Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy cô và các anh chị em cộng tác viên của đề tài “Điều tra ban đầu về bệnh nhân mới điều trị bằng thuốc Methadone trong dự phòng HIV tại mộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGÔ HOÀNG ANH
KIẾN THỨC, HÀNH VI NGUY CƠ NHIỄM HIV VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở BỆNH NHÂN THAM GIA ĐIỀU TRỊ METHADONE
TẠI 3 TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆM CỬ NHÂN Y KHOA
Khóa học: 2011 – 2015
Hà Nội - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGÔ HOÀNG ANH
KIẾN THỨC, HÀNH VI NGUY CƠ NHIỄM HIV VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở BỆNH NHÂN THAM GIA ĐIỀU TRỊ METHADONE
TẠI 3 TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM NĂM 2014
Giảng viên hướng dẫn: TH.S HOÀNG THỊ HẢI VÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆM CỬ NHÂN Y KHOA
Khóa học: 2011 – 2015
Hà Nội – 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, Phòng Đào tạo Đại học, đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu tại trường
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Y Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, các thầy cô trong Bộ mônThống Kê Tin Học Y Học đã tận tình
dạy dỗ, giúp đỡ em trong 4 năm học tại trường cũng như trong quá trình hoànthành luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn
ThS Hoàng Thị Hải Vân - người thầy đã hướng dẫn dành nhiều thời gian tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận văn của mình
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy cô và các anh chị em cộng tác viên của đề tài “Điều tra ban đầu về bệnh nhân mới điều trị bằng thuốc Methadone trong dự phòng HIV tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014” đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp em lấy được số liệu
phục vụ cho luận văn này
Mình luôn cám ơn sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của bạn bè trong quátrình học tập cũng như trong cuộc sống
Đặc biệt, con cám ơn gia đình đã luôn dành cho con sự yêu thương và nhữngđiều kiện tốt nhất để con yên tâm học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp đạihọc
Trang 5Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : - Phòng Đào tạo đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, khóa học 2011 – 2015.
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiêp: “Kiến thức, hành vi nguy cơ nhiễm HIV và một số yếu tố ảnh hưởng ở bệnh nhân tham gia điều trị Methadone tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014” là do em tự nhập số liệu và phân tích, xử lý số liệu của đề tài: “Điều tra ban đầu về bệnh nhân mới điều trị bằng thuốc Methadone trong dự phòng HIV tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014” Những tài liệu khác sử dụng
trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu, kếtquả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai em xin chịu hoàntoàn trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của viện và nhà trường
Sinh viên
Ngô Hoàng Anh
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT HIV/
AIDS
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải(Human immunodeficiency virus infection / acquired immunodeficiency syndrome )
SIDA Syndrome de Immuno Deficience Acquise
FSH Hormon kích thích nang trứng(Follicle-stimulating
hormone)
LH Hoàng thể (Luteinizing hormone)
ACTH Hormone kích thích thượng thận(adrenocorticotropic
hormone)
ADH Hormon chống lợi niệu(antidiuretic hormone)
SAMHSA Cơ quan điều trị lạm dụng ma túy và rượu Hoa Kỳ
(Substance Abuse and Mental Health ServicesAdministration)
QHTD Quan hệ tình dục
TTYT Trung tâm y tế
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
I LỆ THUỘC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN 3
1 Khái niệm 3
2 Nguyên nhân 3
3 Thực trạng lệ thuộc chất dạng thuốc phiện 4
II KIẾN THỨC VỀ HIV/AIDS 5
1 Định nghĩa về HIV và AIDS 5
2 Các con đường lây truyền HIV/AIDS chủ yếu trong cộng đồng 6
3 Tình hình dịch HIV/AIDS 7
III CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE 9
1 Hiểu biết chung về lịch sử điều trị Methadone 9
2 Các tác dụng của Methadone 10
3 Biện pháp điều trị thay thế Methadone 11
4 Lợi ích của chương trình điều trị Methadone với người bệnh 12
5 Những ưu điểm và hạn chế trong công tác điều trị Methadone tại nước ta ……….13
IV TÌNH HÌNH NHIỄM HIV VÀ HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ METHDONE TẠI CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC CỦA NƯỚC TA 15
1 Tình hình nhiễm HIV tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta 15
2 Hoạt động điều trị methadone tại các tỉnh miền núi phía Bắc 17
V CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG METHADONE 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
Trang 82.1 Địa điểm nghiên cứu 22
2.2 Thời gian nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Đối tượng nghiên cứu 22
2.5 Cỡ mẫu và chọn mẫu 22
2.6 Biến số chỉ số 24
2.7 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.8 Sai số và cách khống chế sai số 28
2.9 Xử lý và phân tích số liệu 29
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 30
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Kiến thức và hành vi nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của bệnh nhân tham gia điều trị Methadone 33
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về cách phòng ngừa HIV/ AIDS theo 5 câu hỏi quy định của Bộ Y Tế ban hành năm 2007 41
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 46
4.1 Kiến thức và hành vi nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 46
4.2 Các yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi 50
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 52
KHUYẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Biến số và chỉ số 24
Bảng 3.1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 30
Bảng 3.2: Tiền sử sử dụng chất gây nghiện 31
Bảng 3.3: Kiến thức của đối tượng điều trị Methadone về HIV/AIDS 33
Bảng 3.4: Tiền sử tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.5: Quan điểm của đối tượng về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS 35
