng, nét tương đồng của các tỉnh phía Nam [14]
2.1.2 Thời gian điều tra thực địa: Từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2013
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Người dân từ 16 đến 60 tuổi trên địa bàn nghiên cứu 2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 262.4.2 Cách chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn được áp dụng Nhóm nghiêncứu lựa chọn tại 3 miền Bắc, Trung, Nam mỗi miền một tỉnh là Thái Bình,Nghệ An, Kiên Giang tham gia vào nghiên cứu.Tại mỗi tỉnh, có 2 quận/huyệnđược chọn, một quận thuộc thành thị và một huyện nông thôn Sau đó, tại mỗiquận/huyện này nhóm nghiên cứu sẽ chọn ngẫu nhiên 2 phường/xã để nghiêncứu Như vậy với 3 tỉnh có 12 xã/phường được lựa chọn và tại mỗiphường/xã, chọn 2 cụm đông dân cư nhất
Tại mỗi cụm, tiến hành chọn hộ gia đình theo phương pháp chọn mẫu
hệ thống, tức là cách 4-5 hộ lấy 1 hộ Hộ gia đình đầu tiên là hộ bắt đầu củacụm tính từ bên tay phải, đi hết bên phải tiếp tục vòng lại đi sang bên còn lại
Tại mỗi hộ gia đình, đối tượng được lựa chọn phỏng vấn theo bảngngẫu nhiên Kish
2.5 Biến số, chỉ số
- Đơn vị rượu/ cốc chuẩn:
Đơn vị rượu thường có từ 8-14gram rượu nguyên chất chứa trong dungdịch đó
Đơn vị rượu hay áp dụng nhất là: một đơn vị rượu tương đương với 10grượu nguyên chất chứa trong dung dịch uống
1 đơn vị rượu = 330ml bia 5% = 125ml rượu vang 1% = 75ml rượumạnh 20%= 40ml rượu mạnh 40%
- Sơ lược về bộ câu hỏi sàng lọc về rượu (AUDIT):
Bộ câu hỏi AUDIT gồm 10 câu hỏi, mỗi câu hỏi được cho điểm từ
0-4 điểm
Trang 27 Tổng số điểm của bộ câu hỏi AUDIT là 40.
Sử dụng AUDIT trong sàng lọc cộng đồng cho phép phân loại đốitượng thành 4 nhóm nguy cơ khác nhau, bao gồm:
Vùng nguy cơ I: Điểm AUDIT < 8
Vùng nguy cơ II: Điểm AUDIT từ 8-15
Vùng nguy cơ III: Điểm AUDIT từ 16-19
Vùng nguy cơ IV: Điểm AUDIT > 20
Trong nghiên cứu này điểm AUDIT từ 8 điểm trở lên được coi làlạm dụng rượu bia
- Lạm dụng rượu/bia là sử dụng rượu/bia với mức độ không hợp lý dẫn
đến sự biến đổi về chức năng hoặc xuất hiện dấu hiệu về lâm sàng Theo quychuẩn của TCYTTG, phụ nữ uống trên 14 đơn vị rượu/ tuần và trên 2 đơn vịrượu/lần; nam giới uống trên 21 đơn vị rượu/ tuần, hơn 3 đơn vị rượu/lần;người trên 65 tuổi uống trên 14 đơn vị rượu/tuần và hơn 2 đơn vị rượu/lầnđược coi là người lạm dụng rượu/bia [19]
- Các vấn đề liên quan đến sức khỏe: Trong nghiên cứu này, có hai vấn
đề sức khỏe cấp tính và mạn tính được xác định như sau: khi đối tượng phỏngvấn trả lời có một trong các vấn đề sức khỏe được xác định là có vấn đề sứckhỏe
