HỒ THỊ NHI NAKIếN THứC Và THáI Độ Đối với một số qui định phòng ngừa chuẩn CủA NHÂN VIÊN Y Tế TạI một số khoa củaBệNH VIệN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG QUảNG NAM NĂM 2015 Chuyờn ngành: Quản lý b
Trang 1HỒ THỊ NHI NA
KIếN THứC Và THáI Độ Đối với một số qui định phòng ngừa chuẩn CủA NHÂN VIÊN Y Tế TạI một số khoa củaBệNH VIệN ĐA KHOA
TRUNG ƯƠNG QUảNG NAM NĂM 2015
Chuyờn ngành: Quản lý bệnh viện
Mó số: 60720701
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Nguyễn Văn Huy
2 PGS.TS Trịnh Hoàng Hà
HÀ NỘI - 2016 LỜI CẢM ƠN
Trang 2học Y Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợicho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cám ơn các Thầy, Cô Bộ môn Tổ chức và Quản lý Y
tế đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập cao học tại trường.
Tôi xin trân trọng biết ơn TS Nguyễn Văn Huy, PGS.TS Trịnh Hoàng Hà,
là những ngườithầy đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu,trang bị kiến thức để tôi bước đi trên con đường nghiên cứu khoa học.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc cho phép tôi được gửi tới BS.CK2Nguyễn Tiến Văn, người Thầy đã tạo điều kiên, dìu dắt, dạy dỗ giúp tôi trưởng thành trong lĩnh vực chuyên môn và quản lý.
Tôi xin bày tỏlòng cảm ơn tới Ban Giám đốc bệnh viện, Ban lãnh đạo cùng tập thể bác sỹ, điều dưỡng, nhân viên Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡtôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cha Mẹ kính yêu đã sinh thành, nuôi dưỡng, luôn động viên con giúp con có nghị lực và ý chí vươn lên.
Xin được gửi tình yêu thương tới gia đình: người bạn đời thân yêu, con gái, con trai yêu quý là chỗ dựa tinh thần để tôi phấn đấu.
Và cuối cùng, xin cảm ơn anh chị em, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04năm 2016
Hồ Thị Nhi Na
LỜI CAM ĐOAN
Trang 31 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy TS Nguyễn Văn Huy và thầy PGS.TS Trịnh Hoàng Hà.
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam.
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày 12 tháng 05năm 2016
Học viên
Hồ Thị Nhi Na
Trang 4Điều DưỡngĐại họcBệnh việnNhân viên y tếNghiên cứu khoa họcPhòng hộ cá nhânNhiễm khuẩn bệnh việnKiểm soát nhiễm khuẩn
Vệ sinh tayWorld Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)Health care – associated infection
(Nhiễm trùng liên quan- chăm sóc y tế)Human immunodeficiency virus (Virus suy giảmmiễn dịch ở người)Hepatitis C virus (Virus viêm gan C)Hepatitis B virus (Virus viêm gan B)Health belief Model (Mô hình niềm tin sức khỏe)
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình chung về Phòng ngừa chuẩn bệnh viện 3
1.1.1 Khái niệm phòng ngừa chuẩn 3
1.1.2 Nguy cơ phơi nhiễm 3
1.1.3 Nguồn nhiễm trùng tại cơ sở y tế 3
1.1.4 Các nội dung chính của Phòng ngừa chuẩn 4
1.1.5 Hậu quả không tuân thủ phòng ngừa chuẩn 14
1.2 Khung lý thuyết: Mô hình một số yếu tố liên quan kiến thức, thái độ của NVYT đối với một số quy định PNC 14
1.3 Các nghiên cứu về kiến thức và thái độ của NVYT đối với một số quy định phòng ngừa chuẩn trên thế giới, tại Việt Nam 16
1.3.1 Trên thế giới 16
1.3.2 Ở Việt Nam 17
1.4 Các yếu tố liên quan kiến thức, thái độ của NVYT đối với một số quy định PNC trên thế giới và Việt Nam 18
1.5 Mô tả Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Địa điểm nghiên cứu và thời gian 28
2.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1.Thiết kế nghiên cứu 28
2.3.2.Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 28
2.3.3.Biến số, chỉ số nghiên cứu 29
2.4 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin 33
2.4.1.Công cụ thu thập 33
2.4.2 Quy trình thu thập số liệu 33
Trang 62.6.1 Các loại sai số 35
2.6.2 Khắc phục 35
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37
3.2 Kiến thức, thái độ về một số quy định phòng ngừa chuẩn 40
3.2.1 Kiến thức tổng quát của nhân viên y tế đối với một số quy định trong phòng ngừa chuẩn 40
3.2.2 Kiến thức của nhân viên y tế đối với rửa tay trong phòng ngừa chuẩn .44
3.2.3 Kiến thức của nhân viên y tế đối với Phòng hộ cá nhân trong phòng ngừa chuẩn 45
3.2.4 Thái độ của nhân viên y tế đối với rửa tay trong phòng ngừa chuẩn 46
3.2.5 Thái độ của nhân viên y tế đối với phòng hộ cá nhân trong phòng ngừa chuẩn47 3.3 Một số yếu tố liên quan đối với kiến thức và thái độ của nhân viên y tế đối với một số quy định phòng ngừa chuẩn 48
3.3.1 Phân tích đơn biến 48
3.3.2 Kết quả phân tích đa biến 64
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 67
4.1 Kiến thức, thái độ của nhân viên y tế đối với một số quy định Phòng ngừa chuẩn 67 4.1.1 Kiến thức tổng quát của nhân viên y tế đối với một số quy định trong phòng ngừa chuẩn 67
4.1.2 Kiến thức tổng quát của nhân viên y tế đối với rửa tay trong phòng ngừa chuẩn 68
4.1.3 Kiến thức tổng quát của nhân viên y tế đối với phòng hộ cá nhân trong phòng ngừa chuẩn 73
4.1.4 Thái độ của nhân viên y tế đối với rửa tay trong phòng ngừa chuẩn 75
Trang 74.2 Bàn luận về một số yêu tố liên quan đến kiến thức, thái độ của nhân viên y tế
đối với Phòng ngừa chuẩn 79
4.2.1 Phân tích đơn biến 79
4.2.2 Phân tích đa biến 85
4.3 Bàn luận về một số hạn chế phương pháp và kết quả nghiên cứu 88
KẾT LUẬN 90
KHUYẾN NGHỊ 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 37Bảng 3.2 .Đặc điểm phân bố khả năng tiếp cận truyền thông và công tác kiểm tra
giám sát thực hiện 38Bảng 3.3 .Mô tả các thành tố của Mô hình Niềm tin Sức khỏe
39Bảng 3.4 .Tỷ lệ % kiến thức đúng của nhân viên y tế đối với Phòng hộ cá nhân
trong phòng ngừa chuẩn 45Bảng 3.5 Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với kiến thức rửa tay của
NVYT đối với PNC (phân tích đơn biến) 48Bảng 3.6 Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức rửa tay của NVYT
đối với PNC 48Bảng 3.7 .Mối liên quan giữa đặc điểm nghề nghiệp với kiến thức rửa tay của
NVYT đối với PNC 49Bảng 3.8 .Mối liên quan giữa tiếp cận truyền thông với kiến thức rửa tay của
NVYT đối với PNC 50Bảng 3.9 Mối liên quan giữa tổ chức kiểm tra với kiến thức rửa tay của NVYT đối
với PNC 50Bảng 3.10 .Mối liên quan giữa một số yếu tố niềm tin sức khỏe với kiến thức rửa
tay của NVYT đối với PNC 51Bảng 3.11 Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với kiến thức phòng hộ
cá nhân đối với PNC 52Bảng 3.12 .Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức phòng hộ cá
nhân đối với PNC 52Bảng 3.13 .Mối liên quan giữa đặc điểm nghề nghiệp với kiến thức phòng hộ cá
nhân đối với PNC 53Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tiếp cận các nguồn truyền thông với kiến thức phòng
hộ cá nhân đối với PNC 53Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tổ chức kiểm tra với kiến thức phòng hộ cá nhân đối
với Phòng ngừa chuẩn 54
Trang 9Bảng 3.17 .Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với thái độ rửa tay của
