ĐẶT VẤN ĐỀĐất nước phát triển theo hướng toàn cầu hóa và hội nhập Quốc tế đã đemđến cho nước ta nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển cả về chính trị, kinh tế,văn hóa và xã hội, đồng thời
Trang 1NGUYỄN THỊ THÙY LINH
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM SỬA DỤNG ĐA CHẤT TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN LIÊN QUAN SỬ DỤNG CHẤT ĐIỀU
TRỊ NỘI TRÚ TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 – 2016
Hà Nội – 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ THÙY LINH
MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM SỬA DỤNG ĐA CHẤT TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN LIÊN QUAN SỬ DỤNG CHẤT ĐIỀU
TRỊ NỘI TRÚ TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010 – 2016
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
ThS BÙI VĂN SAN
Hà Nội – 2016
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo đạihọc, bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội, Đảng ủy, Ban Giám đốcBệnh viện Bạch Mai, Viện Sức khỏe Tâm thần đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôitrong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ths Bs Bùi Văn San, bác sĩ điều trị phòng M7, Viện Sức khỏe Tâm
thần, giảng viên bộ môn Tâm thần, trường đại học Y Hà Nội, người thầy rấttâm huyết đã trực tiếp hướng dẫn tôi Thầy đã tận tình chỉ bảo kiến thứcchuyên ngành, quan tâm hướng dẫn và liên tục động viên tôi vượt qua mọikhó khăn để thực hiện luận văn này
TS Nguyễn Văn Tuấn, chủ nhiệm Bộ môn, cùng các thầy, cô trong Bộ
môn Tâm thần và toàn thể các anh, chị nhân viên Viện Sức khỏe Tâm thần, đãcho phép và tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu trong suốt quátrình làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người
đã luôn bên cạnh khích lệ và giúp đỡ tôi trong học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Hà Nội, Ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 4liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trước đây.Nếu có gì sai sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 5ATS Amphetamine type stimulants ( Các chất kích thích dạng
Amphetamin)DSM - IV Diagnostic and Statistical Manual of Mental Diseases (4rd ed.)
(Sách hướng dẫn Chẩn đoán và Thống kê các bệnh tâm thần- lần 4)EMCDDA European Monitoring Centre for Drugs Addiction
( Trung tâm giám sát về nghiện chất Châu Âu)FDA Food and Drug Administation
( Cục Quản lý thuốc và thực phẩm của Mỹ)ICD 10 International Classification of Diseases 10th
(Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10)NHSDA The National Household Survery on Drug Abuse
( Cơ quan điều tra quốc gia về lạm dụng chất Hoa Kỳ)NMPDU Nonmedical prescriptipn drug use
( Sử dụng thuốc kê đơn không vì mục đích y tế )UNODC United Nations Office on Drugs and Crime
( Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp Quốc )VDAP Vietnamese Drug and Alcohol Professionals inc
( Hội chuyên viên Việt Nam về ma túy và rượu)VSKTT Viện Sức khỏe Tâm thần
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 TÌM HIỂU VỀ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN VÀ KHÁI NIỆM ĐA CHẤT 3
1.1.1 Tìm hiểu về các chất gây nghiện 3
1.1.2 Khái niệm đa chất 4
1.2 TỶ LỆ SỬ DỤNG ĐA CHẤT 5
1.3 NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG ĐA CHẤT 6
1.3.1 Nguyên nhân sử dụng các chất gây nghiện 6
1.3.2 Nguyên nhân sử dụng đa chất 7
1.4 MỘT SỐ CHẤT GÂY NGHIỆN THƯỜNG SỬ DỤNG 8
1.4.1 Các chất dạng thuốc phiện 8
1.4.2 Các chất dạng amphetamin 10
1.4.3 Cần sa 13
1.4.4 Rượu và các sản phẩm chứa cồn 14
1.4.5 Ketamin 16
1.4.6 Cocain 17
1.5 CÁCH THỨC SỬ DỤNG CÁC CHẤT 18
1.5.1 Sử dụng qua đường ăn, uống 18
1.5.2 Sử dụng qua đường tiêm chích 18
1.5.3 Sử dụng qua đường hút, hít 19
1.5.4 Sử dụng qua đường hít sâu 19
1.5.5 Sử dụng qua đường viên đạn 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 20
2.2 TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU: 20
2.2.1 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.2.2 Tiêu chuẩn đạo đức 20
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 20
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 21
2.3.3 Qui trình tiến hành nghiên cứu 21
2.3.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 21
Trang 73.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23
3.1.1 Đặc điểm về giới của đối tượng nghiên cứu: 23
3.1.2 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu: 23
3.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu: 24
3.1.4 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu: 24
3.1.5 Đặc điểm về hoàn cảnh gia đình của đối tượng nghiên cứu: 25
3.2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG ĐA CHẤT 25
3.2.1 Đặc điểm về tuổi bắt đầu sử dụng chất 25
3.2.2 Đặc điểm về các chất được sử dụng và thời gian sử dụng các chất đó 26
3.2.3.Đặc điểm mô hình sử dụng đa chất: 27
3.2.4 Đặc điểm cách thức sử dụng đa chất: 30
Chương 4: BÀN LUẬN 33
4.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 33
4.1.1 Đặc điểm về giới 33
4.1.2 Đặc điểm về tuổi 33
4.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn 34
4.1.4 Đặc điểm về nghề nghiệp 35
4.1.5 Đặc điểm về hoàn cảnh gia đình 35
4.2 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC CHẤT 36
4.2.1 Đặc điểm về tuổi bắt đầu sử dụng chất: 36
4.2.2 Đặc điểm các chất sử dụng: 37
4.2.3 Đặc điểm mô hình sử dụng đa chất 39
4.2.4 Đặc điểm cách thức sử dụng đa chất: 41
KẾT LUẬN 45
KIẾN NGHỊ 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số 21
Bảng 3.1 Giới tính của đối tượng nghiên cứu 23
Bảng 3.2 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 23
Bảng 3.3 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.4 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.5 Hoàn cảnh gia đình của đối tượng nghiên cứu 25
Bảng 3.6 Tuổi bắt đầu sử dụng chất: 25
Bảng 3.7 Các chất và thời gian sử dụng 26
Bảng 3.9 Số chất dùng kết hợp 28
Bảng 3.10 Tần suất sử dụng 30
Bảng 3.11 Địa điểm sử dụng: 31
