Theo số liệu từ điều tra toàn quốc về gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam cho thấy 74,3% gánh nặng bệnh tật là do các bệnh không lây nhiễm, trong đó ung thư là một trong 10 nguyên nhân gây gá
Trang 1Đại học Y Hà Nội, Ban Giám đốc, Ban lãnh đạo khoa Kiểm soát và điều trị Ung bướu, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương đã cho phép và tạo điều kiện thuân lợi cho tôi khi tiến hành nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ths Trần Thị Hải Vân, giảng viên bộ môn Y học cổ truyền, trường
Đại học Y Hà Nội, người đã hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi những kiến thức quý báu trong học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô trường Đại học Y Hà Nội , đặc biệt là tại phân môn Y học cổ truyền, đã có công đào tạo, dạy dỗ và cho tôi nhiều ý kiến đóng góp quý báu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè, những người đã luôn động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viênNguyễn Minh Phượng
Trang 2Kính gửi:
PHÒNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN – TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HỘI ĐỒNG CHẤM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn một cách trung thực.Các kết quả số liệu trong luận văn này đều có thật và chưa được ai công bố trong bất cứ một tài liệu nghiên cứu khoa học nào
Hà Nội, tháng… năm 2016Người thực hiệnNguyễn Minh Phượng
Trang 3LỜI CẢM ƠN 1 CHƯƠNG 4 32 BÀN LUẬN 32
Trang 4YHCT: Y học cổ truyền
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng
BHYT: Bảo hiểm y tế
TBMMN: Tai biến mạch máu não
CXK: Cơ xương khớp
SL: Số lượng
HSCC: Hồi sức cấp cứu
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới và ở Việt Nam Theo ghi nhận của Tổ chức Ung thư toàn cầu, năm 2012 toàn thế giới có 14,1 triệu người mắc mới và có 8,2 triệu người
tử vong do ung thư Dự đoán tới năm 2015 là 9 triệu người và đến năm 2030
là 11,4 triệu người chết do ung thư Tại Việt Nam, theo thống kê của ngành Ung thư và Bộ Y tế trung bình mỗi năm có khoảng 150.000 trường hợp mắc mới ung thư và trên 75.000 trường hợp tử vong do ung thư – là một trong
những nước có tỷ lệ tử vong do ung thư cao nhất trên thế giới Theo số liệu từ
điều tra toàn quốc về gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam cho thấy 74,3% gánh nặng bệnh tật là do các bệnh không lây nhiễm, trong đó ung thư là một trong
10 nguyên nhân gây gánh nặng bệnh tật hàng đầu
Ngoài việc ảnh hưởng tới sức khỏe, tàn tật và tử vong, ung thư còn là một gánh nặng đối với nền kinh tế, xã hội Nghiên cứu gần đây cho thấy gánh nặng ung thư gây ra lớn hơn bất kì nguyên nhân gây tử vong nào khác, ước tính tiêu tốn 875 tỉ USD trên toàn thế giới mỗi năm Trong năm 2010, chi phí chăm sóc và điều trị ung thư ở Mỹ là 157 tỷ USD, ước tính đến năm 2020 là
174 tỷ USD Tại Việt Nam, năm 2012 tổng gánh nặng kinh tế của ung thư là 25.789 tỷ, chiếm 0,22% GDP Do đó, việc xác định mô hình bệnh tật là hết sức cần thiết, giúp cho các bệnh viện nói riêng và ngành Y tế nói chung chủ động trong công tác xây dựng dự án, kế hoạch chăm sóc sức khoẻ nhân dân một cách toàn diện, đầu tư công tác phòng chống bệnh có chiều sâu và có trọng điểm, có chiến lược đầu tư kỹ thuật chuyên môn, trang thiết bị hiện đại, nhằm đưa ra các giải pháp chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân ngày một hiệu quả tốt hơn
Trang 8Việt Nam là một trong những nước có nền y dược học cổ truyền lâu đời
và phát triển.Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là nơi đi đầu trong việc phát triển và hoàn thiện nền y học cổ truyền, hiện đại hóa nền y học cổ truyền, ứng dụng và ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật một cách phù hợp trong điều trị bệnh Việc thành lập khoa Kiểm soát và điều trị ung bướu giúp bệnh nhân ung thư được điều trị giảm nhẹ tác dụng phụ do các liệu pháp điều trị ung thư gây ra Bên cạnh đó, bệnh nhân cũng được quan tâm chăm sóc nhiều hơn nhằm nâng cao thể trạng, tăng sức đề kháng chống chọi với bệnh tật, kéo dài thời gian sống
Do y học cổ truyền có những đặc thù riêng biệt nên mô hình bệnh tật của khoa Kiểm soát và điều trị ung bướu- bệnh viện YHCT Trung ương cũng mang nhiều nét khác biệt Việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về mô hình khoa Kiểm soát ung bướu giúp hoạch định tốt hơn trong việc điều trị và chăm sóc
bệnh nhân.Chính vì lí do này mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Mô hình bệnh tật khoa Kiểm soát và điều trị ung bướu-bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương” với các mục tiêu sau:
1/ Khảo sát mô hình bệnh tật tại khoa Kiểm soát và điều trị ung bướu – bệnh viện YHCT Trung ương năm 2014-2015.