nhân viên y tế đối với PNC 55Bảng 3.18 .Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với thái độ rửa taycủa nhân
viên y tế đối với PNC 56Bảng 3.19 .Mối liên quan giữa đặc điểm nghề nghiệp với thái độ rửa tay của nhân
viên y tế đối với PNC 56Bảng 3.20 .Mối liên quan giữa tiếp cận các nguồn truyền thông với thái độ rửa tay
của nhân viên y tế đối với Phòng ngừa chuẩn 57Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tổ chức kiểm tra với thái độ rửa tay của nhân viên y
tế đối với PNC 57Bảng 3.22 Mối liên quan giữa một số thành tố về niềm tin sức khỏe với thái độ rửa
tay của nhân viên y tế đối với PNC 58Bảng 3.23 .Mối liên quan giữa kiến thức về rửa tay với thái độ rửa tay của nhân
viên y tế đối với PNC 59Bảng 3.24 Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với thái độ vềphòng hộ
cá nhân của nhân viên y tế đối với PNC 59Bảng 3.25 .Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với thái độ về phòng hộ cá
nhân của nhân viên y tế đối với PNC 60Bảng 3.26 .Mối liên quan giữa đặc điểm nghề nghiệp với thái độ về phòng hộcá
nhân của nhân viên y tế đối với PNC 60Bảng 3.27 Mối liên quan giữa tiếp cận các nguồn truyền thông với thái độvề phòng
hộ cá nhân của nhân viên y tế đối với PNC 61Bảng 3.28 Mối liên quan giữa tổ chức kiểm tra với thái độ về phòng hộ cá nhân của
nhân viên y tế đối với PNC 61Bảng 3.29 .Mối liên quan giữa một số thành tố về niềm tin sức khỏe với thái độ
phòng hộ cá nhân của nhân viên y tế đối với PNC 62Bảng 3.30 Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ về phòng hộ cá nhân của nhân
viên y tế đối với PNC 63
Trang 10Bảng 3.32 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng hộ cá nhân của nhân viên
y tế đối với PNC 65Bảng 3.33 .Một số yếu tố liên quan đến thái độ rửa tay của nhân viên y tế đối với
phòng ngừa chuẩn 65Bảng 3.34 Một số yếu tố liên quan đến thái độ phòng hộ cá nhân của nhân viên y
tế đối với phòng ngừa chuẩn 66
Trang 11Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ % NVYT có kiến thức đúng về các đường lây truyền chính
trong bệnh viện 40biểu đồ 3.2 Tỷ lệ % NVYT có kiến thức đúng về các trường hợpcần sử dụng găng 41biểu đồ 3.3 Tỷ lệ % NVYT có kiến thức đúng về cách ngăn ngừa virut lây bệnh
qua đường máu trong phòng ngừa phơi nhiễm nghề nghiệp 42biểu đồ 3.4 Tỷ lệ % kiến thức đúng của nhân viên y tếvề nguy cơ bị bắn máu khi
thực hiện chăm sóc người bệnh 43biểu đồ 3.5 Tỷ lệ % kiến thức đúng của nhân viên y tế đối với rửa tay trong
phòng ngừa chuẩn 44biểu đồ 3.6 Tỷ lệ % NVYT có thái độ tích cực đối với rửa taytrong phòng ngừa
chuẩn 46biểu đồ 3.7 Tỷ lệ % NVYT có thái độ tích cực đối với phòng hộ cá nhân trong
phòng ngừa chuẩn 47
Trang 12Hình 1.2: Hướng dẫn vệ sinh hô hấp 10Hình 1.3: Mô hình khung lý thuyết HBM của Rosenstock năm 2007 15
Y
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là một vấn đề quan tâm và thách thức đốivới tất cả các nước trên thế giới Nhiều nghiên cứu cho thấy NKBV kéo dài thờigian điều trị, tăng tỷ lệ tử vong, làm tăng mức chi phí cho y tế[1] Theo Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) năm 2005[2], mỗi ngày có 247 người chết tại Mỹ là kết quả củamột bệnh nhiễm trùng liên quan đến y tế Trên thế giới, cóít nhất 1 trong 4 bệnhnhân chăm sóc đặc biệt bịnhiễm trùng trong thời gian ở bệnh viện, ở các nước đangphát triển, ước tính này có thể được tăng lên gấp đôi [2] Báo cáo bùng nổ NKBVtại Châu Âu[3], các bệnh nhiễm trùng gây ra do chăm sóc sức khỏe làm tăng thêm
16 triệu ngày điều trị và 37 nghìn trường hợp tử vong Chi phí xấp xỉ 7 tỷ USDhằngnăm Ở Mỹ, khoảng 99 nghìn trường hợp tử vong do NKBV năm 2002, chi phíkhoảng 6,5 tỷ USD vào năm 2004 [3]
NKBV vẫn còn là vấn đề nan giải ngay cả ở các nước phát triển,rất nghiêmtrọng ở những nước chậm phát triển Năm 2010 tỷ lệ NKBV chiếm 66% (97/147)của các nước đang phát triển[3] Theo đánh giá hiện tại tỷ lệ nhiễm trùng liên quanđếnchăm sóc y tế (HCAI) ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bìnhlà:10,1% Ở các nước có thu nhập cao, nhiễm trùng liên quan đến thiết bị y tế lên đếngấp 13 lần cao hơn so với ở Mỹ[3] Tại các nước đang phát triển, NKBV chiếm tỷ
lệ cao do hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong bệnh viện chưa tốt, kiếnthức vàthái độ của nhân viên y tế (NVYT) chưa cao Tỷ lệ NKBV qua điều tra cắtngang của Bộ Y tế là 5,7% - 11% năm 2008[4] Tuy vậy con số này chỉ là ước đoánnên thực tế có thể cao hơn
Ở nước ta, công tác KSNK vẫn còn đối đầu rất nhiều trở ngại như nguồn ngânsách còn hạn chế, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, phần lớn NVYT và các nhà quản lýchưa nhận thức tầm quan trọng của công tác này Nguyên nhân gây NKBV có rấtnhiều như từ thiết bị kỹ thuật, quy trình chuyên môn, vi khuẩn kháng thuốc [5] Tuynhiên, một trong những nguyên nhân quan trọng NKBV là kiến thức, thái độ của
Trang 14NVYT về KSNK chưa tốt hay đúng hơn kiến thức, thái độ của NVYT về tuân thủphòng ngừa chuẩn (PNC) chưa cao Nghiên cứu tác giả Trương Anh Thư cùng cộng
sự tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2012[6], kết quả nghiên cứu trả lời cho thái độthấphơnkiến thứctương ứng (54,5% và 76,3%) Thấp nhất về thái độ đã được tìm thấy ởcác bác sĩ (p <0,05)[6].Hay nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Việt Hùng và cộng
sự năm 2010[7]cho thấy là kiến thức và thái độ KSNK: (79,1 + 9,5); (70,0 +11,5),không có sự khác biệt khi so sánh giữa các tuyến (p> 0.05)
Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây phần lớn chỉ tìm hiểu về kiến thức, thái
độ tuân thủ một số quy định về PNC, do vậy chưa khai thác đầy đủ các khía cạnhkhác của tuân thủ PNC trong NVYT như là kiến thức, thái độ và một số yếu tố liênquan PNC Ngoài ra dựa vào tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy vẫn còn rất ítcác nghiên cứu quan tâm khía cạnh này
Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam được thành lập từ năm 2007, từnguồn vốn ODA của chính phủ Hàn Quốc và nguồn vốn đối ứng của Bộ Y tế đếnnăm 2012 bệnh viện mới đi vào hoạt động Quy mô hiện tại bệnh viện có 17 khoalâm sàng, 7 khoa cận lâm sàng và 7 phòng chức năng Bệnh viện được thiết kế mộtchiều từ khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn nối với Phòng mổ theo quy định chuẩn của
Bộ Y tế.Từ khi hoạt động đến nay, lãnh đạo bệnh việnrất quan tâm đến vấn đềKSNK Trong đó bốn khoa: Ngoại Tổng Hợp, Ngoại Chấn Thương Chỉnh Hình,Sản và khoa Y học Nhiệt đới là các khoa có liên quan nhiều đến vấn đề KSNK Vì
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kiến thức và thái độ đối với một số
qui định phòng ngừa chuẩn của nhân viên y tế tại một số khoa củaBệnh viện
Đa khoa Trung ương Quảng Nam năm 2015” nhằm hai mục tiêu:
Hợp, Ngoại Chấn Thương- Chỉnh Hình, Sản, Y Học Nhiệt Đới tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam năm 2015.
phòng ngừa chuẩn tại các khoa trên.