Bảng 3.12 Cách thức sử dụng các chất 32
Trang 9Biểu đồ 3.1 Mô hình sử dụng 2 chất 29 Biểu đồ 3.2 Mô hình sử dụng 3 chất 29
Biểu đồ 3.3 Đối tượng sử dụng chung 31
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước phát triển theo hướng toàn cầu hóa và hội nhập Quốc tế đã đemđến cho nước ta nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển cả về chính trị, kinh tế,văn hóa và xã hội, đồng thời cũng đặt nước ta trước những nguy cơ lây nhiễmbệnh tật nguy hiểm, xuất hiện nhiều loại hình giải trí đi kèm với các tệ nạn xãhội nổi bật là vấn đề sử dụng các chất gây nghiện (thuốc phiện, các chất dạngamphetamin, ketamine, rượu, cocain…) [1]
Hiện nay, các chất gây nghiện xuất hiện ngày càng nhiều Các chất gâynghiện tác động vào hệ thần kinh trung ương, gây biến đổi hoạt động chức năngcủa não bộ, nếu sử dụng lặp lại nhiều lần sẽ dẫn đến trạng thái lệ thuộc, thèmmuốn, gây nghiện chất [2] Tác hại của nghiện chất là vô cùng nghiêm trọng:làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động học tập, làm tổn hại thầnkinh, nghiện chất có thể dẫn tới tử vong Đặc biệt, người nghiện chất lâu ngày sẽdẫn tới thay đổi nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả, dễ vi phạmpháp luật, gây hậu quả nặng nề cho bản thân, gia đình và xã hội
Thuật ngữ “sử dụng đa chất” được biết đến rộng rãi hơn bằng mô tả việc
sử dụng nhiều hơn một chất trong một thời gian xác định, đồng thời hoặc vàocác thời điểm khác nhau cho mục đích điều trị hoặc giải trí [3] Nhiều nghiêncứu chỉ ra rằng số lượng người sử dụng một chất gây nghiện duy nhất đangtrở nên ít đi, dần dần đi theo xu thế sử dụng đa chất Chẳng hạn như báo cáothường niên năm 2010 về vấn đề sử dụng ma túy ở các nước Châu Âu củatrung tâm giám sát về ma tủy và thuốc phiện Châu Âu 2010 (EuropeanMonitoring Centre for Drugs Addiction- EMCDDA 2010) cho thấy đa chấtđang ngày càng trở thành xu hướng và được sử dụng khá phổ biến trong xãhội hiện nay [4]
Trang 11Cũng theo EMCDDA (2009), tỷ lệ người dùng đa chất gần 40% ở cácquốc gia phát triển, 36% ở các nước đang phát triển và các nước chậm pháttriển tỷ lệ này là 22,5% trong tổng số những người có sử dụng các chất gâynghiện [5] Ở nước ta trong những năm gần đây, sử dụng đa chất cũng đangdần phổ biến hơn ở cộng đồng, đặc biệt là các thành phố lớn, và sự ảnh hưởngcủa nó ngày càng nghiêm trọng.
Trên Thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đa chất, như năm
2013, công trình nghiên cứu khảo sát quy mô lớn về sử dụng đa chất đã đượcthực hiện tại Mỹ, Anh, Úc, Đan Mạch và các nước Mỹ La tinh Ở Việt Namchưa có nhiều nghiên cứu về sử dụng đa chất, đặc biệt là đánh giác việc sửdụng đa chất trên các bệnh nhân có rối loạn tâm thần liên quan sử dụng chất
Chính vì vậy ,chúng tôi chọn đề tài : “Mô tả đặc điểm sử dụng đa chất trên bệnh nhân rối loạn tâm thần liên quan sử dụng chất điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần” với mục đích:
1 Mô tả được đặc điểm đối tượng sử dụng đa chất ở bệnh nhân rối loạn tâm thần liên quan sử dụng chất.
2 Mô tả được đặc điểm sử dụng đa chất ở bệnh nhân rối loạn tâm thần liên quan sử dụng chất.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 TÌM HIỂU VỀ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN VÀ KHÁI NIỆM ĐA CHẤT
1.1.1 Tìm hiểu về các chất gây nghiện
Chất gây nghiện là những chất tác động vào hệ thần kinh trung ương,gây biến đổi các hoạt động chức năng của não bộ, nếu sử dụng lặp lại nhiềulần sẽ dẫn đến trạng thái lệ thuộc vào chất đó [2]
Dựa vào tác dụng lâm sàng, chất gây nghiện có thể được chia thành các nhóm sau:
a Các chất gây yên dịu:
Rượu
Các chất giải lo âu, gây ngủ: benzodiazepam, barbituric…
Các chất dạng thuốc phiện: thuốc phiện, heroin, morphin, codein, fentanyl, methadone…
b Các chất kích thần:
Nicotin, Cafein
ATS: amphetamine, Pervitin, methylphenidate (Ritalin),
methamphetamine (ice, đá, pha lê)…
Cocain và các chế phẩm
c Các chất kích thần gây ảo giác:
Ecstasy, MDMA: 3, 4 – Methylenedioxy methamphetamine, “E”,
“X”, thuốc lắc
d Các chất yên dịu gây ảo giác:
Các dung môi hữu cơ (các chất tẩy, dung dịch hòa tan…)
GHB (gamma hydroxyl butyrate), Ketamin…
Trang 13Cannabis (cần sa, tài mà)
e Các chất gây ảo giác:
LSD 25 và các chất tương tự, PCP, một số nấm độc [2]
Dựa vào tính chất pháp lý, các chất gây nghiện được sử dụng chủ yếu ởViệt Nam bao gồm các chất gây nghiện hợp pháp như rượu, thuốc lá và cácchất gây nghiện bất hợp pháp như các chất dạng thuốc phiện, các chất kíchthần dạng amphetamine, cannabis (cần sa, tài mà), các chất gây ảo giác, cácdung môi hữu cơ…đang ngày càng phổ biến [2]
Tuy nhiên, tình hình sử dụng các chất gây nghiện hiện nay vẫn diễn biếnphức tạp bất chấp các nỗ lực kiểm soát của các cơ quan Nhà nước Theo Báocáo Tình hình Ma túy toàn cầu năm 2014 của Cơ quan Phòng chống Ma túy
và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), tỷ lệ sử dụng ma túy trên toàncầu vẫn tiếp diễn không có nhiều xáo trộn với khoảng 243 triệu người - tươngđương với 5% dân số thế giới ở độ tuổi từ 15-64 đã từng sử dụng các chất matúy trái phép trong năm qua Trong khi đó số người lệ thuộc ma túy chiếmkhoảng 27 triệu người, chiếm xấp xỉ 0,6% dân số trưởng thành trên toàn cầuhay cứ mỗi 200 người thì có một người lệ thuộc ma túy [6]
1.1.2 Khái niệm đa chất
Theo Diagnostic and Statistical Manual of Mental Diseases 4rd ed - DSM
IV (Sách hướng dẫn Chẩn đoán và Thống kê các bệnh tâm thần) định nghĩa sửdụng đa chất được chẩn đoán bởi sử dụng 3 chất hoặc nhiều hơn, (trừ nicotine
và caffeine), trong đó không có chất nào nổi trội hơn chất nào [7]
Theo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (International Classification
of Diseases 10th – ICD 10), chẩn đoán đa chất khi bệnh nhân sử dụng từ 2 chấttrở lên và không chất nào nổi trội hơn chất nào [8]
Trang 14Một số quan điểm của châu Âu như Collins, Ellickson, Bell ( 1998): sửdụng đa chất là sử dụng đồng thời 2 hoặc nhiều chất trở lên trong một giaiđoạn nhất định (1 tuần, 1 tháng hoặc 1 năm) [9].