2/ Mô tả các phương pháp điều trị được áp dụng tại khoa Kiểm soát & Điều trị Ung bướu.
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1 Mô hình bệnh tật
1.1 Khái niệm
Mô hình: là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu; là hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngon ngữ nào đó đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy
Bệnh ở con người: là trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động không bình thường
Tật ở con con người: là trạng thái bất thường, nói chung là không chữa được của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có hoặc do tai nạn gây nên
Từ đó có thể khái quát: Mô hình bệnh tật của một cộng đồng, quốc gia, vùng lãnh thổ trong một giai đoạn là cơ cấu phần trăm các nhóm bệnh tật, các bệnh và tử vong của các bệnh của cộng đồng, quốc gia, vùng lãnh thổ trong giai đoạn đó Từ mô hình bệnh tật người ta có thể xác định được các nhóm bệnh (bệnh) phổ biến nhất; các nhóm bệnh (bệnh) có tỷ lệ tử vong cao nhất để
có cơ sở xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trước mắt và lâu dài cho cộng đồng đó
1.2 Tổng quan bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD_10)
1.2.1 Lịch sử phát triển của Phân loại bệnh tật
Mô hình bệnh tật được xây dựng từ những hồ sơ bệnh tật riêng rẽ Trong mỗi cách phân loại bệnh tật mô hình có những sắc thái khác nhau
Thời cổ đại Arestee đã đưa cách phân loại bệnh tật dựa vào thời gian kéo dài bệnh (cấp và mạn tính), vị trí bệnh (bệnh nội và bệnh ngoại)…
Trang 10Đầu thế kỉ 19, phân loại bệnh được dùng nhiều nhất là phân loại William Cullen (1710-1790) ở Edinburgh được công bố năm 1978.
Năm 1837, William Farr (1807-1883) đã nỗ lực để có được bảng phân loại về bệnh tật tốt hơn Cullen và sử dụng đồng nhất trên thế giới
Năm 1855, Farr trình bày bảng phân loại nguyên nhân tử vong tại Hội nghị thống kê quốc tế lần thứ 2 tại Paris
Để tạo tính thống nhất trên toàn thế giới về việc xây dựng các thông tin
y tế, tổ chức y tế thế giới đã tiến hành xây dựng Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan ( International Classification of Diseases, viết tắt: ICD) từ tháng 09 năm 1983 Qua nhiều lần cải biên, hiệu đính, Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ X chính thức xuất bản năm 1992
1.2.2 Cấu trúc của bảng phân loại quốc tế về bệnh lần thứ X (ICD 10)Toàn bộ danh mục của ICD – 10 được xếp thành hai mươi một chương bệnh, kí hiệu từ I đến XXI theo các nhóm bệnh:
- Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
- Chương II: Khối u (Bướu tân sinh)
- Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch
- Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa
- Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi
- Chương VI: Bệnh của hệ thần kinh
- Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ
- Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm
- Chương IX: Bệnh của hệ tuần hoàn
- Chương X: Bệnh hệ hô hấp
- Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa
- Chương XII: Bệnh da và mô dưới da
- Chương XIII: Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết
- Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục
- Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ
- Chượng XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh
- Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể
Trang 11- Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cân lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác
- Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài
- Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong
- Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế
Giữa kí tự thứ 3 và thứ 4 có một dấu thập phân (.)
