1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày

59 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 288,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự tiến bộ của xã hội, các thành tựu của y học hiện đại đã ngày một nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh tâm thần nói chung, người bệnh tâm thần phân liệt TTPL nó

Trang 1

KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA ĐIỀU DƯỠNG

ĐINH THỊ SÂM

MÃ SINH VIÊN: B00381

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

LIÖU PH¸P GIA §×NH ë NHãM NG¦êI BÖNH T¢M THÇN PH¢N LIÖT TRONG M¤ H×NH §IÒU TRÞ BAN NGµY

Trang 2

Đề tài LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH Ở NHÓM NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT TRONG MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ

BAN NGÀY

Đinh Thị SâmLớp điều dưỡng - K6MSV : B00381

HÀ NỘI – Tháng 10/ - 2015

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN 1 : TỔNG QUAN 3

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thông báobáo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), tỉ lệ người mắc bệnh tâm thần phân liệt dao động từ 1- 1,.2%, ở Việt Nam tỉ lệ này là 0,.5-1,.5% dân số

Cùng với sự tiến bộ của xã hội, các thành tựu của y học hiện đại đã ngày một nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh tâm thần nói chung, người bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) nói riêng Bệnh tâm thần phân liệt là một bẹnh bệnh loạn thần nặng căn nguyên chưa rõ ràng, có đặc điểm tiến triển mạn tính và dễ tái phát làm cho người bệnh tách dần khỏi cuộc sống xung quanh, thu dần vào thế giới bên trongnội tâm Trước đây, khi nói đến bệnh TTPL là người ta lại nghĩ ngay đến hình ảnh một người đi lang thang, ăn bẩn,

ở bẩn, đập phá, ngôn ngữ và hành vi không bình thường… Ngày nay, với nhiều loại thuốc mới và các cách chăm sóc tốt của y tế đã đưa những người bệnh TTPL ổn định về với môi trường đầm ấm của gia đình và thân thiện của xã hội

Sự cảm thông và quan tâm chăm sóc của người thân đới đối với người bệnh TTPL có tầm quan trọng rất lớn trong việc duy trì sự ổn định của bệnh, phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát bệnh và điều trị kịp thời cơn bệnh tái phát, đồng thời tạo cơ hội giúp người bệnh tái hòa nhập với xã hội Tuy nhiên không phải gia đình nào có người bệnh TTPL cũng hiểu viết biết về bệnh TTPL, yêu thương và chăm sóc tốt cho người bệnh tại nhà

Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương thành lập tháng 10 năm 1998, mỗi năm bệnh viện điều trị nội trú cho hơn một trăm người bệnh TTPL (năm 2002

là 156 người chiếm 61,.9% người bệnh điều trị nội trú, năm 2014 là 112 người chiếm 34,7.68%) Trong quá trình người bệnhị điều trị tại bệnh viện, bệnh viện

có tổ chức phổ biến kiến thức bệnh và cách chăm sóc người bệnh tâm thần nói

Trang 4

chung và bệnh tâm thần phân liệt nói riêng cho gia đình các người bệnh Theo quan sát của chúng tôi, đã có sự thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt của gia đình Tuy nhiên tại bệnh viện chưa

có nghiên cứu nào cho thấy sự thay đổi đó Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Kết quả của liệu pháp gia đình đối với kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt của gia đình tại Bệnh viện ban ngày Mai Hương năm 2015”Liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trị ban ngày” nhằm hai mục tiêu sau:

1 Đánh giá sự thay đổi kiến thức về bệnh tâm thần phân liệt của gia đình người bệnh TTPL tại Bệnh viện tâm thần Ban ngày Mai Hương năm 2015.

2 Đánh giá sự thay đổi về thái độ và hành vithực hành chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt của gia đình người bệnh nêu trên.

Trang 5

PHẦN Chương 11 : TỔNG QUAN Liệu pháp gia đình

Khái niệm liệu pháp gia đình

Gia đình được định nghĩa như là tập hợp một nhóm người có liên hệ với nhau về huyết thống hoặc giới tính và cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà Cấu trúc gia đình có thể thay đổi tùy theo sự biến động của xã hội Trong

xã hội cộcổ, thường trong một gia đình có nhiều thế hệ sống quanh quây quần với nhau, ảnh hưởng qua lại với nhau và sự giao tiếp giữa các thành viên nhiều hơn, họ sống trong môi trường tương đối khép kín Ngày nay khi nền kinh tế phát triển, cấu trúc gia đình bi bị thu nhỏ lại (trong một gia đình có khi chỉ có một đến hai thế hệ), các thành viên có xu hướng tếp xúc với xã hội bên ngoài sớm hơn và nhiều hơn tiếp xúc với gia đình vì vậy họ sớm chịu ảnh hưởng của

xã hội bên ngoài Tuy nhiên, dù là xã hội xưa và hay xã họi hội phát triển như ngày nay thì gia đình vẫn được xem như là một tổ ấm của các thành viên trong gia đình, là nơi buồi dưỡng và phát triển cả về thế thể lực lẫn nhân cách và là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần

Ảnh hưởng của gia đình trong quá trình phát sinh và tiến triển bệnh lý nói chung của tong từng thành viên thể hiện dưới hai phương diện: di truyền và giáo dục Những vấn đề liên quan tơi di truyền thì nhất thiết phải cần đến các liệu pháp sinh học Còn những vấn đề liên quan đến giáo dục tức liên quan đến yếu tố tâm lý- xã hội thì phải cần đến liệu pháp tâm lý trong đó có liệu pháp gia đình

Học thuyết về hệ thống ( (Theory of Systems) mô tả một hệ thống như cấu thành một tập hợp các thành phần trong sự tương tác, đồng thời hoàn toàn độc lập với những hẹ hệ thống xung quanh khác mà chính tập hợp đó đã tạo thành

Trang 6

cơ sở cảucủa sự giao tiếp Giao tiếp trong gia đình dựa vào giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, nếu xảy ra mâu thuẩn trường diễn trong quá trình giao tiếp gia đình, thì có thể dẫn tới tình trạng bệnh lý của một trong các thành viên trong gia đình đó Mâu thuẫn này mỗi ngày một lớn hơn nếu không được giả quyết.Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, gia đình được xem như là một hệ thống, nếu hệ thống này hoạt động mất thăng bằng thì một hoặc vài thành viên trong gia đình sẽ bị mắc bệnh.

Liệu pháp gia đình được xem như là một liệu pháp nhóm ( (Group Therapy) đặc biệt, vì các thành viên trong nhóm là thành viên của một gia đình Tuy nhiên nó được xem như là một liệu pháp tâm lý độc lập với quan niệm rằng những rối loạn của một thành viên trong gia đình là kết quả trước hết của mối quan hệ cảm xúc trong gia đình bị rối loạn

Vì vậy, mục đích của liệu pháp gia đình là nhằm loại trừ hoặc làm giảm những căng thẳng cảm xúc và nhằm thiết lập lại trạng thái cân bằng đã bị phá

vỡ bên trong gia đình, nghĩa là nhằm thay đổi và thiết lập lại mối quan hệ giữa các thành viên (nhân cách) trong gia đình đó Liệu pháp gia đình tìm kiếm sự tác động lên mối tương tác giữa người bệnh với môi trường sống của gia đình Điều này không có nghĩa là để tìm kiếm sự sai lầm hay nỗi của một ai mà chỉ nhằm thay đổi phương thức trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

Lịch sử

Liệu pháp gia đình mới xuất hiện ở Mỹ và sau đó ở Châu Âu vào những thập niên 50 Sự hình thành và phát triển của liệu pháp gia đình dựa chủ yếu vào lý thuyết giao tiếp mà thực chất là sự phát triển của trường phái Palo Alto

và thuyết hệ thống của Ludwig van Bertalanfy Trong trường phái Pala Alto cần phải kể đến 4 tên tuổi, đó là DonJackon, Jay Haley, Virginia Satir và Greogy

Trang 7

Bateson Những công trình nghiên cứu của họ bắt đầu từ sự giao tiếp giữa những bệnh nhân tâm thần phân liệt và gia đình của họ.

Những người có công lớn trong việc xây dựng liệu pháp gia đình cần phải

kể đến đó là Nathan Ackerman (nhà trị liệu phân tâm và trị liệu nhóm), người

đã đến với trị liệu gia đình như là kết quả cảu của nhưngnhững kinh nghiệm trị liệu tâm lý trẻ em Carl Whitaker là một nhà trị liệu tân phân tâm, mà triết lý của ông trong trị liệu gia đình là: “ Gia đình lành mạnh là một gia đình vẫn tiếp tục phát triển mặc dầu trong đó những rối loạn đã xảy ra” Murray Bowen cũng

là một nhà trị liệu phân tâm, đã bắt đầu nghiên cứu liệu pháp gia đình bằng cách quan sát những thành viên gia đình cùng nhập viện với bệnh nhân tâm thần phân liệt

Cần phải bổ xung vào lịch sử của liệu pháp gia đình một vị trí có tính khoa học luận đó là thuyết về loại hình cầu trúc: “ tính hiện thực không vượt trước

sự quan sát”

Các trường phái

Liệu pháp gia đình là một trong những liệu pháp tâm lý tương đối non trẻ, tuy nhiên nó chứa đựng nhiều quan điểm và trường phái khác nhau, chúng ta có thể nêu một số trường phái chính sau:

1.1.1.1. Trường phái cấu trúc

Đại diện là Salvador Minuchin

* Quan điểm về chức năng một gia đình bình thường

 Ranh giới gia đình rõ ràng

 Tính tôn ti trật tự với vai trò bố mẹ rất rõ

Trang 8

 Tính linh hoạt của hệ thống đối với:

o Tính tự lập và độc lập của các thành viên

o Sự trưởng thành của từng cá thể và hệ thống duy trì

o Tính kế tục và sự tái cấu trúc mang tính thích nghi trong sự đáp ứng với những nhu cầu bên trong (phát triển) và bên ngoài (môi trường)

* Quan điểm về rối loạn chức năng gia đình

Những rối loạn chức năng gia đình hay một bệnh lý gia đình là một hậu quả của sự mất cân bằng cấu trúc gia đình:

 Rối loạn chức năng về sắp xếp trật tự và ranh giới trong gia đình

 Phản ứng không thích nghi đối với sự thay đổi những yêu cầu

* Mục đích điều trị

Tái cấu trúc gia đình:

Chuyển đổi vị trí tương đối của các thành viên để làm đảo lộn mẫu hình bị rối loạn và để làm mạnh lên vai trò của bố mẹ

Huy động mẫu hình thay thế thích nghi hơn

* Trường phái chiến lược

Đại diện là Jay Haley

* Quan điểm về chức năng một gia đình bình thường

Tính linh hoạt

Toàn vộ hành vi chính nhằm:

Trang 9

 Vấn đề quyết định

 Vượt qua các chu kỳ cuộc sống

* Quan điểm về rối loạn chức năng gia đình

Nhiều lý do giải thích các rối loạn chức năng gia đình :

 Giải quyết các vấn đề không hiệu quả

 Mất khả năng điều chỉnh sự chuyển tiếp chu kỳ cuộc sống

 Tính tôn ti trật tự không hài hòa, sự phân chia hay sự liên kết lỏng lẻo vượt qua tính trật tự trong gia đình Sự rối loạn là hành động giao tiếp được gắn chặt trong mẫu hình tương tác

* Mục đích điều trị

Giải quyết những vấn đề hiện có:

 Những rối loạn hành vi đặc trưng đã được xác định

 Làm giảm đoạn chu kỳ phản hồi cứng nhắc, làm thay đổi các rối loạn đã gây hậu quả bằng lối ra mới

 Xác định trật tự trong gia đình rõ hơn

1.1.1.2 Trường phái hành vi – xã hội

Đại diện là Liberman, Patterson, Alexander

* Quan điểm về chức năng một gia đình bình thường

Hành vi kém thích nghi không được cũng cố

Những hành vi thích nghi được khen thưởng

Những thay đổi có lợi có giá trị hơn sự mất mát

Trang 10

Sự tách động hỗ trợ.

* Quan điểm về rối loạn chức năng gia đình

Những hành vi rối loạn không thích nghi được củng cố bằng:

 Sự quan tâm và khuyến khích của gia đình

 Khen thưởng không đầy đủ ( (bao gồm cả sự cưỡng bức)

 Thiếu sự giao tiếp

* Mục đích điều trị

Rất cụ thể nhằm vào hành vi có thể quan sát được và nhằm thay đổi tính ngẫu nhiên của những cũng cố của xã hội (hậu quả những ứng sử giữa các thành viên):

 Khen thưởng cho những hành vi thích nghi

 Không khen thưởng cho những hành vi kém thích nghi

1.1.1.3 Trường phái tâm lý động

Đại diện là Ackerman L Borzmenyi – Nagy, Lidz

* Quan điểm về chức năng một gia đình bình thường:

Nhân cách của bố mẹ và các mối quan hệ được phân biệt rõ ràng

Nhân thức về mối quan hệ dựa trên hoàn cảnh thực tế mà không phải dựa trên sự phóng chiếu từ quá khứ

Theo L Boszormenyi – Nagy: Tính hợp lý trong mối quan hệ

Theo Lidz: Tính cần thiết trong công việc gia đình:

 Sự liên kết giữa bố mẹ

Trang 11

 Ranh giới giữa các thế hệ.