+ Vấn đề sức khỏe cấp tính: Được xác định khi đối tượng nghiên cứu tựkhai báo bị một trong các vấn đề sau trong vòng 1 tháng trước khi phỏng vấn,đối tượng bị một trong các vấn đề sau:: Ho; sốt; khó thở; đau đầu, chóng mặt;nôn, buồn nôn; đau bụng, tiêu chảy; Nngứa, nổi mẩn, bệnh da; bồn chồn, lolắng, mất ngủ; tai nạn, chấn thương…
Trang 28+ Vấn đề sức khỏe mạn tính: Được xác định khi đối tượng nghiên cứu
tự khai báo Được xác định trong vòng 1 năm trước khi phỏng vấn, đối tượng
bị một trong các vấn đề như được trình bày tại bảng 1.3, 1.4, 1.5 trong vòngmột năm trước khi phỏng vấn
- Các vấn đề sức khỏe mạn tính liên quan đến rượu/bia
2.5.2 Các chỉ số trong nghiên cứu
Mục tiêu 1:
- Tỉ lệ % người dân sử dụng rượu/bia trong khoảng thời gian 12 tháng
- Tỉ lệ % sử dụng rượu/bia phân bố theo giới, nhóm tuổi, điều kiện kinh
tế, trình độ học vấn, nghề nghiệp
- Tỉ lệ % người dân lạm dụng rượu/bia trong12 tháng
- Tỉ lệ % người dân lạm dụng rượu/bia theo theo giới, nhóm tuổi, điềukiện kinh tế, trình độ học vấn, nghề nghiệp
Mục tiêu 2:
- Tỷ lệ % người dân mắc các vấn đề sức khỏe cấp tính và mối liên quangiữa tình trạng sử dụng rượu/bia với tình trạng mắc bệnh cấp tính
Trang 29- Tỷ lệ % người dân mắc các bệnh mạn tính có liên quan đến rượu vàmối liên quan giữa tình trạng sử dụng rượu/bia với tình trạng mắcbệnh mạn tính
2.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập thông tin là các mẫu phiếu phỏng vấn Phiếu phỏngvấn bao gồm các câu hỏi về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, thôngtin về sử dụng rượu/bia và các câu hỏi từ bộ câu hỏi AUDIT Phiếu phỏng vấnđược các nghiên cứu viên xây dựng có sự tham khảo các tài liệu quốc tế vàtrong nước Phiếu phỏng vấn được điều tra thử nghiệm trước khi sử dụngtrong nghiên cứu chính thức
2.7 Quá trình thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp cá nhân được thực hiện tại các hộ gia đình được chọn.Điều tra viên là sinh viên của các trường Đại học Y Thái Bình, Đại học Y Vinh,Cao đẳng Y tế Kiên Giang Tại mỗi tỉnh điều tra có 10 sinh viên được lựa chọn
và tập huấn để thực hiện phỏng vấn Quá trình điều tra được các nghiên cứu viên
và trợ lý nghiên cứu của trường Đại học Y Hà Nội giám sát
2.8 Quản lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi-info với các tệpCheck để hạn chế sai số Phần mềm Stata 10 được sử dụng trong xử lý vàphân tích số liệu Phân tích thống kế mô tả và phân tích được áp dụng
Các thuật toán như ManWhitney test, khi bình phương test, phân tíchhồi quy đa biến được áp dụng trong nghiên cứu
2.9 Sai số và khống chế sai số
Để hạn chế tối đa các sai số có thể xảy ra, nghiên cứu đã sử dụng các
Trang 30- Xây dựng phiếu phỏng vấn đơn giản, dễ hiểu, có thử nghiệm và chỉnhsửa trước khi sử dụng để đảm bảo sự phù hợp về ngôn ngữ và văn hóa.