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hìnhchungvề Phòng ngừa chuẩn bệnh viện
1.1.1 Khái niệm phòng ngừa chuẩn
Phòng ngừa chuẩn là tập hợp các biện pháp phòng ngừa cơ bản áp dụng chotất cả người bệnh (NB) trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) không phụthuộc vào chẩn đoán, tình trạng nhiễm trùng và thời điểm chăm sóc của NB [8-9]
Theo WHO (2007) phòng ngừa chuẩn có nghĩa là giảm nguy cơ lây truyềnqua đường máu các mầm bệnh khác từ cả hai nguồn được xác nhậnvà chưa xácnhận[10]
Biện pháp phòng ngừa chuẩn là các phương pháp thực hành kiểm soát nhiễmkhuẩn sử dụng để ngăn ngừa lây truyền bệnh có thể do tiếp xúc với máu, dịch cơthể, da không còn nguyên vẹn (bao gồm phát ban) và màng nhầy Những biện phápnày được sử dụng khi chăm sóc cho tất cả các cá nhân, dù có hoặc không xuất hiệntriệu chứng nhiễm trùng[11]
Nguyên tắc coi tất cả máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơlây truyền bệnh[9]
1.1.2 Nguy cơ phơi nhiễm[8-12]
Do kim hoặc do các vật sắc nhọn dính máu/dịch tiết người bệnh xuyên thấu da
Do mắt, mũi, miệng, da không lành lặn tiếp xúc với máu/dịch tiết của người bệnh
Do máu, chất tiết và dịch tiết từ môi trường, phương tiện, dụng cụ y tế bị dínhmáu, dịch tiết, chất tiết truyền qua niêm mạc, da không lành lặn của người bệnh
1.1.3.Nguồn nhiễm trùng tại cơ sở y tế[12]
Người
Trang 16Dịch tiết bao gồm: máu, nước bọt, đàm, chất tiết mũi, chất dịch từ dẫn lưuvết thương, nước tiểu và phân
Vật dụng lây nhiễm
Bề mặt nhiễm, khăn lau đã sử dụng, hoặc những vật dụng khác có tiếp xúcvới chất tiết
1.1.4 Các nội dung chính của Phòng ngừa chuẩn
Các biện pháp PNC bao gồm vệ sinh tay, sử dụng phương tiện phòng hộ cánhân, vệ sinh hô hấp, vệ sinh khi ho, sắp xếp NB, tiêm an toàn, phòng ngừa tổnthương do vật sắc nhọn, vệ sinh môi trường, xử lý dụng cụ, quản lý chất thải y tế vàcác tiêu chuẩn về xử lý đồ vải [8-10-12]
Vệ sinh tay(VST) là biện pháp chính để giảm nhiễm trùngbệnh viện.Mặcdùhành động này là đơn giản, tuy nhiêntheo các nhà chăm sóc sức khỏe thì hành độngnày là vấn đề của toàn thế giới Theo cập nhật gần đây dịch tễ học về tuân thủ VST,
nó là phương pháp tiếp cận mới đã được chứng minh là có hiệu quả và an toàn đốivới tất cả người bệnh VST có ý nghĩa rất lớn trong công tác chăm sóc NB [2]
1.1.4.1 Vệ sinh tay
Khái niệm vệ sinh tay
VST là làm sạch tay bằng nước với xà phòng có hay không có chất sát khuẩn
và sát khuẩn tay với dung dịch có chứa cồn [8-9]
TheoWHO (2009)[13]VST là nền tảng trong việc phòng chống nhiễm trùng
và kiểm soát nhiễm khuẩn
VST là nội dung cơ bản của PNC và là biện pháp hiệu quả nhất trong kiểmsoát lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở khám bệnh chữa bệnh[9]
Các chỉ định vệ sinh tay
Trang 17VST của NVYT đóng vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc NB.VST theo năm thời điểm khi chăm sóc NB[5-8-9-12] theo khuyến cáo Tổ chức Y tếThế giới (sơ đồ 1) và các quy trình VST của Bộ Y tế.
- Tuân thủ các thời điểm vệ sinh tay:
Hình 1.1: Các thời điểm vệ sinh tay khi chăm sóc NB (WHO 2005)[2]
Ngoài ra các hoạt động sau cũng cần VST: Khi chuyển chăm sóc từ nơinhiễm sang nơi sạch trên cùng NB, sau khi tháo găng
Trong một nghiên cứu của tác giả Nair cùng cộng sự năm 2014 [14]ở Ấn Độ
có tổng số 144 người tham gia nghiên cứu gồm có 46 sinh viên điều dưỡng và 98sinh viên y khoa Kết quả cho thấy, trong số các sinh viên được nghiên cứucó 114(chiếm79%) đã được đào tạo rửa tay Một sự khác biệt đáng kể (𝑃< 0,001), kết quảnghiên cứucó (74,2%) sinh viên y khoa và (95,4%) sinh viên điều dưỡng đã nhận thứcđào tạo về vệ sinh tay Khi được hỏi về kỹ thuật của vệ sinh tay sinh viên y khoa đạt(91,3%) và sinh viên điều dưỡng (97,8%) họ cho biết thực hiện đúng[14]
Năm 2010, khi hồi cứu 96 nghiên cứu, trong đó chủ yếu là các nghiên cứu ởcác đơn vị chăm sóc đặc biệt, Erasmus và cộng sự [15]đã nhận thấy tỷ lệ tuân thủ vệsinh tay trung bình là 40% Tỷ lệ tuân thủ VST ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt (30-40%) thấp hơn so với các khoa khác (50-60%), tỷ lệ tuân thủ VST của bác sỹ (32%)
1 Trước khi tiếp xúc với NB
2 Trước khi làm thủ thuật vôtrùng
3 Sau khi tiếp xúc với máu vàdịch cơ thể
4 Sau khi tiếp xúc NB
5 Sau khi đụng chạm vào nhữngvùng xung quanh NB
Trang 18thấp hơn so với điều dưỡng (48%) và tỷ lệ tuân thủVST trước khi tiếp xúc vớingười bệnh (21%) cũng thấp hơn so với sau khi tiếp xúc với người bệnh (47%)
Trong một nghiên cứu của tác giả Askarian cùng các cộng sự năm 2005[16],tiến hành một cuộc khảo sát 1,048 nhân viên y tế (NVYT) tại 8 bệnh viện ở Iran vềkiếnthức, thái độ và thực hành về phòng ngừa cách ly Kết quả nghiên cứu cho thấy có íthơn một nửa NVYT tuân thử VST thường xuyên trước và sau khi sử dụng găng tay
Theo tác giả Sharma và các cộng sự năm 2011 [17], tiến hành nghiên cứu cắtngang ở các đơn vị chăm sóc tích cực (Phổi, Nội khoa và Đột quỵ) của một bệnhviện hạng III Đối tượng gồm bác sỹ và điều dưỡng trong quá trình chăm sóc bệnhnhân ở mỗi đơn vị chăm sóc tích cực (ICU) và ghi nhận việc tuân thủ vệ sinh taycủa họ Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST trung bình là 43,2% Trong
đó, tỷ lệ tuân thủ của bác sỹ điều trị chính là 68,9% (31/45), của bác sỹ học việc là56,3% (18/32), của bác sỹ nội trú là 40,0% (28/70) và của điều dưỡng là 41,3%(301/728) Việc tuân thủ VST tương quan nghịch với mức độ hoạt động Tỷ lệ tuânthủ cao, trung bình và thấp thì nguy cơ nhiễm khuẩn chéo tương ứng là 38,8%(67/170), 43,8% (175/401) và 44,7% (152/340) Kết quả chỉ ra rằng NVYT có kiếnthức ít là nguyên nhân thiếu động cơ thúc đẩy hành vi tuân thủ VST, khối lượngcông việc nhiều được coi là một số yếu tố ảnh hướng tới việc tuân thủ VST
Bên cạnh đó, tại một số bệnh viện NVYT nhận thức tầm quan trọng ở cácthời điểm VST nên tỷ lệ VST chiếm khá cao như nghiên cứu của tác giả NguyễnThúy Ly năm 2008[18] tại Viện Lão khoa Quốc gia cho thấy kiến thức VST trước
và sau khi tiếp xúc bệnh nhân đạt 92% Họ cho rằng VST trước và sau khi tiếp xúcbệnh nhân là biện pháp hiệu quả nhất trong phòng chống NKBV
Hay nghiên cứu của tác giả Vũ Thanh Hà (2004)[19] tại phòng hồi sức bệnhviện Việt Đức, trên đối tượng là bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý Kết quả cho thấy tỷ lệ nhânviên y tế VST trước và sau khi làm thủ thuật lần lượt là 56% và 9% Nhưng theo kiếnthức của họ thì 100% đều hiểu rằng VST sau khi thực hành chăm sóc, làm thủ thuật làbiện pháp tôt nhất để phòng tránh NKBV, rửa tay để bảo vệ chính mình khi làm việc
Thực hiện kỹ thuật VST theo Quy trình VST của Bộ Y tế[5-9]
Trang 19- Thực hiện kỹ thuật VST với nước và xà phòng khi tay nhìn thấy vấy bẩnbằng mắt thường hoặc sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết.
- VST bằng dung dịch có chứa cồn khi tay không thấy bẩn bằng mắt thường
- Phải đảm bảo tay luôn khô hoàn toàn trước khi bắt đầu hoạt động chăm sóc NB
Các phương tiện thực hiện vệ sinh tay [9]
- Thùng đựng khăn
-Labo sạch, vòi nước, nước rửa bình thường
- Xà phòng, cồn khử khuẩn, dung dịch khử khuẩn nhanh
- Khăn lau khô sạch
1.1.4.2 Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân
Phương tiện phòng hộ cá nhân bao gồm: găng tay, khẩu trang, áo choàng, tạp
dề, mũ, mắt kính/mặt nạ và ủng hoặc bao giày[8-9-12-20]
Mục đích sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân là để bảo vệ NVYT, NB,người nhà NB, người thăm bệnh khỏi nguy cơ lây nhiễm và hạn chế phát tán mầmbệnh ra môi trường bên ngoài[9]
Nguyên tắc sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân [9]là phải tùy thuộc mụcđích sử dụng Mang phương tiện phòng hộ khi dự kiến sẽ làm thao tác có dính máu,dịch tiết vào cơ thể
Loại phương tiện và trình tự mangtùy thuộc mục đích và tình huống sử dụng.Trước khi rời buồng bệnh, cần tháo bỏ phương tiện phòng hộ cá nhân và vệ sinhtay Khi tháo bỏ cần chú ý tháo phương tiện bẩn nhất ra trước[9]
Một cuộc khảo sát của tác giả Montagna và cộng sự năm 2003 [20] tại 11thành phố của nước Ý được tiến hành trên đối tượng là các nhân viên nha khoa vềtuân thủ kiểm soát nhiễm khuẩn Các đối tượng cho kết quả tỷ lệ đeo găng tay(95,5%), mặt nạ (90,1%), kính (91,2%), mũ (23,9%) và áo khoác (54,9%) Họ sửdụng tiệt trùng hơi nước (92,9%) và định kỳ kiểm tra tính hiệu quả (80,6%) Về bảo
Trang 20vệ cá nhân có 20,5% không được chủng ngừa HBV và chỉ có 55,2% số người đượcchủng ngừa trước đó đã được kiểm tra khả năng miễn dịch của họ Hơn nữa, phầnlớn các đối tượng đã đánh giá thấp nguy cơ lây nhiễm đặc biệt là đối với các bệnhlây truyền qua không khí.