Thực tế tại Viện Sức khỏe Tâm thần (VSKTT), bệnh nhân vào điều trịvới những triệu chứng tâm thần (hoang tưởng, ảo giác, hưng cảm, trầm cảm,kích động…) do sử dụng chất, qua khai thác bệnh sử phát hiện bệnh nhân sửdụng kết hợp nhiều chất (chất dạng thuốc phiện với metamphetamin, cannabisvới metamphetamin…) [10],[11]
1.2 TỶ LỆ SỬ DỤNG ĐA CHẤT
Theo EMCDDA (2009), có khoảng 30% học sinh lứa tuổi 15 – 16 ở 22trường tại các nước châu Âu năm 2003 báo cáo sử dụng cả rượu và thuốc lá 1trong tháng trước, 6% sử dụng cannabis với rượu hoặc thuốc lá hoặc cả 2 và
có 1% sử dụng ectasy, cocain, amphetamin, LSD hoặc heroin kèm theo Tỷ lệngười dùng đa chất gần 40% ở các quốc gia phát triển, 36% ở các nước đangphát triển và các nước chậm phát triển tỷ lệ này là 22,5% trong tổng số nhữngngười có sử dụng các chất gây nghiện [5]
Theo nghiên cứu của Cheng Hiu Wan, Keens trên những người có sửdụng chất gây nghiện tại Hong Kong, có 18,7% người sử dụng 2 chất gâynghiện trong tổng số người sử dụng, 3,8% sử dụng 3 chất và 1,5% sử dụngnhiều hơn 3 chất [12]
Trong năm 2013 đã có nhiều nghiên cứu lớn khảo sát mô hình sử dụngcác chất gây nghiện tại Mỹ, Anh, Úc, Đan Mạch và các nước Mỹ La Tinh, môhình này dựa theo tuổi, tỷ lệ thời gian sử dụng và các chất kết hợp cùng nhau.Phân tích theo kiểu lớp ( LCA - Latent class analysis ) chia thành các nhóm,
có sự giao nhau lớn giữa các nhóm cho thấy tỷ lệ sử dụng đa chất ngày cànggia tăng Các nghiên cứu về việc sử dụng đa chất trong quần thể thanh thiếuniên và người trưởng thành trẻ tuổi cho thấy tỷ lệ sử dụng đa chất ở thanh
Trang 15thiếu niên là khá cao và có xu thế gia tăng hơn, từ 18% (trong độ tuổi từ
12-17 tuổi) và 34% (trước 16 tuổi) Mô hình sử dụng đa chất ở nhóm ngườitrưởng thành trẻ tuổi ít thay đổi những năm gần đây, nhóm người có độ tuổicao hơn cũng được báo cáo sử dụng đa chất trong 12 tháng qua [13],[14]
Sử dụng thuốc kê đơn không có mục đích y tế (Nonmedical prescriptipndrug use - NMPDU) cũng là một vấn đề đang được đặt ra Trong cuộc khảosát quốc gia Mỹ về việc sử dụng thuốc và sức khỏe, có 6,3% báo cáo sử dụngNMDPU Tỷ lệ này cao hơn ở những người 18-25 năm tuổi (14,4-15,5%), 12-
17 tuổi (7,8-8,7%) và những người từ 26 tuổi trở lên (3,8-4,8%) Người tanhận thấy rẳng những người có sử dụng NMPDU có tỷ lệ sử dụng đa chất caohơn bình thường [3]
Thực tế tại Việt Nam, tác giả Bùi Văn San nghiên cứu thực trạng sửdụng các chất dạng amphetamin tại cộng đồng cho thấy có 11,5% sử dụng kếthợp ATS với heroin, 19,3% sử dụng kết hợp với cần sa [10] Nghiên cứu kháctại VSKTT, bệnh nhân vào viện do rối loạn tâm thần liên quan sử dụng ATSthì tỷ lệ sử dụng kết hợp với chất khác cũng rất cao, với rượu (60,6%), heroin
(39,4%), cần sa (30,3%), ketamin (15,2%) [11].
