1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở tỉnh lâm đồng khóa luận tốt nghiệp

67 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 124,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài Năm 2007 với sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO đã đánh dấu một bước phát triển nổi trội trong quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới của Việt nam. Bên cạnh những thách thức mà bất kì một quốc gia nào cũng gặp phải thì những thuận lợi của việc gia nhập vào thị trường chung thế giới là đáng kể. Từ đó các ngành, các lĩnh vực kinh tế có điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường sản xuất cũng như tiêu thụ ra thị trường tiềm năng trên toàn thế giới. Bởi vậy, không chỉ riêng các ngành công nghiệp dịch vụ mà nông nghiệp trong đó có ngành thủy sản cũng sẽ có điều kiện để phát triển hơn nữa để tương xứng với tiềm năng sẵn có của nước chúng ta. Khủng hoảng kinh tế đã làm cho nền kinh tế của hầu hết các nước từ Châu Âu đến Châu Mỹ lan sang Châu Á trong đó có Việt Nam lâm vào tình trạng trì trệ, thất nghiệp, lạm phát gia tăng…Chính trong giai đoạn khủng hoảng này nông nghiệp đã thể hiện vai trò vô cùng to lớn được ví như là chiếc phao cứu sinh để nền kinh tế có thể bơi qua khủng hoảng. Như vậy, qua thực tiễn đã chứng minh nền nông nghiệp đóng vai trò là bệ đỡ vững chắc cho sự phát triển của một quốc gia. Bởi vậy phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ vô cùng thiết thực và ý nghĩa để đưa đất nước phát triển. Thủy sản cũng là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông – lâm – ngư nghiệp và có thể nói thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nước ta hiện nay. Nguồn lợi thủy sản có đặc điểm là mang tính tái tạo, tái sinh. Nhưng khi con người khai thác vượt quá khả năng tái sinh thì sẽ dẫn đến nguồn thủy sản bị cạn kiệt. Trên thực tế hiện nay thì sản lượng khai thác từ thủy sản ngày càng suy giảm , bởi vậy con người cần đưa ra những giải pháp để giải quyết vấn đề này nếu không thì nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi từ thủy sản là điều dễ dàng trông thấy. Nuôi trồng thủy sản với mục đích phục vụ nhu cầu trong nước đồng thời còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài là một trong những con đường đi hiệu quả, bền vững của ngành thủy sản hiện nay. Lâm Đồng là một trong những địa phương có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản .Tỉnh có diện tích tiềm năng phục vụ nuôi trồng thủy sản khoảng 15.060 ha. Đặc biệt là các loài giống thủy sản nước lạnh ( cá tầm, cá hồi). (Cá tầm, cá hồi là những đối tượng có giá trị kinh tế cao, đã được nhiều quốc gia nhập nội và nuôi thành công. Trong thời gian gần đây, nhóm cá tầm, cá hồi đã được di nhập vào Việt Nam và hiện đang được nuôi ở nhiều tỉnh trong cả nước) .Diện tích tiềm năng còn tăng thêm nhiều do việc xây dựng hồ chứa nước cho thủy lợi, thủy điện ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc sử dụng tiềm năng này vào hoạt động nuôi trồng thủy sản vẫn còn khiêm tốn,thực tế sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản lại chưa tương xứng với tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi.Bên cạnh đó, nuôi trồng thủy sản ở Lâm Đồng trong những năm qua tuy có phát triển nhưng diễn ra với tốc độ chậm, chưa phát huy hết tiềm năng và nguồn lực của vùng. Nguồn nước phân bố không đều, trong năm thường chỉ có 8 tháng mùa mưa, dẫn đến diện tích nuôi cá quanh năm không có nhiều do điều kiện tự nhiên chi phối. Việc nuôi lồng bè ở các sông gặp khó khăn do độ dốc của địa hình, khi mưa xuống tạo lưu tốc dòng chảy lớn. Cơ sở vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản chưa được chú trọng đầu tư, hiện một số tỉnh chưa có trung tâm giống cấp tỉnh. Các cơ sở sản xuất giống, dịch vụ nghề nuôi, đánh bắt thủy sản còn nghèo, kỹ thuật lạc hậu. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ ngành thủy sản của một số địa phương mới được tuyển dụng, kinh nghiệm trong công tác còn yếu. Cơ sở vật chất cho các cơ sở nghiên cứu còn thiếu, mạng lưới cán bộ cơ sở còn rất mỏng. Trình độ kỹ thuật và tập quán sản xuất của đồng bào các dân tộc và nông dân còn lạc hậu, nguồn vốn của dân đầu tư cho phát triển thủy sản còn hạn chế, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người. Ngoài ra, giá cả các yếu tố đầu vào tiếp tục tăng cao ảnh hưởng rất lớn đến chi phí sản xuất của người nuôi. Cho nên việc đề ra những giải pháp để thúc đẩy phát triền nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở Tỉnh Lâm Đồng là điều cần thiết. Đây cũng là lí do thôi thúc em nghiên cứu đề tài “ Phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở tỉnh Lâm Đồng”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Năm 2007 với sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO đã đánh dấu một bước phát triển nổi trội trong quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới của Việt nam Bên cạnh những thách thức mà bất

kì một quốc gia nào cũng gặp phải thì những thuận lợi của việc gia nhập vào thị trường chung thế giới là đáng kể Từ đó các ngành, các lĩnh vực kinh tế có điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường sản xuất cũng như tiêu thụ ra thị trường tiềm năng trên toàn thế giới Bởi vậy, không chỉ riêng các ngành công nghiệp dịch vụ mà nông nghiệp trong đó có ngành thủy sản cũng sẽ có điều kiện để phát triển hơn nữa để tương xứng với tiềm năng sẵn có của nước chúng ta

Khủng hoảng kinh tế đã làm cho nền kinh tế của hầu hết các nước từ Châu Âu đến Châu Mỹ lan sang Châu Á trong đó có Việt Nam lâm vào tình trạng trì trệ, thất nghiệp, lạm phát gia tăng…Chính trong giai đoạn khủng hoảng này nông nghiệp đã thể hiện vai trò vô cùng to lớn được ví như là chiếc phao cứu sinh để nền kinh tế có thể bơi qua khủng hoảng Như vậy, qua thực tiễn đã chứng minh nền nông nghiệp đóng vai trò là bệ đỡ vững chắc cho sự phát triển của một quốc gia Bởi vậy phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ vô cùng thiết thực và ý nghĩa để đưa đất nước phát triển Thủy sản cũng là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông – lâm – ngư nghiệp và có thể nói thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nước ta hiện nay

Nguồn lợi thủy sản có đặc điểm là mang tính tái tạo, tái sinh Nhưng khi con người khai thác vượt quá khả năng tái sinh thì sẽ dẫn đến nguồn thủy sản bị cạn kiệt Trên thực tế hiện nay thì sản lượng khai thác từ thủy sản ngày càng suy giảm , bởi vậy con người cần đưa ra những giải pháp để giải quyết vấn đề này nếu không thì nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi từ thủy sản

Trang 2

là điều dễ dàng trông thấy Nuôi trồng thủy sản với mục đích phục vụ nhu cầu trong nước đồng thời còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài là một trong những con đường đi hiệu quả, bền vững của ngành thủy sản hiện nay.

Lâm Đồng là một trong những địa phương có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản Tỉnh có diện tích tiềm năng phục vụ nuôi trồng thủy sản khoảng 15.060 ha Đặc biệt là các loài giống thủy sản nước lạnh ( cá tầm,

cá hồi) (Cá tầm, cá hồi là những đối tượng có giá trị kinh tế cao, đã được nhiều quốc gia nhập nội và nuôi thành công Trong thời gian gần đây, nhóm

cá tầm, cá hồi đã được di nhập vào Việt Nam và hiện đang được nuôi ở nhiều tỉnh trong cả nước) Diện tích tiềm năng còn tăng thêm nhiều do việc xây dựng hồ chứa nước cho thủy lợi, thủy điện ngày càng tăng Tuy nhiên, việc sử dụng tiềm năng này vào hoạt động nuôi trồng thủy sản vẫn còn khiêm tốn,thực tế sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản lại chưa tương xứng với tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi.Bên cạnh đó, nuôi trồng thủy sản ở Lâm Đồng trong những năm qua tuy có phát triển nhưng diễn ra với tốc độ chậm, chưa phát huy hết tiềm năng và nguồn lực của vùng Nguồn nước phân bố không đều, trong năm thường chỉ có 8 tháng mùa mưa, dẫn đến diện tích nuôi cá quanh năm không có nhiều do điều kiện tự nhiên chi phối Việc nuôi lồng bè ở các sông gặp khó khăn do độ dốc của địa hình, khi mưa xuống tạo lưu tốc dòng chảy lớn Cơ sở vật chất kỹ thuật trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản chưa được chú trọng đầu tư, hiện một số tỉnh chưa có trung tâm giống cấp tỉnh Các cơ sở sản xuất giống, dịch vụ nghề nuôi, đánh bắt thủy sản còn nghèo, kỹ thuật lạc hậu Trong khi đó, đội ngũ cán bộ ngành thủy sản của một số địa phương mới được tuyển dụng, kinh nghiệm trong công tác còn yếu Cơ sở vật chất cho các cơ sở nghiên cứu còn thiếu, mạng lưới cán bộ cơ sở còn rất mỏng Trình độ kỹ thuật và tập quán sản xuất của đồng bào các dân tộc và nông dân còn lạc hậu, nguồn vốn của dân đầu tư cho phát triển thủy sản còn hạn chế, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người Ngoài ra, giá cả các yếu tố

Trang 3

đầu vào tiếp tục tăng cao ảnh hưởng rất lớn đến chi phí sản xuất của người nuôi Cho nên việc đề ra những giải pháp để thúc đẩy phát triền nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở Tỉnh Lâm Đồng là điều cần thiết Đây cũng là lí

do thôi thúc em nghiên cứu đề tài “ Phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở tỉnh Lâm Đồng”.

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nuôi trồng thủy sản cũng là bộ phận nòng cốt của ngành thủy sản, bởi vậy nghiên cứu về nuôi trồng thủy sản là đề tài có bề dày nghiên cứu.Mặc

dù lĩnh vực nuôi trồng cá nước lạnh mới thực sự phát triển trong những năm gần đây nhưng khối lượng đề tài nghiên cứu về các loài thủy sản nước lạnh không hề nhỏ, đặc biệt là hai loại giống cá tầm và cá hồi Sau đây là một số đề tài nghiên cứu tiêu biểu:

Đề tài “Nghiên cứu quy trình sinh sản nhân tạo giống cá hồi vân tại Lâm Đồng” do Trạm Nghiên cứu Cá nước lạnh Tây Nguyên chủ trì

Đề án nuôi thử nghiệm cá nước lạnh tỉnh Lâm Đồng thuộc chương trình Phát triển cá nước lạnh tỉnh Lâm Đồng Thời gian thực hiện từ 2006-2007

Nguyễn Quốc Ân & Nguyễn Viết Thùy (2010) Cá hồi vân

Oncorhynchus mykiss (Walbaum 1792) và giải pháp phát triển nuôi ở tỉnh Lâm Đồng Trong Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ (2005-2009), Nhà xuất bản nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh,

Trang 164 – 170

Đề tài “ Nghiên cứu cho sinh sản cá hồi vân tại Lâm Đồng” thực hiện

3 năm từ 2009-2011 Chủ nhiệm đề tài: Kỹ sư Nguyễn Viết Thùy

Nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu khoa học công nghệ theo nghị định thư với cộng hòa liên bang Nga “Nghiên cứu phát triển cá tầm nga và cá tầm xiberi tại Tây Nguyên”, thực hiện 3 năm từ 2009-2011 Chủ nhiệm đề tài:

Kỹ sư Nguyễn Viết Thùy

Trang 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Hệ thống hóa và làm rõ thêm những lý luận chung về nuôi trồng thủy sản, đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng nuôi trồng thủy sản nói chung cũng như cá nước lạnh nói riêng ở tỉnh Lâm Đồng Từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh tại tỉnh Lâm Đồng hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, nhiệm vụ của khóa luận là:

- Phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về ngành thủy sản và nuôi trồng thủy sản, cũng như thấy được những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng thủy sản hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh của tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh của tỉnh trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài

4 Đối tượng,phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được trình bày trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lenin; những quan điểm của Đảng ta trong các Văn kiện Đại hội và các Nghị

Trang 5

quyết của Ban chấp hành trung ương; những chủ trương chính sách của Nhà nước và các ngành có liên quan.

Tron khóa luận này, ngoài các phương pháp nghiên cứu truyền thống, tác giả còn sử dụng:

- Phương pháp điều tra phỏng vấn : Do đề tài mang tính thực tiễn nên

trong quá trình làm khóa luận đã tiến hành điều tra , phỏng vấn một số cơ

sở nuôi trồng cá tầm và cá hồi trên địa bàn tỉnh

- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo : Trong quá trình thực hiện có tham khảo ý kiến của chuyên gia, cán bộ thủy sản,…

6 Những đóng góp mới của khóa luận

Những đóng góp mới của khóa luận:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về ngành thủy sản và nuôi trồng thủy sản

- Phân tích, đánh giá sâu sắc thực trạng hoạt động nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua

- Đề xuất và luận giải các giải pháp chủ yếu để phát triển nuôi trồng thủy sản

cá nước lạnh ở tỉnh Lâm Đồng trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kiến nghị,kết luận Khóa luận bao gồm 3 chương:

Chương 1 Lý luận chung về ngành thủy sản và nuôi trồng thủy sảnChương 2 Thực trạng phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở

tỉnh Lâm ĐồngChương 3 Phương hướng và giải pháp

Chương 1 Lý luận chung về ngành thủy sản và nuôi trồng thủy sản 1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản

Trang 6

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Thủy sản

Thủy sản là một ngành sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa hẹp, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm hàng thủy sản để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ Các sản phẩm hàng hóa đa dạng do ngành thủy sản sản xuất ra gồm: cá các loại, tôm các loại, nhiễm thể các loại và các thủy hải sản đặc biệt khác

Ngành thủy sản gồm hai bộ phận sản xuất chủ yếu là: ngành nuôi trồng

và ngành nông nghiệp chế biến thủy sản Ngoài ra, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ khác

1.1.1.2 Khái niệm nuôi trồng thủy sản

Thời kì đầu ,đánh bắt thủy sản được coi là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của ngành thủy sản Vì vậy tại thời điểm đó ngành nuôi trồng thủy sản chưa được phát triển và con người chưa ý thức được việc tái tạo nguồn lực và đảm bảo môi trường cho sự phát triển của các loài thủy sản Nhưng, đến những thập kỉ gần đây, khi sản phẩm của nguồn thủy sản tự nhiên ngày càng có nguy cơ giảm dần và cạn kiệt vì đánh bắt bừa bãi cùng với các phương tiện đánh bắt tràn lan như sử dụng nguồn điện trong điều kiện nguồn lợi có hạn thì nuôi trồng thủy sản ngày càng phát triển và có vị trí ngày càng quan trọng Vì vậy, khái niệm nuôi trồng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ như sau:

-Theo giáo trình kinh tế thuỷ sản: NTTS là một bộ phận sản xuất có

tính nông nghiệp nhằm duy trì bổ sung, tái tạo, và phát triển nguồn lợi thuỷ

sản, các sản phẩm thuỷ sản được

cung cấp cho các hoạt động tiêu dùng và chế

biến xuất khẩu Hoạt động nuôi trồng diễn ra trên nhiều loại hình mặt nước

với nhiều chủng loại khác nhau, bên cạnh đó sự phát triển của khoa h

ọc kỹ thuật phục vụ cho hoạt động nuôi trồng thủy sản

Trang 7

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học : NTTS là một hoạt động tạo ra

nguyên liệu thủy sản cho quá trình tiêu dùng sản phẩm, hoạt động xuất khẩu và công nghiệp chế biến

- Theo quan điểm của các nhà sinh học: NTTS là hoạt động tạo ra các điều

kiện sinh thái phù hợp với sự trưởng thành và phát triển của các loại thủy sản để thúc đẩy chúng phát triển qua các giai đoạn của vòng đời

- Theo quan điểm của FAO: NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tượng

sinh vật thuỷ sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức

độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh

1.1.2 Đặc điểm của ngành nuôi trồng thủy sản

1.1.2.1 Đất đai diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa

là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Đất đai là tư liệu sản xuất song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt khác với các tư liệu khác ở chỗ: diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn, mặt khác đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường khác nhau Chính vì vậy khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý quản lý chặt chẽ diện tích mặt nước cả trên ba mặt pháp chế, kinh tế, kỹ thuật

1.1.2.2 Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những

cơ thể sống.

Trang 8

Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống- là các loại động thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng mới thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triền của nó.

1.1.2.3 Nuôi trồng thủy sản phát triển rộng khắp đất nước và tương

đối phức tạp so với các ngành sản xuất vật chất khác.

Nhìn vào thưc tế chúng ta thấy rằng, ở đâu có nước thì ở đó có thể có nuôi trồng thủy sản Ngay cả những vùng miền núi có các con suối hay ghềnh thác đều có thể lợi dụng địa thế để nuôi trồng thủy sản.Cho nên nuôi trồng thủy sản phát triển rộng khắp ở hầu hết mọi địa hình từ vùng miền núi, trung du đến vùng biển Bên cạnh đó, thủy sản nuôi rất đa dạng, bao nhiều giống loài khác nhau, phù hợp với từng loại địa hình cũng như điều kiện khí hậu, hay chế độ chăm sóc khác nhau Do vậy, đối với ngành nuôi trồng thủy sản công tác chỉ đạo sản xuất và công tác quản lý cần chú ý đến những vấn đề như : xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, xây dựng các chỉ tiêu

kế hoạch, triển khai thực hiện các chính sách phải phù hợp với từng khu vực lãnh thổ, hay từng vùng khác nhau

1.1.2.4 Số lượng, chất lượng nguồn nước và nguồn lợi thủy sản rất khác nhau.

Mỗi mặt nước nuôi trồng thủy sản có độ màu mỡ khác nhau phụ thuộc vào thổ nhưỡng vùng đất và nguồn nước, nguồn cung cấp Vật nuôi trong

ao hồ vì ở dưới mặt nước nên rất khó quan sát trực tiếp được như trên cạn,

vì thế rủi ro trong sản xuất lớn hơn nhiều so với những ngành khác Bên cạnh đó, NTTS chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tự nhiên như khí hậu , đất đai nhất là nguồn nước,…Bởi vậy, người nuôi cần có nhiều kinh nghiệm và kiến thức kĩ thuật cần thiết về vấn đề thủy lợi, vì thủy lợi chính là chìa khóa

Trang 9

để ra cánh cửa cho người làm công tác nuôi trồng thủy sản có những thành công lớn.

1.1.2.5 Hoạt động nuôi trồng thủy sản có tính mùa vụ rõ rệt

Nuôi trồng thủy sản mang tính mùa vụ vì các loài thủy sản có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng Theo Lênin, tính mùa vụ thể hiện ở chỗ thời gian lao động không ăn khớp với thời gian sản xuất Thời gian lao động là thời gian tác động đến sự hình thành của sản phẩm, còn thời gian sản xuất kéo dài hơn thời gian lao động vì nó bao gồm cả thời gian không tác động đến sản phẩm Ví dụ như : thời gian lao động chỉ bao gồm : Thời gian cải tạo ao ( phơi đáy 2 tuần lễ), thả giống, chăm sóc ( cho ăn ngày 2 lần),thu hoạch Như vậy, người nuôi trồng thủy sản phải tuân theo quy trình sinh trưởng và phát triển để bố trị thời gian, công việc hợp lý

Trong NTTS cần phải lưu giữ và chăm sóc đặc biệt đối với đàn vật nuôi bố mẹ ( đàn cá bố mẹ, đàn tôm bố mẹ,…) để sản xuất con giống cho

vụ nuôi tiếp theo Đây là tài sản sinh học đặc biệt đối với các doanh nghiệp, việc lựa chọn đàn vật nuôi bố mẹ cần tuân theo quy trình khoa học công nghệ của hệ thống quốc gia

Tính thời vụ trong hoạt động nuôi trồng thủy sản đã dẫn đến một thực trạng là người lao động có lúc nhàn rỗi, có lúc bận rộn Bởi vậy , vấn đề đặt

ra ở đây là một mặt phải tuân thủ tính mùa vụ, đồng thời phải giảm thiểu thời gian nhàn rỗi, hay là giảm tính mùa vụ bằng cách : người tiến hành hoạt đông nuôi trồng thủy sản cần tích cực nghiên cứu các loài thủy sản có thời gian sinh trưởng ngắn để có thể sản xuất nhiều vụ trong năm, đồng thời tận dụng thời gian nhàn rỗi để quan sát quá trình sinh trương cũng như điều kiện nuôi trồng để có thể kịp thời xử lý khi có sự cố xảy ra

Trang 10

1.1.2.6 Nuôi trồng thủy sản là ngành có từ rất lâu đời nhưng xuất phát điểm thấp nhỏ bé, manh mún, phân tán.

Trong thời kì đầu, vì hoạt động đánh bắt được xem là bộ phận cốt yếu của ngành thủy sản, nên hoạt động nuôi trồng không được chú trọng, nó chỉ được tiến hành ở một số điểm nghiên cứu nhỏ và phân tán Khi nguồn lợi thủy sản từu nhiên dần dần cạn kiệt, người ta mới bắt đầu ý thức được việc tái tạo các loài, lúc này, nuôi trồng thủy sản mới được chú trọng phát triển Trong thời gian gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước mà hoạt động nuôi trồng thủy sản có những bước tiến đáng kể với việc có tên trong

10 nước có sản lượng nuôi trồng lớn nhất thế giởi năm 2000 : Bangladet, Trung quốc, Ấn độ, Indonexia, Nhật bản, Thái lan, Việt Nam,

1.1.3 Nội dung và tiêu thức phát triển nuôi trồng thủy sản

1.1.3.1 Nội dung về phát triển nuôi trồng thủy sản

Phát triển sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ ,trong đó con người luô đấu tranh với thiên nhiên và làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực , thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống

Phát triển cũng thường đi kèm với những thay đổi quan trọng trong cấu trúc của nền kinh tế, hay nói cách khác là sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, và cơ cấu lao động

Do vậy, khái niệm phát triển cũng được lí giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế như: Kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong một thời gian nhất định

- Phát triển NTTS có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu

- Phát triển NTTS diễ ra theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng thủy sản nuôi trồng bằng cách mở rộng diện tích đất đai, mặt nước, với cơ sở vật chất kĩ thuật giản đơn, kết quả NTTS đạt được chủ yếu nhờ vào độ phì

Trang 11

nhiêu đất đai, thủy vực và sự thuận lợi của các điều kiện tự nhiên, hiệu quả sản xuất thấp.

- Phát triển NTTS theo chiều sâu là tăng sản lượng thủy sản dựa trên cơ sỏ đầu tư thêm vốn,ứng dụng kĩ thuật , công nghệ mới, xây dựng cơ sỏ hạ tầng NTTS phù hợp với mỗi hình thức nuôi Như vậy, phát triển theo chiều sâu

là tăng sản lượng và hiệu quả nuôi trồng thủy sản trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm vốn, kĩ thuật và lao động

Tóm lại, phát triển NTTS bao gồm các nội dung sau:

- Mở rộng quy mô NTTS và gia tăng sản lượng

- Cơ cấu NTTS thay đổi theo xu hướng tích cực

- Nâng cao năng suất NTTS

- Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực

1.1.3.2 Tiêu thức phản ánh phát triển nuôi trồng thủy sản

- Tăng trưởng sản lượng và giá trị ( GO) nuôi trồng thủy sản

- Diện tích nuôi trồng thủy sản và diện tích / hộ nuôi trồng

- Sản lượng thủy sản/ 1 đơn vị diện tích

- Thay đổi tỷ lệ ủa các hình thức nuôi trồng thủy sản

- Số lượng nguồn lực và hiệu quả sử dụng nguồn lực ( có thể tính chung và riêng cho từng hộ sản xuất)

- Quy mô và mức độ cung ứng các dịch vụ như: Giống, phòng ngừa bệnh,khuyến ngư, hậu cần…

- Số việc làm tạo ra

Trang 12

- Thu nhập cho một lao động

- % hộ giảm nghèo

- Trữ lượng nguồn lợi, rừng ngập mặn, đa dạng sinh học

1.2 Vai trò và những lợi thế, thách thức của ngành nuôi trồng thủy sản

1.2.1 Vai trò của ngành nuôi trồng thủy sản

1.2.1.1 Nuôi trồng thủy sản có vai trò quan trọng trong việc duy trì và tái tạo các nguồn lợi thủy sản.

Thủy sản là nguồn lợi tự nhiên mà ngày xưa cha ông ta thường có câu : Việt Nam chúng ta “ Rừng vàng, biển bạc” Biển bạc bao gồm cả sự phong phú, giàu có về các loài cá tôm,… Tuy nhiện, thực tế đã cho chúng

ta thấy rằng, các nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt và khan hiếm do tình trang đánh bắt tràn lan, không kế hoạch, thậm chí một số loài đã tuyệt chủng Như vậy, cần phải có kế hoạch khoa học trong việc quản lý đánh bắt cũng như biện pháp lâu dài là duy trì và tái tạo các loài thủy sản thông qua hoạt động nuôi trồng thủy sản Vì hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động bổ sung, tái tạo, và phát triển các nguồn lợi thủy sản Chính vì vậy, nếu nuôi trồng thủy sản hiệu quả, từ vật nuôi bố mẹ sẽ nhân lên số lượng giống con lớn phục vụ cho đời sống, xuất khẩu,…

1.2.1.2 Cung cấp thực phẩm nội địa

Cùng với mức sống ngày càng cao, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cao, giàu protein ngày càng tăng thì NTTS ngày càng trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho thị trường nội địa Ngành NTTS là một ngành cung cấp sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, đứng dưới góc độ kinh tế, NTTS còn góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, đáp ứng yêu cầu cụ thể là tăng chất đạm, vitamin cho cơ thể con người thông qua các bữa ăn

Trang 13

1.2.1.3 Cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến

và xuất khẩu thủy sản.

Nuôi trồng thủy sản là ngành đem lại hiệu quả kinh tế hơn so với một

số ngành nông nghiệp khác.Sản phẩm của hoạt động nuôi trồng không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà một số đối tượng thủy sản còn được chế biến, xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới như tôm, cá tra, cá basa, cá tầm, cá hồi,…Trong nhiều năm liền ngành thủy sản đứng ở vị trí thứ 3, thứ

4 ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đât nước.Ngành thủy sản Việt Nam đứng thứ 6 trong 10 nước có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD trên thế giới.Sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã có mặt trên 170 quốc gia, trong đó có 3 thị trường lớn nhất là EU, Mỹ, Nhật Bản Để có được kết quả đó không chỉ nhờ vào hoạt động đánh bắt mà còn phụ thuộc nhiều vào hoạt động nuôi trồng.Trong 3 tháng đầu năm 2013, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 501 nghìn tấn, với giá trị xuất khẩu thủy sản đạt tới 31.343 tỷ đồng Như vậy, hoạt động nuôi trồng thủy sản không chỉ cung cấp nguồn nguyên liệu chế biến thủy sản trong nước mà còn xuất khẩu nước ngoài đem về nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân sách quốc gia

1.2.1.4 Giải quyết việc làm và tăng thu nhập

NTTS là ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm cho lao động không chỉ các chuyên gia, mà còn tạo việc làm cho những người lao động phổ thông, đặc biệt là vùng ven biển, vùng nông thôn Những năm gần đây, công tác khuyến ngư được Đảng và Nhà nước quan tâm nhằm nâng cao nhận thức

về chủ chương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Huy động nguồn lực từ

Trang 14

các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông, khuyến ngư Hiện nay, mô hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giả quyết vấn đề việc làm cho lao động ven biển đáng kể Bên cạnh đó mô hình kinh

tế tiểu chủ hay kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần tạo việc làm cho lao động vùng Nam bộ, Trung bộ.Năm 2005, khi thực hiện chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản ở một số địa phương mà số lao động nuôi trồng thủy sản tăng lên 2.550.000 lao động( bao gồm cả lao động thời vụ)

Bên cạnh đó, do việc NTTS mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với các ngành trong lĩnh vực nông nghiệp khác,nên cũng với việc chuyển đổi kĩ thuật cùng với chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng thủy sản đã mang lại thu nhập cao cho các hộ gia đình, các cơ sỏ nuôi trồng thủy sản

1.2.1.5 Chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp

Như chúng ta đã biết trong nông nghiệp được phân chia thành 3 ngành nhỏ là nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Và hiện nay, xu hướng chuyên dịch là giảm nông nghiệp và lâm nghiệp, tăng tỉ trong ngư nghiệp

Vì ngành ngư nghiệp đem lại hiểu quả kinh tế cao hơn so với các ngành khác, nên người ta thực hiện chuyển đổi để có thu nhập cao hơn Trong đó nuôi trồng thủy sản đem lại nguồn thu lớn hơn cả, nguyên nhân là do giá của thủy sản tăng cao trông những năm gần đây Có thể nói NTTS đã có tốc

độ phát triển tương đối nhanh, thu được nhiều hiệu quả kinh tế- xã hội, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giàu cho nông dân

Hơn nữa, NTTS cũng thu hút sự quan tâm, tham gia của nhiều doanh nghiệp như các Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp liên doanh, các công ty cổ phần,…Vì vậy, NTTS phát triển cũng kéo theo sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ Cho nên, NTTS đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững, là lá chắn , là bệ đỡ cho những đợt khủng hoảng đã diễn ra, đang diễn ra và sẽ diễn ra trong tương lai

Trang 15

1.2.2 Những lợi thế và thách thức của ngành nuôi trồng thủy sản trong điều kiện hiện nay.

1.2.2.1 Lợi thế

Một là, lợi thế về điều kiện tự nhiên

Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho việc đa dạng hóa các mặt hàng thủy sản Nước ta có trên 50 sông lớn nhỏ tạo nên tiềm năng lớn về mặt nước nuôi trồng với khoảng 1,7 triệu ha Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo nên sự đa dạng phong phú về chủng loại thủy sản Ngoài ra, Việt Nam có một số vùng sinh thái đất thấp, có thể tiến hành các hoạt động nuôi trồng thủy sản vừa có chất lượng cao vừa có giá thành thấp mà hệ thông canh tác khác không thể có được Lợi thế này đặc biệt phát huy thế mạnh trong cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước Thủy sản Việt Nam là thủy sản nhiệt đới với nguồn lợi rất đa dạng và phong phú, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao Với tiềm năng mặt nước lớn và nguồn lợi thủy sản phong phú, Việt Nam hoàn toàn có thể phát huy lợi thế của mình trong việc nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản, nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường nước ngoài và đa dạng hóa các mặt hàng thủy sản có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao

Hai là, lợi thế về nguồn nhân lực

Vai trò của nhân tố con người là điều đã được khẳng định- con người thực sự trở thành nhân tố bao trùm và quyết định nhất của các nhân tố hợp thành, quy định thành bại của sự phát triển kinh tế- xã hội

Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, lao động Việt nam cần cù, chịu khó, thông minh, sáng tạo và có khả năng tiếp thu nhanh các bí quyết kĩ thuật và công nghệ Bên cạnh đó, chi phí nhân công ở nước ta rẻ hơn nhiều

Trang 16

so với các nước trong khu vực và trên thế giới Ví dụ: giá nhân công lao động ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 Thái Lan, 1/26 của Singapore và 1/30 của Đài Loan.

Vì vậy, nguồn lực này sẽ thích hợp cho những lợi thế khởi điểm mang tính tĩnh khi được sử dụng trong lĩnh vực phát triển nuôi trồng và chế biến thủy sản

Ba là, Sự phát triển của ngành thủy sản và chế biến thủy sản

Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam Hàng thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế nước ta Những năm gần đây, thủy sản luôn là mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu thủy sản là động lực chủ yếu đã góp phần không nhỏ rong việc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước nói chung và phát triển các lĩnh vực khác trong ngành thủy sản như khai thác, nuôi trồng, chế biến…

Hai là, năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam còn yếu

Hàng thủy sản của chúng ta nghèo nàn về chủng loại, chất lượng và mẫu mã chưa phù hợp, giá cả không cạnh tranh Trong khi đó,quy mô sản xuất lại nhỏ, khả năng liên kết kém, nhiều sản phẩm thủy sản của nước ta ngày càng mất thế cạnh tranh so với các nước trên thị trường quốc tế

Trang 17

Ba là, năng lực sản xuất nhiều mặt hàng thủy sản đã đến ngưỡng, khó

có khả năng tăng trưởng cao

Hiện nay, việc nuôi trồng thủy sản ở nước ta rất tự phát và ở quy mô nhỏ nên dẫn đến nhiều mặt hàng thủy sản đã chạm ngưỡng và ít có khả năng tăng trưởng cao Chính vì điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình chế biến và xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của nước ta trên thị trường thế giới

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi trồng thủy sản

1.3.1 Nhân tố tự nhiên

Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố thuỷ sản Mỗi loại thuỷ sản chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu là đất, nước, khí hậu Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loài thuỷ sản trên từng lãnh thổ, khả năng áp dung các quy trình sản xuất, đồng thời có ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản

1.3.1.1 Diện tích mặt nước.

Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là đất có mặt nước nội địa bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sông ngòi, kênh rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh

tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thuỷ sản

Đất đai để nuôi trồng thuỷ sản quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các loài động vật thuỷ sản vì nếu tách chúng ra khỏi môi trường nước thì chúng sẽ chỉ tồn tại đựơc trong một thời gian rất ngắn Hơn thế nữa diện tích mặt nước còn quyết định tới quy mô phát triển nuôi trồng thuỷ sản Điều đó được thể hiện ở chỗ nếu diện tích có khả năng nuôi trồng lớn thì quy mô để phát triển nuôi trồng thuỷ sản cũng lớn

1.3.1.2 Khí hâu, nguồn nước.

* Khí hậu.

Các điều kiện thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động

Trang 18

nuôi trồng thuỷ sản, nó có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát sinh và lan tràn dịch bệnh cho vật nuôi.

Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới pha trộn tính ôn đới,

vì vậy mà điều kiện thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc đến ngành nuôi trồng thuỷ sản Những tác động có lợi của điều kiện thời tiết tác động đến nuôi trồng thuỷ sản như: Khả năng nuôi trồng thuỷ sản có thể được tiến hành quanh năm; các giống loài động thực vật thuỷ sinh rất phong phú, đa dạng và có nhiều loài có giá trị kinh tế cao

Những tai biến thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, bão…gây thiệt hại nghiêm trọng cho nuôi trồng thuỷ sản Chính vì vậy ngành nuôi trồng thuỷ sản có tính bấp bênh, không ổn định

Lũ lụt, nước biển dâng sẽ tác động mạnh đến hệ thống ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, làm tăng những điều kiện bất lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản, làm tăng bất lợi cho việc nuôi tôm, cua, cá nước lợ do bờ đê, đập bị phá vỡ

Đối với nuôi trồng thuỷ sản, có nhiều nhân tố như: gió, nhiệt độ, không khí, môi trường nước, chế độ mưa, độ mặn…đã ảnh hưởng đến điều kiện sống, khả năng sinh sản và di trú của đàn cá

Nhiệt độ đóng một vai trò quan trọng cho quá trình sinh trưởng của sinh vật nói chung và các loài nuôi trồng thuỷ sản nói riêng Mỗi loài có khoảng nhiệt độ thích ứng riêng Khả năng chống chịu của chúng nằm trong khoảng giới hạn nhất định Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thuỷ sản trong các ao hồ Thay đổi nhiệt độ còng là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài nuôi Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khoẻ của các loài nuôi, môi trường nước bị xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật gây hại

Tác động của thời tiết cũng ảnh hưởng mạnh tới môi trường ao nuôi Nếu thời tiết nắng nóng tạo điều kiện cho quá trình phân huỷ yếm khí các chất hữu cơ trong ao nuôi, đặc biệt ở đáy ao, tạo ra nhiều khí độc tích tụ ở

Trang 19

đáy, gây ô nhiễm cho môi trường ao nuôi, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của thuỷ sản.

Đối với nghề nuôi thuỷ sản mặn, lợ, độ mặn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong các ao nuôi giảm đi đột ngột vượt ra khỏi khả năng chịu đựng làm cho tôm, cá bị sốc, chết hoặc chậm lớn

Nguồn nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản yêu cầu về chất lượng khá nghiêm ngặt, nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng ôxi tan trong nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc trong nước thấp hoặc không có ( Thuốc bảo vệ thực vật, H2S…) Để sử dụng nguồn nước mặt cho nuôi trồng thuỷ sản đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững phải chú ý giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp công cộng… làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước mặt trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước

1.3.2 Nhân tố kinh tế xã hội

1.3.2.1 Nhân tố xã hội

Dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng tới hoạt động nuôi trồng thủy sản ở hai mặt vừa là lực lượng sản xuất vừa là người tiêu thụ các nông sản Bất kể một ngành sản xuất vật chất nào cũng nhằm mục đích tạo ra sản

Trang 20

phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng Và ngành nuôi trồng thuỷ sản cũng thế, muốn tạo ra các sản phẩm thuỷ sản thì phải có lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất trong nuôi trồng thuỷ sản ở đây là các cá nhân, hộ gia đình làm việc trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản Họ vừa là lực lượng sản xuất vừa là người tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản

Chỉ có lao động của con người mới tạo ra được hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Con người tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi thông qua quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng Nếu lao động có trình

độ kỹ thuật cao thì sẽ thúc đẩy nuôi trồng thuỷ sản phát triển

Dân số là nguồn cung cấp lực lượng lao động cho mọi ngành kinh tế trong đó có nuôi trồng thuỷ sản Đồng thời dân số cũng là lực lượng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản

1.3.2.2 Khả năng về vốn

Năng suất, chất lượng phụ thuốc rất nhiều vào chất lượng ao hồ và việc tổ chức quản lý sản xuất theo đúng yêu cầu của quy trình kỹ thuật Điều này chỉ có thể thực hiện được khi người nuôi trồng đủ vốn để xây dựng cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật nuôi trồng thủy sản đồng bộ và có chất lượng tốt Vì vậy, để duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao được hiệu quả kinh tế thì yếu tố vốn không thể thiếu được trong mỗi hoạt đọng sản xuất kinh doanh của ngành NTTS

1.3.2.3 Nhân tố thị trường

Bất kể một ngành sản xuất vật chất nào cũng nhằm mục đích là sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất để tạo ra sản phẩm đầu ra Nhưng

để có được lợi nhuận thì các nhà sản xuất phải tìm kiếm được đầu ra cho sản phẩm của mình Muốn có được thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình, điều đó không hề đơn giản chút nào trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt như ngày nay

Nuôi trồng thuỷ sản cũng là một ngành sản xuất vật chất mà sản phẩm tạo ra là các sản phẩm thuỷ sản Khi tạo ra sản phẩm từ hoạt động nuôi

Trang 21

trồng, thì các hộ sản xuất phải tìm cho mình một đầu ra để tiêu thụ cho sản phẩm cho mình đó chính là thị trường Thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản có vai trò quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hoá theo hướng sản xuất hàng hoá ngày càng cao Do tính chất đa dạng của nhu cầu thị trường tác động làm cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản biến đổi về mặt cơ cấu sản phẩm nhằm phục vụ tính đa dạng của nhu cầu thị trường Đồng thời thông qua việc trao đổi mua bán hàng hoá thuỷ sản trên thị trường, làm cho các vùng sản phẩm chuyên môn hoá ngày càng phát triển

và liên kết với nhau để khai thác tốt lợi thế của từng vùng, sản xuất ra nhiều hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường Thị trường quyết định lượng cung - cầu và giá cả các loại mặt hàng thuỷ sản Vì vậy, thông qua thị trường mà người sản xuất mới biết được nên nuôi trồng loại thuỷ sản nào,

số lượng là bao nhiêu mà thị trường đang cần để có được lợi nhuận cao

1.3.2.4 Nhân tố tiến bộ khoa học kĩ thuật

Xã hội ngày càng phát triển và kèm theo đó là những tiến bộ khoa học

kỹ thuật ra đời cùng với sự phát triển đó Tiến bộ khoa học ra đời đã làm thay đổi đời sống con người trong mọi lĩnh vực

Trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản cũng vậy, nhờ áp dụng những tiến

bộ này mà người ta đã có thể sản xuất ra những giống thuỷ sản mới, chất lượng cao, sinh trưởng nhanh, có khả năng chống chịu với những điều kiện ngoại cảnh tốt… Ngoài ra nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật

mà người ta có thể kiểm soát và phòng trừ dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản, phát triển và mở rộng ứng dụng các kỹ thuật hiện đại chẩn đoán và xử

lý kịp thời bệnh nguy hiểm ở động vật thuỷ sản

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁ

NƯỚC LẠNH Ở TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Những điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh

là phát triển nuôi trồng thủy sản phải luôn chú trọng bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững

Nhờ có vị trí địa lý và sự kết nối giao thông thuận lợi như trên nên Lâm Đồng có thể mở rộng hợp tác kinh tế với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và cả nước

Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của khu vực là một trong những cơ hội tốt cho phát huy các lợi thế địa lý của Lâm Đồng

2.1.1.2 Địa hình

Đa số các cơ sở nuôi cá nước lạnh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đang dựa vào nguồn nước tự nhiên (từ các con suối, từ hồ chứa ) và tập trung ở vùng núi, vì thế, địa hình cũng là một yếu tố quan trọng trong phát triển nuôi cá nước lạnh

Có 3 dạng địa hình khác nhau ở Lâm Đồng:

- Địa hình thung lũng gồm các bề mặt bằng phẳng, ít dốc; có nguồn gốc tích tụ thung lũng giữa núi hoặc các bồi tích sông suối

Trang 23

- Địa hình đồi núi thấp đến trung bình gồm các đồi hoặc núi có độ dốc

< 200m và có độ cao < 1.000 m

- Địa hình núi cao gồm: các dạng địa hình từ núi có độ cao trung bình đến núi cao, có nhiều đỉnh núi cao vượt quá 1.500 m như Mneun Pautar 1.664

m, Chư Yen Du 1.784 m, Lang Biang cao 2.167 m, Bi Doup 2.287 m,

Đặc điểm địa hình ảnh hưởng đến các yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật, đồng thời tạo ra những cảnh quan thiên nhiên đẹp và đa dạng, thu hút khách du lịch, góp phần phát triển thị trường cho nghề nuôi

cá nước lạnh Đặc điểm địa hình này cũng là điều kiện thuận lợi để xây dựng các đập thủy điện, thủy lợi nơi có thể tận dụng để nuôi cá nước lạnh Ngoài ra, lợi dụng đặc điểm địa hình này, người ta có thể xây dựng các mô hình nuôi sử dụng nước tự chảy, một hình thức nuôi cá nước lạnh phổ biến Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt, khó có thể tìm được những vùng có mặt bằng rộng, nên ít nhiều ảnh hưởng đến qui mô xây dựng, khó có thể tạo ra những trang trại nuôi có qui mô lớn để tạo ra sản lượng hàng hóa cao Mức chênh lệch cao trình giữa dòng chảy và khu vực sử dụng nước thường rất lớn, thất thoát nước tương đối nhiều, chi phí xây dựng công trình dẫn nước khá tốn kém; làm tăng giá thành, giảm khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường

Ngoài ra, địa hình có độ dốc lớn cũng tiềm ẩn nguy cơ lũ ống, lũ quét cao, có thể ảnh hưởng đến công trình nuôi, gây thất thoát cá trong quá trình nuôi, để đảm bảo nuôi cá an toàn cần phải gia cố công trình kỹ càng, điều này ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm

2.1.1.3 Nguồn nước

Nguồn nước là yếu tố quyết định việc phát triển nuôi Thủy sản nói chung và cá nước lạnh nói riêng Lâm Đồng có nguồn nước mặt tương đối dồi dào nhờ có diện tích rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) lớn, và có nhiều sông suối Có khoảng 60 sông suối có chiều dài > 10 km Một số sông suối lớn như Đồng Nai, Đa Nhim, Đạ Tẻh,… Mật độ lưới sông dao

Trang 24

động trong khoảng 0,18 - 1,10 km/km2 Nhìn chung các sông suối đều có bậc thềm sông hẹp, sườn dốc, nhiều thác ghềnh, tốc độ dòng chảy lớn và phân phối không đều trong năm Một số suối nhỏ chảy ra từ các vườn quốc gia, các khu rừng nguyên sinh có nhiệt độ thấp quanh năm như suối nước lạnh (Huyện Damrong…), suối ….tại Vuờn Quốc gia Bidup-Núi bà, có thể phát triển nuôi cá hồi

Nhờ hệ thống sông suối, và địa hình khá thuận lợi cho xây dựng các

hồ chứa và đập dâng ở nhiều khu vực khác nhau, nhiều tầng khác nhau; đồng thời có thể kết hợp giữa khai thác tiềm năng về thủy điện với hoạt động du lịch và nuôi trồng thủy sản Ngoài các dự án thuỷ điện lớn đã và đang triển khai; còn khá nhiều công trình thủy điện nhỏ, các hồ chứa thủy lợi nhỏ cũng có thể kết hợp để nuôi cá nước lạnh

Nhìn chung chất lượng nước khá tốt và có thể đáp ứng được yêu cầu

để nuôi nhiều loài thủy sản khác nhau bao gồm cả cá nước lạnh

2.1.1.4 Khí hậu

Lâm Đồng có khí hậu ôn đới, đây là một vùng khí hậu hết sức đặc biệt đối ở đất nước nhiệt đới như nước ta, vùng khí hậu đặc biệt này đã tạo nên cảnh quan đặc biệt thu hút sự hiếu kỳ của mọi tầng lớp nhân dân trong khu vực, vì thế Lâm Đồng có tiềm năng rất lớn cho việc phát triển du lịch, đây

là cơ hội cho nghề nuôi cá nước lạnh phát triển

Khí hậu ôn đới chính là yếu tố quyết định khả năng phát triển nuôi cá nước lạnh tại Lâm Đồng Với nhiệt độ trung bình 18 – 220 C (tùy theo khu vực), ở độ cao trên 1.000 mét nhiệt độ giao động trong khoảng 15 – 200C Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi cá nước lạnh

Với chế độ nhiệt và chế độ mưa như trên, khả năng tái sinh của rừng khá cao, nên Lâm Đồng có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng; đồng thời, giúp đảm bảo nguồn nước Đây là những yếu tố hỗ trợ nghề nuôi cá nước lạnh phát triển

Bên cạnh những thuận lợi như trên, thời tiết khí hậu của Lâm Đồng

Trang 25

cũng có một số hạn chế có thể ảnh hưởng đến nuôi cá nước lạnh như:

+ Ở một số vùng, thời gian nắng ít, mưa nhiều có thể dẫn tới sự bùng phát một số loại bệnh cá

+ Cường độ mưa lớn và tập trung nên thường gây lũ lụt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nuôi cá nước lạnh, vì hầu hết các trang trại nuôi cá hiện nay đều dựa vào nguồn nước suối tự nhiên Một số thời điểm mưa nhiều quá làm nước bị đục, nước có nhiều bùn, nhiều chất hữu cơ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của cá

2.1.1.5 Tài nguyên đất

Tài nguyên đất là yếu tố hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển nuôi cá nước lạnh nói riêng Diện tích đất tự nhiên của Lâm Đồng là 977.220 ha, riêng đất có độ dốc trên 200 chiếm khoảng 70% Đất ở Lâm Đồng thuộc 8 nhóm, gồm 45 loại đất, quan trọng nhất là đất bazan có diện tích 212.309 ha, tập trung trên cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh, nơi có địa hình khá bằng phẳng

Ngoài diện tích, chất đất cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến thành công hay thất bại của việc xây dựng mô hình nuôi Những khu vực đất cát hay nhiều đá sẽ khó có thể xây dựng ao nuôi do tỷ lệ thẩm thấu cao, khó giữ nước Những nơi có chất sét hay đất thịt, đất đỏ bazan có thể xây dựng công trình nuôi an toàn, tiết kiệm, chính vì thế, độ dày tầng đất cũng

là một yếu tố quan trọng

Mặc dù Lâm Đồng có gần 20.000 ha diện tích mặt nước, nhưng đến nay mới sử dụng được khoảng 10% (1.766,4 ha) của con số này để phát triển nuôi trồng thủy sản Đặc biệt, hiện có rất nhiều hồ chứa trên địa bàn tỉnh không được sử dụng để nuôi thủy sản, mặc dù mô hình này đã được nhiều địa phương sử dụng rất hiệu quả

Trang 26

2 1.1.6 Môi trường

Do còn giữ được tỉ lệ che phủ rừng khá cao (63,16%) và trên 70% diện tích đất nông nghiệp là cây lâu năm; mặt khác, đất phi nông nghiệp, đặc biệt là số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm ít; các cấp chính quyền, các ban ngành trong tỉnh và người dân địa phương luôn có ý thức bảo vệ, nên môi trường ở Lâm Đồng có chất lượng khá tốt

Một số bất cập chưa được xử lý như:

- Sự ô nhiễm nguồn nước ở một số nơi, phần lớn các đô thị chưa có hệ thống thoát nước bẩn, nước chỉ được xử lý tự hoại hoặc bán tự hoại, có nơi còn xả thẳng xuống sông, suối, ao-hồ

- Đại bộ phận vùng dân cư nông thôn không có hố xí, hoặc hố xí không hợp vệ sinh

- Các cơ sở công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn về môi trường, nước bẩn ở các bệnh viện cũng chỉ xử lý bằng bể tự hoại

- Tình trạng xói mòn và rửa trôi do canh tác trên đất quá dốc, hoặc do phát rừng làm rẫy vẫn còn xẩy ra

- Việc sử dụng thuốc/hóa chất bảo vệ thực vật tràn lan là nguy cơ không nhỏ làm ô nhiễm môi trường ở các hồ chứa nhỏ

- Tình trạng khai thác khoáng sản mà không phục hồi môi trường sinh thái còn xẩy ra

2.1.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường của tỉnh phục vụ phát triển nuôi cá nước lạnh

Trang 27

- Lượng nước tưới cho cây trồng trong mùa khô không nhiều như các tỉnh khác ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, do đó khả năng tranh chấp về nguồn nước giữa nông nghiệp và Phát triển thủy sản không cao.

- Tài nguyên nguồn nước mát , nước mát lạnh dồi dào , nguồn sinh thuỷ rộng, mođule dòng chảy lớn, chất lượng nước tốt, có thể đáp ứng yêu cầu của nuôi cá nước lạnh

- Địa hình, địa mạo khá thuận lợi cho xây dựng các hồ chứa và đập dâng phục vụ các mô hình nuôi Có thể kết hợp giữa khai thác tiềm năng to lớn về thuỷ điện với mở rộng diện tích nuôi cá nước lạnh

- Rừng ở Lâm Đồng khá phong phú về chủng loại, vừa có giá trị kinh

tế, yếu tố này giúp người dân địa phương có thái độ bảo vệ rừng tốt hơn, nhờ đó nguồn nước từ các con suối không bao giờ cạn kiệt Thời kỳ từ năm

1995 đến nay diện tích và trữ lượng trung bình của rừng đều tăng

- Có nhiều cảnh quan ngoạn mục và độc đáo, kết hợp với các lợi thế

về vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên nhân văn đa dạng đã tạo nên ưu thế nổi trội về phát triển du lịch so với các tỉnh khác ở miền Nam Các cảnh quan và danh lam thắng cảnh phân bố khá tập trung thành các cụm, hầu hết

ở ven quốc lộ và quanh 2 đô thị lớn là Đà Lạt và Bảo Lộc, rất thuận lợi cho xây dựng các cụm du lịch với những nét đặc sắc của mỗi khu vực Đây là lợi thế để phát triển tiềm năng du lịch, tạo thêm thị trường cho nghề nuôi cá nước lạnh phát triển

- Địa hình chia cắt mạnh nên gây tốn kém và khó khăn cho xây dựng mạng lưới đường bộ và đường sắt, đã hạn chế không nhỏ đến phát triển

Trang 28

kinh tế - xã hội của tỉnh

- Đất dốc với lượng mưa và cường độ mưa lớn, nên đất dễ bị rửa trôi

và xói mòn, tiềm ẩn nguy cơ thoái hoá nếu không được bảo vệ tốt và sử dụng hợp lý Địa hình này cũng gây tốn kém trong việc đầu tư xây dựng các công trình phục vụ nuôi cá nước lạnh, làm ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực này Và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro liên quan đến các công trình xây dựng (ao, hồ, đập ) phục vụ nuôi cá nước lạnh

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Dân sốvà lao động

- Dân số và phân bố dân cư

Dân số toàn tỉnh năm 2011 là 1.218 691người, mật độ dân số trung bình là 123 người/km2 Dân cư thành thị chiếm 38% dân số Cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc cùng chung sống, trong đó người Kinh chiếm 78%; các dân tộc ít người như K’Ho, Mạ, Tày, Nùng, chiếm 22% dân số toàn tỉnh Các dân tộc ít người này sống ở 96/145 xã của tỉnh Trong tổng

số đồng bào dân tộc ít người, các dân tộc ít người gốc Tây nguyên chiếm 76% và các dân tộc ít người từ các tỉnh biên giới phía Bắc di cư vào Lâm Đồng chiếm 24%

Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 123 người/km2 Dân số phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành phố Đà Lạt (485 người/km2), thị xã Bảo Lộc (638 người/km2), các huyện gần các trục giao thông quốc lộ 20,

27 chạy qua như Đơn Dương (147 người/km2), Đức Trọng (179 người/km2), các huyện khác, mật độ dân cư dưới 100 người/km2

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình hàng năm thời kỳ 2001-2009 là 21,00‰ Trong những năm gần đây, dân số của Lâm Đồng có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là do dân di cư từ do từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung vào Lâm Đồng, tạo sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết các vấn đề đời sống xã hội, chính trị và môi trường sinh thái

Trang 29

Trong tương lai, theo dự báo, nếu tỷ lệ tăng tự nhiên bình quân hàng năm đến năm 2010 còn 14,0‰, năm 2015 là 13‰ và năm 2020 là 12‰; và

tỷ lệ tăng cơ học bình quân hàng năm khoảng 3 - 4‰, thì tỷ lệ tăng dân số bình quân thời kỳ 2011 - 2015 là 17,8‰ và thời kỳ 2016-2020 là 15,20‰; quy mô dân số Lâm Đồng đến năm 2015 là 1.388,3 nghìn người và năm

2020 khoảng 1.497 nghìn người Trong đó, dân số đô thị chiếm 42% năm

2015 và 45% vào năm 2020

Số lượng người dân tộc thiểu số nhiều và tăng dân số cơ học lớn là yếu tố gây nghèo chính, bất lợi đối với tăng trưởng kinh tế và công tác xóa đói giảm nghèo ở Lâm Đồng Đây cũng là yếu tố gây ảnh hưởng đến khả năng đầu tư của người dân địa phương cho nuôi trồng thủy sản nói chung

và cho nuôi cá nước lạnh nói riêng

Sự đa dạng cộng đồng dân cư ở Lâm Đồng đã hội tụ nhiều nét văn hóa tốt đẹp của nhiều vùng trong cả nước đã tạo nên sự đa dạng về tập quán sản xuất và tay nghề của người dân trong tỉnh; góp phần phát triển ngành du lịch và gián tiếp thúc đẩy nghề nuôi cá nước lạnh phát triển

- Lao động

Nguồn lao động của tỉnh đến năm 2010 có 659.934 người chiếm tỷ lệ 95,5% tổng dân số trong độ tuổi lao động; tốc độ tăng nguồn lao động bình quân thời kỳ 2001 - 2009 là 2,53% Số lao động được giải quyết việc làm năm

2010 khoảng 30 nghìn người, tỷ lệ thất nghiệp toàn tỉnh 2010 là 2,78%

Theo số liệu điều tra năm 2005, lao động trong khu vực nhà nước quản lý gần 34.000 người, trong đó lao động trong ngành giáo dục chiếm hơn 1/3 Chất lượng nguồn lao động không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, các khu vực và các ngành kinh tế, nhất là khu vực nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; Theo số liệu điều tra năm 2006, toàn tỉnh có 12.567 công nhân kỹ thuật, 13.713 trung cấp chuyên nghiệp, 5.148 cao đẳng, 10.048 đại học, 235 thạc sỹ và 52 tiến sỹ; số này chủ yếu làm việc trong khu vực kinh tế và bộ máy nhà nước

Trang 30

Dự báo, dân số trong độ tuổi lao động của Lâm Đồng thời kỳ 2011 -

2015 tăng thêm 74 nghìn người, bình quân mỗi năm tăng thêm 14,5 - 15 nghìn người Thời kì 2016 - 2020 tăng thêm 70 nghìn người, bình quân mỗi năm tăng thêm 14 nghìn người Năm 2010, toàn tỉnh có khoảng 726 nghìn người trong độ tuổi lao động, trong đó số lao động cần bố trí việc làm khoảng 700 nghìn người Đến năm 2020 có 868,3 nghìn người trong độ tuổi lao động, trong đó lao động cần bố trí việc làm 800 nghìn người Đây

là lực lượng lao động dồi dào bổ sung cho các ngành kinh tế quốc dân, song cũng đặt ra vấn đề cần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động tăng thêm này

Nhìn chung, nguồn nhân lực ở Lâm Đồng khá dồi dào về số lượng Tỷ

lệ dân nông thôn còn cao, nguồn nhân lực này quen với những công việc nặng (làm ruộng, làm rẫy, nuôi trồng thủy sản) đây là một lợi thế cho việc phát triển nuôi cá nước lạnh Tuy nhiên cũng có những hạn chế nhất định,

ví dụ nguồn nhân lực qua đào tạo ít, dân số thay đổi quá nhanh, ngoài sự tăng trưởng dân số tự nhiên, còn có tăng trưởng dân số cơ học cao, làm cho

an ninh, chính trị nhiều địa phương trong tỉnh không thực sự ổn định Nhiều nơi xẩy ra tranh chấp giữa người địa phương với người từ nơi khác chuyển về, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư, đến các kế hoạch phát triển của địa phương; đặc biệt ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá nước lạnh nói riêng, vì nghề này luôn phải sử dụng nguồn nhân lực, nguồn lợi tự nhiên của địa phương

Nguồn nhân lực tuy dồi dào về số lượng, nhưng có thể nói nhân lực cho ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và cho nghề nuôi cá nước lạnh nói riêng còn nhiều hạn chế Nghề nuôi cá nước lạnh cũng mới chỉ ơ giai đoạn đầu của quá trình phát triển nên chưa thu hút được trí thức trẻ về làm việc

Trang 31

2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng

- Về hạ tầng giao thông: có sân bay Liên Khương đi thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Có các quốc lộ 20, 27, 28, 55 nối liền với các tỉnh Đắk Lắk, Bình Thuận, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và các cảng biển ở miền Trung và miền Nam 100% số xã phường tại Lâm Đồng đã có đường giao thông Tuy nhiên, do đặc thù của nghề nuôi cá nước lạnh lại thường được thực hiện tại các hồ, các con suối xa trung tâm Nên nhiều trang trại nuôi hiện nay chưa chưa có đường giao thông đến nơi Nhiều cơ sở nuôi phải tự xây dựng đường giao thông, nhưng do địa hình miền núi khó khăn, khoảng cách đến điểm đấu nối xa, nên hệ thống đường

tự xây dựng thường nhỏ, khó khăn khi đi lại, tiềm ẩn nhiều rủi ro trong mùa mưa bão, ảnh hưởng nhiều đến việc mở rộng sản xuất

- Hệ thống thông tin liên lạc: hiện nay hầu như tất cả mọi nơi đều có thể liên lạc bằng điện thoại di động, hoặc internet

- Hệ thống điện lưới: 100% số xã phường tại Lâm Đồng đã có hệ thống điện lưới đến trụ sở UBND Nhưng hầu hết các cơ sở nuôi cá nước lạnh đều ở xa trung tâm, nên chưa có điện lưới đến tận nơi Nhiều cơ sở nuôi phải tự xây dựng đường điện, nhưng do địa hình miền núi khó khăn, khoảng cách đến điểm đấu nối xa, nên hệ thống đường điện thường có công suất không lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro trong mùa mưa bão; điều này sẽ gây khó khăn cho việc mở rộng sản xuất sau này

Trang 32

2.1.2.3 Khả năng đầu tư từ nguồn ngân sách của địa phương, của

người dân và của nhà đầu tư.

Bảng 1: Vốn đầu tư theo giá thực tế từ năm 2005 đến 2010(triệu đồng)

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 )

Bảng trên cho thấy, tổng mức đầu tư ở Lâm Đồng năm 2010 đạt

14.260.550 triệu đồng.Mức đầu tư này chỉ xếp hạng trung bình yếu so với

cả nước Năm 2010, phần vốn đầu tư từ Trung Ương chiếm hơn 40,9%

tổng vốn đầu tư

Về tình hình cho vay và thu nợ tín dụng trung và dài hạn trong lĩnh

vực Nông-Lâm nghiệp-Thủy sản không được tốt, trong 5 năm liên tục,

tổng thu nợ đều nhỏ hơn tổng cho vay Tuy nhiên, điều này cũng phản ánh

thực tế là đầu tư cho Nông-Lâm nghiệp-Thủy sản đang tăng dần qua các

năm Đồng thời cũng thể hiện các ngân hàng sẵn sàng cho vay trong lĩnh

Trang 33

vực này; tuy nhiên nguồn vốn này không đủ để đáp ứng cho phát triển thủy sản, đặc biệt là đầu tư cho nuôi cá nước lạnh cần nguồn vốn lớn.

Như vậy, thu nhập bình quân hàng tháng ở Lâm Đồng đang ở mức rất thấp , với mức thu nhập này, người dân chỉ có thể tập trung cho chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày, khó có khả năng đầu tư sản xuất, đặc biệt đầu tư cho nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá nước lạnh nói riêng Hơn nữa nuôi trồng thủy sản hiện nay và nuôi cá nước lạnh vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi

ro, vòng quay vốn chậm (mất ít nhất 1 năm cho nuôi thương phẩm các loài cá), nên không có nhiều người lao động thực sự muốn đầu tư

2.1.2.4 Thuận lợi và hạn chế của điều kiện kinh tế xã hội liên quan đến phát triển nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá nước lạnh nói riêng

Thuận lợi

- Nguồn lao động dồi dào, với dân số trên một triệu 200 ngàn người, trong đó có hơn 600 ngàn người trong độ tuổi lao động và hơn 400 ngàn đang làm việc trong lĩnh vực Nông-Lâm- Thủy sản Bên cạnh đó, tốc độ phát triển công nghiệp của Lâm Đồng không nhanh, nên khả năng thu hút lao động vào các lĩnh vực không lớn Hiện vẫn còn khoảng hơn 2% dân số trong diện thất nghiệp, cần việc làm, vì thế các cơ sở nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá nước lạnh nói riêng không sợ thiếu lao động

- Dân số chủ yếu tập trung ở các khu đô thị, góp phần tạo quỹ đất trống cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản và nuôi cá nước lạnh

- Nông-Lâm nghiệp-Thủy sản đang giành được lòng tin của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, nên có thể tiếp cận được nguồn vốn này

để nuôi cá nước lạnh

- Nguồn sản phẩm nông nghiệp (mỳ, đậu, bắp ) dồi dào, đây là một trong số các sản phẩm cần thiết để xây dựng ngành công nghiệp thức ăn phục vụ nuôi cá nước lạnh

Hạn chế

Ngày đăng: 30/06/2016, 23:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế Thủy sản – ĐHKT Quốc Dân- Đồng chủ biên: PGS.TS. Vũ Đình THắng, GVC.KS Nguyễn Viết Trung( Nhà xuất bản lao động- Xã hội) Khác
2. Bài giảng nuôi trồng thủy sản – Trường đại học Lâm Nghiệp – Cấn Văn Thắm Khác
4. Nguyễn Viết Thuỳ. Tình hình nuôi cá nước lạnh và tiềm năng phát triển tại khu vực Tây Nguyên. Đà Lạt, tháng 6/2009 Khác
5. Báo cáo chuyên đề: Đề xuất kế hoạch, các biện pháp kỹ thuật và giải pháp toàn diện nhằm phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững cho khu vực Tây Nguyên Khác
7. Bộ thủy sản ( 2010) Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Vốn đầu tư theo giá thực tế từ năm 2005 đến 2010(triệu đồng) - Phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở tỉnh lâm đồng  khóa luận tốt nghiệp
Bảng 1 Vốn đầu tư theo giá thực tế từ năm 2005 đến 2010(triệu đồng) (Trang 32)
Bảng 2: Tăng trưởng và giá trị sản xuất thực tế của ngành thủy sản từ - Phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở tỉnh lâm đồng  khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2 Tăng trưởng và giá trị sản xuất thực tế của ngành thủy sản từ (Trang 47)
Bảng 4: Hiệu quả sản xuất của Ngành Nông-Lâm nghiệp-Thủy sản so  với công nghiệp chế biến, chế tạo (triệu đồng): - Phát triển nuôi trồng thủy sản cá nước lạnh ở tỉnh lâm đồng  khóa luận tốt nghiệp
Bảng 4 Hiệu quả sản xuất của Ngành Nông-Lâm nghiệp-Thủy sản so với công nghiệp chế biến, chế tạo (triệu đồng): (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w