Bảng 3.6: Hành vi nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của đối tượng trước khi tham gia điều trị Methadone 36
Bảng 3.7: Cách phòng ngừa HIV theo 5 câu hỏi quy định của Bộ Y tế ban hành năm 2007 và kiến thức đúng về 3 con đường lây truyền HIV/AIDS 40
Bảng 3.8: Các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng về cách phòng ngừa HIV/AIDS theo 5 câu hỏi quy định của Bộ Y Tế ban hành năm 2007 41
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa một số yếu tố với kiến thức về 3 con đường lây truyền HIV/AIDS 43
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa hành vi nguy cơ và tình trạng nhiễm HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 44
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ loại chất gây nghiện đối tượng nghiên cứu sử dụng lần đầu 32 Biểu đồ 3.2: Phân bố tỷ lệ tự đánh giá nguy cơ nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu 38 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ % lý do đối tượng cho rằng mình có nguy cơ lây nhiễm
HIV/AIDS 38 Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ lý do đối tượng cho rằng mình không có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS 39
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối đe dọa đồng thời cũng làthách thức lớn không chỉ với sức khỏe, tính mạng con người mà còn ảnhhưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, sự ổn định chính trị - xã hội
và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trên thế giới Những hậu quả màHIV/AIDS gây ra là vấn đề mà nhiều quốc gia trên thế giới phải hứng chịutrong đó có Việt Nam [1, 2]
Tại Việt Nam, tính từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990tại TP Hồ Chí Minh cho đến hết 31/3/2014, toàn quốc hiện có 218.204trường hợp số trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV (trong đó số bệnhnhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 67.259) và đã có 69.287 trườnghợp tử vong do HIV/AIDS [3] Tuy nhiên theo ước tính và dự báodịch HIV/AIDS năm 2014 có khoảng 256.500 người hiện nhiễm HIV trongcộng đồng Do đó ước tính còn 38.300 người nhiễm HIV trong cộng đồngchưa biết tình trạng nhiễm HIV Tỷ lệ người hiện mắc HIV toàn quốc trên100.000 dân theo số báo cáo là 248 người, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương
có tỷ lệ hiện mắc HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (875), tiếp đến làthành phố Hồ Chí Minh (690), thứ 3 là Thái Nguyên (636) [3] Đặc biệt là sốngười tiêm chích ma túy sống chung với HIV/AIDS chiếm tỷ lệ không nhỏ,trên thế giới là 1,7 triệu người, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người nghiệnchích ma túy ở Việt Nam là 13.4% (so với tỷ lệ nhiễm HIV là 0.45% trongdân số nói chung) [4]
Nhận thức được các nguy cơ này, nhiều biện pháp giảm thiệu tác hại,
và tăng cường sự đáp ứng rộng rãi của cộng đồng giúp phòng ngừa và điều trịdựa vào cộng đồng để giải quyết tình trạng lệ thuộc chất gây nghiện đã đượctriển khai nhằm giúp tránh được những nguy hại do lệ thuộc chất dạng thuốcphiện nói chung, đặc biệt giúp phòng ngừa dịch HIV/AIDS có liên quan đến
Trang 12lạm dụng chất dạng thuốc phiện Trong năm 2006, Cục Phòng, chốngHIV/AIDS (VAAC)– Bộ Y Tế (MOH) đã bắt đầu triển khai thí điểm chươngtrình điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng Methadone [5], chương trình
đã đem lại những hiệu quả hết sức rõ rệt như cải thiện sức khỏe, chất lượngcuộc sống của bệnh nhân [5, 6]
Tuy nhiên tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS vẫn còn diễnbiến phức tạp tại các tỉnh miền núi phía bắc, do các tỉnh miền núi thường cóđiều kiện kinh tế, địa lý khó khăn nên tỷ lệ người nghiện chích ma túy còncao, cách tiếp cận với dịch vụ y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nhiều bấtcập, đặc biệt các tỉnh miền núi phía Bắc nằm trên con đường vận chuyển,buôn bán và sử dụng ma túy hết sức phức tạp và khó kiểm soát, vì vậy côngtác điều trị bằng Methadone gặp phải nhiều thách thức lớn Chính vì vậy chúng tôi
tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, hành vi nguy cơ nhiễm HIV và một số yếu
tố ảnh hưởng ở bệnh nhân tham gia điều trị Methadone tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014” với các mục tiêu cụ thể như sau:
1 Mô tả kiến thức và hành vi nguy cơ nhiễm HIV ở các bệnh nhân thamgia điều trị Methadone tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm2014
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi nguy cơnhiễm HIV ở các bệnh nhân tham gia điều trị Methadone tại 3 tỉnhmiền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014
Trang 13CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I LỆ THUỘC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN
1 Khái niệm
Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) như thuốc phiện, morphin, heroin lànhững chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); thời gian tác dụng nhanhnên người bệnh nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc hệ thần kinhtrung ương, thời gian bán hủy ngắn do đó phải sử dụng nhiều lần trong ngày
và nếu không sử dụng lại sẽ bị hội chứng cai Vì vậy, người nghiện CDTP(đặc biệt heroin) luôn dao động giữa tình trạng nhiễm độc hệ thần kinh trungương và tình trạng thiếu thuốc (hội chứng cai) nhiều lần trong ngày, là nguồngốc dẫn đến những hành vi nguy hại cho bản thân và những người khác [7]
Lệ thuộc CDTP là khi một người cần phải sử dụng CDTP để sinh hoạtbình thường Một số thuốc được kê đơn, các loại bất hợp pháp như cần sa,heroin và amphetamines (như thuốc lắc, ma túy đá, v v ) Lệ thuộc chất dạngthuốc phiện không những làm tăng nhu cầu sử dụng CDTP mà còn làm mấtkhả năng kiểm soát hành vi Lệ thuộc CDTP là một tình trạng bệnh mạn tínhcủa não bộ, tương tự như các bệnh mạn tính khác Lệ thuộc CDTPcần phảiđược chẩn đoán và có thể kiểm soát được Lệ thuộc CDTP có thể được mô tảnhư là người bệnh “buộc tìm kiếm và sử CDTP, bất chấp những hậu quả tiêucực cho sức khỏe và xã hội liên quan đến việc sử dụng CDTP”
2 Nguyên nhân
Có rất nhiều lý do khác nhau khi một người bắt đầu sử dụngCDTP, bao gồm:
Giúp giảm đau
Giúp tỉnh táo và minh mẫn khi làm việc, học tập
Là tập tục và truyền thống mang tính văn hoá
Trang 14 Giúp thư giãn, giải trí.