1.3 NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG ĐA CHẤT
1.3.1 Nguyên nhân sử dụng các chất gây nghiện
Có rất nhiều nguyên nhân khiến một người bắt đầu tìm đến sử dụng vàduy trì sử dụng các chất gây nghiện, tuy nhiên chúng ta có thể chia làm cácnhóm nguyên nhân chính sau:
Sử dụng các chất gây nghiện để vui vẻ, phê sướng, khoái cảm: người sửdụng muốn được trải nghiệm những cảm giác vui sướng, khoái cảm, dễ chịu
do chất gây nghiện đem lại [15]
Trang 16Sử dụng các chất gây nghiện để quên: người sử dụng muốn quên các vấn
đề tâm lý (chán nản, trầm cảm, lo lắng, buồn, hoặc hoàn cảnh thực trạng hiệntại của bản thân )
Sử dụng các chất gây nghiện để cải thiện chức năng: người sử dụngmuốn đạt được sự tỉnh táo, tăng khả năng hoạt động thể chất (các vận độngviên thường sử dụng dopamine để tăng cường thể trạng trong các đợt thiđấu…) nhằm mục đích làm việc, học tập tốt hơn, tránh hội chứng cai, trảinghiệm tác dụng giảm đau đối với cảm giác đau thực thể…
Sử dụng các chất gây nghiện vì tính tò mò và mạo hiểm của lứa tuổithanh thiếu niên, muốn chứng tỏ bản thân, thử cảm giác lạ hay do sự rủ rê củabạn bè [15]
Ngoài các nhóm nguyên nhân chính kể trên, với một số chất, việc sửdụng có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân khác như truyền thống văn hóa, lễhội hay nghi lễ Ví dụ như rượu từ lâu đã trở thành một phần trong đời sốngvăn hóa của người dân Việt Nam, như chén rượu cúng tổ tiên, hay các dịphiếu hỉ, hay hút thuốc phiện trước đây là một phần trong phong tục tập quáncủa các dân tộc miền núi phía Bắc
1.3.2 Nguyên nhân sử dụng đa chất
Sử dụng để làm tăng tác dụng bằng cách kết hợp các chất có cùng tácđộng trên thần kinh trung ương như rượu và benzodiazepine, thuốc giải lo âu– thuốc ngủ [3]
Các chất với tác động thần kinh khác nhau có thể được sử dụng để tăngcảm giác của từng chất Ví dụ: thuốc phiện và thuốc an thần, chất kích thích
và thuốc phiện hay chất kích thích và chất gây ảo giác [3]
Các chất được sử dụng đồng thời hoặc tuần tự để cải thiện các tác độngkhông mong muốn của thèm muốn hay cai thuốc Ví dụ: chất kích thích được
Trang 17sử dụng để làm giảm cảm giác buồn bực, Benzodiazepine được dùng để làmgiảm triệu chứng cai như lo âu, kích động [3].
Người sử dụng cũng đánh giá được chi phí, tác dụng từng thuốc, việc sửdụng chúng liên quan mật thiết bởi giá và các chế phẩm sản xuất được cungcấp trên thị trường
Thực tế các chất ma túy mà Bộ Công An thu giữ được khi các đối tượng
sử dụng thường là chế phẩm kết hợp nhiều chất với nhau, như ectasy vớicaffeine, amphetamin với ketamin…
1.4 MỘT SỐ CHẤT GÂY NGHIỆN THƯỜNG SỬ DỤNG
1.4.1 Các chất dạng thuốc phiện (opioid)
1.4.1.1 Định nghĩa
Các chất dạng thuốc phiện là tên gọi chung cho nhiều chất, có biểu hiệnlâm sàng tương tự và cơ chế tác động vào cùng điểm tiếp nhận (recepter)tương tự ở não
Một số loại thuốc gây nghiện trong nhóm chất dạng thuốc phiện này baogồm thuốc phiện, heroin, morphine và codein Ngoài ra còn có một số chất dạng
thuốc phiện khác do con người tổng hợp nên như pethidine và methadone.
Thuốc phiện là chất lấy từ nhựa của vỏ quả cây thuốc phiện (hay cây hoaanh túc) Thuốc phiện là chất gây nghiện từ xa xưa, được sản xuất trong nước
ta, được dùng lâu đời nhất
Morphin là hoạt chất chủ yếu của thuốc phiện, có tác dụng dược lý cơbản giống thuốc phiện
Heroin là chất bán tổng hợp từ morphin, có tác dụng nhanh và mạnh hơnmorphin vì thế từ khi xuất hiện nó nhanh chóng trở nên phổ biến, thay thế chomorphin Hiện nay, heroin là chất gây nghiện được sử dụng nhiều nhất trongnhóm các chất dạng thuốc phiện, là một trong những chất ma túy gây tác hạinhiều nhất cho loài người [2],[15]
Trang 181.4.1.2 Cơ chế tác dụng
Các chất dạng thuốc phiện khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành morphinrồi vào máu Thời gian bán hủy của morphin trong máu khoảng 2giờ, sau 24giờ khoảng 90% morphin bài tiết ra ngoài, chỉ một lượng nhỏ morphin vào hệthần kinh trung ương và đến các điểm tiếp nhận morphin ở não, từ đó thôngqua các dẫn truyền đến các vùng của cơ thể gây nên nhiều tác dụng khác nhau[2],[15],[16]
Tác dụng giảm đau: morphin ức chế vỏ não và các trung khu ở gian não,
ức chế cảm giác đau một cách đặc hiệu và chọn lọc thông qua hoạt hóa (đượcgọi là đồng vận) các thụ thể chất gây nghiện đặc biệt là thụ thể μ có ở tủysống và các trung tâm thần kinh trên tủy khác Bởi vậy, morphin và các opiatkhác được gọi là thuốc giảm đau trung ương Đây là tác dụng quan trọng nhấtcủa morphin và các chất dạng thuốc phiện [15],[16]
Tác dụng gây sảng khoái: Tâm thần hoàn toàn êm dịu, quên mọi ưu tư,phiền muội [2],[15]
Tác dụng trên hô hấp: Liều thấp gây kích thích hô hấp Liều cao gây ứcchế hô hấp, gây thở chậm và sâu Ngoại ra, morphin còn ức chế cùng trungtâm gây ho, có tác dụng giảm ho [2],[16]
Các tác dụng khác: kích thích trung khu gây nôn, co đồng tử, hạ thân nhiệt, ngoài ra còn gây giảm tiết dịch, liều cao gây hạ huyết áp…[16]
Trong các tác dụng của các chất gây nghiện, tác dụng gây sảng khoáikhiến người dùng sử dụng và gây ra tình trạng nghiện, từ đó dẫn tới trạng thái
lệ thuộc vào các chất mà chủ yếu và nghiêm trọng là lệ thuộc về mặt tâm thần[2],[15]
1.4.1.3 Tỷ lệ và sử dụng
Trang 19Theo số liệu dịch tễ của Mỹ công bố năm 1991 ( DSM- IV) có khoảng1.3% dân số sử dụng heroin ít nhất 1 lần, có khoảng 600.000 người nghiệncác chất dạng thuốc phiện [7] Tỷ lệ sử dụng trên thế giới năm 2014 là 0,7%trong số người trưởng thành (32,4 triệu người sử dụng) [6] Tại Việt Nam,theo nghiên cứu của Hội chuyên viên Việt Nam về ma túy và rượu năm 2012(Vietnamese Drug and Alcohol Professionals inc – VDAP) việc sử dụngheroin đã thay thế cho các chất dạng thuốc phiện hiện, có tới 96,5% người sửdụng chất gây nghiện có sử dụng heroin Năm 1994, thuốc phiện là loại matúy được sử dụng nhiều nhất chiếm 86%, nhưng đến năm 2000, 80% là ngườidùng heroin [17] Tuy nhiên hiện nay, tỷ lệ sử dụng heroin cũng đang có xuhướng giảm dần, thay vào đó là các loại ma túy mới.