Trang 21Sử dụng găng[8-9-12]
Nhiễm khuẩn do chăm sóc y tế có thể dễ dàng lây truyền trực tiếp qua bàntay của NVYT hoặc qua vật dụng khác như thiết bị y tế…
Sử dụng găng trong các trường hợp sau:
+ Mang găng khi chạm vào máu, dịch cơ thể, chất tiết, chất thải, màng nhầy.+Thay đổi những hoạt động chăm sóc trên cùng một NB, sau khi tiếp xúc vớivật dụng xung quanh NB có khả năng lây nhiễm
+Hủy bỏ găng sau khi sử dụng, trước khi chạm các vật không bị ô nhiễm, các
bề mặt và trước khi chuyển sang NB khác
+ Thực hiện VST ngay lập tức sau khi loại bỏ găng
+ Mang găng vô khuẩn trong quá trình làm thủ thuật vô khuẩn, phẫu thuật
+ Mang găng sạch trong các thao tác chăm sóc, điều trị không đòi hỏi vôkhuẩn và dự kiến tay nhân viên y tế có thể tiếp xúc với máu chất tiết, chất bài tiết,các màng niêm mạc và da không nguyên vẹn của NB hoặc khi da tay NVYT bịbệnh hoặc trầy xước
Mang găng khi NVYT làm vệ sinh, thu gom chất thải, đồ vải, xử lý dụng cụ
y tế và các dụng cụ chăm sóc NB
Tuân thủ đúng quy trình mang găngvà tháo găng
Mang khẩu trang y tế khi:
+ Dự kiến sẽ bắn máu dịch tiết vào mặt mũi trong khi chăm sóc NB
+ Khi làm việc trong khu phẫu thuật hoặc trong các khu vực đòi hỏi vôkhuẩn khác
+ Khi chăm sóc NB có nghi nghờ hoặc mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặckhi NVYT đang có bệnh đường hô hấp
Trang 22Sử dụng các phương tiện che mặt và mắt [8-9]
Mang kính bảo hộ, mặt nạ che mặt khi làm các thủ thuật có nguy cơ bắn tóemáu và dịch vào mắt như: đở đẻ, phá thai, đặt nội khí quản, hút dịch, nhổ răng
1.1.4.3 Thực hiện vệ sinh hô hấp[8-9]
Thực hiện vệ sinh hô hấp có ý nghĩa rất lớn trong công tác chăm sóc ngườibệnh và hạn chế sự lây lan mầm bệnh nhất là khi có đại dịch xảy ra như SARS…( )
Cơ sở KBCB có kế hoạch quản lý tất cả các NB có các triệu chứng đường hôhấp trong giai đoạn có dịch
Tại khu vực tiếp nhận bệnh cần có hệ thống cảnh báo và hướng dẫn để phânluồng NB có các triệu chứng về đường hô hấp
Mọi NB có các triệu chứng về đường hô hấp đều phải tuân thủ theo các quytắc về vệ sinh hô hấp và vệ sinh khi ho
+ Che miệng mũi bằng khăn và bỏ khăn trong thùng chất thải hoặc giặt lạinếu tái sử dụng, vệ sinh tay ngay sau đó Dùng mặt trong khuỷ tay để che nếukhông có khăn, không dùng bàn tay
+ Mang khẩu trang y tế
+ Vệ sinh tay ngay sau khi tiếp xúc với chất tiết
+ Đứng hay ngồi cách xa người khác khoảng 1 mét
Trang 23Hình 1.2: Hướng dẫn vệ sinh hô hấp
1.1.4.4 Sắp xếp người bệnh thích hợp [8-9]
Nên sắp xếp NB không có khả năng kiểm soát chất tiết, chất bài tiết, dịchdẫn lưu vào phòng riêng (đặc biệt là trẻ em có bệnh đường tiêu hóa) Dựa trênnguyên tắc là đường lây truyền của tác nhân gây bệnh, yếu tố nguy cơ lây truyềnbệnh và khả năng mắc NKBV
1.1.4.5 Xử lý dụng cụ y tế[8-9]
Thiết bị chăm sóc bệnh nhân có thể góp phần rất lớn vào NKBV Đặc biệtnhững thiết bị liên quan chăm sóc trực tiếp NB như tại khoa Hồi Sức tích cực haynhững thiết bị được sử dụng hằng ngày thăm khám NB như nhiệt kế, ống nghechúng ta tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Dụng cụ tái sử dụng đều được xử lý trước khi sử dụng cho NB khác
- Làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ theo điều 3 thông tư 18 [12] vềhướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn
- Phương pháp xử lý:
+ Dụng cụ tiếp xúc với da lành lặn và môi trường (nguy cơ thấp) cần khửkhuẩn mức độ thấp và trung bình
Trang 24+ Dụng cụ tiếp xúc với niêm mạc (nguy cơ trung bình) cần phải khử khuẩnmức độ cao.
+ Dụng cụ tiếp xúc với mô vô trùng, mạch máu (nguy cơ cao) cần phải tiệtkhuẩn, không ngâm khử khuẩn
- Nhân viên khi xử lý dụng cụ cần mang phương tiện phòng hộ cá nhân phù hợp
1.1.4.6 Tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn[8-9]
Tiêm là một trong những thủ tục chăm sóc sức khỏe phổ biến nhất trong các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hiện nay Trong năm 2000[21], trong số những ngườinhận trung bình 3,4 mũi tiêm mỗi năm, thì có 39,3% là dùng bơm tiêm đã qua sửdụng Việc sử dụng bơm tiêm đã qua sử dụng được cho là nguyên nhân của khoảng
21 triệu trường hợp nhiễm virus viêm gan B (HBV), hai triệu người nhiễm Virusviêm gan C(HCV) và 260.000 người nhiễm Virus suy giảm miễn dịch ở người(HIV) tương ứng là (32%, 40% và 5% các trường hợp mắc nhiễm trùng mới) Lạmdụng tiêm truyền và thực hành tiêm truyền không an toàn là nguyên nhân quantrọng gây tử vong và bệnh tật trên toàn thế giới Vì vậy, cần phải có các chính sách
và kế hoạch tiêm truyền an toàn và đúng chỉ định ở các quốc gia có thực hành tiêmtruyền kém
Hay một nghiên cứu khác ở Anh năm 2003 [22], kiến thức tổng quan về lâytruyền virus qua đường máu, từ bệnh nhân nhiễm bệnh sau chấn thương kim đâm[44,0%đối với HBV; 38,1% đối với HCV; 54,6% đối với HIV] Trong số đó có37% số người được hỏi cho biết họ đã bị một chấn thương bằng kim tiêm đã qua sửdụng, với các bác sĩ khả năng bị tổn thương nhiều hơn so với điều dưỡng (P =0,005) là28% bác sĩ và 2% điều dưỡng (P = 0,004)[22]
Tiêm an toàn có ý nghĩa rất lớn hạn chế rủi ro lây truyền mầm bệnh choNVYT qua đường máu như viêm gan B, C và HIV Do đó NVYT tuân thủ nhữngquy định sau:
+ Đào tạo cập nhật các kiến thức về tiêm an toàn cho NVYT
Trang 25+ Cung cấp đầy đủ các phương tiện tiêm thích hợp (xe tiêm, bơm kim tiêm,kim lấy thuốc, cồn sát khuẩn tay, hộp đựng vật sắc nhọn…).