Người mới bắt đầu sử dụng CDTP thì chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng,nhưng do bản chất gây nghiện của một số loại CDTP (như heroin hay các chấtkích thích khác), họ thường bắt đầu sử dụng thường xuyên hơn và ở liều caohơn Khi sử dụng trong một thời gian dài, CDTP sẽ làm thay đổi chức năngcủa não bộ, nghĩa là người nghiện không còn cảm thấy họ có quyền lựa chọn
sử dụng CDTP nữa mà não bộ của họ tin rằng họ cần CDTP để sinh hoạt bìnhthường dẫn đến lệ thuộc chất dạng thuốc phiện [7]
3 Thực trạng lệ thuộc chất dạng thuốc phiện
3.1.Trên thế giới
Lệ thuộc vào các chất dạng thuốc phiện và amphetamine là hai dạng lệthuộc ma tuý bất hợp pháp phổ biến nhất trên thế giới Ước tính trên thế giới
có 15,4 triệu người lệ thuộc vào các chất dạng thuốc phiện và 17,2 triệu người
lệ thuộc vào amphetamines Nhóm nghiện chích ma túy với 12,7 triệu ngườitrên thế giới có nguy cơ cao lây nhiễm các bệnh qua đường máu như HIV(chiếm 13% số người tiêm chích ma tuý) và viêm gan C (50%) [8]
3.2.Tại Việt Nam
Tính đến tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người sử dụng ma tuý,trong đó 85% tiêm chích các loại ma tuý như heroin [8] Những người tiêmchích ma tuý chiếm ưu thế trong nhóm nhiễm HIV tại Việt Nam, chiếm 45%
số người nhiễm HIV [4]
Theo Uỷ Ban Quốc Gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn matúy, mại dâm năm 2012:
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người nghiện chích ma túy là 13,4% (sovới tỷ lệ nhiễm HIV là 0.45% trong dân số nói chung) [4]
Trang 15Tỷ lệ này lên đến 56% tại một số tỉnh (Điện Biên và Quảng Ninh) [4].
Chỉ có 29% số người tiêm chích ma tuý đã xét nghiệm HIV trong 12tháng qua và biết được kết quả [4]
Tỉ lệ dùng chung bơm kim tiêm tương đối cao (15%-37%) và cao nhất
là ở Đà Nẵng (37,2%) và Lào Cai (35,3%) [4]
Gái mại dâm tiêm chích ma tuý có tỉ lệ nhiễm HIV đặc biệt cao lên đến30%
95% số người tiêm chích ma tuý ở Việt Nam là nam giới [4]
II KIẾN THỨC VỀ HIV/AIDS
1 Định nghĩa về HIV và AIDS
Theo qui định tại Điều 2 của Pháp lệnh phòng chống nhiễm virus gây rahội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), thuật ngữ HIV vàAIDS được hiểu như sau: HIV (Human Immunodeficiency Virus) là loại virusgây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người AIDS (Acquired ImmuneDeficiency Syndrome) là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV gây tổn thương
hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại cáctác nhân gây bệnh và dẫn đến chết người [9]
Hiện nay, nhờ sự phát triển, tiến bộ của khoa học, kỹ thuật màHIV/AIDS đã được hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn Theo đó, HIV ( HumanImmunodeficiency Virus) là virus suy giảm miễn dịch ở người, một lentivirus
có khả năng gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), một tìnhtrạng làm hệ miễn dịch của con người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện chonhững nhiễm trùng cơ hội và ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạngsống của người bị nhiễm [10] Còn AIDS là viết tắt của Tiếng Anh (AcqueredImmuno Deficiency Syndrome) có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịchmắc phải Viết tắt theo tiếng Pháp là SIDA (Syndrome de Immuno Deficience
Trang 16Acquise), dùng để chỉ giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV/AIDS, ở giaiđoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể đã suy yếu nên người nhiễm HIV dễdàng mắc bệnh như ung thư, viêm phổi, lao, viêm da, lở loét toàn thân haysuy kiệt Những bệnh này nặng dần dẫn đến cái chết [11].
2 Các con đường lây truyền HIV/AIDS chủ yếu trong cộng đồng
Vì HIV có nhiều trong máu, tinh dịch, âm đạo của người bị nhiễm nênHIV chủ yếu lây qua 3 con đường chính:
Qua hoạt động tình dục: đây được coi là phương thức lây truyền HIVquan trọng và phổ biến nhất trên thế giới Khoảng 70-80% tổng số ngườinhiễm HIV trên toàn cầu là bị lây nhiễm qua con đường này Quan hê tìnhdục sẽ gia tăng lây nhiễm lên rất nhiều nếu một bên có bệnh lây truyền quađường tình dục khác Liên quan chặt chẽ với lây truyền HIV qua con đườngnày là cách thức và số lần hành vi tình dục, như không dụng bao cao su, tìnhdục quá độ, tình dục với quá nhiều bạn tình
Qua đường máu: đầu tiên phải kể đến tiêm chích ma túy Tiêm chích
ma túy làm lây truyền HIV gặp ở rất nhiều nơi trên thế giới, số người tiêmchích ma túy bị nhiễm HIV rất cao (10-50% hoặc cao hơn nữa) Ngoài ra,truyền máu và các chế phẩm của máu đóng vai trò quan trọng trong lây truyềnHIV nếu các ngân hàng máu không thực hiện nghiêm túc việc truyền máu antoàn Cán bộ y tế tiếp xúc trực tiếp với máu nhiễm HIV và vật sắc nhọn đâmvào da có thể bị nhiễm [12]
Mẹ bị nhiễm HIV truyền cho con lúc mang thai hoặc sinh nở: Phụ nữnhiễm vi rút HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng khoảng 30% là con nhiễm HIVtheo mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có khoảng 7-8 trẻ
bị nhiễm Vi rút HIV có thể lây sang bé qua nhau thai khi bé còn nằm trongbụng mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh, và một số nhỏ lây qua sữa
Trang 17mẹ khi mẹ cho bé bú Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường không sống được quá