Heroin được sử dụng theo nhiều đường dùng khác nhau, tác dụng của heroin phụ thuộc nhiều vào đường sử dụng Tiêm tĩnh mạch là đường sử dụngthuốc để tác động nhanh và mạnh nhất, tiếp theo là hút, hít, sử dụng viên đạn, hít sâu, ăn trực tiếp [2],[15]
1.4.2 Các chất dạng amphetamin
1.4.2.1 Định nghĩa
Các chất dạng Amphetamin (Amphetamine type stimulants - ATS) làtên gọi chung của một nhóm chất kích thích có cấu trúc hóa học dạngAmphetamin
a Amphetamin: Là chất tổng hợp, được coi là chất giống giao cảm, chấtgây kích thích, chất hưng thần Các chế phẩm của Amphetamin chính hiện cóphổ biến là :
Methamphetamin: tinh chất là Ice, hàng đá,…
Dextroamphetamine (Dextrine)
Methylphenidate (Ritalin)
Trang 20Trong đó, Metamphetamin là dạng Amphetamin tổng hợp, được sử dụngphổ biến ở các nước châu Á (Thái Lan, Nhật, Hàn Quốc…) gần đây cũng phổbiến ở châu Âu, châu Mỹ, Australia [18] Theo UNODC năm 2014 dự đoándạng tinh chất Ice sẽ là dạng ma túy được sử dụng phổ biến nhất trong vòng5-10 năm tới đây [18],[19].
b Các chất dạng Amphetamin: các chất này bao gồm:
3-4 Methylen dioxy Methamphetamin (MDMA): Adam,ectassy.N-ethyl-3-4methylen dioxy Amphetamin (MDEA): Eva
5-Methoxy-3-4-methylen dioxy Amphetamin (MMDA)
5 Dimethyloxy-4 methylamphetamin (DOM).
1.4.2.2 Cơ chế tác dụng
Amphetamin làm tăng hoạt tính của hệ Catecholamin (Noradrenalin vàDopamin) ở các mạt đoạn thần kinh trước synapse Tác dụng này đặc biệtmạnh ở các neuron hệ Dopaminergic từ vùng mái bụng phóng chiếu đến hệviền, vỏ não Sự hoạt hóa con đường dẫn truyền này được coi là cơ chế chủyếu gây nghiện Amphetamin
Các chất dạng Amphetamin làm tăng cả hoạt tính Catecholamin vàSerotonin Serotonin được coi là chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò chủyếu gây ra ảo giác, gây ra cảm giác phiêu diêu, huyền ảo, say đắm
Các cơ chế tác động là tăng giải phóng các monoamin vào khe synapse,
ức chế tái hấp thu các monoamin, ức chế phá hủy monoamin bởi MAO [20]
Tùy theo mức độ sử dụng ATS có thể gây nên các tác động cả về thểchất lẫn tâm thần khác nhau:
Liều đầu tiên 5mg Amphetamin cũng có thể gây ra cảm giác “Phê”,khoái cảm, tăng khí sắc, thân thiện Liều nhỏ hơn làm tăng sự chủ ý, tăng hiệusuất làm việc (viết, nói…), giảm mệt mỏi, chán nản, tăng ngưỡng kích thíchđau, tăng hoạt động tình dục và tăng năng lượng… Các chất giống
Trang 21Amphetamin có thể gây ảo giác, rối loạn định hướng, méo mó tri giác, cảmgiác say đắm, thấy ánh hào quang rực rỡ còn đợc gọi là các chất gây ảo giác
và là chất ma tuý thực sự [2],[21],[22],[23]
Về mặt thể chất, nghiêm trọng nhất là tác động trên tim, não và ruột, đặcbiệt đe dọa tính mạng là gây nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp kịch phát, chảymáu não và viêm ruột hoại tử Ngoài ra còn gây ảnh hưởng tới nhiều cơ quannhư thần kinh (run, co giật, hôn mê…), gây hồi hộp đánh trống ngực, thấtđiều, nôn buồn nôn…
Về mặt tâm thần, sử dụng ATS gây bồn chồn, bất an, loạn cảm, mất ngủ,tăng kích thích, hằn học, thù địch, lú lẫn Với liều cao kéo dài: Rối loạn lo âu,
rối loạn hoảng sợ, rối loạn giấc ngủ, giảm tình dục… Có thể có hội chứng
Paranoid với các hoang tưởng liên hệ, bị theo dõi, ảo giác (thị giác, thínhgiác) [2],[18],[21],[24]
1.4.2.3 Tỷ lệ và sử dụng
Trên và thế giới cũng như ở Việt Nam, các chất này đang được sử dụngngày càng nhiều đa dạng Trong năm 2011, theo báo cáo của Văn phòngthường trực về ma túy và tội phạm ( Standing Ofice on Drugs and Crime-SODC), ATS đã vượt qua thuốc phiện trở thành chất gây nghiện phổ biến thứhai sau Heroin Theo báo cáo UNODC 2013 [23] , việc sử dụng và buôn bánATS này càng gia tăng, ước tính có hơn 3 triệu người có độ tuổi từ 12-65 tuổi
đã sử dụng các chất ma túy trong cuộc đời, trong đó 32% là ATS Cũng theocác báo cáo của cơ quan điều tra quốc gia về lạm dụng chất The NationalHousehold Survery on Drug Abuse- NHSDA) ở Hoa Kỳ năm 2001 có 7% dân
số dung ATS ít nhất 1 lần/năm và 1% nghiện, tính trung bình tỷ lệ lạm dụngnam/nữ là 1,5/1
Tại các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, theo UNODCbáo cáo năm 2009 ước tính hàng năm tỷ lệ sử dụng nhóm các chất kích thích
Trang 22dao động từ 0,3% và 1,3%, tương đương với số lượng 14 - 57 triệu người(tuổi từ 15-64) [25].