•Chương II: Khối U (Bướu tân sinh) dung để chỉ các khối u tân sinh dù chúng có hoạt động chức năng hay không, gồm các mục sau:
C00 – C14: Bướu ác của môi, khoang miệng và hầu
C15 – C14: Bướu ác của các cơ quan tiêu hóa
C30 – C39: Bướu ác của cơ quan hô hấp và trong lồng ngực
C40 – C41: Bướu ác của xương và sụn khớp
C43 – C44: U hắc tố ác và các bướu khác của da
C45 – C49: Mesothelial và mô mềm
C50: Bướu ác vú
C51 – C58: Bướu ác của cơ quan sinh dục nữ
C60 – C63: Bướu ác của cơ quan sinh dục Nam
C64 – C68: Bướu ác đường niệu
C69 – C72: Bướu ác của mắt, não và phần khác của hệ thần kinh trung ương
C73 – C75: Bướu ác của tuyến giáp và tuyến nội tiết khác
C76 – C80: Bướu ác có vị trí không rõ ràng, thứ phát và không xác địnhC76 – C80: Bướu ác có vị trí không rõ ràng, thứ phát và không xác địnhC81 – C96: Bướu ác của hệ lympho, hệ tạo máu và các mô liên quan
Trang 121.3 Vai trò của mô hình bệnh tật trong hoạch định các chính sách y tế và quản lý công tác chuyên môn bệnh viện
- Vai trò của mô hình bệnh tật trong xây dựng kế hoạch y tế
Mô hình bệnh tật của một quốc gia, khu vực thay đổi tương ứng với sự biến đổi của điều kiện sống, nền kinh tế, sự phát triển khoa học kĩ thuật Nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, nguồn tài chính cho sức khỏe còn hạn chế chủ yếu từ nguồn ngân sách Mặc dù việc đầu tư cho ngành y tế ngày càng được quan tâm, tuy vậy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng của nhân dân Vì vậy, xây dựng kế hoạch đầu tư cho y tế cần phải xem xét đến hiệu quả của mỗi đơn vị đầu tư.Mà trong hoạch định chính sách y tế thường quan tâm tập trung đến vấn đề sức khỏe chính của cộng đồng.Để xác định các vấn đề sức khỏe cộng đồng thường dựa vào gánh nặng bệnh tật, tử vong của bệnh đó trong cộng đồng Do vậy mô hình bệnh tật của bệnh viện có vai trò quan trọng trong quản lý y tế, giúp ngành y tế đầu
tư có trọng điểm
- Vai trò của mô hình bệnh tật trong quản lý bệnh viện
Quản lý chuyên môn trong bệnh viện là sử dụng mọi nguồn lực của bệnh viện để thực hiện tốt công tác khám bệnh, chẩn đoán, kê đơn, điều trị và chăm sóc người bệnh với chất lượng cao nhất, thực hiện tính công bằng trong khám chữa bệnh
Xây dựng kế hoạch bệnh viện căn cứ vào mô hình bệnh tật, nhu cầu của người bệnh, tình hình trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất và trình độ của cán bộ
là quan trọng nhất
1.4 Tình hình mắc ung thư trên thế giới
Những nghiên cứu nhiều năm trên thế giới đã chứng minh sức khỏe và
mô hình bệnh tật của mỗi nước phản ánh trung thực điều kiện sinh sống về kinh tế, văn hóa, xã hội, tập tục và yếu tố môi trường Từ năm 1965, Tổ
Trang 13chức Y tế Thế Giới đã tiến hành nghiên cứu, đưa ra những thống kê định kỳ
về mô hình ung thư và tử vong cùng với tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, ngân sách đầu tư cho y tế, chiến lược đầu tư phát triển cho từng quốc gia và vùng lãnh thổ các khu vực , 35 quốc gia và vùng lãnh thổ được đề cập đến Điều này giúp cho việc nghiên cứu mô hình bệnh tật