+ Giảm số lượng mũi tiêm không cần thiết Sử dụng thuốc bằng đường uốngkhi có thể, lấy bệnh phẩm tập trung để tránh lấy máu nhiều lần
+ Áp dụng các biện pháp thực hành tiêm an toàn để phòng ngừa tai nạn rủi ronghề nghiệp
+ Thực hành thủ thuật phẫu thuật an toàn
+ Quản lý chất thải sắc nhọn theo đúng Quyết định 43 Bộ Y tế[23]
+ Tuân thủ quy trình báo cáo theo dõi và điều trị sau phơi nhiễm
+ Khuyến khích mọi NVYT tiêm phòng vacxin viêm gan B
1.1.4.7 Xử lý đồ vải:
Xử lý đồ vải tại các cơ sở y tế [8-9]:
- Tuân thủ nguyên tắc xử lý đồ vải, giảm tối thiểu việc giũ đồ vải để tránh lâynhiễm vi sinh vật
- Phân loại đồ vải để thu gom và cho vào túi riêng, giặt riêng, chuyển xuốngnhà giặt trong ngày, thu gom thành hai loại và cho vào túi riêng biệt
- Không đánh dấu đồ vải của NB HIV/AIDS để phân loại và giặt riêng
- Không giũ tung đồ vải khi thay đồ vải hoặc khi đến giao nhận đồ vải
- Không để đồ vải bẩn xuống sàn nhà hoặc để sang giường bên cạnh
- Không để đồ vải sạch lẫn với đồ vải bẩn trên cùng một xe khi vận chuyển
- Xe đựng đồ vải phải kín, phải giặt sạch sau mỗi lần chứa đồ vải bẩn
- Người thu gom đồ vải phải mang găng vệ sinh, tạp dề, khẩu trang
- Đồ vải được giặt theo các quy trình khác nhau tùy theo mức độ lây nhiễm
- Đồ vải sạch cần được bảo quản có đầy đủ giá kệ hoặc trong tủ sạch
Trang 261.1.4.8 Xử lý môi trường
Xử lý môi trường tại các cơ sở y tế [8-9]:
- Môi trường sạch là điều kiện bắt buộc cho các tiêu chuẩn tốt về vệ sinh và vôkhuẩn Hàng ngày làm sạch và khử khuẩn các bề mặt dễ bị nhiễm vi sinh vật các vậtdụng xung quanh NB như thành giường, tủ đầu giường và các vật dụng thường xuyên
sờ vào như tay nắm cửa, vật dụng trong nhà vệ sinh
- Làm vệ sinh môi trường khoa phòng sớm trước giờ khám bệnh chữa bệnh
- Cần kiểm tra hóa chất và nồng độ hóa chất sử dụng trong vệ sinh làm sạch
- Cần chú ý làm sạch và khử khuẩn đồ chơi của trẻ em
- Tuân theo đúng nguyên tắc làm vệ sinh từ vùng có nguy cơ thấp đến vùng cónguy cơ cao, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài
1.1.4.9 Quản lý chất thải
Quản lý chất thảitại các cơ sở y tế [8-9]:
- Xây dựng quy trình thu gom và quản lý chất thải theo Quy chế Quản lý chấtthải rắn [23], phù hợp với tình hình thực tế của bệnh viện
- Chất thải y tế phải được thu gom, xử lý và tiêu hủy an toàn, cần đặc biệtquan tâm xử lý an toàn chất thải sắc nhọn
- Phải phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh chất thải: chất thải rắn y tếphải phân loại riêng theo từng nhóm và từng loại đúng quy định
- Đặt thùng, hộp đựng chất thải phải gần nơi chất thải phát sinh
- Vận chuyển rác thải từ các khoa phòng ít nhất một lần ngày và khi cần Thờigian lưu giữ chất thải không quá 48 giờ Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnhhoặc thùng lạnh có thể đến 72 giờ
- Phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải Tránh vậnchuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc NB và các khu vực sạch khác.Vận
Trang 27chuyển rác bằng xe chuyên dụng, không được làm rơi vãi chất thải nước thải vàphát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển.
- Có nơi lưu giữ riêng chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường Có hệthống cống thoát nước tường và nền chống thấm thông khí tốt
1.1.5 Hậu quả không tuân thủ phòng ngừa chuẩn
Nhiễm khuẩn bệnh viện ảnh hưởng rất nhiều nền kinh tế của tất cả các nướctrên thế giới Theo báo cáo năm 2009[1], tổng chi phí điều trị trực tiếp cho các bệnhnhiễm trùng liên quan đến y tế tại Mỹ hàng năm ước tính vào khoảng 28,4 đến 33,8
tỷ USD Sau khi áp dụng các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn hiệu quả, thì chi phínày giảm xuống còn 5,7 đến 6,8 tỷ USD
1.2 Khung lý thuyết: Mô hình một số yếu tố liên quan kiến thức, thái độ của NVYT đối với một số quy định PNC
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khung lý thuyết“Niềm tin sứckhỏe”(Health Belief Model hay gọi là HBM) của Rosenstock năm 2007[24] HBM
đã được sử dụng rộng rãi và được coi là một trong các mô hình hữu ích nhất trongviệc phòng chống và chăm sóc sức khỏe[24].Nó cung cấp cơ sở để cho các nhànghiên cứu khả năng hiểu được hành vi hoặc thái độ của đối tượng khác nhaubằng cách tuân thủ hay không tuân thủ HBM đã được sử dụng trong nhiều cơ sởchăm sóc sức khỏe Mô hình nàycũng đã được thử nghiệm và phát hiện trước đâynhư là một mô hình lý thuyết phù hợp để sử dụng cho việc đo lường thái độvàhành vi của NVYT đối với việc thực hiệnkhía cạnh nhất định của biện pháp PNC.Dựa vào tổng quan tài liệu trong đó có nghiên cứu của tác giả Efstathiou năm2011,chúng tôi nhận thấy mô hình khung lý thuyết này phù hợp với bối cảnh ởViệt Nam mà nhà nghiên cứu có thể lý giải một số yếu tố liên quan đến kiến thức,thái độ tuân thủ quy định PNC
Trang 28Hình 1.3: Mô hình khung lý thuyết HBM của Rosenstock năm 2007[24]
Trang 291.3 Các nghiên cứu về kiến thức và thái độ của NVYT đối với một số quy định phòng ngừa chuẩn trên thế giới, tại Việt Nam.
1.3.1 Trên thế giới
Theo nghiên cứu của tác giả Sax cùng các cộng sự tại Thụy Điển năm2005[25], tổng cộng có 1.241 câu hỏi đã được trả lời (tỷ lệ phản hồi là 62%) Độtuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 39 tuổi Trong đó có 71,9% là nữgiới và 21,2% là giữ chức vụ lãnh đạo Một phần tư đối tượng nghiên trước đó đãđược tham gia đào tạo về các biện pháp phòng ngừa lây truyền mầm bệnh Trong 13câu hỏi về kiến thức thì có hơn một nửa đối tượng nghiên cứu (55,9%) trả lời đúngđến hơn 10 câu[25] Các lý do cho việc không tuân thủ các quy định phòng ngừa lâynhiễm là: không có kiến thức (47%); không có thời gian (42%); lãng quên (39%) vàkhông có đầy đủ phương tiện (28%)
Trong một nghiên cứu tác giả Barikani cùng các cộng sự năm 2012[26]tiếnhành nghiên cứu trên 148 sinh viên y khoa Kết quả nghiên cứu là kiến thức 6,8 ±2,1 (tối đa10), thái độ 16,6 ± 4,2 (tối đa 20) Kiến thức của sinh viên y khoa năm 7cao hơn so sinh viên năm 6 (P<0,021).Kết quả kiến thức về“rửa tay sau khi tiếp xúcngẫu nhiên với máu, dịch tiết và các vật bẩn” cao nhất (100%), trong khi đó tỷ lệthấp nhất câu trả lời đúng “rửa tay trước và sau khi sử dụng găng tay” (50,8%).Kiến thức “mang găng khi tiếp xúc với màng nhầy và da không còn nguyên vẹn” là(90,5%) và thái độ đối với“mang găng khi tiếp xúc với màng nhầy và da không cònnguyên vẹn” và “đeo kính bảo vệ mắt” tương ứng là (91,2% và 87,2%) Liên quanđến thái độ, tỷ lệ thấp nhất các câu trả lời đúng được thể hiện trong “rửa tay trước
và sau khi sử dụng găng tay” (40,5%)[26]
Trong một khảo sát gần đây của tác giả Daugherty và cộng sự năm 2009[27],đối tượng nghiên cứu gồm 292 nhân viên y tế làm tại khoa Hồi Sức tích cực Có256NVYT hoàn thành điều tra (chiếm 88%) Gần 40% NVYT báo cáo nghèo tuânthủ với thiết bị bảo hộ cá nhân cúm và 53% báo cáo rằng các đồng nghiệp của họthường quên sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân thích hợp Để có một tác động đáng kể
Trang 30trên bệnh nhân và cung cấp dịch vụ an toàn cần có những nỗ lực để cải thiện sự tuânthủ và sử dụnghiệu quả thiết bị bảo hộ cá nhân cho NVYT Vì vậy, NVYT phải giảiquyết cả hai yếu tố, tổ chức tốt về KSNK và nâng cao kiến thức cho các bác sĩ lâmsàng.
TheoAmoran và cộng sự năm 2013 [28]khảo sát 150 NVYT bao gồm 50 bác
sĩ, 50 điều dưỡng và 50 hộ lý Tỷ lệ bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý: cho rằng biện phápPNCcó tác dụng bảo vệ tương ứng là (58%, 72%, 12%);bắt buộc tương ứng là(32%,60%, 6%); tốn kém(16%, 14%, 74%) và không cần thiết (14%, 2%, 26%)
Kết quả nghiên cứu về kiến thức và kỹ năng phòng ngừa chuẩn của Amin vàcộng sự năm 2013[29],trên 251 sinh viên cho thấy điểm số kiến thức của các sinhviên trên tất cả các lĩnh vực đều thấp Chỉ có 67 sinh viên (chiếm 26,7%) có điểm số
≥ 24 điểm (số điểm kiến thức thấp nhất chấp nhận được) Trong đó có 22,2% sinhviên năm thứ 4; 20,5% sinh viên năm thứ 5 và 36,8% sinh viên năm thứ 6 Kiếnthức về chấn thương do vật sắc nhọn, phương tiện phòng hộ cá nhân và chăm sócsức khỏe thì có điểm cao nhất, chủ yếu là do họ tự học và thực hành Phần lớn cácsinh viên tin tưởng rằng việc dạy và đào tạo hiện tại không đủ cung cấp cho họ cáckiến thức cần thiết và kỹ năng liên quan[29]
1.3.2 Ở Việt Nam
Theo nghiên cứu tác giả Nguyễn Việt Hùng và cộng sự năm 2010[7]trên 629NVYT thuộc 62 bệnh viện khu vực phía Bắc, kết quả cho thấy là kiến thức và tháiđộKSNK: (79,1 + 9,5); (70,0 +11,5), không có sự khác biệt khi so sánh giữa cáctuyến (p> 0.05) Trong đó có 90,8% NVYT nhận thức tầm quan trọng của VSTtrước khi đụng chạm vào mỗi bệnh nhân,VST trước khi mang găng 83,9%; sau khitiếp xúc đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh đạt 88,7% Chỉ có 58,8% NVYT chorằng không sử dụng một đôi găng thăm khám cho nhiều người bệnh là biện phápquan trọng trong phòng ngừa NKBV Dưới 25% NVYT có thái độ đúng về tầmquan trọng của thực hành phân loại, thu gom chất thải, chỉ định sử dụng khẩu trangN95 và cách ly bệnh nhân theo đường tiếp xúc[7]
Trang 31Một nghiên cứu khác của tác giả Võ Văn Tân 2011[30]tại Bệnh viện Đakhoa Tiền Giang với 200 điều dưỡng (ĐD), có kiến thức đúng về PNC liên quanKSNK bệnh viện đạt 78,7%, cao nhất phân loại rác thải (100%) và quản lý vật sắcnhọn từ 84,4% đến 92,7%; rửa tay, tiệt khuẩn dụng cụ và quản lý nguy cơ đạt từ76% đến 76,6%.Hay nghiên cứu tác giả Trương AnhThư và cộng sự tại Bệnh việnBạch Mai năm 2012[6], tổng cộng có 629 NVYT đã được phỏng vấn tại 36 bệnhviện (2 bệnh viện trung ương, 18 bệnh viện tỉnh, 16 bệnh viện huyện) Kết quảnghiên cứu kiến thức về biện pháp phòng ngừa chuẩn (83,9% đến 99,2%) Thái độvềvệ sinh tay trước khi sử dụng găng, sau khi chạm vào môi trường xung quanhngười bệnh là (54,5% và 54,8%) Chỉ có 58,8% NVYT tin rằng các hoạt động chămsóc người bệnh yêu cầu sử dụng găng tay Kiến thức câu hỏi về việc sử dụng khẩutrang N95 và khoảng cách an toàn từ giọt bắn cho tới bệnh nhân là (10,8% và17,8%) Ít hơn 25% NVYT có thái độ đúng đối với sử dụng mặt nạ N95 từ phòngcủa một bệnh nhân nhiễm SARS Các điểm phần trăm đối với hiểu biết và thái độđối với biện pháp phòng ngừa chuẩn và cách ly có thể chấp nhận: (79,1% cho kiến thức và 70,0% đối với thái độ) Kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng có một sựtương quan mạnh mẽ giữa kiến thức và thái độ về tiêu chuẩn và biện pháp phòngngừa cách ly (R = 0,76, p <0,001)[6].
Nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Nghĩa năm 2013[31]trên 213 đối tượng làsinh viên điều dưỡng Đại học Y Hà Nội, chúng tôi nhận thấy “rửa tay/khẩu trang/đigăng” được nghiên cứu trả lời nhiều nhất (65,3%); tiếp đến là biện pháp “Xử lý vàphân loại rác thải” (41,3%); biện pháp bảo quản và sử dụng dụng cụ vô trùng đúngcách” (34,7%) Ngoài ra, còn có một số biện pháp khác như: vệ sinh môi trườngsạch sẽ thoáng đãng (28,6%) Một số biện pháp khác được đề cập ít hơn như thiếutrang thiết bị, đồ dùng, nơi rửa tay, nơi chứa chất thải…(10,8%)[31]
Trang 321.4 Các yếu tố liên quan kiến thức, thái độ của NVYT đối với một số quy định PNC trên thế giới và Việt Nam
Dựa vào các đề tài nghiên cứu trước đây gồm các đề tài trong nước và thế giới
đã nghiên cứu các vấn đề:
Trình độ học vấn [6-22-32]
Sự phân cấp trình độ học vấn của NVYT là Bác sĩ, điều dưỡng, Kỹ thuậtviên, hộ lý thì thái độ đối với sự tuân thủ các biện pháp về PNC có sự khác nhau
Đơn vị nơi công tác của NVYT [30]
Tuân thủ các biện pháp PNC trong bệnh viện có sự khác nhau giữa các khoaphòng trong bệnh viện.Theo nghiên cứu của Võ Văn Tân[30] có sự khác biệt vềkiến thức PNC của điều dưỡng Nội khoa và Ngoại khoa Điều dưỡng Ngoại khoa cókiến thức tốt hơn điều dưỡng Nội khoa (80,4% so 77,8%)
Đặc điểm của NVYT: tuổi, giới, thâm niên công tác [7]
Có sự khác biệt về kiến thức đối với tuổi, giới tính, trình độ chuyên môncũng như thâm niên công tác của NVYT.Theo một nghiên cứu của tác giả Ergin[33] cùng các cộng sự tiến hành điều tra tất cả sinh viên năm 1 của Khoa Y tế vàgiáo dục, cộng với tất cả các sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3 khoa Y thuộc Đạihọc Pamukkale (Denizli) Thổ Nhĩ Kỳ từ tháng tư đến tháng năm, năm 2010.Kết quảphân tích đa biến cho thấy rằng giới tính là yếu tố chính ảnh hưởng đến tất cả cácđiểm và phụ nữ luôn có điểm số cao hơn tất cả
Vị trí công việc (Chức danh)[7-30]
Hiện nay, công tác tổ chức KSNK là khâu rất quan trọng trong các bệnhviện.Để NVYT có thể trang bị cho mình kiến thức và thái độ tốt thì rất cần sự quantâm, chỉ đạo của lãnh đạo bệnh viện
Bảo vệ khỏi bị nhiễm [34]
Trang 33Việc tuân thủ các quy định về phòng ngừa chuẩn là một yếu tố bảo vệchoNVYT khi họ làm việc.Bên cạnh đó,nó không chỉ giới hạn bảo vệ cho riêng họ
mà còn gia đình họ
Yếu tố tâm lý bảo vệ khỏi bị lây nhiễm[34]
NVYT cảm thấy giảm sự lo lắng lây nhiễm bệnh như HIV, viêm gan B…khituân thủ các quy định về PNC trong chăm sóc NB.Bởi vì, chúng như rào cản sự lâytruyền các bệnh đó
Tiếp xúc từ lần trước[34]
Sự tuân thủ PNC của NVYT xảy ra khi họ đã có sự trải nghiệm quý báu từthực tế chăm sóc NB có yếu tố nguy cơ tiềm tàng những bệnh về đường máu nhưHIV, viêm gan B…khi họ không có tuân thủ các quy định về PNC
Nhắc nhở, giáo dục của cơ sở y tế[34-40]
Tăng cường giáo dục, nhắc nhở cho NVYT như phát các tờ rơi, pano ápphích truyền thông ở những nơi làm việc để liên tục nhắc nhở họ tuân thủ các quyđịnh về PNC Hay nói cách khác việc thiếu thông tin hay cập nhật các thông tinkhông kịp thời nó cũng là rào cản lớn cho sự tuân thủ của NVYT Theo tác giảTakahashi và các cộngsự[41], tiến hành điều tra 147 điều dưỡng tại các cơ sở dịch
vụ y tế cho người già ở tỉnh Yamaguchi của Nhật Bản, từ Tháng Mười-Tháng MườiMột năm 2007 Kết quả nghiên cứu cho ta thấy rằng yếu tốthúc đẩy vệ sinhtaychính là giáo dục và thái độ của NVYT
Đặc điểm của NB [34]
Sự xuất hiện của NB là yếu tố quyết định giúp cho NVYT có tuân thủ các biệnpháp PNC hay không? Như trong nhiều trường hợp cấp cứu NB xây xướt nguy cơ lâytruyền trong chăm sóc hay thực hiện các thủ thuật rất cao Hay trường hợp khác nhưtrang phục NB, sự hiện diện cơ thể NB là yếu tố thúc đẩy NVYT cần tuân thủ các quyđịnh về PNC để bảo vệ bản thân mình
Niềm tin về hiệu quả của tuân thủ PNC[34]
Trang 34Sự thay đổi theo khung đào tạo đã làm NVYT ảnh hưởng rất lớn sự tuân thủcác quy định PNC Đặc biệt là các quan điểm trái ngược nhau về nộidung chươngtrình đào tạo NVYT giữa thực tế tại bệnh viện và lý thuyết ở nhà trường.
Tính khẩn cấp [16-34]
Cấp cứu NB luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của NVYT.Khi NVYT đứnggiữa hai sự chọn tuân thủ PNC và cấp cứu để cứu sống NB thì đa phần họ đềuchọncấp cứu bởi vì họ sẽ không có thời gian tuân thủ quy định đó
Thiếu phương tiện[25-31-34-38-42-44]
Phương tiện trong chăm sóc y tế đóng vài trò quyết định hàng đầugiúpNVYT có tuân thủ tốt các quy định về PNC hay không Nếu chúng ta cung cấpkhông đủ các phương tiện thì NVYT sẽ không biết lấy gì thực hiện các tuânthủtrên.Bên cạnh đó, người quản lý chưa có sắp xếp thứ tự các phương tiện mộtcách khoa học như để quá cao, quá xa…là yếu tố khiến NVYT không tuân thủ
Quá bận rộn và thiếu thời gian thực hiện hướng dẫn [25-34-38-42-45]
Trong công việc hằng ngày NVYT họ quá bận rộn với công việc hiện tại Đó
là lý do tại sao họ không có thời gian thực hiện, hướng dẫn các quy định củaPNC.Bên cạnh đó nhiều NVYT cho rằng thực hiện hướng dẫn quy định PNC cho
NB sẽ tốn thời gian
Tác động lớn đến tình trạng sức khỏe NVYT [34]
Khi tình trạng bệnh lý của NB càng nặng và có yếu tố lây truyền bệnh thìngười đầu tiên quan tâm công tác PNC là NVYT.Vì vậy trong những trường hợpbệnh lý khẩn cấp đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định PNC trong bệnh viện
Nguy cơ nhiễm bệnh và dễ mắc bệnh của NVYT [34]
Chăm sóc sức khỏe lànghề rất đặc biệt và có ý nghĩa rất lớn đối với mọi người.Tuy nhiên nó lại là yếu tố tiềm tàng nguy cơ rất nhiều bệnh lây truyền nguy hiểm quađường máu như HIV, viêm gan C…Trong những trường hợp NB có yếu tố lây bệnh vàcần chăm sóc đặc biệtthì nguy cơ lây bệnh cho NVYT là rất cao Bên cạnh
Trang 35đó,nếuNVYT lại có miễn dịch kém thì nó sẽ góp phần làm cho nguy cơ bị lây bệnh caohơn.Vì vậy, tuân thủ PNC rất cần thiết là rào cản bảo vệ giúp NVYT yên tâm làm việc.
Chi phí không bị nhiễm[34]
Chúng ta đã và đang chứng kiến nhiều đại dịch trên thế giới như dịchEBOLAtính đến ngày 14 tháng 11 năm 2014 thì theo tổ chức Y tế Thế giới đã báocáo tổng số 21.296 bệnh virus Ebola [46] Hay đại dịch SARS đã cướp đi sinh mạngrất nhiều người và làm thiệt hại rất lớn đến nền kinh tế.Để ngăn chặn điều này,chúng ta cần tuân thủ các quy định PNC.Bởi vì chi phí không bị nhiễm mang lại choNVYT là rất lớn không chỉ ảnh hưởng đến họ mà cả gia đình họ
hộ lý, nhưng không có khác biệt đáng kể giữa các điểm phần trăm của hoạt động
nghề nghiệp liên quan đến kiến thức và thực hành [6].
Hay một nghiên cứu khác tác giả Stein cùng các cộng sự tại Anh năm2003[22], có sự khác biệt đáng kể giữa các bác sĩ và điều dưỡng liên quan đến việcnguy cơ lây nhiễm của HBV và HIV (P <0,001) tương ứng là (86% bác sĩvà 41%điềudưỡng) Các bác sĩ luôn được cho là ít tuân thủ với vấn đề này Các bác sĩ cũng cónhiều khả năng dùng tay đậy nắp kim hơn là điều dưỡng (P <0,001) 37% số ngườiđược hỏi cho biết họ đã từng bị một chấn thương kim đâmđã qua sử dụng với các bác
sĩ nhiều khả năng bị tổn thương hơn so với điều dưỡng (P = 0,005) cụ thể là 28% bác
sĩ và 2% điều dưỡng đã không báo cáo họ từng bị kim đâm (P = 0,004) [22]
Theo nghiên cứu tác giả Võ Văn Tân 2011 [30] tại Bệnh viện Đa khoa TiềnGiang nhận thấy: giới nam (78,3%), nữ (78,8%) với (P = 0,697); thâm niên công tác
< 6 năm (78,5%); từ 6-15 năm (78,1%);> 16 năm (79,2%) với (P = 0,932) không sựkhác biệt về giới cũng như thâm niên công tác NVYT Tuy nhiêncó sự khác biệt về
Trang 36kiến thức PNC của ĐD Nội khoa và Ngoại khoa (P=0,006) ĐD Ngoạikhoa có kiếnthức tốt hơn ĐD Nội khoa (80,4% sovới 77,8%) Trong đó chiếm 58% ĐD “đủ xàphòng”; 48,5% cho rằng đặt bồn rửa tay không thuận tiện Khoảng ba phần tư ĐDcho biết găng tay, khẩu trang, áo choàng được “mang đầy đủ” thứ tự (77%, 72,5%
và 82%) Đặc biệt, kính bảo vệ mắt “được cung cấp đủ” chỉ 10% ở các khoa.Vai trò
sự quan tâm lãnh đạo BV chiếm tỷ lệ cao là 60%, trung bình 35,5% và kém/khôngquan tâm 4,5% Họ nhận thấy rằng vai trò cũng như sự quan tâm của lãnh đạo BV
và lãnh đạo khoa góp phần rất lớn trong việc trang bị kiến thức PNC cho ĐD[30]
Theo Nguyễn Việt Hùng và Lê Bá Nguyên năm 2010[7] tại bệnh viện BạchMai Hà Nội, qua phỏng vấn 629 NVYTbằng phương pháp phân tích đa biến vàphân tích hồi quy logistic cho thấy BS, ĐD đã được tập huấn về KSNK và tham giahội đồng/mạng lưới KSNK là đối tượng có điểm kiến thức cao Sự khác biệt về kiếnthức theo nghề nghiệp, theo đối tượng đã được tập huấn KSNK lý giải hầu hếtNVYT thường chỉ đào tạo theo nội dung chuyên khoa, chưa được đào tạo phổ cậpkiến thứcKSNK [7]
Một nghiên cứu khảo sát của tác giả Daugherty và cộng sự năm 2009[27],chúng tôi quan sát những khoảng trống đáng kể kiến thức về sử dụng thiết bị bảo hộ cánhân trong số tất cả NVYT chăm sóc đặc biệt (ICU), chỉ có 63% số người được hỏi cóthể xác định sử dụng đủ thiết bị bảo hộ cá nhân cúm Sự bất tiện của việc sử dụng thiết
bị bảo hộ cá nhân và nhận thức của họ ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tuân thủ[27].Hay nghiên cứu khác của tác giả Sax cùng các cộng sự tại Thụy Điển năm 2005[25],kết quả nghiên cứu được đánh giá là “rất quan trọng”: thiếu phương tiện (28%), thiếuthời gian và thiếu phương tiện có ý nghĩa quan trọng hơn (P <0,0005)
Một nghiên cứu của tác giả Efstathiou và cộng sựnăm 2011 [34], đây lànghiên cứu định tính kết quả nghiên cứu nhận thấy: các nguyên nhân của việckémtuân thủ PNC là tính khẩn cấp, thiếu phương tiện, quá bận rộn thiếu thời gian, niềmtin về hiệu quả tuân thủ; các nguyên nhân của việc tuân thủ PNC: yếu tố tâm lýNVYT, bảo vệ khỏi bị nhiễm, tác động lớn đến tình trạng sức khỏe, tiếp xúc từ lần
Trang 37trước, nguy cơ phơi nhiễm, NVYT dễ bị bệnh và chi phí không bị nhiễm, sợ bị lâynhiễm[34].
Theo một nghiên cứu của tác giả Akyol năm 2007 [38],tổng cộng có 129 y tálâm sàng tại Đại học Ege Khoa Y học Ứng dụng và Bệnh viện điều tra tại Phòngkhám nội khoa đã được khảo sát với một tỷ lệ đáp ứng 100% Kết quả nghiên cứucho thấy rằng các y tá có trình độ kém về kiến thức liên quan đến chất lượng củaviệc rửa tay NVYT cho rằng cần phải rửa tay thường xuyên, nhưng họ đã khôngthể làm điều này vì điều kiện làm việc dày đặc, thiếu phương tiện cần thiết Bêncạnh đó, rửa tay thường xuyên sẽ làm họ khô da tay và đau tay
Tác giả Garus-Pakowska năm 2011 [45]tiến hành nghiên cứu 186 nhân viên
y tế gồm các bác sĩ và y tá làm việc tại ba bệnh viện củakhu vực Lodz.Kết quảnghiên cứu xác định quá tải công việclà một trong vô số những rào cản hạn chế tuânthủ VST Theo NVYT giảm khối lượng công việc và tổ chức công việc hiệu quả sẽđóng góp cải thiện hành vi VST
Trong nghiên cứu của tác giảOliveira cùng các cộng sự năm 2010[42], kếtquả cho thấy các yếu tố cản trở sự tuân thủ rửa tay với nước, xà phòng và chà xáttay bằng cồn 70% trong thực tế hằng ngày của họ là sự lãng quên, tiếp theo là thiếukiến thức, khoảng cách từ các bồn rửa, da kích thích và sau đó thiếu nguyên liệu,tiếp theo là khó khăn trong việc tuân thủ vệ sinh bàn tay, găng tay và áo Theo cácNVYT, các yếu tố làmhạn chế sử dụng áo choàng là: do áo choàng không phải lúcnào cũng có sẵn trong tủ dự trữ, do thiếu thời gian, do nóng và việc dùng chung áochoàng cũng là một yếu tố hạn chế Trong các NVYT không sử dụng áo choàng thì32,6% cho biết họ không thể tìm thấy áo choàng trong tủ lưu trữ.Khi được hỏi vềnhững yếu tố thuận lợi trong vệ sinh tay, sử dụng găng và áo choàng chỉ có baNVYT cho biết họ dễ dàng tuân thủ các biện pháp phòng ngừa[42] Hay nghiên cứucủa tác giả Trần Hữu Nghĩa năm 2013 [31]ở 213 đối tượng là sinh viên điều dưỡngĐại học Y Hà Nội Kết quả là do kinh phí hạn hẹp, cơ sở vật chất thiếu thốn, máymóc, trang thiết bị (60,1%), nhận thức gia đình NB thấp (32,4%), quá tải NB, nhiều
NB nặng (28,2%), ý thức, kiến thức NVYT (25,2%), nhân lực thiếu và chưa đượcđào tạo (8,9%), chưa được sự quan tâm của lãnh đạo (5,2%)
Trang 38Mặc dù đã có một số nghiên cứu trước đây về kiến thức, thái độ tuân thủPNC của NVYT ở Việt Nam, tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào vềkhía cạnhcác yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ tuân thủ PNC Do vậy, nghiên cứu nàycủa chúng tôi là cơ sở thiết lập các hoạt động dự phòng và chăm sóc sức khỏe thiếtthực hơn.
1.5 Mô tả Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam[47]
Bệnh viện đa khoa Trung ương Quảng Nam được thành lập theo Quyết định
số 428/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/4/2007, là Bệnh viện trực thuộc
Bộ Y tế Ngày 01/04/2008 Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam đã tiếp nhậnnguyên trạng Bệnh viện Đa khoa huyện Núi Thành theo Quyết định số 1079/QĐ-BYT ngày 27/3/2008 của Bộ Y tế để tổ chức các hoạt động khám chữa bệnh củamột bệnh viện hạng II quy mô 250 giường bệnh
Nằm ở vị trí trung điểm của đất nước, Bệnh viện Đa khoa Trung ương QuảngNam được đầu tư từ nguồn viện trợ ODA của Chính phủ Hàn quốc là 35 triệu USD
và nguồn vốn đối ứng của Bộ Y tế hơn 170 tỉ đồng (10 triệu USD) Phần kinh phí củatoàn bộ dự án dành cho đào tạo trong nước là 15 tỉ đồng và đào tạo ngoài nước là 2triệu USD trong suốt quá trình thực hiện dự án
Quy mô hiện tại là 500 giường bệnh, với 19 khoa lâm sàng, 7 khoa cận lâmsàng, 7 phòng chức năng Kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ, với 12 phòng mổ đạttiêu chuẩn quốc tế, khoa cấp cứu 24/24 và khoa điều trị tích cực có đầy đủ thiết bịhiện đại Có nhà ăn đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm phục vụ chobệnh nhân nội trú Có khu vực dành riêng cho khách VIP
Có hệ thống trang thiết bị đồng bộ hiện đại vào nhóm bậc nhất khu vực MiềnTrung – Tây Nguyên: CT 64 lát cắt, MRI 1.5T, chụp mạch xóa nền DSA, chụp nhũảnh, đo độ khoáng xương, hệ thống Xquang kỹ thuật số, siêu âm màu 3D/4D, siêu
âm tim, nội soi phế quản, tiêu hóa, siêu âm nội soi và nhiều thiết bị xét nghiệm hiệnđại khác…
Với yêu cầu phát triển của bệnh viện, các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị chấtlượng cao sẽ được đầu tư thích đáng để đáp ứng yêu cầu thực tiễn điều trị các mô hình
Trang 39bệnh tật tại địa phương và khu vực.Hiện tại Bệnh viện đã thực hiện nhiều loại phẫuthuật khó phức tạp, với kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật phẫu thuật nội soi trong nhiều lĩnhvực như phẫu thuật cấp cứu ngoại khoa, sản phụ khoa, tai mũi họng, răng hàm mặt, canthiệp tim mạch… cụ thể: Can thiệp tim mạch, Nút mạch điều trị ung thư…
Năm 2012 bệnh viện có trên 600 CBVC, với 30% có trình độ đại học, sau đạihọc Trong đó, có nhiều bác sỹ, cán bộ quản lý được học tập, tu nghiệp về chuyênmôn và quản lý tại Trung tâm Y khoa Đại học Hallym, Hàn Quốc Mỗi ngày, sốlượt người bệnh ra vào bệnh viện khá lớn (trung bình mỗi ngày lượng bệnh nhânngoại trú khoảng 600 đến 800 bệnh nhân, nội trú 500 đến 700 bệnh nhân và lượngbệnh tăng qua các năm) Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, dân số ngàycàng tăng và mô hình bệnh tật phức tạp, nên lưu lượng bệnh nhân đến khám và điềutrị tại bệnh viện ngày càng đông
Như chúng ta đã biết vai trò của KSNK trong bệnh viện là rất lớn Vì vậy,Bệnh viện đã xác định tầm quan trọng tuân thủ quy định PNC đảm bảo sự an toàntrong công tác chăm sóc NB tại bệnh viện Để làm tốt điều nay bệnh viện luôn quantâm đến tất cả các khoa trong bệnh viện nhưng có sự chú trọng hơn đến các khoathuộc hệ Ngoại như Ngoại Tổng Hợp, Ngoại Chấn Thương- Chỉnh Hình, Sản vàmột khoa rất quan trọngtrong tuân thủ các quy định PNC nhằm hạn chế lây lan dịchbệnh là khoa Yhọc Nhiệt đới
Khoa Y học Nhiệt đới được thành lập ngày 30/12/2009 theo Quyết định số952/QĐ-BV của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam Hiện tại nhân lực củakhoa 18, giường thực kê là32 còn theo kế hoạch BV là 23, về chuyên môn khoa cónhiệm vụ khám và điều trị các bệnh nhiệt đới như nhiễm trùng huyết, dịch tả, quay
bị, sởi, Rubella, viêm gan siêu vi (A, B, C…) cấp và mạn tính… Mỗi ngày lượngbệnh nhân khám và điều trị tại khoa khá đông từ 50 đến 70 bệnh nhân bên cạnh đóNVYT khoa ít do áp lực công việc nên tuân thủ các quy định PNC luôn là câu hỏiđặt ra cho các nhà quản lý Như chúng ta đã biết khoa Y học Nhiệt đới là khoathường xuyên tiếp xúc các bệnh lây nhiễm nên nguy cơ lây bệnh cho NVYT là rất
Trang 40cao vì vậy lãnh đạo khoa cũng như bệnh viện rất chú trọng đến tuân thủ các quyđịnh này.
Khoa Sản là một khoa của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam Vịtríkhoa nằm ở tầng 4 khu nhà 7 tầng của bệnh viện.Tổng số nhân lực hiện có củakhoa 48 NVYT, giường thực kê là 118, giường kế hoạch 85 Khoa Sản bao gồm cóđội ngũ Bác sỹ, Nữ hộ sinh giàu kinh nghiệm chuyên môn và hết lòng tận tụy trongchăm sóc bệnh nhân Nhiệm vụ khoa là nhận điều trị, theo dõi và chăm sóc thai kỳ
có bệnh lý nội ngoại khoa chưa chuyển dạ, thai kỳ có nguy cơ cao, thai dọa sanhnon, hậu phẫu mổ bắt con bệnh lý hoặc có biến chứng và hậu sản bệnh lý Ngoài ra,khoa còn nhận trường hợp hậu sản, hậu phẫu bình thường Hằng ngày lượng bệnhnhân tại khoa khá đông trên 100 bệnh nhân do tính chất công việc đòi hỏi NVYTluôn tuân thủ tốt khâu vô trùng trong chăm sóc và điều trị cho mẹ và bé Vì vậy việctuân thủ các quy định về PNC luôn là nền tảng giúp cho các nhà quản lý khoa vàbệnh viện chú trọng trong công tác kiểm tra và giám sát hằng ngày
Khoa NgoạiChấn Thương- Chỉnh Hìnhlà khoa được tách ra từ khoa Ngoại củaBệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam từ ngày 1 tháng 9 năm 2011, quy môchỉ tiêu giường bệnh hiện có của khoa là 65 giường kế hoạch và 67 giường thực kê
và 28 NVYT, mỗi ngày lượng bệnh nhân tại khoa từ 60 đến 80 bệnh.Với đội ngũcác y bác sỹ nhiều kinh nghiệm và nhiệt huyết khoa phẫu thuật thành công nhiều kỹthuật lớn như phẫu thuật nội soi khớp gối, phẫu thuật kết hợp xương vùng gối, phẫuthuật thay khớp háng…Bên cạnh đó, Khoa Ngoại Chấn Thương- Chỉnh Hìnhlà khoa
hệ ngoại chuyên chăm sóc và hậu phẫu điều trị các bệnh nhân sau phẫu thuật nênlãnh đạo khoa luôn đặt ra tiêu chí chất lượng trong chăm sóc và điều trị người bệnhhiệu quả và an toàn Hằng ngày lãnh đạo khoa luôn tăng cường trong công tác kiểmtra, giám sát chất lượng điều trị NB,một trong những tiêu chí đánh giá là các quyđịnh về tuân thủ PNC tại khoa được áp dụng trong việc chăm sóc NB
Khoa NgoạiTổng Hợpđược thành lập theo quyết định 918/QĐ- BV của Bệnhviện Đa khoa Trung ương Quảng Nam từ ngày 1 tháng 9 năm 2011 là khoa đượctách ra từ khoa Ngoại Vị trí khoa Ngoại Tổng Hợp tọa lạc tại tầng 3 mặt hướng về