 Vai trò liên kết giới tính giữa bố mẹ

* Quan điểm về rối loạn chức năng gia đình:

Những rối loạn do quá trình phóng chiếu gia đình bắt nguồn từ xung đột không giải quyết được và sự mất mát trong gia đình không giải quyết

* Mục đích điều trị:

Nhận thức và giải quyết của gia đình về xung đột và sự mất mát trước đây.Giảm quá trình phóng chiếu gia đình

Xây dựng lại mối quan hệ và sự thống nhất

Sự phát triển của từng cá thể và cả gia đình

1.1.1.4 Trường phái liệu pháp gia đình hệ thống

Đại diện là M Bowen

* Quan điểm về chức năng một gia đình bình thường:

Trường phái này nhấn mạnh đến sự phân biệt về cá nhân, sự cân bằng về cảm xúc và lý trí

* Quan điểm về rối loạn chức năng gia đình.

Suy giảm chức năng bởi mối quan hệ với gia đình gốc:

Sự phân liệt không rõ ràng

Lo âu (tính phản ứng)

Quá trình phóng chiếu gia đình

Sự chia sẽ trong gia đình

Trang 12

* Mục đích điều trị:

 Sự phân biệt vai trò trong gia đình

 Phát huy chức năng nhận thức

 Giảm phản ứng cảm xúc

 Điều chỉnh mối quan hệ trong hệ thống gia đình:

o Loại bỏ hiện tượng chia rẽ

o Hàn gắn lại những hiện tượng bị rạn nứt

1.1.1.5 Trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm

Đại diện là V Sater, C Whitaker

* Quan điểm về chức năng một gia đình bình thường

Theo V Satir:

Đánh gia cao giá trị bản thân

Giao tiếp rõ ràng, đặc trưng, trung thực

Vai trò gia đình: linh hoạt, phân tích, thích hợp

Mối liên kết xã hội: cởi mở, đầy hy vọng

* Quan niệm về rối loạn chức năng gia đình:

Những rối loạn là những thông tin phi ngôn ngữ trong sự phản ứng với sự rối loạn giao tiếp hiện tại trong gia đình

* Mục đích điều trị:

Tăng cường giao tiếp trực tiếp và rõ ràng

Trưởng thành từng cá thể và cả gia đình thông qua kinh nghiệm được chia sẽ tức thì

Trang 13

Các kỹ thuật

Mặc dầu có rất nhiều trường phái trong liệu pháp gia đình nhưng tất cả đều nhằm vào xây dựng sự thống nhất của gia đình xung quanh người bệnh Kỹ thuật của liệu pháp gia đình dựa chủ yếu vào quan điểm lý thuyết hệ thống và quan điểm phân tâm

1.1.1.1 Liệu pháp gia định đình có hệ thống

Vấn đề quan trọng nhất của liệu pháp gia đình là sự định hướng có hệ thống, điều mà Eptein và Bishop đã tổng kết như sau:

- Các thành viên trong gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

- Một thành viên trong gia đình không thể được biết đến nếu tách biệt với các thành viên còn lại của hệ thống gia đình

- Chức năng của gia đình không thể được hiểu một cách đầy đủ vởi với nhận thức đơn giản của một trong số các thành viên

- Cấu trúc và tổ chức gia đình là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm quyết định ứng xử của các thành viên trong gia đình

- Những mẫu hình giao dịch của hệ thống gia đình có ảnh hưởng lớn đến hành vi của các thành viên trong gia đình

Trong liệu pháp gia đình buổi tiếp xúc đầu tiên được đánh giá vô cùng quan trọng Bởi vì một số gia đình chưa hiểu rõ tầm quan trọng của vai trò gia đình trong việc phát sinh các tiến triển bệnh lý của các thành viên trong gia đình họ Một số gia đình sợ rằng khi phát hiện ra những quan hệ hoặc những rối loạn trong gia đình họ thì người ngoài sẽ đánh giá không tốt về họ, hoặc họ sợ người ngoài cho rằng cả gia đình họ bị bệnh, hoặc họ sợ vợ (chồng) phản đối, hoặc

họ sợ khi thảo luận công khai về những hành vi lệch lạc sẽ ảnh hưởng xấu đến con họ Thường buổi tiếp xúc đầu tiên giữa nhà trị liệu với từng thành viên

Trang 14

hoặc với tất cả các thành viên nếu họ hoàn toàn nhất trí Buổi tiếp xúc ban đầu nhằm mục đích chủ yếu là tư vấn hơn là mục đích điều trị và đặc biệt nhằm động viên các thành viên tham gia tích cực trong quá trình điều trị và giúp nhà trị liệu hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan đến hệ thống gia đình Trên cơ sở tư vânvấn, tính logic của việc tiếp cận với gia đình có thể được giải thích cho gia đình và tính logic đó có nhiều cơ hội được chấp nhận.

Các buổi tiếp xúc với các thành viên trong gia đình nên ghi lại (quay phim) hoặc được ghi chép cẩn thận, sau đó nhà trị liệu có thể phân tích lại Thông qua giao tiếp với gia đình nhà trị liệu hiểu rõ mẫu hình đặc trưng của từng gia đình, hiểu rõ lịch sử, động lực trong gia đình, hiểu rõ những vấn đề liên quan đến bệnh lý của từng cá nhân hoặc của cả gia đình Trong khi giao tiếp mỗi thành viên sẽ tự phát biểu về những chủ đề đã chọn trước, còn nhà trị liệu phân tích

và nhấn mạnh đến sự rối loạn, sự lệch lạc trong mối quan hệ giữa các thành viên từ đố đưa ra chiến lược điều trị Chiến lược điều trị đó nhằm:

Huy động hệ thống liên hệ bên trong gia đình

Nhằm lặp lại sự cân bằng đã bị rối loạn, thiết lập một gia đình thống nhất trong đó các thành viên có mối quan hệ tương tác tích cực và chia sẽ với nhau những khó khăn cũng như những thuận lợi

Nhằm điều chỉnh mối quan hệ bên trong gia đình

Giải quyết những sang chấn tâm lý (stress) bên trong gia đình

Loại bỏ các rối loạn của các thành viên trong gia đình bị bệnh bằng cách thay đổi mẫu hình quan hệ điều mà đã cũng củng cố các rối loạn đó.Mỗi buổi giao tiếp thường diễn ra từ 1.5 đến 2.0 giờ và mỗi tuần một buổi Thành phần tham dự trị liệu gồm tất cả những người thân trong gia đình, thậm chí cả những thành viên trẻ, vì chính những những thành viên nhỏ tuổi sẽ cung cấp nhiều

Trang 15

thông tin cần thiết Nếu chỉ có hai vợ chồng hoặc hai bạn tình tham gia điều trị chúng ta gọi đó là điều trị cặp.

1.1.1.6 Các kỹ thuật liệu pháp phân tâm

Những người khởi xướng liệu pháp gia đình đều là những nhà trị liệu phân tâm Thường các kỹ thuật phân tâm được sử dụng chủ yếu trong liệu pháp tâm

lý cá nhân, nhằm tìm hiểu các xung đột tâm lý trước đây và nhằm thay đổi mối quan hệ trong gia đình

Chỉ định

- Bệnh tâm thần phần liệt

- Bệnh cơ thể tâm sinh

- Rối loạn ăn uống: ăn uống vô điều độ, chán ăn tâm thần

- Các chứng nghiện: Nghiện ma túy, nghiện rượu

Chông chỉ định được đặt ra khi mà các thành viên Trong trong gia đình không hợp tác trong khi thảo luận những vấn đề được nêu ra, nghĩa là họ không chấp nhận bất kỳ một sự thay đổi nào

Trang 16

Bệnh tâm thần phân liệt

Khái niệm bệnh tâm thần phân liệt

Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ, có khuynh hướng mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở lên khô lạnh dần, khả năng họ tập ngày một sút kém, có những hành vi ý nghĩ kỳ dị khó hiểu

Bệnh nguyên, bệnh sinh bệnh tâm thần phân liệt

Nguyên nhân chưa được chứng minh rõ ràng

Các giả thuyết

- Yếu tố di truyền: 59% (Kallmann 1967, 40% Trần Văn Lập 1986)

- Yếu tố sinh hóa ( (rối loạn chuyển hóa các chất Cathecholamine, Serotonin, GABA)

- Yếu tố ngoại lai ( (Nhiễm trùng, nhiễm độc, sang chấn…)

- Yếu tố tâm lý xã hội, các rối loạn cấu trúc và xung đột gia đình

Các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt

Theo iCD – i0F (WHO chính thức công bố năm 1992)

- Tư duy văng thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp, tư duy bị phát thanh

- Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động có liên quan rõ rệt tới vận động cơ thể hoặc liên quan với yý nghĩ, hành vi cảm giác đặc biệt của bệnh nhân hay tri giác hoang tưởng

- Các ảo thanh bình phẩm thường xuyên về hành vi của người bệnh hay thảo luận với nhau về người bệnh hoặc ảo thanh giả

Trang 17

- Các hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp.

- Ngôn ngữ gián đoạn, thêm từ khi nói, tư duy không liên quan hay không thích hợp

- Tình trạng căng trương lực: Kích động căng trương lực, giữ nguyên giáng,uốn sáp hay phủ định không nói, sững sờ

- Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn không thích hợp, cách ly xã hội, giảm sút hiệu xuất lao động

- Biến đổi thường xuyên và rõ rệt một cách toàn diện tập tính cá nhân như: mất hứng thú, thiếu mục đích, mải mê suy nghĩ về bản thân, lười nhác, khó thích ứng xã hội…

Các phương pháp điều trị bệnh tâm thần phân liệt

Do căn nguyên bệnh chưa rõ ràng nên vấn đề điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng cho người bệnh Nói cách khác phải kết hợp nhiều liệu pháp khác nhau: Liệu pháp hóa học, liệu pháp lao động và liệu pháp PHCNTLXH để giúp người bệnh khắc phục các di chứng do bệnh gây ra

- Can thiệp bằng thuốc chống loạn thần: Thuốc có hiệu quả chống các trạng thái loạn thần cấp, chống tái phát và chống mạn tính hóa

Trang 18

Các hình thức phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho người bệnh tâm thần phân liệt

- Tâm lý trị liệu: Tâm lý cá nhân, tâm lý nhóm, âm nhạc trị liệu, tâm kịch trị liệu

- Hoạt động trị liệu: Các hoạt động thể thao giải trí

- Kỹ năng xã hội: Tự lập, giao tiếp, gia đình, lao động, vui chơi giải trí

- Kỹ năng nghề nghiệp: Tạo điều kiện cho người bệnh làm việc cũ hoặc dạy nghề mới

Trị liệu gia đình

Trị liệu gia đình là phương pháp thường được sử dụng trên thế giới và áp dụng tại Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương Trị liệu này bao gồm các nội dung chính như sau:

+ Tâm lý nhóm, liệu pháp gia đình hệ thống: nghĩa là người trị liệu phải giống như là một thành viên của một gia đình hiểu về tâm tư tình cảm của người bệnh

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung chủ yếu vào nội dung tập huấn gia đình người bệnh

Tập huấn gia đình người bệnh

Gia đình là một hệ thống bao gồm các thành viên tác động qua lại với nhau

và có vai trò quan trọng trong cơ chế tái phát bệnh hoặc ổn định bệnh của người bệnh tâm thần phân liệt, áp dụng liệu pháp gia đình nhằm khắc phục mâu thuẩn thuẫn giữa các thành viên, thiết lập dần sự chấp nhận người bệnh, hiểu biết về bệnh và biết cách chăm sóc quan tâm đến người bệnh tâm thần phân liệt

Trang 19

Trong pham phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu một phần nhỏ của liệu pháp gia đình đó là hiểu quả của “Tập huấn gia đình người bệnh”.

Tại sao phải tập huấn cho gia đình người bệnh tâm thần phân liệt?

- Trong mô hình điều trị ban ngày, người bệnh đến bệnh viện vào các buổi sáng của những ngày làm việc để tham gia các hoạt động phục hồi chức năng – Tâm lý xã hội và uống thuốc, cuối ngày người bệnh lại trở về mái ấm của mình bên cạnh những người thân – tái hòa nhập cộng đồng

- Bệnh nhân tâm thân phân liêt có đặc điểm tiến triển mãn mạn tính, người bệnh uống thuốc phòng tái phát cơn suốt đời Chỉ có khoảng 1% người bệnh được điều trị nội trú, 99% người bệnh được chăm sóc tại nhà

- Những hiểu biết của gia đình về bệnh tâm thần phân liệt và cách chăm sóc người bệnh sẽ giúp họ dễ cảm thông, chấp nhận và chăm sóc người bệnh tốt hơn, điều đó có vai trò rất lớn trong việc duy trì cuộc sống ổn định của người bệnh

Các nội dung tập huấn gia đình người bệnh tâm thân phân liệt

- Thế nào là bệnh tâm thân phân liệt?

- Nguyên nhân của bệnh TTPL

- Các triệu chứng của bệnh TTPL

- Phương pháp điều trị, thời gian điều trị và khả năng điều trị bệnh TTPL

- Thái độ của gia đình và cộng đồng nên có đối với người bệnh TTPL

- Cách quản lý thuốc, cho người bệnh uống thuốc và kiểm soát người uống thuốc như thế nào?

- Các tác dụng phụ của thuốc an toàn thần kinh điều trị bệnh TTPL

- Các biểu hiện phát hiện người bênh tái phát bệnh

Trang 20

- Những việc gia đình lên làm để duy trì sự cuộc sống ổn định của người bệnh tâm thần phân liệt:

- Phục hồi chức năng: sinh hoạt, tâm lý xã hội, lao động nghề nghiệp

- Đưa người bệnh đến các cơ sở chuyên khoa tâm thần khám định kỳ ( (duy trì chế độ điều trị ngoại trú) và khám lại ngay khi có dấu hiệu tái phát bệnh

- Tập huấn này triển khai trong thời gian từ 6/2015 - 9/2015

- M ỗi tháng 1 buổi, mỗi năm 12 buổi Thời gian mỗi buổi là 2 giờ

- Giảng viên là bác sỹ

- Cách thức giảng dạy : tập huấn cho gia đình người bệnh về bệnh TTPL

và cách thức chăm sóc người bệnh và trả lời những câu hỏi logic của gia đình người bệnh và bệnh nhân

Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai hương

Cần mô tả: Bệnh viện thành lập tháng 10/1998, địa chỉ số 4 phố Hoàng Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Có 50 giường bệnh, 10 bác sĩ, 23 điều dưỡng,…

Bảng 1.1: Cơ cấu bệnh điều trị nội trú tại khoa lâm sàng-Bệnh viện tâm thần

ban ngày Mai Hương từ năm 2009 đến năm 2014

Trang 21

F6+7+8+9 10 3.97 7 2.91 5 1.78 5 1.56 5 1.31 5 1.48

252 100 260 100 280 100 321 100 383 100 323 100

Trang 22

Chương 2 PHẦN 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 2.1 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: 4 tháng ( từ tháng 16/2015 đến 910/2015)

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương

2.3 Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn

+ Người trực tiếp quản lý và chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại khoa lâm sàng- Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương từ tháng 6/2015 đến 9/2015 tự nguyện tham gia nghiên cứu

+ Người biết chữ

+ Người được phỏng vấn sau tập huấn gia đình người bệnh (Test đầu ra) phải tham gia tập huấn về bệnh tâm thần phân liệt

+ Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp can thiệp

2.4.1 Cỡ mẫu và cách Cchọn mẫu nghiên cứu

Tất cả người nhà của người bệnh TTPL điều trị nội trú tại khoa lâm sàng- trong thời gian từ tháng 6/2015 đến 9/2015 ( số lượng 30 người)

Thiết kếPhương pháp nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp, so sánh giữa trước

và sau can thiệp

Trang 23

2.4.2 Mô tả cắt ngang đánh giá đầu,cuối.

Công cụ nghiên cứu

2.4.3 Tổ chức nghiên cứu

- Tổ chức nhóm nghiên cứu mô tả cắt ngang theo các bước sau

+ B1: Thiết kế bỏ bộ phiếu gia đình người bệnh, các bảng thống kê số liệu nghiên cứucông cụ nghiên cứu

+ B2: Chuẩn bị nội dung tập huấn cho gia đình người bệnh: Kiến thức về bệnh tâm thân phân liệt, hành vi chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình (tờ rơi, hình ảnh, băng ghi âm….)

Đợt 1: Khoảng 15 người, thời gian là tháng 6/2015

Đợt 2: Khoảng 15 người, thời gian là tháng 8/2015

+ B1: Phỏng vấn người nhà bệnh trước tập huấn (test đầu vào)

+ B2: Tập huấn cho gia đình người bệnh: Phổ biến nội dung đẫ đã được chuẩn bị cho các gia đình người bệnh mỗi buổi 30-45 phút (có phát tài liệu kèm theo), nghe băng, xem hình ảnh

Đợt 1: Khoảng 15 người, thời gian là tháng 6/2015

Đợt 2: Khoảng 15 người, thời gian là tháng 8/2015

Thảo luận và tư vấn (trị liệu tâm lý) những thắc mắc của gia đình người bệnh trong nội dung thứ năm

+ B3: Phỏng vấn người nhà bệnh nhân đã được tập huấn ( (test đầu ra) vào cuối buổi tập huấn thứ 5

+ Bước 4: So sánh với trước tập huấn

Trang 24

2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

- Công cụ nghiên cứu: Bảng phỏng vấn người nhà của người bệnh (test đầu, cuối), tài liệu phát tay, các băng thu chương trình tập huấn gia đình người bệnh của bệnh viện…

- Thu thập số liệu và xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học ( (Epi iNFO 6.0) Sử dụng thống kê những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được

từ n ghiên cứu thực nghiệm của cách thức khác nhau

Với việc so sánh thì sử dụng test thống kê nào? Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 95% hay 99%

2.6 Đạo đức nghiên cứu

Bệnh nhân và gia đình bệnh nhân đã được giải thích rõ về việc tham gia nghiên cứu và đồng ý tham gia trên tinh thần tự nguyện Trong quá trình nghiên cứu, bệnh nhân và gia đình có quyền rút khỏi nghiên cứu không cần giải thích

lý do

Các thông tin thu thập được đảm bảo giữ bí mật

Trang 25

PHẦN 3 :Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong 6 tháng đầu năm 2015 có 40 người bệnh TTPL trong số 293 người bệnh vào điều trị nội trú chiếm 13.7%

Trong cả 2 đợt có 30 người thân của người bệnh tham gia tập huấn và đượcđiều trị liệu tâm lí

Kết quả thu được như sau:

3.1 Thông tin chung về người nhà, người bệnh TTPLMột số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1Bảng 3.1: : Phân bố theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Trang 26

Bảng 3.2: Phân bổố theo giới tính của đối tượng nghiên cứu

 Trong số đối tượng tham gia nghiên cứu, Nnam giới chiếm

13 người chiếm 43,.35%, nữ 17 người chiếm 56,.7%

Bảng 3.3: Phân bbổ đối tượng nghiên cứuố theo quan hệ với người bệnh

Trang 27

Bảng 3 4: Phân bổ đối tượng nghiên cứuố theo trình độ văn hóa

Bảng 3.5: Phân bố bổ bệnh nhân tâm thần phân liệt theo thời gian bị bệnh của

người bệnh tâm thần phân liệt

Trang 28

Bảng 3.6: Phân bố bổ bệnh nhân TTPL theo số lần người bệnh vào viện

 Có 17 gia đình (56.7%) có người bệnh vào viện điều trị từ

3 lần trở lên, 7 gia đình (23.3%) có người bệnh vào viện điều trị lần đầu tiên

Bảng 3.7: Tỉ lệ gia đình người bệnh không tiếp tục chương trình tập huấn

Trang 29

3.2 So sánh kiến thức về bệnh TTPL của người nhà người bệnh trước và sau tập huấn

Bảng 3.8: So sánh hiểu biết về khái niệm bệnh tâm thần phân liệt

Tỉ lệ (%)

Số người

Tỉ lệ (%)

Bảng 3.9: So sánh hiểu biết về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt

Nguyên nhân

p

Số người

Tỉ lệ (%)

Số người

Tỉ lệ (%)

Ngày đăng: 01/07/2016, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cơ cấu bệnh  điều trị nội trú tại khoa lâm sàng-Bệnh viện tâm thần - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 1.1 Cơ cấu bệnh điều trị nội trú tại khoa lâm sàng-Bệnh viện tâm thần (Trang 20)
Bảng 1Bảng 3.1: : Phân bố theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 1 Bảng 3.1: : Phân bố theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu (Trang 25)
Bảng 3.2: Phân bổố theo giới tính của đối tượng nghiên cứu - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.2 Phân bổố theo giới tính của đối tượng nghiên cứu (Trang 26)
Bảng 3.5:  Phân bố bổ bệnh nhân tâm thần phân liệt theo thời gian bị bệnh của - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.5 Phân bố bổ bệnh nhân tâm thần phân liệt theo thời gian bị bệnh của (Trang 27)
Bảng 3. 4: Phân bổ đối tượng nghiên cứuố theo trình độ văn hóa - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3. 4: Phân bổ đối tượng nghiên cứuố theo trình độ văn hóa (Trang 27)
Bảng 3.6: Phân bố bổ bệnh nhân TTPL theo số lần người bệnh vào viện - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.6 Phân bố bổ bệnh nhân TTPL theo số lần người bệnh vào viện (Trang 28)
Bảng 3.8: So sánh hiểu biết về khái niệm bệnh tâm thần phân liệt - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.8 So sánh hiểu biết về khái niệm bệnh tâm thần phân liệt (Trang 29)
Bảng 3.9: So sánh hiểu biết về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.9 So sánh hiểu biết về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt (Trang 29)
Bảng 3.10: So sánh hiểu biết về các biểu hiện của bệnh tâm thần phân liệt - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.10 So sánh hiểu biết về các biểu hiện của bệnh tâm thần phân liệt (Trang 30)
Bảng 3.11: So sánh hiểu biết về thời gian điều trị bệnh tâm thần phân liệt - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.11 So sánh hiểu biết về thời gian điều trị bệnh tâm thần phân liệt (Trang 31)
Bảng 3.12: So sánh hiểu biết của gia đình người bệnh về phương pháp điều trị - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.12 So sánh hiểu biết của gia đình người bệnh về phương pháp điều trị (Trang 31)
Bảng 3.13: So sánh hiểu biết của gia đình về khả năng điều trị bệnh TTPL - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.13 So sánh hiểu biết của gia đình về khả năng điều trị bệnh TTPL (Trang 32)
Bảng 3.16: So sánh hành vi quản lý thuốc và cho người bệnh uống thuốc - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.16 So sánh hành vi quản lý thuốc và cho người bệnh uống thuốc (Trang 34)
Bảng 3.17: So sánh hành vi theo dõi tác dụng phụ của thuốc an thần kinh - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.17 So sánh hành vi theo dõi tác dụng phụ của thuốc an thần kinh (Trang 35)
Bảng 3.19: So sánh các hành vi chăm sóc khác - liệu pháp gia đình ở nhóm người bệnh tâm thần phân liệt trong mô hình điều trj ban ngày
Bảng 3.19 So sánh các hành vi chăm sóc khác (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w