có hệ thống, dễ dàng so sánh giữa các quốc gia có thu nhập cũng như đầu tư cho y tế khác nhau
Các nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình bệnh tật ở các nước phát triển có
sự khác biệt rõ rệt với các nước đang phát triển Các nước đang phát triển
có tỉ lệ mắc ung thư tăng dần lên và tỉ lệ mắc ung thư giảm đi ở các nước phát triển Tỉ lệ mắc và đặc biệt tỷ lệ chết do ung thư giữa nam và nữ có sự khác biệt rõ rệt Tỷ lệ tử vong chung trên toàn cầu giữa nam và nữ (nam/ nữ) là 1,3 Hơn 60% trong tổng số các trường hợp mới hàng năm của thế giới xảy ra ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ, các vùng này chiếm 70% số người tử vong do ung thư tên toàn thế giới Năm 2002, tỉ lệ tử vong
do ung thư trên toàn thế giới chiếm 21,4% Nhưng đến năm 2012, tỉ lệ này
là 58,2% Số lượng các trường hợp mới được dự kiến sẽ tăng khoảng 70% trong 2 thập kỷ tới
Theo IARC, năm 2012, nước Mĩ có tỉ lệ mắc ung thư ở cả hai giới là 1,6 triệu trường hợp chiếm 11,4% và tỉ lệ tử vong là 617 nghìn trường hợp chiếm 7,5% Ở Trung Quốc, tỉ lệ mắc ung thư là 21,8% và tỉ lệ tử vong là 26,9% Ở Ấn Độ, tỉ lệ mắc ung thư và tử vong lần lượt là 7,2% và 8,3%
1.4 Tình hình mắc ung thư ở Việt Nam
Trong tiến trình phát triển kinh tế xã và hội nhập quốc tế, mô hình bệnh tật của nước ta cũng có sự thay đổi.Tại Việt Nam, theo nhận định của Bộ Y
tế, mô hình bệnh tật của Việt Nam là mô hình bệnh tật kép Song song với việc các bệnh lây nhiễm như tả, đậu mùa, sốt rét đang từng bước
Trang 14được đẩy lùi thì các bệnh không lây nhiễm như ung thư, tim mạch, đái tháo đường, rối loạn tâm thần đang có xu hướng gia tăng giống như mô hình của các nước phát triển Tại Hội nghị chuyên đề về công tác y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết nếu như trước kia chủ yếu là các bệnh nhiễm trùng thì nay mô hình bệnh tật đã hoàn toàn thay đổi: chỉ có 27% là các bệnh do vi
trùng gây nên, có đến 62% các bệnh không phải do vi trùng Mô hình bệnh
tật nước ta đan xen giữa bệnh nhiễm trùng và không nhiễm trùng, bệnh cấp tính và bệnh mãn tính Xu hướng bệnh không nhiễm trùng và mãn tính ngày càng cao
Theo ghi nhận ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh thành lân cận ước tính mỗi năm có khoảng 150 000 người mới mắc và khoảng 50 000-70 000 người chết vì ung thư, tỉ lệ tử vong gấp 9 lần so với tai nạn giao thông Năm
2002, tỉ lệ tử vong do ung thư là 8,2% Năm 2012, số người mới được chẩn đoán mắc ung thư là 125.000 người, số người tử vong vì ung thư là 94,700 người/năm chiếm 73,5% trong khi toàn thế giới là 58,2% Theo thống kê, các loại ung thư hàng đầu ở Việt Nam là phổi, gan, dạ dày, đại tràng, trực tràng, mũi họng ở nam giới và vú, cổ tử cung, dạ dày, gan, đại tràng, trực tràng, ung thư phổi ở phụ nữ Sự phân bố của ung thư không đồng nhất trên cả nước Theo PGS.TS Trần Văn Thuấn, tỉ lệ mắc ung thư ở nam giới Việt Nam xếp mức 3 (135,2 - 178,3 ca mắc/100.000 dân) Tuy nhiên tỉ lệ tử vong lại thuộc nhóm đầu với trên 142 ca tử vong/100.000 dân.Qua các năm, số lượng bệnh nhân nam mắc ung thư tại Việt Nam đều tăng, ví dụ như ung thư phổi năm