Tại Việt Nam, năm 1999 trong khuôn khổ dự án B93 do UNODC tài trợ
Bộ Lao động -TBXH tiến hành khảo sát 7905 người nghiện tại 7 tỉnh ở cả 3miền Bắc, Trung Nam, có 1% nghiện Amphetamin, đến năm 2001 là 1,5%,năm 2003 là 4% [1] Theo tác giả Vũ Thị Bích Nga và cộng sự (2011) nghiêncứu trên nhóm nguy cơ cao cho thấy có tới 73% sử dụng thuốc lắc và 62,86%
sử dụng Methamphetamin [26]
ATS được bào chế dưới dạng viện, phân phối phổ biến ở các vũ trường,quán bar, dễ trao đổi mua bán và dùng đường uống tiện dụng ATS cũngthường được sử dụng đường hút, hít, tiêm tĩnh mạch để tác dụng nhanh hơn[2] Ngoài ra ATS cũng được sử dụng đường ăn, hít sân, viên đạn tuy nhiênrất ít gặp
1.4.3 Cần sa (Cannabis)
1.4.3.1 Định nghĩa
Nói đến cần sa hay gai dầu là đề cập đến lá, hoa khô, thân và hạt giống từloại thực vật có hoa gồm 3 loài có tên gọi Cannabis sativa, Cannabis indica vàCannabis ruderalis Hoạt chất chính của Cần sa là chất δ9 Tetrahydrocannabinol(δ9- THC) [2] [18]
Các chế phẩm chính của cần sa hiện nay là: Marijuana (lá và hoa khô),Haschich (chiết suất từ rễ của cây cái, mạnh hơn 10 lần so với Marijuana),dầu (tập trung δ9- THC rất cao) [2]
1.4.3.2 Cơ chế tác dụng
Hoạt chất δ9- THC trong cần sa gây nên các tác dụng của nó δ9- THCvào cơ thể được chuyển hóa thành 11- hydroy- δ9- THC, chất chuyển hóa nàytác dụng lên thần kinh trung ương Tác dụng của cần sa xuất hiện khoảng 30phút sau hút, kéo dài từ 2-4 giờ, có nhiều tác dụng kéo dài tới 12 giờ
Trang 23Với liều trung bình, cần sa có tác dụng làm cơ thể sảng khoái, cảm thấy
âm thanh và thời gian biến đổi
Với liều cao, cần sa gây rối loạn chức năng cả về thể chất lẫn tâm thần:tụt huyết áp tư thế đứng, khô miệng, làm mất ý chí, gây bồn chồn, lo lắng, cóthể có loạn thần, xuất hiện các ảo giác…[2]
1.4.3.3 Tỷ lệ và sử dụng
Trong năm 2015, có 128 và 232 triệu gười sử dụng cần sa ở lứa tuổi 15
và 65 tuổi [27] Trong năm 2015, có 43% người Mỹ đã sử dụng cần sa, sốlượng này đã tăng lên đến 51% vào năm 2016, có khoảng 12% đã sử dụngtrong năm vừa qua và 7.3% đã sử dụng trong tháng vừa qua [28] Chính vìnhững điều này, cần sa đang trở thành loại ma túy bất hợp pháp được sử dụngnhiều nhất trong những năm gần đây tại Hoa Kỳ và trên cả thế giới
Cần sa có nhiều dạng bào chế khác nhau, được sử dụng dưới nhiều hìnhthức Cần sa có thể sử dụng bằng cách hút, hít, ăn hoặc uống Phương thức sửdụng chủ yếu là hút trực tiếp bằng tẩu, ống hút, cuộn như điếu thuốc lá hoặchút bằng bàn đèn, đèn hút Tác động qua đường hút mạnh gấp 2-3 lần quađường ăn, uống [2]
1.4.4 Rượu và các sản phẩm chứa cồn
1.4.4.1 Khái niệm
Rượu (ethanol) có công thức hóa học là CH3- CH2- OH, hay đồ uống cócồn ( rượu, bia, rượu vang, champagne…) có tên gọi khác nhau do có nồng độethanol trong đồ uống khác nhau
1.4.4.2 Cơ chế tác dụng
Rượu sau khi vào cơ thể chỉ 10% hấp thu ở dạ dày còn lại hấp thu ở ruộtnon Sau khi được hấp thu vào hệ tuần hoàn, rượu được phân bố đi khắp cơthể [2]
Trang 24Rượu tác dụng lên hệ thần kinh trung ương thông qua cơ chế tác độngcủa rượu lên các kênh ion Nghiên cứu cho thấy rượu làm tăng khả năng gắncủa GABA trên receptor GABAA, rượu còn tác động trên receptor N- methyl-D- aspartat, ức chế khả năng mở kênh Ca2+ của glutamat Tác dụng của rượutrên thần kinh trung ương phụ thuộc vào nồng độ rượu trong máu: ở nồng độthấp rượu có tác dụng an thần, làm giảm lo âu, ở nồng độ cao hơn rượu gâyrối loạn tâm thần, mất điều hòa, không tự chủ được hành động và có thể bịhôn mê, ức chế hô hấp, nguy hiểm đến tính mạng khi nồng độ rượu trong máuquá cao [2],[16].