- Điều tra viên được lựa chọn cẩn thận vVà tập huấn kỹ về mục tiêunghiên cứu, ý nghĩa của các câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn cho các điềutra viên
- Quá trình điều tra được lên kế hoạch chi tiết, giám sát nghiêm túc
- Số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập liệu
2.10 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được hội đồng khoa học trường Đại học Y Hà Nội
và Viện Đào tạo Y học dự phòng và y tế công cộng xét là luận văn tốt nghiệpThs Y tế công cộng
Các đối tượng được tham gia nghiên cứu được thông báo rõ về mụctiêu và nội dung nghiên cứu cũng như cách thức thực hiện Sự tham gia củacác đối tượng vào nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ
3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo các đặc trưng cá nhân
Trang 32
Nhận xét: Theo kết quả bảng 3.1, nam giới tham gia nghiên cứu cao hơn nữ
giới, tỉ lệ nam/nữ = 2,5 Đối tượng nghiên cứu phân bố tập trung ở nhóm tuổi(25-44) và (45-60), chiếm tỉ lệ là 43,1% và 50,1% Nông dân tham gia sốlượng lớn có tỉ lệ 41,0% và tiếp đó là các ngành nghề khác 33,8%, thấp nhất
là đối tượng học sinh chiếm tỉ lệ 0,3% Đa số đối tượng phỏng vấn là ngườidân tộc Kinh chiếm 93,9% và có trình độ văn hóa từ trung học cơ sở (36%),
và trung học phổ thông trở lên (32,1%) Tuy nhiên, vẫn có tỉ lệ mù chữ chiếm5,2% Về thu nhập, đối tượng được phân bổ đều trong các nhóm từ rất nghèotới rất giàu theo tiêu chuẩn phân loại Quintile
3.2 T hực trạngình hình sử dụng rượu bia
Biểu đồ 3.1.Tình hình sử dụng rượu/bia theo giới trong 12 tháng qua và từ
khi sinh ra cho đến thời điểm điều tra
Nhận xét: Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy, từ khi sinh ra tới nay, có tới 98,0%
đối tượng được điều tra có sử dụng rượu/bia trong đóTỉ lệ ở nam giới là
Trang 3398,1% và ở nữ giới là 97,6% TCòn trong vòng 1 năm qua có 85,9% đốitượng có sử dụng rượu/bia trong đó n Nữ giới chiếm tỉ lệ 87,1% và namchiếm 85,5%.
Trang 34Bảng 3 2 Tỉ lệ người dân đã sử dụng rượu/bia trong 12 tháng qua phân
bố theo các tỉnh và theo một số đặc điểm cá nhân và gia đình
Giới Nữ 124 85,5 0 176 88,9 0 137 86,2 0 437 87,1
Nam 395 86,8 0 368 91,5 0 347 78,7 0 1110 85,5 Nhóm
Trang 35Rất nghèo 129 86,6 0 68 86,1 0 98 74,2 0 295 81,9 0
Tổng 519 86,5 544 90,7 484 80,7 1547 85,9
Nhận xét: Kết quả bảng 3.2 cho thấy tỉ lệ sử dụng rượu/bia trong 12 tháng
qua chiếm 85,9% đối tượng phỏng vấn Nghệ An là tỉnh có tỉ lệ cao nhất90,7%, tỉ lệ nữ giới sử dụng rượu/bia (87,1%) cao hơn so với nam (85,5%)nhưng tỉnh Thái Bình và Nghệ An, nam giới lại chiếm tỉ lệ cao hơn so với
nữ giới là Thái Bình (86,8%), Nghệ An (91,5%) Nhóm tuổi sử dụng rượu/biacao nhất là nhóm (16-25) chiếm 87,0%, tiếp đó là nhóm (25-44) chiếm86,5% Tuy nhiên Nghệ An, nhóm tuổi sử dụng rượu/bia nhiều nhất thuộcnhóm (25-44) chiếm 90,9% Trong các ngành nghề, nhóm ngành nghề thợ,công nhân chiếm chiếm tỉ lệ cao nhất 90,2% Tại Thái Bình, nhóm ngànhnghề cán bộ chiếm tỉ lệ cao nhất là 96,9%, ở Nghệ An nhóm buôn bán chiếm92,2% còn tại Kiên Giang nhóm thợ, công nhân chiếm tỉ lệ 92,5% Tỉ lệ sửdụng rượu/bia ở nhóm có trình độ văn hóa trung học phổ thông trở lên chiếm
tỉ lệ cao nhất 86,4% Những người chưa kết hôn có tỉ lệ sử dụng rượu/bia(86,1%) cao hơn so với những người đã kết hôn (84,7%) Nhóm thu nhậpphân loại theo Quintile, tỉ lệ sử dụng rượu/bia tương đối đồng đều
Trang 36Biểu đồ 3.2 Tần suất say xỉn do rượu/bia theo tỉnh
Nhận xét:
Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy tần suất không bao giờ say xỉn chiếm tỉ lệcao nhất (72,9%), tần suất hàng ngày/gần như hàng ngày say xỉn chiếm tỉ lệthấp nhất 0,4% Trong 3 tỉnh thì tần suất say xỉn trên 1 tháng/lần ở KiênGiang là chiếm tỉ lệ cao nhất (36,9%)
Bảng 3.3 Tình hình lạm dụng rượu/bia trong 12 tháng qua theo vùng và