lệ người nhiễm HIV trong nhóm tuổi 15-49 là 0,8% Riêng năm 2009 ước tính
có 2,6 triệu người nhiễm mới HIV và 1,8 triệu người tử vong do AIDS Sosánh với năm 1999, số người nhiễm mới HIV đã giảm 21% Báo cáoUNAIDS cũng ghi nhận tính cuối năm 2009 đã có 33 nước có số ca nhiễmmới giảm, trong đó 22 nước khu vực cận Saharan, Châu Phi Tuy nhiên hiệnvẫn còn 7 nước tỷ lệ nhiễm mới tăng trên 25% khi so sánh giữa năm 1999 và
2009 [2]
Tại châu Á, ước tính có khoảng 4,9 triệu người đang bị nhiễm HIVtrong năm 2009 Hầu hết dịch tại các quốc gia đã có dấu hiệu chững lại.Không có quốc gia nào trong khu vực có dịch toàn thể Thái Lan là nước duynhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm gần 1% và xét một cách tổng thể, dịch
ở nước này cũng có dấu hiệu chững lại Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số ngườitrưởng thành là 1,3% trong năm 2009, và tỷ lệ nhiễm mới đã giảm xuống còn0,1% Tại Cam-pu-chia, tỷ lệ hiện nhiễm ở người trưởng thành giảm xuốngcòn 0,5% trong năm 2009, giảm từ 1,2% trong năm 2001 Song tỷ lệ hiệnnhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấpnhư Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIVchính) và Philippin Về hình thái nhiễm mới HIV ở châu Á, năm 2009 có360.000 người mới nhiễm HIV, thấp hơn 20% so với 450.000 người năm
2001 Tỷ lệ nhiễm mới giảm hơn 25% tại các nước Ấn Độ, Nepal và Thái Lan
Trang 18trong các năm từ 2001 đến 2009 [14] Dịch cũng chững lại tại Malaysia và SriLanka trong khoảng thời gian này [15, 16] Tỷ lệ nhiễm mới tăng 25% ởBangladesh và Philippin từ 2001 đến 2009 dù dịch tại các nước này vẫn ởmức thấp Hình thái lây truyền HIV tại châu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhómngười tiêm chích ma túy, người bán dâm, khách làng chơi, và nam quan hệtình dục đồng giới Các hình thái nhiễm mới có thể rất khác nhau tại nhữngquốc gia rộng lớn như Ấn Độ Khoảng 90% số người nhiễm mới HIV tại Ấn
Độ được cho là đã lây nhiễm từ việc quan hệ tình dục không an toàn, songviệc thường xuyên có 2 hoặc hơn 2 người sử dụng chung bơm kim tiêm mới
là hình thái lây truyền HIV chính tại các bang đông bắc của quốc gia này [2]
3.2 Tại Việt Nam
Tính từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990 tại TP HồChí Minh đại dịch HIV/AIDS đã bùng nổ khắp trong cả nước, lan rộng vớiquy mô lớn và diễn biến phức tạp Tính đến hết 31/3/2014, toàn quốc hiện có218.204 trường hợp số trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV (trong đó sốbệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 67.259) và đã có 69.287trường hợp tử vong do HIV/AIDS [3]
Tuy nhiên theo ước tính và dự báo dịch HIV/AIDS năm 2014 cókhoảng 256.500 người hiện nhiễm HIV trong cộng đồng Do đó ước tính còn38.300 người nhiễm HIV trong cộng đồng chưa biết tình trạng nhiễm HIV Tỷ
lệ người hiện mắc HIV toàn quốc trên 100.00 dân theo số báo cáo là 248người, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ hiện mắc HIV trên 100.000dân cao nhất cả nước (875), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (690), thứ 3 làThái Nguyên (636) [3]
Trong 3 tháng đầu năm 2014, có 2012 trường hợp mới phát hiện nhiễmHIV được báo cáo, 928 người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS; 300người nhiễm HIV/AIDS tử vong 10 tỉnh có số trường hợp xét nghiệm mới
Trang 19phát hiện dương tính lớn nhất trong 3 tháng đầu năm 2014, bao gồm TP HồChí Minh 374 trường hợp, Sơn La 94 trường hợp, Điện Biên 79 trường hợp;Yên Bái 74 trường hợp; Lai Châu 70 trường hợp; Đồng Tháp 70 trường hợp;Kiên Giang 70 trường hợp; Thái Nguyên 56 trường hợp; Đồng Nai 56trường hợp; Nghệ An 56 trường hợp [3].
III CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE
1 Hiểu biết chung về lịch sử điều trị Methadone
Methadone (còn được gọi là Symoron, Dolophine, Amidone,Methadose, Physeptone, Heptadon và nhiều tên khác) là thuốc tổng hợp có tácdụng kéo dài được sản xuất lần đầu tiên tại Đức năm 1937 với mục đích banđầu là làm thuốc giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ II Methadone làmột CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự nhu các CDTP khác (đồngvận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gâykhoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nênchỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ dể không xuất hiện hội chứng cai.Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài[17, 18]
Năm 1964, tại New York, bác sỹ Marie Nyswander và Vincent Doletìm thuốc điều trị cho những người nghiện heroin, họ phát hiện ra methadonegiúp nguời bệnh của họ ngừng sử dụng heroin và hầu như không bị tăng liềukhi dùng trong thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốcmethadone ra đời [19] Tiếp sau đó các nước cũng bắt đầu sử dụng methadonetrong điều trị giảm tác hại của các nghiện chất: như Hồng Kông bắt đầu đưamethadone vào điều trị năm 1972, tiếp sau đó vào năm 1979 là Thái Lan Saunăm 2000, có rất nhiều nước đã áp dụng điều trị methadone, trong đó có các
Trang 20nước như Nepan (1994), Indonexia (2003), Trung Quốc (4/2004), Malayxia(10/2005), Đài Loan (2006), Việt Nam (2008)…[16, 20, 21].