Sử dụng rượu lâu dài gây nên trạng thái lệ thuộc rượu hay nghiện rượu,
từ đó tác động lên cả cơ thể lẫn tâm thần Đối với cơ thể, nghiện rượu gây cáctác động trên tim mạch (tăng huyết áp, tăng nhịp tim, bệnh cơ tim…), trêntiêu hóa (viêm loét niêm mạc dạ dày, trào ngược, viêm tụy man, xơ gan…),trên nội tiết (là nguy cơ gây đái tháo đường, tăng nang tuyến giáp, suy giảmhoormon sinh dục…), trên thần kinh (viêm dây thần kinh ngoại biên, mất trínhớ…) Đối với tâm thần, nghiện rượu có thể gây kích động, xuất hiện ảogiác do rượu, loạn thần…[2]
1.4.4.3 Tỷ lệ và sử dụng
Rượu là chất dễ dàng sử dụng đường uống, nó là sản phẩm phổ biếnđược sử dụng thông dụng trong mọi bữa tiệc, lễ hội hay trong mỗi gia đình
Tỷ lệ sử dụng rượu rất cao, Barrucand D, Nguyễn Đăng Dung nêu một
số nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy tỷ lệ lạm dụng rượu ở các nước trungbình khoảng 12-17% dân số, tỷ lệ nghiện rượu khoảng 3-5% dân số [29] [30].88% người dân Mỹ đã báo cáo từng sử dụng rượu ít nhất 1 lần trong đời ỞViệt Nam theo một số nghiên cứu, tỷ lệ nghiện rượu ở nam giới trên 16 tuổichiếm khoảng 3% [31] Tình trạng lạm dụng rượu bia đáng báo động ở nước
ta càng được chỉ rõ qua kết quả nghiên cứu “Đánh giá tình hình lạm dụng
Trang 25rượu bia tại Việt Nam” của Viện Chiến lược và chính sách y tế - Bộ Y tế công
bố năm 2006: Bình quân một người đàn ông Việt Nam uống 15,8 lít bia, 3,9lít rượu một năm
1.4.5.2 Cơ chế tác dụng
Trong sử dụng gây mê, ketamin có tác dụng gây mê phân lập do cắt đứtchọn lọc những con đường hội tụ ở não, thuốc gây dịu thần kinh và làm mấttrí nhớ trong đó người bệnh vẫn có vẻ tỉnh nhưng cách biệt với môi trường,bất động và không cảm thấy đau
Trong giảm đau, ketamin đối kháng không cạnh tranh trên thụ thểNMDA (N-methyl-D-aspartate) ở tế bào thần kinh sau tủy sống làm giảm đau
và giảm sự nhạy cảm với đau [32] Dùng liều thấp sẽ làm giảm đau mạnh ởngoài da, ở hố mổ, hạn chế hiện tượng nhạy cảm với đau, làm cho người bệnh
dễ chịu
Đối với các đối tượng sử dụng ketamin là một chất kích thích, tác dụngcủa ketamin có thể khoảng 1 giờ khi sử dụng đường hút hoặc tiêm, và 2 giờđối với đường ăn, uống
Cùng với các chất gây ảo giác khác, ketamin tác động mạnh về mặt tâmthần, làm tri giác trở nên rực rỡ, thường gặp các ảo giác thị giác nhưng ảothanh và ảo giác xúc giác đôi khi cũng xuất hiện [2]
1.4.5.3 Tỷ lệ và sử dụng
Trang 26Tại châu Âu, các trường hợp sử dụng ketamin bất hợp pháp ở những địađiểm câu lạc bộ đã được quan sát thấy ở Cộng hòa Séc, Pháp, Ý, Hungary, vàVương quốc Anh Một cuộc khảo sát được tiến hành trong thanh thiếu niêncủa Đài Loan báo cáo tỉ lệ sử dụng ketamin của nhóm học sinh trung học lớp
7 và lớp 9 là 0,15% năm 2004, 0,18% năm 2005, và 0,15% vào năm 2006 ,nhóm học sinh lớp 10 và 12 là 1,13% năm 2004, 0,66% năm 2005, và 0,44%vào năm 2006 [33]
Ketamin có thể hít cũng như hút chung với thuốc lá, cần sa hoặc dùngchung với ectasy, heroin, cocain, thường được đa số là giới trẻ sử dụng theonhóm đông tại các vũ trường, quán bar, bằng đường hít
1.4.6 Cocain
1.4.6.1 Khái niệm
Cocain là loại ma túy chiết xuất từ lá Erythroxylon coca [16], có tinh thểhình kim, không màu và không mùi, vị hơi đắng mát và gây cảm giác hơi têcho đầu lưỡi
Cocain được phát hiện lần đầu tiên bởi một dược sĩ, được sử dụng chomục đích y học, làm thuốc gây tê, tuy nhiên hiện tại cocain được biết đến làchất kích thích mạnh
1.4.6.2 Cơ chế tác dụng
Cocain sau khi vào cơ thể sẽ được đưa vào não, làm ức chế hấp thuserotonin, noropinephrin và dopamine, do đó làm tăng cao nồng độ của cácchất dẫn truyền thần kinh này [2]
Tác dụng của cocain đối với cơ thể gây tăng nhịp tim, vã mồ hôi, liềucao có thể làm tăng huyết áp, tăng nhiệt độ Sử dụng cocain kéo dài có thểdẫn tới nguy cơ gây đột quỵ, nhồi máu cơ tim [2],[34]
Trang 27Tác dụng đối với tâm thần, sau khi sử dụng cocain sẽ gây khoái cảmnhanh nhưng sau đó sẽ gây ra các rối loạn tâm thần như hoang tưởng, ảo giác,trầm cảm, lo âu, các rối loạn cảm xúc hành vi như cáu gắt, không thân thiện…Tác dụng của Cocain xuất hiện rất nhanh, chỉ sau vài giây đến vài phút
và có thể kéo dài tới 30-60 phút Mức độ tác động tùy thuộc vào liều dùng vàcách thức sử dụng [2]
1.4.6.3 Tỷ lệ và sử dụng
Theo một số nghiên cứu trước đây, cocain là chất ma túy được sử dụngkhá phổ biến Có khoảng 14-21 triệu người sử dụng mỗi năm, cao nhất là ởcác nước Bắc Mỹ, tiếp theo là Châu Âu và Nam Mỹ Có khoảng từ 1-3% dân
số phát hiện đã từng sử dụng cocain trong cuộc đời [34]
Cocain thường được sử dụng qua đường hít trực tiếp, tiêm dưới da, tiêmtĩnh mạch hoặc tiêm kết hợp với hút Hít cocain ít nguy hiểm hơn tiêm chích
và hút Mặc dù cocain có thể sử dụng được qua đường ăn uống nhưng nó íthiệu quả bằng các đường khác [2]
1.5 CÁCH THỨC SỬ DỤNG CÁC CHẤT
1.5.1 Sử dụng qua đường ăn, uống
Dạng viên nén: chủ yếu là ATS, ketamin…
Dạng chất lỏng: rượu và các đồ uống chứa cồn, trà cần sa (pha mộtlượng nhỏ cần sa với chất béo bão hòa), ketamin dạng chất lỏng
Dạng ngậm giữa nướu và má, sau đó hút nước ép của nó có thể dùng vớicocain dạng lá pha trộn với chất kiềm, hay bột trà cocain
Ngoài ra có thể ăn trực tiếp các chất như heroin, cần sa, cocain ( ít dùng)