2000 là 29,3/100.000, đến 2010 đã tăng lên 35,1/100.000 dân Tương tự, ung thư gan từ 22,6 lên 23,6; ung thư đại trực tràng từ 11,4 lên 19; ung thư thực quản từ 3,7 lên 9,9
1.5 Vai trò của mô hình bệnh tật trong hoạch định các chính sách y tế và quản lý công tác chuyên môn bệnh viện
- Vai trò của mô hình bệnh tật trong xây dựng kế hoạch y tế
Trang 15Mô hình bệnh tật của một quốc gia, khu vực thay đổi tương ứng với sự biến đổi của điều kiện sống, nền kinh tế, sự phát triển khoa học kĩ thuật Nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, nguồn tài chính cho sức khỏe còn hạn chế chủ yếu từ nguồn ngân sách Mặc dù việc đầu tư cho ngành y tế ngày càng được quan tâm, tuy vậy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng của nhân dân Vì vậy, xây dựng kế hoạch đầu tư cho y tế cần phải xem xét đến hiệu quả của mỗi đơn vị đầu tư.Mà trong hoạch định chính sách y tế thường quan tâm tập trung đến vấn đề sức khỏe chính của cộng đồng.Để xác định các vấn đề sức khỏe cộng đồng thường dựa vào gánh nặng bệnh tật, tử vong của bệnh đó trong cộng đồng Do vậy mô hình bệnh tật của bệnh viện có vai trò quan trọng trong quản lý y tế, giúp ngành y tế đầu
tư có trọng điểm
- Vai trò của mô hình bệnh tật trong quản lý bệnh viện
Quản lý chuyên môn trong bệnh viện là sử dụng mọi nguồn lực của bệnh viện để thực hiện tốt công tác khám bệnh, chẩn đoán, kê đơn, điều trị và chăm sóc người bệnh với chất lượng cao nhất, thực hiện tính công bằng trong khám chữa bệnh
Xây dựng kế hoạch bệnh viện căn cứ vào mô hình bệnh tật, nhu cầu của người bệnh, tình hình trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất và trình độ của cán bộ
2.2 Phương pháp điều trị ung thư chính
Trang 16Ung thưcó thể được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị liệu, hóa trị liệu, miễn dịch trị liệu, nội tiết tố Trong đó, các phương pháp chính thường dùng là : phẫu thuật, xạ trị liệu, hóa trị liệu.
- Phẫu thuật: phương pháp cơ bản, thường được lựa chọn cho những khối u còn khu trú Đây là phương pháp điều trị tạm thời, nhằm kiểm soát triệu chứng
- Xạ trị: sử dụng dạng năng lượng (gọi là phóng xạ ion hóa) để diệt tế bào ung thư hoặc làm teo nhỏ khối u
- Hóa trị: điều trị ung thư bằng thuốc có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư Sử dụng trong trường hợp muộn, di căn xa, hoặc thất bại sau điều trị hóa trị, xạ trị
2.3 Tác dụng phụ không mong muốn
Da, niêm mạc: viêm đỏ, khô, bong tróc, xơ hóa tổ chức tuyến, teo nhỏ tổ chức tuyến, rát bỏng tại chỗ, hoại tử da, rụng lông, rụng tóc, viêm niêm mạc…
Tiêu hóa: nôn, buồn nôn,tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa, táo bón, đại tiện máu …
Thân- tiết niệu: tiểu buốt, tiểu dắt, bí tiểu, tiểu máu, hoại tử ống thận cấp, suy thận…
Hệ thống máu và cơ quan tạo máu: giảm bạch cầu, giảm hồng cầu, giảm tiểu cầu, Leucemia cấp thứ phát…
Khác : suy tim, rối loạn nhịp tim, viêm đa dây thần kinh, giảm thính lực, xơ phổi, giảm khả năng sinh sản, dị ứng, hội chứng bàn tay-chân…
3 Quan điểm về ung thư theo YHCT
Trang 17trong giữa gân cơ và xương, sắc da tối đen, khi chưa thành mủ thì khó tiêu, khi thành mủ thì khó vỡ, khi vỡ thì khó liền, thuộc âm chứng (thư)
Sau triều đại Kim Nguyên ở Trung Quốc cho đến nay thường dùng cụm
từ “ Thũng lựu” để chỉ các loại ung thư nói chung Với với loại ác tính thì dùng từ “ Nham” (đá núi) vì bờ của khối u nham nhở và cứng như đá Như vậy ung thư trong Y học hiện đại thuộc Nham chứng trong y học cổ truyền
3.2 Nguyên nhân và sinh lý bệnh
+ Nhiệt độc
Các tác nhân gây ung thư về bản chất có thể là tác nhân vật lí, hóa học, sinh học Liên hệ với YHCT có thể thuộc các phạm trù dương tà, hỏa tà, hỏa độc, nhiệt tà, nhiệt độc.Nhiệt tà xâm phạm vào cơ thể, lâu ngày sẽ uất kết lại thành nhiệt độc Nội thương tình chí bị uất kết cũng có thể thành hỏa Hỏa nhiệt làm tổn thương khí, đốt nóng tạng phủ, tích lại bên trong lâu ngày thành khối, tân dịch gặp hỏa thành đàm, khí huyết đàm trọc bế tắc ở kinh lạc, tạng phủ kết thành bệnh
Tỳ là gốc của đàm , phế là nơi tích trữ đàm, công năng tỳ phế thất điều, tân dịch không phân bố, thủy thấp nội đình, nhiệt tà chưng đốt, dần ngưng kết
Trang 18lại thành đàm Đàm ngưng lại làm cản trở khí huyết , ảnh hưởng đến công năng tạng phủ, lâu ngày mà hóa thành khối.
+ Chính khí hư
Sách “Nội kinh” chỉ ra: “Chính khí tồn nội, tà bất khả can” nhấn mạnh chính khí có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát sinh và dự phòng bệnh tật Âm dương khí huyết trong cơ thể nương tựa lẫn nhau để tồn tại, dương hư
đa phần kiêm khí hư, khí hư lại dễ dẫn đến dương hư, khí hư và dương hư thường biểu hiện sự suy thoái công năng của cơ thể.Sách “Vệ sinh bảo giám” viết: “Nuôi dưỡng chính khí tốt thì tích tự trừ, vị khí cường thì tích tự tiêu” Đối với bệnh nhân ung thư, ích khí kiện tỳ và điều hòa tỳ vị chính là nội dung quan trọng của phù chính bổ hư
xạ trị hay hóa trị liệu bằng các bài thuốc bổ
- YHCT còn sử dụng những vị thuốc, bài thuốc có tác dụng ức chế sự phát triển của những khối u ác tính, cũng như làm giảm các biến chứng thông qua các phương pháp tiêu đàm, nhuyễn kiên, hành khí, hoạt huyết hóa
ứ, thanh nhiệt lương huyết, chỉ huyết, giải độc
Trang 19Các phương pháp chữa ung thư của YHCT với phương pháp bổ phù hợp
để tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể kết hợp với các phương pháp trị liệu khác đã hạn chế được sự phát triển của ung thư
4 Vài nét về khoa Kiểm soát và điều trị ung bướu và bệnh viện YHCT Trung ương.
Bệnh viện YHCT Trung ương là bệnh viện đầu ngành về YHCT – Trung tâm hợp tác của Tổ chức Y tế Thế giới về YHCT tại Việt Nam.Đây là cơ sở điều trị, nghiên cứu và giảng dạy về YHCT lớn nhất cả nước Bệnh viện được thành lập năm 1957, nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận Hai Bà Trưng Kể từ khi thành lập cho đến nay, với chức năng , nhiệm vụ chính là kế thừa, phát huy và phát triển YHCT, kết hợp YHCT với YHHĐ trong chẩn đoán, điều trị và dự phòng, bệnh viện đã đạt được rất nhiều thành tựu , bằng khen của Đảng và Nhà nước
Khoa Kiểm soát và điều trị ung bướu có quyết định thành lập vào tháng
4 năm 2014 và đi vào hoạt động chính thức vào tháng 7 năm 2014 do TS BSCK II Phí Thái Hà làm trưởng khoa Hiện tại, khoa có tổng số 16 nhân viên gồm 01 Tiến sĩ, 03 thạc sĩ, 03 bác sĩ, 08 điều dưỡng viên và 01 hộ lý Khoa có 32 giường bệnh với đầy đủ trang thiết bị cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh.Hàng ngày khoa luôn có học sinh trường Đại học Y Hà Nội, Học viên
y học cổ truyền và các học viên sau Đại học đến học tập
Trang 20CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả hồ sơ bệnh án các bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú khoa Kiểm soát và điều trị Ung bướu – bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương từ 1/1/2014- 31/12/2015
2.2 Chất liệu nghiên cứu
Bệnh án được cập nhật đầy đủ các thông tin về: tuổi, giới, địa chỉ cư trú, nghề nghiệp, dân tộc, ngày vào viện, ngày ra viện,số ngày điều trị, tình trạng vào viện, chẩn đoán ra viện(gồm chẩn đoán YHHĐ và YHCT), loại thuốc sử dụng(YHHĐ và YHCT), cơ quan mắc ung thư,giai đoạn bệnh, kết quả điều trị, tình hình chuyển viện, tử vong (nếu có)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương tiện nghiên cứu
Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD – 10)
Trang 21+ Vùng 4: các tỉnh Bắc Trung Bộ+ Vùng 5: Đông Nam Bộ
Trang 22- Số ngày điều trị trung bình
Số ngày điều trị trung bình = Tổng số ngày nằm viện/ Tổng số bệnh nhân
- Công suất sử dụng giường bệnh
Công suất sử dụng giường bệnh trong 02 năm = Tổng số ngày nằm viện/ (365 ngày x 30 giường x 2)
2.4 Thời gian nghiên cứu
Từ 1/1/2016 – 4/4/2016
2.5 Địa điểm nghiên cứu
Phòng Kế hoạch Tổng Hợp – Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương
2.6 Xử lí số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mền Excel 2007
2.7 Đạo đức nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu hoàn toàn vì mục đích khoa học, không vì mục đích khác
- Trung thực với tất cả các số liệu, tính toán đảm bảo chính xác
- Không làm hư hỏng hay thất lạc bệnh án, hoàn trả lại phòng lưu trữ sau khi thu thập số liệu
Trang 23CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu 848 bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú khoa Kiểm soát
và điều trị Ung bướu – bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương từ 1/1/2014- 31/12/2015 chúng tôi có kết quả như sau:
3.1 Số bệnh nhân vào điều trị tại khoa KS&ĐT Ung bướu năm 2015
2014-Bảng 3 1: BN điều trị tại khoa KS&ĐT Ung bướu trong 2 năm 2014-2015
Số lượng bệnh nhân
Tỉ lệ %
Nhận xét: Số lượng bệnh nhân điều trị tại khoa trong 2 năm là 848 bệnh
nhân Trong đó, năm 2014 có 238 bệnh nhân, chiếm 28,7%, năm 2015 có 610 bệnh nhân chiếm 71,9 % và cao hơn năm 2014
Trang 243.2 Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
3.3.1 Tổng bệnh nhân tại khoa
Biểu đồ 3 1: Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
Nhận xét: Nhóm tuổi từ 60 trở lên chiếm tỉ lệ cao nhất (53,18%), nhóm
tuổi 40-59 chiếm 42,45%, nhóm tuổi 20-39 chiếm 3,66% và nhóm dưới 20 tuổi chỉ chiếm 0,71%
Ở nhóm từ 60 tuổi trở lên, tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 41,86 % cao hơn gấp 3,7 lần so với bệnh nhân nam là 11,32%
Ở nhóm tuổi 40-59, tỷ lệ bệnh nhân nữ (38,09%) cao hơn gấp 8,7 lần so với bệnh nhân nam (4,36%)
Ở nhóm tuổi 20-39, tỷ lệ bệnh nhân nữ (2.24%) cao hơn so với bệnh nhân nam (1,42%)
Ở nhóm tuổi dưới 20, tỷ lệ bệnh nhân nam (0,47%) cao hơn so với bệnh nhân nữ (0,24%)
3.3.1 Phân bố bệnh nhân mắc ung thư theo tuổi vào giới