2 Các tác dụng của Methadone
Các tác dụng của Methadone bao gồm: giảm đau, êm dịu, ức chế hôhấp và phê sướng Mức độ phê sướng khi sử dụng Methadone bằng đườnguống ít hơn so với tiêm chích Heroin
Các tác dụng khác bao gồm: hạ huyết áp, co đồng tử (thu hẹp đồng tử),giảm ho và giải phóng Histamin gây ngứa da Các tác động lên hệ tiêu hóabao gồm: giảm co bóp dạ dày, giảm nhu động ruột, tăng co thắt cơ tròn môn
vị, tăng co thắt cơ Oddi, có thể gây co thắt đường mật Tác động trên hệ nộitiết bao gồm làm giảm Hormon kích thích nang trứng (FSH) và giảmhormone kích thích hoàng thể (LH), tăng Prolactin, giảm hormone kích thíchthượng thận (ACTH), giảm testosterone, tăng Hormon chống lợi niệu (ADH).Các chức năng nội tiết có thể trở lại bình thường sau 2-10 tháng sử dụngMethadone
3 Biện pháp điều trị thay thế Methadone
Theo Cơ quan điều trị lạm dụng ma túy và rượu Hoa Kỳ (SAMHSA),điều trị thay thế hay còn gọi là điều trị hỗ trợ bằng thuốc là việc sử dụngthuốc, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi để điều trị toàn diện cho ngườilạm dụng ma tuý Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều trị rối loại nghiện matúy, sự kết hợp giữa cả thuốc và liệu pháp hành vi là biện pháp điều trị hiệuquả và thành công nhất Còn theo Bộ Y Tế Việt Nam, điều trị thay thế nghiệncác CDTP bằng thuốc Methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giáthành rẻ, được sử dụng theo đường uống, duới dạng siro nên giúp dự phòngcác bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúpnguời bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng
Trang 21đồng [18] Ðiều trị Methadone chỉ áp dụng với người nghiện CDTP (heroin)
mà không áp dụng với những trường hợp nghiện rượu, thuốc lá,benzodiazepine, amphetamine [22]
Trong những thập kỷ đầu tiên sau khi phương thức điều trị duy trì bằngmethadone ra đời, người ta coi nó là một loại hình điều trị chuyển tiếp trêncon đường cuối cùng dẫn tới việc giảm liều và bệnh nhân sẽ ngừng sử dụngmethadone một cách hoàn toàn Ngày nay, điều trị duy trì methadone khôngcòn được coi là một biện pháp trị liệu tạm thời nữa
Methadone không phải là một phương thuốc để chữa khỏi bệnh nghiện.Điều trị duy trì methadone cần được hiểu như một hình thức điều trị rất lâudài, thường là suốt đời, đối với một bệnh mạn tính hay tái diễn Như vậy sẽ làbất hợp lý nếu coi việc bệnh nhân thỉnh thoảng có một đợt dùng lại heroin(hoặc các chất ma túy khác) là bằng chứng chứng tỏ sự thất bại của liệu phápmethadone
Việc tái sử dụng ma túy chỉ nên coi là những thông tin dữ liệu y khoa
về bệnh nhân Với cách nhìn nhận như vậy chúng ta sẽ thấy sự tương đồnggiữa cơ sở điều trị methadone và những cơ sở điều trị y khoa khác về mặttuân thủ điều trị Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng đối với nhiều bệnhmạn tính như bệnh tim mạch, cao huyết áp hay đái tháo đường thì mức độtuân thủ điều trị thường ở mức thấp [22]
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thếnghiện các CDTP bằng thuốc methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau: 1,Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B, C
do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP
và hoạt dộng tội phạm; 2 Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệtiêm chích CDTP; 3 Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việclàm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội
Trang 224 Lợi ích của chương trình điều trị Methadone với người bệnh
Điều trị methadone mang rất nhiều lợi ích cho bệnh nhân, cụ thể như:
Tác dụng liên tục và kéo dài
Giảm nguy cơ quá liều heroin
Ðiều này có nghĩa với những nguời không thể từ bỏ heroin, methadone
là thuốc có độ an toàn cao và giúp nguời bệnh dần dần hồi phục khỏi trạngthái nghiện [19]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ưu điểm của điều trị duy trì bằng thuốcmethadone là có thể giúp người nghiện heroin: 1 Dừng sử dụng hoặc giảmdáng kể luợng heroin sử dụng; 2 Dừng tiêm chích heroin (hoặc giảm đáng kểtần suất tiêm chích và giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đườngmáu và nguy cơ quá liều); 3 Cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh duỡng; 4.Dừng các hành vi phạm pháp liên quan đến việc kiếm tiền mua heroin; 5 Cảithiện và ổn định quan hệ với gia đình; 6 Có công việc ổn định hơn và học tậptốt hơn Ðiều đó có nghĩa là khi tham gia chương trình methadone, bệnh nhân
có cơ hội tiếp cận với nhiều dịch vụ y tế và xã hội khác Do đó, họ sẽ ít phảichịu áp lực trong cuộc sống, giảm nguy cơ sử dụng và cuối cùng không dùngheroin nữa
Tuy nhiên, nhược điểm của điều trị bằng methadone cũng có khá nhiều,
đó là: 1 Bệnh nhân phải cam kết đến cơ sở diều trị hàng ngày để uống thuốc;
2 Khó thực hiện các chuyến đi, các kỳ nghỉ xa khỏi nơi cơ trú; 3 Có thể gặpcác tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe; 4 Vẫn bị lệ thuộc vào thuốc cho
Trang 23đến khi kết thúc chương trình điều trị Methadone là một thuốc có tác dụngmạnh và có thể nguy hiểm nếu dùng không đúng cách Nó cũng có thể gâytình trạng quá liều khi sử dụng quá nhiều methadone [19].
5 Những ưu điểm và hạn chế trong công tác điều trị Methadone tại nước ta
5.1 Ưu điểm
Ưu điểm đầu tiên phải kể đến là từ khi được triển khai thí điểm tại HảiPhòng và thành phố Hồ Chí Minh, chương trình đã nhận được sự ủng hộ nhiệttình của nhân dân, đặc biệt là những người bị nhiễm HIV và người thân, giađình của họ Chương trình đã và đang từng bước được triển khai trên diệnrộng Điều trị Methadone luôn hướng tới những đối tượng dễ bị tổn thươngtrong cộng đồng và các đối tượng chính sách, điều đó đã cho thấy chính sáchnhân đạo rõ ràng, mang tính nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta Minhchứng thể hiện rõ việc này là hoạt động triển khai mô hình điều trị nghiện cácdạng chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế methadone trong các trại giam, tạmgiam và trường giáo dưỡng cho phạm nhân (Cục Y tế - Bộ Công An đã phốihợp với Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế xây dựng kế hoạch triển khaithí điểm điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng methadone trong trạigiam, tạm giam) [9]
5.2 Hạn chế:
Mặc dù, chương trình điều trị bằng thuốc Methadone triển khai trênthực tiễn có hiệu quả, nhưng hoạt động này lại gặp khó khăn và nhiều bất cậptrong việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng điều trị Vì thực tế, nước
ta phải nhập thuốc methadone từ nước ngoài nên rất khó đảm bảo có đủ thuốcđiều trị liên tục cho các bệnh nhân
Trang 24Thuốc Methadone có giá thành cao trên thị trường nên ở nhiều nơi cóhiện tượng người tham gia điều trị sau khi được phát thuốc lấy thuốc này đem
đi bán, nhiều bệnh nhân không có điều kiện kinh tế để tham gia
Hạn chế khác của chương trình điều trị methadone tại nước ta là hiệnnay, chương trình này còn quá phụ thuộc vào những nguồn lực đầu tư, việntrợ từ nước ngoài, nhà nước chưa nắm thế chủ động về tài chính Như tại HảiPhòng, có tới 80-90% nguồn lực là từ các tổ chức nước ngoài tài trợ chochương trình phòng chống HIV/AIDS bao gồm cả methadone
Ngoài ra, thủ tục hành chính để đưa người nghiện vào điều trị bằngmethadone vẫn còn chưa thuận lợi và phức tạp, trong đó có việc phải có xácnhận của chính quyền địa phương là không thuộc đối tượng phải đưa đi cainghiện bắt buộc [23] Không chỉ vậy, chương trình điều trị methadone đượctriển khai chậm và hiệu quả thấp ở các địa bàn xa xôi, hẻo lánh, ở các vùngkhó khăn, miền núi do nhiều lý do như giao thông khó khăn, phong tục tậpquán lạc hậu tại địa phương, người dân chưa có ý thức tự giác và nhận thứcchưa đầy đủ về lợi ích, hiệu quả mà chương trình điều trị này mang lại
IV TÌNH HÌNH NHIỄM HIV VÀ HOẠT ĐỘNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ METHDONE TẠI CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC CỦA NƯỚC TA
1 Tình hình nhiễm HIV tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta
Các tỉnh miền núi phía Bắc thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
có vị trí địa lý khá đặc biệt, là khu vực giáp ranh nhiều nước nên đây đượcxem như một vùng trọng điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội cần được quan tâm
và phát triển hiện nay Mặc dù đã được Nhà Nước và Chính phủ quan tâm vềmọi mặt, giúp đời sống của nhân dân nơi đây có nhiều chuyển biến tích cực,tuy vậy, sự đầu tư, xây dựng vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn, bất cập chưa
Trang 25có hướng giải quyết Do địa hình hiểm trở nên việc đi lại, giao lưu buôn bán,sinh hoạt kinh tế xã hội còn khó khăn, đặc biệt ảnh hưởng cho giao thông vậntải và hoạt động y tế tại các tuyến cơ sở Nhiều dân tộc thiểu số trình độ họcvấn còn chưa cao nên khả năng tiếp cận để học hỏi kiến thức, kinh nghiệmđang là vấn đề đặt ra hàng đầu Đa số ở các tỉnh tập quán sản xuất còn mangnặng tính tự nhiên từ xa xưa như hái lượm, phát rẫy làm nương, chăn nuôitheo tập quán cũ lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, thiếu thốn, thiếu đất hoặcchưa có đất canh tác sản xuất Sự lạc hậu đã dẫn đến tình trạng yếu kém, đặt
ra vô vàn khó khăn và thách thức cho các tỉnh miền núi phía Bắc, không chỉ
về kinh tế mà còn ảnh hưởng lên cả hệ thống y tế
Trong mảng y tế ở những năm gần đây, vấn đề sử dụng ma túy, lâynhiễm HIV/AIDS lại đang có xu hướng tăng cao Dù tình hình về tỉ lệ nghiệnchích ma túy có chững lại tuy nhiên số lượng người nhiễm HIV/AIDS vẫntăng lên hàng năm và vẫn giữ một mức độ đáng quan tâm Theo số liệu thống
kế của Cục phòng chống HIV/AIDS, số lượng bệnh nhân nhiễm HIV/AIDShiện đang tăng cao tại các tỉnh miền núi phía Bắc Nếu như vào năm 2012,trong 10 tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất nước có tới 7 tỉnh thuộcmiền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Sơn La, Điện Biên… thì vào năm 2013,riêng ở khu vực này hiện đã có 8/10 tỉnh có số người nhiễm HIV/AIDS caonhất cả nước Trong đó, Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất
so với tất cả các tỉnh thành trên cả nước (với tỷ lệ nhiễm HIV lên tới980/100.000 người dân), hay tại Sơn La, năm 2000 mới cókhoảng 4.000 người nghiện có hồ sơ quản lý thì tới năm 2008 đã phát hiệntrên 16.000 người nghiện và nếu kể cả số nghi nghiện thì con số trên lên tới23.000 người Cũng theo số liệu thống kê vào tháng 11/2013, nhìn chung khuvực miền núi phía Bắc có tỷ lệ nhiễm HIV/100.000 dân rất cao, đứng thứ 2 cảnước (357/100.000), chỉ đứng sau miền Đông Nam Bộ (408/100.000) [24]
Trang 26Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình hình nhiễm HIV cao ở các tỉnhmiền núi phía Bắc: Một là do tình hình buôn bán và sử dụng ma túy ở đây còndiễn biến rất phức tạp Cụ thể do giao thông khó khăn nên người chích ma túykhông có cơ hội được dùng riêng bơm kim tiêm; Thứ hai là do người dân tạicác tỉnh này vẫn trồng các cây có chứa chất ma túy, nên làm gia tăng số ngườinghiện; Ba là, do một bộ phận người đồng bào dân tộc nhất định không dùngbiện pháp dự phòng HIV là sử dụng bao cao su…, trong khi đó hầu hết cáctỉnh miền núi phía Bắc là các tỉnh nghèo nên không có đủ khả năng và nguồnlực để triển khai các biện pháp dự phòng chống AIDS và cung cấp dịch vụphòng chống AIDS tới từng hộ dân, nên nguy cơ lây nhiễm HIV qua đườngtình dục tăng
2 Hoạt động điều trị methadone tại các tỉnh miền núi phía Bắc
Kể từ khi chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằngMethadone được triển khai thí điểm ở nước ta từ tháng 4/2008 tại Thành phốHải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh ở miền núi phía Bắc đã triểnkhai và đạt được những kết quả hết sức tích cực:
Năm 2013, tỉnh Yên Bái mới bắt đầu triển khai Chương trìnhMethadone, với cơ sở điều trị thay thế đầu tiên tại Trung tâm phòng chốngHIV/AIDS của tỉnh; đến hết năm 2014 toàn tỉnh có 3 cơ sở điều trịMethadone đang hoạt động (tại thành phố Yên Bái 2 cơ sở, tại thị xã Nghĩa
Lộ 1 cơ sở); 3 cơ sở tại huyện Văn Chấn, Văn Yên, Mù Cang Chải đã đượcphê duyệt dự án, đang trong giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đivào hoạt động trong đầu năm 2015 Kết quả sau 2 năm triển khai, đến hết năm2014: tổng số bệnh nhân đã tham gia điều trị là 502, đến nay số đang điều trị
đã ổn định liều là 450 Như vậy, tỉnh Yên Bái đã thực hiện vượt chỉ tiêu sốbệnh nhân điều trị Methadone năm 2014 do Thủ tướng Chính phủ giaotại Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 20/6/2014 (đạt 450/420 bệnh nhân =
Trang 27107%) Kết quả này góp phần tích cực vào việc kiềm chế sự gia tăng lâynhiễm HIV/AIDS, giảm tình hình tội phạm liên quan đến ma túy, ổn định anninh trật tự xã hội; đối với người nghiện, thì việc sử dụng Methadone đã làmgiảm tỷ lệ tái nghiện ma túy bất hợp pháp và một số bệnh liên quan trongnhóm người nghiện chất dạng thuốc phiện, cải thiện sức khỏe và chất lượngcuộc sống, hỗ trợ người nghiện tái hòa nhập cộng đồng [25].
Từ tháng 3/2011, tỉnh Điện Biên đã triển khai chương trình điều trịMethadone Đến nay toàn tỉnh có 05 cơ sở điều trị thay thế nghiện các chấtdạng thuốc phiện bằng Methadone, tổng số bệnh nhân tham gia điều trị tại các
cơ sở Methadone tính đến tháng 6/2014 là 1.339 bệnh nhân, độ bao phủ đạt14% số người nghiện chích trong tỉnh Trong khoảng thời gian tiếp theo củanăm 2014 tỉnh Điện Biên sẽ triển khai 8 cơ sở điều trị và 7 cơ sở cấp phátthuốc Methadone (trong đó có 5 cơ sở cũ), điều trị cho 3.040 người bệnh.Mục tiêu vào năm 2015, duy trì 8 cơ sở điều trị và thành lập mới 14 cơ sở cấpphát thuốc Methadone, nâng tổng số cơ sở cấp phát thuốc Methadone trongtoàn tỉnh lên 21 cơ sở, điều trị cho 4.400 bệnh nhân tại các huyện Điện Biên,Điện Biên Đông, Tuần Giáo, Mường Chà, Mường Ảng, Tùa Chùa, thị xãMường Lay và thành phố Điện Biên Phủ [26]
Hoạt động điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadoneđang được đầy mạnh triển khai rộng khắp cả nước đặc biệt là các tỉnh miềnnúi phía Bắc Các nghiên cứu đánh giá kết quả chương trình điều trị thay thếbằng Methadone cũng thu được những hiệu quả tích cực đời sống của cácbệnh nhân đang điều trị bằng methadone ngày càng được cải thiện hơn Bệnhnhân tham gia vào điều trị Methadone không chỉ cải thiện về thể chất, sứckhỏe mà còn có được tinh thần thoải mái, giúp họ lạc quan hơn vào cuộcsống Ngoài ra, những bệnh nhân sau khi điều trị đã có thể hòa nhập hơn với
Trang 28cộng đồng và tự tin tham gia vào các công việc sinh hoạt tập thể, khẳng định
vị trí của mình trong các hoạt động của cộng đồng
Tuy nhiên những kết quả này chưa thể hiện được hết những đặc điểmriêng biệt theo từng vùng, miền nói chung và của các tỉnh miền núi phía Bắcnói riêng Chính bởi vậy, cần thiết phải có một nghiên cứu tập trung phân tíchsâu về hiệu quả của chương trình methadone đối với các tỉnh miền núi phíaBắc, nơi những điều kiện về kinh tế xã hội còn khó khăn, có nhiều đồng bàodân tộc là người nghiện ma túy lâu năm và có tỉnh có số người nhiễm HIVtrong cả nước (ví dụ tỉnh Điện Biên) Từ đó sẽ góp phần tìm ra các giải pháphạn chế tối đa việc tiếp tục sử dụng chất dạng thuốc phiện trong nhóm bệnhnhân tham gia điều trị, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm thiểuhậu quả do việc tiếp tục sử dụng ma túy gây ra
V CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG METHADONE
Hiện nay, tại nước ta, nghiên cứu liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của những người đang điều trị methadone là rất ít, phần lớn vấn đề này chỉ được tìm hiểu bằng cách lồng ghép vào một dự án nào đó, chứ hầu như chưa có sự tập trung chuyên biệt riêng
Về kiến thức, trong nghiên cứu “Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ y tếchương trình dung thuốc thay thế methadone can thiệp trong nhóm nghiện chích ma túy tại thành phố Hà Nội” năm 2012 [27], các tác giả đã cho thấy nhóm đối tượng nghiên cứu còn thiếu hiểu biết về nguyên nhân cũng như nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS: như với câu hỏi luôn sử dụng BCS đúng cách khi QHTD dự phòng lây nhiễm HIV là 86,3%, còn khi QHTD đường hậu môn phòng được lây nhiễm HIV tỷ lệ trả lời đúng chỉ là 59,5%, 72% trả lời đúng câu hỏi dùng chung BKT khi TCMT làm tăng nguy cơ nhiễm HIV; còn với các câu hỏi khác, tỷ lệ có kiến thức đúng chỉ từ 67,3%-72,3% [27]
Trang 29Một nghiên cứu khác vào năm 2013 lại cho kết quả khác, khi đã chỉ ra
so với trước can thiệp thì tỷ lệ đối tượng NCMT hiểu biết đúng về nguy cơ lây nhiễm HIV đã tăng lên rõ rệt: như là hiểu biết về nguy cơ nhận máu
truyền tăng từ 10,3% lên 15,3%, hiểu biết về tiêm chích ma túy tăng từ 58,5%lên 64,5% Ngoài ra, hiểu biết của người NCMT về triệu chứng của các bệnhlây truyền qua đường tình dục đã cải thiện đáng kể [28]
Về mặt nhận thức, thái độ của bệnh nhân cũng có sự chuyển đổi sau khiđược điều trị methadone Trong một nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang (2013), cho thấy tỷ lệ đối tượng thay đổi nhận thức lợi ích khi tham gia
chương trình methadone đã tăng lên khá nhiều (từ 57,3% lên 91,5%) Người điều trị ngày càng có thái độ hợp tác và tin tưởng hơn vào phương pháp điêu trị này, một phần là vì hiệu quả mà điều trị bằng methadone đã mang lại, phầnkhác chính là nhờ những thay đổi trong thái độ của nhân viên y tế và công tác điều trị Người bệnh đã có thái độ hài lòng hơn với quy trình xét nghiệm, thời gian nộp đơn và quy trình tiếp đón bệnh nhân Thêm vào đó là sự hài lòng về thời gian tiếp đón bệnh nhân (tăng từ 2,5% lên 3,5%), về thái độ làm việc của bác sỹ tăng từ 2,7% lên 3,3% Nghiên cứu khác vào năm 2012 cũng cho nhận định tương tự khi đa số bệnh nhân hiện đang được điều trị cho biết họ rất hài lòng và hài lòng với các dịch vụ đón tiếp bệnh nhân, thái độ bác sỹ làm việc, thái độ của nhân viên tư vấn… Tuy vậy, vẫn còn khoảng 1% bệnh nhân có góp ý thêm Nhưng nhìn chung, hầu hết bệnh nhân cho rằng, về mặt tổng thể thì chương trình điều trị thay thế nghiện các chất CDTP bằng methadone hữu ích với bản than họ, đáp ứng được mong muốn của bệnh nhân [28]
Ngoài kiến thức và thái độ thì hành vi của các bệnh nhân cũng thay đổi khá rõ Trong cứu của tác giả Nguyễn Anh Quang và cộng sự vào năm 2012, cho thấy sau khi điều trị duy trì có tới 98,7% có QHTD với vợ/bạn tình trong
1 tháng trở lại đó Trong khi, hành vi sử dụng BCS thường xuyên khi quan hệ
Trang 30thì có tỷ lệ trước điều trị là 97,8%, cao hơn sau khi điều trị là 77,2% Trước khi điều trị methadone, có 8,3% bệnh nhân tại Hà Đông và Từ Liêm cho biết
có hành vi là sử dụng chung bơm kim tiêm Trong quá trình điều trị thì không còn trường hợp nào còn sử dụng chung nữa Tuy chưa đủ bằng chứng để kết luận hiệu quả của điều trị Methadone giúp bệnh nhân thay đổi hành vi dùng chung bơm kim tiêm Tuy nhiên có thể thấy việc giảm tần suất tiêm chích ma túy cũng đã góp phần hạn chế khả năng dùng chung bơm kim tiêm, ngay cả trong những bệnh nhân vẫn tiếp tục tiêm chích Thêm vào đó, có sự thay đổi tích cực trong việc sử dụng BCS với gái mại dâm trước và sau điều trị: tỷ lệ người bệnh có sử dụng BCS tăng lên từ 83,4% lên 87,9% [29]
Nghiên cứu của một số tác giả thuộc Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS Hà Nội năm 2013 cho thấy những thay đổi trong một các hành vi của đối tượng NCMT Một là tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua của những đối tượng này đã giảm dần Trong đó, mức độ NCMT 2-3 lần/ngàygiảm từ 53,3% xuống 45,5%, tần suất tiêm chích trên 3 lần/ngày giảm từ 6% xuống 3,2% Thêm nữa, tỷ lệ đối tượng không bao giờ sử dụng chung BKT trong 1 tháng trở lại đã tăng từ 93,9% lên 94,7% Nếu vào năm 2012 có tới 7,8% bệnh nhân cho biết có sử dụng chung BKT thì đến thời điểm năm 2013,
tỷ lệ này đã giảm rất rõ rệt (chỉ còn 0,3%) [28]
Trang 31CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: tại các cơ sở Methadone của 3 tỉnh miền núi phía BắcViệt Nam bao gồm: Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái
2.2 Thời gian nghiên cứu
Tháng 06/2014 – 12/2014
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện bắt đầu tham gia điều trị bằng thuốcmethadone tại thời điểm nghiên cứu tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
2.4.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Đối tượng nghiên cứu cần đáp ứng được các tiêu chí sau:
- Là người bệnh bắt đầu tham gia điều trị tại thời điểm nghiên cứu trong năm 2014
- Tự nguyện và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Có đủ sức khỏe về thể chất và tinh thần để tham gia nghiên cứu
2.4.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những đối tượng không đủ sức khỏe để tham gia nghiên cứu
- Những đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu…
2.5 Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.5.1 Cỡ mẫu
Do đây là một phần đề tài nghiên cứu cấp bộ “Điều tra ban đầu về bệnh nhân mới điều trị bằng thuốc Methadone trong dự phòng HIV tại
Trang 32một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014” nên cỡ mẫu sử dụng
trong nghiên cứu này là cỡ mẫu của đề tài
Cỡ mẫu của nghiên cứu được tính theo công thức sau:
n = Z2
(1 – α/2)
p(1- p)d²
- n cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu
- Z (1−α/2) là hệ số tin cậy, với mức xác suất 95% (= 1,96)
- p là tỷ lệ bệnh nhân bắt đầu tham gia điều trị nghiện bằng thuốcMethadone nhiễm HIV, ước lượng p =22,5% [30]
- d : sai số tuyệt đối (ước tính là 0,05)
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu trên, nhóm nghiên cứu đã tính ra cỡmẫu tối thiểu cho nghiên cứu này là: 267 bệnh nhân điều trị methadone, dựphòng 20% không tham gia đầy đủ hoặc từ chối tham gia nghiên cứu đã tiếnhành phỏng vấn 300 bệnh nhân bắt đầu tham gia điều trị Methadone Như vậytrong nghiên cứu này, đã nghiên cứu tại 3 tỉnh, tại mỗi tỉnh triển khai nghiêncứu, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 100 bệnh nhân tham gia điều trị thay thếnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone
Cỡ mẫu thực tế là 301
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu
Việc tuyển chọn đối tượng tham gia nghiên cứu đã được tiến hành theophương pháp chọn mẫu thuận tiện đối với người bệnh bắt đầu nhận điều trị tại
cơ sở điều trị methadone và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
Với mỗi bệnh nhân, cán bộ nghiên cứu đã giải thích về nghiên cứu và tiếnhành sàng lọc Đáp ứng được tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu, những người