Sử dụng các chất theo đường ăn, uống tác dụng chậm hơn các đườngkhác, ít nguy cơ hơn
Trang 281.5.2 Sử dụng qua đường tiêm chích
Chủ yếu tiêm dưới da và tiêm tĩnh mạch trên tay hoặc tĩnh mạch đùibằng cách pha chất đó với nước, acid, dung môi hòa tan của nó, có thể đunnóng hoặc không
Heroin, các chất dạng thuốc phiện thường được dùng đường tiêm chích,hay được kể hợp với hỗn hợp cocain và heroin, ngoài ra một số ít có thể tiêmchích ATS, ketamin,
Sử dụng các chất theo đường tiêm chích tác dụng nhanh nhất, hay được
sử dụng ở những người lệ thuộc thuốc nặng Tuy nhiên, đây cũng là đườngdùng gây nhiều nguy cơ nguy hiểm nhất: nguy cơ tắc nghẽn mạch phổi, táchnghẽn động mạch chi, tiêm dưới da có nguy cơ phát ban da (còn gọi là “dagà”) hoặc có thể gây nhiễm trùng chỗ tiêm
Sử dụng bất cứ chất nào theo đường tiêm chích, nếu dùng chung bơmkim tiêm không có khử trùng có nguy cơ cao lây nhiễm các bệnh qua máunhư HIV, viêm gan…[24]
1.5.3 Sử dụng qua đường hút, hít
Chủ yếu làm bay hơi các chất để hít khói bằng cách như cuốn dạng thuốc
lá để hút (cần sa, cocain ),hít thuốc được đặt trên lá nhôm đun nóng dưới lửa(heroin), hút thuốc trong ống thủy tinh (heroin, ATS, cocain, cần sa ) hay sửdụng bình hút Phổi bị tổn thương đã được báo cáo khi sử dụng kéo dài [24]
1.5.4 Sử dụng qua đường hít sâu
Một dạng sử dụng cho phép các chất được hấp thu qua các mô mềm củamàng nhầy trong hốc xoang, sau đó đưa trực tiếp vào máu Ví dụ hít trực tiếpbột heroin, ATS
1.5.5 Sử dụng qua đường viên đạn
Viên đạn được dùng chèn đường hậu môn, âm đạo hay ngậm dưới lưỡi, tác dụng chậm, ít được sử dụng
Trang 29Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của chúng tôi thu thập trên 33 bệnh nhân được chẩn đoánrối loạn tâm thần liên quan sử dụng chất điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe tâmthần từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2016
2.2 TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU:
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn tâm tầm liên quan sửdụng đa chất theo một số quan điểm của châu Âu: sử dụng đa chất là sử dụngđồng thời 2 hoặc nhiều chất trở lên trong một giai đoạn nhất định (1 tuần, 1tháng hoặc 1 năm)
2.2.1 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân và thân nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân có các rối loạn tâm thần nặng không do sử dụng chất, bệnhnhân không tiếp xúc, không khai thác được thông tin
- Bệnh nhân có tổn thương thực thể kèm theo
2.2.2 Tiêu chuẩn đạo đức
- Nghiên cứu được sự đồng ý của lãnh đạo Viện Sức khỏe tâm thần, cáckhoa phòng của Viện Sức khỏe tâm thần
- Bệnh nhân và thân nhân tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân có quyền dừng tham gia nghiên cứu tại mọi thời điểm
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả tiền cứu, cắt ngang, phỏng vấn
Trang 302.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu tiện ích: Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn tâmthần liên quan sử dụng đa chất hoặc các rối loạn tâm thần liên quan sử dụngchất có tiền sử sử dụng đa chất điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần từtháng 01 đến tháng 05 năm 2016
2.3.3 Qui trình tiến hành nghiên cứu
Tất cả bênh nhân trong nhóm nghiên cứu được hỏi bệnh, khám bệnh vàchỉ định các xét nghiệm theo một qui trình:
Thông tin chung: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạnghôn nhân, điều kiện kinh tế
Tiền sử bệnh cơ thể, bệnh tâm thần, các chất gây nghiện đã từng sử dụng.Đặc điểm sử dụng chất: thời gian sử dụng lý do sử dụng tần suất sửdụng, cách thức sử dụng
Khám tâm thần
Khám toàn trạng, loại trừ các bệnh cơ thể
2.3.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Nam, nữ
Độ tuổi phân chiaCác cấp độ học vấnPhân loại nghề nghiệpĐộc thân, đã lập gia đình, ly thân/ ly hônKhó khăn, trung bình, khá giả
Hỏi thông tin theo bệnh
án nghiên cứu và tham khảo bệnh
án điều trịTuổi bắt đầu sử dụng Độ tuổi phân chia
Trang 31Đặc điểm
sử dụng
đa chất
Hỏi bệnh, khám bệnh, điều tra thông tin theo bệnh ánnghiên cứu
và tham khảo bệnh
- Số chất dùng kết hợp
- Mô hình chất kết hợp
- 2 chất, 3 chất…
- Tỷ lệ kết hợp của các chất
- Tại nhà, quán bar, nhà nghỉ
- Nhóm, 1 mình
- Ăn uống, tiêm chích, hút hít, hít sâu, viên đạn
2.3.5 Phương pháp thu thập thông tin
- Bệnh án điều trị của Viện Sức khỏe Tâm thần
- Bệnh án nghiên cứu
2.3.6 Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được phân tích và xử lý bằng phương pháp thống kê,Excel
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm về giới của đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.1 Giới tính của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét:
Giới tính của nhóm đối tượng nghiên cứu:
93,94% nam giới, 6,06% nữ giới
Tỷ lệ nam/ nữ là 15,5/1
3.1.2 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.2 Tuổi của đối tượng nghiên cứu
Tuổi của nhóm đối tượng nghiên cứu:
Tuổi thấp nhất là 18 tuổi, tuổi cao nhất là 46 tuổi
Tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 28,03 ± 7,58
Nhóm tuổi 20-30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất: 63,34%, nhóm >30 tuổi: 30,3%, nhóm <20 tuổi: 6,06%
3.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.3 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu