1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trên cơ sở lý luận về tiền công của C.Mác, hãy thu thập thông tin về tiền công của người lao động Việt Nam những năm gần đây và đưa ra kiến nghị những giải pháp cần thiết để nâng cao tiền công thực tế của họ

19 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1 I. Cơ sở lí luận về tiền công của C.Mác 1 1. Bản chất của tiền công 1 3. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 3 II. Sự vận dụng lí luận tiền công trong chính sách tiền công đối với lao động Việt Nam giai đoạn 2013 2015 3 1.Khảo sát thực tế tiền công tại Việt Nam giai đoạn 2013 2015 3 2. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong chính sách tiền công của người lao động 7 III. Giải pháp 9

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tiền công là vấn đề được quan tâm không chỉ với người lao động, nhà doanh nghiệp

mà cả toàn xã hội Ở mỗi thời kì kinh tế khác nhau thì các chính sách về tiền công đối với người lao động là khác nhau, song lý thuyết về tiền công của C.Mác luôn có giá trị thực tiễn

to lớn trong chính sách tiền công của nước ta, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế

- xã hội, nâng cao đời sống của người lao động Việc hiểu và vận dụng đúng, linh hoạt, sáng tạo nguyên lý về tiền công của C.Mác trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay có ý nghĩa rất lớn Chính sách tiền công sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích của người lao động, nên cải cách chính sách tiền công ra sao để đảm bảo lợi ích cho người lao động, lợi ích của quốc gia…? Đây là vấn đề đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người lao động, các nhà đầu tư, doanh nghiệp, các chuyên gia nghiên cứu, các nhà lãnh đạo không chỉ của Việt Nam mà trên toàn thế giới Với tư cách là sinh viên, là thế hệ tương lai của dân tộc, chúng em muốn được thể hiện quan điểm, tiếng nói riêng của mình về vấn đề này, chung tay cùng toàn thể xã hội bảo vệ quyền lợi của người lao động Do vậy, nhóm chúng em chọn vấn

đề : “Trên cơ sở lý luận về tiền công của C.Mác, hãy thu thập thông tin về tiền công của người lao động Việt Nam những năm gần đây và đưa ra kiến nghị những giải pháp cần thiết để nâng cao tiền công thực tế của họ” để làm nội dung bài tập nhóm kì này.

NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận về tiền công của C.Mác

1 Bản chất của tiền công

Người công nhân bán sức lao động cho nhà tư bản trong một thời gian nào đó, sản xuất

ra một số lượng hàng hóa hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó cho nhà tư bản thì nhận được

một số tiền nhất định, gọi là tiền công. Bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá trị hay giá cả của lao động.

Hình thức biểu hiện đó lại gây ra sự nhầm lẫn do những thực tế sau đây :

Trang 2

Thứ nhất, đặc điểm của hàng hoá sức lao động là không bao giờ tách khỏi người bán,

nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức là lao động cho nhà tư bản, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động

Thứ hai, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để có tiền

sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra là để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động

Thứ ba, lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng sản phẩm

sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động

Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản

2 Các hình thức cơ bản của tiền công

Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm.

Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó tỉ lệ thuận với

thời gian lao động của công nhân Tiền công tính theo thời gian thường áp dụng đối với các công việc khó tính được số lượng sản phẩm cụ thể do đó phải căn cứ vào độ dài ngày lao động, cường độ lao động, trình độ lành nghề để trả công Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian

Tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công mà số lượng của nó tỷ lệ thuận với

số lượng sản phẩm hay chi tiết sản phẩm mà công  nhân đã chế tạo ra tùy theo số lượng công việc đã hoàn thành Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm

Vì thế tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hoá của tiền công tính theo thời gian

Trang 3

3 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế

Tiền công tính theo thời gian và tiền công tính theo sản phẩm mới chỉ là biểu hiện của

tiền công danh nghĩa, bên cạnh tiền công danh nghĩa còn có tiền công thực tế.

Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Còn tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng

hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình

Tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động của quan hệ cung - cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa không thay đổi, nhưng giá cả tiêu hàng hóa và dịch vụ tăng lên hoặc giảm xuống, thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống hoặc tăng lên Tiền công thực tế phản ánh tiêu dùng của người lao động Mức tiền công thực tế bằng mức tiền công danh nghĩa chia cho mức giá hàng hóa Như vậy, tiền công thực tế tỷ lệ thuận với tiền công danh nghĩa và tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hóa, dịch vụ và phụ thuộc vào các khoản thuế

mà công nhân phải đóng cho Nhà nước

II Sự vận dụng lí luận tiền công trong chính sách tiền công đối với lao động Việt Nam giai đoạn 2013 -2015

1.Khảo sát thực tế tiền công tại Việt Nam giai đoạn 2013 -2015

a) Khảo sát chung

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới kinh tế của nước ta đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng sống của người lao động Kể từ năm 2013 tới nay, mức lương tối thiểu vùng được nâng lên nhanh chóng, từ mức 1,6 – 2,35 triệu đồng(2013) tăng lên 1,9 – 2,7 triệu đồng (2014) Đặc biệt năm 2015 là 2,15 – 3.1 triệu đồng và dự kiến năm 2016 là 2.4 đến 5.3 triệu đồng Tuy nhiên với mức lương này theo các nhà nghiên cứu thì chỉ đáp ứng được 75% mức sống tối thiểu Khi tiền lương không đủ trang trải cuộc sống thì người công nhân khó có thể hoàn thành định mức công việc trong 8h quy

Trang 4

định Về lâu dài sẽ tạo ra lớp người nghèo, gia tăng mức độ phân hóa giài nghèo, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an sinh xã hội

Có thể thấy rằng, chính sách tiền lương của Nhà nước còn chậm đổi mới so với tình hình kinh tế xã hội Những hạn chế này thể hiện ở nhiều phương diện:

Về mức lương tối thiểu:Nếu căn cứ vào mức sống thì người lao động có thể đảm bảo mức sống trong một tháng mà chưa tính đến lạm phát Đặc biệt, độ tăng tiền lương luôn tăng cùng với chỉ số giá tiêu dùng

Về thời gian và mức độ điều chỉnh tiền lương danh nghĩa: Ở nước ta, giai đoạn 2013

-2015, lạm phát giảm mạnh từ 6,6% xuống 0,63% Nhưng trên thực tế, khó có thể điều chỉnh tăng mức lương danh nghĩa ngang bằng với tỷ lệ lạm phát dẫn đến việc điều chỉnh chưa được kịp thời

Về tỉ lệ tiền lương trong thu nhập: Tiền lương chỉ trở thành động lực tích cực khi nó chiếm phần lớn trong thu nhập của người lao động Với chính sách tiền lương như hiện nay, tiền lương của cán bộ công nhân, viên chức chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng thu nhập của người hưởng lương( khoảng 30 -50%), làm chi tiền lương không phản ánh đúng thang giá trị lao động, ảnh hưởng lớn đến quan hệ tiền lương trên thực tế

Mặc dù vậy, bức tranh toàn cảnh về tiền lương của lao động Việt nam giai đoạn

2013-2015 đã có nhiều khỏi sắc Theo khảo sát điều tra của JobStreet trong bản báo cáo “Minh bạch mức lương trong tuyển dụng tại Việt Nam” chỉ ra 10 ngành có mức lương cao nhất cho

vị trí nhân viên tại Việt Nam Đứng đầu danh sách là ngành y tế với mức lương 24.043.483 đồng; tiếp theo là các công việc thư kí, trợ lí, điều hành với 18.967.742 đồng; công nghệ thông tin là 18.865.691 đồng; quản lí khách sạn và dịch vụ du lịch là 18.750.000 đồng; quản trị viên tập sự là 18.375.00đồng; Kỹ sư là 17.928.571đồng; kinh doanh là 17.786.082; phóng viên, biên tập viên là 12.317.308 đồng; bất động sản là 17.250.000 đồng; tiếp thi, phát triển kinh doanh là 17.250.000 đồng

Trang 5

Những con số trên mới chỉ phản ánh cho một bộ phận lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao trong xã hội Số đông còn lại phản ánh thực tế mức thu nhập thấp trong nhóm thấp nhất ASEAN và thua xa thế giới một quãng đường dài Theo báo cáo về tiền lương Toàn cầu 2014 -2015 của Tổ chức Lao động quốc tế(ILO), lương bình quân của Việt Nam ở mức 181USD/tháng, chỉ cao hơn Lào(119 USD), Campuchia(121 USD), thấp hơn nhiều so với các nước như Xingapo( 3.547 USD), Malaysia(609 USD), Thái Lan( 357 USD), Philipin( 206 USD) Việt Nam chỉ có 1/3 số lao động có việc làm được hưởng lương Tỷ lệ này khá thấp so với mức trung bình thế giới khoảng 50% Tuy nhiên, các chuyên gia ILO dự báo, tỉ lệ lao động làm công ăn lương ở Việt Nam sẽ tăng nhanh và thu hẹp khoảng cách thế giới năm 1996, tỉ lệ lao động làm công ăn lương ở Việt Nam chỉ 16,85% thì đến 2013 lên tới 34,8%

b) Khảo sát thực tế tạ một số doanh nghệp

Công ty cổ phần may mặc Sông Hồng

Ngành dệt may trong nhiều năm qua luôn là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Công ty cổ phần may Sông Hồng là doanh nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước Lúc mới thành lập, công ty cổ phần may Sông Hồng chỉ có hơn 1000 công nhân nhưng hiện nay số lao động làm rất đông, đạt 11.000 người vào năm 2016 Ông Bùi Việt Quang - Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần may Sông Hồng cho biết: “Doanh thu của công

ty năm 2014 đạt 2500 tỷ đồng, tăng 300 tỷ đồng so với năm 2013, thu nhập bình quân trên 5.000.000 đồng/người/tháng”

Công ty áp dụng tính tiền công lao động theo thời gian (tính theo số giờ lao động:8h/ngày) và đến cuối tháng thì người công nhân sẽ được tính lương 1 lần

Lương cơ bản = Mức lương tối thiểu * hệ số trình độ học vấn

( trung cấp là 1,68; cao đẳng là 1,86; đại học là 2,43; mức lương tối thiểu theo quy định của pháp luật)

Tiền lương của công ty được tính bằng công thức sau:

Tổng lương = Gía trị sức lao động + các khoản phụ cấp khác+ các khoản thưởng

Trang 6

Lương nhận được = Tổng lương – các khoản tiền bảo hiểm

Như vậy một công nhân làm việc tốt trong doanh nghiệp sẽ có mức lương trung bình là 5,0 triệu đồng/tháng Đây chính là tiền công danh nghĩa mà người công nhân của công ty nhận được Tiền công danh nghĩa chỉ thực sự có giá trị khi nó được chuyển sang một hình thức khác tức là tiền công thực tế Khi người công nhân dùng số tiền công danh nghĩa để chi trả các chi phí sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tiền điện nước, nhu cầu giải trí…thì tiền công danh nghĩa đã trở thành tiền công thực tế.Công ty cũng có những biện pháp hỗ trợ, khuyến khích người lao động bằng các khoản phụ cấp như: phụ cấp chức vụ (trưởng phòng 500.000đ/tháng, nhân viên 100.000/tháng),phụ cấp trách nhiệm (tùy thuộc vào hoàn cảnh,chức vụ, phụ cấp độc hại 150.000/tháng) , bảo hiểm xã hội ứng với 20% số lương Đặc biệt năm 2014 công ty chi tiền thưởng Tết cho người lao động khoảng 12 triệu đồng/người-đây là năm công ty thưởng Tết cho cán bộ công nhân viên cao nhất từ trước đến nay

Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là doanh nghiệp tuy đã có những điều chỉnh thích hợp, đảm bảo quyền lợi cho người lao động nhưng với nhu cầu cho cuộc sống như hiện nay, khi mà giá cả của hàng hóa ngày càng tăng thì tiền công thực tế của công nhân nói chung và của công nhân Công ty cổ phần may Sông Hồng nói riêng vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm

Tập đoàn FPT

FPT hiện là tập đoàn CNTT – TT hàng đầu Việt Nam với gần 27.000 cán bộ nhân viên

ở độ tuổi trung bình 27,8 và hiện diện tại 19 quốc gia trên toàn cầu hệ thống bao gồm 8 công

ty thành thành viên với hoạt động chính là công nghệ, viễn thông, phân phối bán lẻ sản phẩm công nghệ cao, bên cạnh đó là lĩnh vực giáo dục

Là công ty CNTT – viễn thông hàng đầu Việt Nam, năm 2015, FPT được sinh viên khối ngành CNTT đánh giá là nhà tuyển dụng lý tưởng số 1 tại Việt Nam, theo bảng xếp hạng của Universum,Top 100 công ty có môi trường làm việc tốt nhất Việt Nam trong 24 ngành nghề do Anphabe và Nielsen công bố

Với những thành tích xuất sắc đã đạt được trong những chặng đường phát triển của mình,doanh thu của FPT luôn vượt kế kế hoạch đề ra Năm 2013, doanh thu đạt 25.530 tỷ đồng, năm 2014 là 35.130 tỷ đồng( tăng hơn 6.500 tỷ đồng) Năm 2015, doanh thu cán mốc

Trang 7

40.000 tỷ đồng, doanh thu từ thị trường nước ngoài đạt 4.859 tỷ đồng so với cùng kì, chiếm 12.14% tổng doanh thu ( năm 2013:10%)

Cán bộ,công nhân viên làm việc tại FPT luôn nhận được sự quan tâm từ lãnh đạo tập đoàn, đặc biệt là chính sách tiền lương với những đãi ngộ khó tìm thấy ở những công ty khác Với tiêu chí:

LƯƠNG = KINH NGHIỆM + NĂNG LỰC + ĐÓNG GÓP CHO CÔNG TY

Từ môi trường làm việc sáng tạo, chuyên nghiệp và thân thiện đến việc thành lập trường đại học FPT để đào tạo, nâng cao trình độ cho chính nhân viên công ty Với chế độ chăm sóc sức khỏe với nhân viên và người thân của họ Đồng thời tổ chức khám sức khỏe định kì 1 lần/ năm Công ty hỗ trợ 100% chi phí Chế độ nghỉ mát hằng năm, team building, hoạt động phong trào và các chế độ khác

Với chính sách tiền lương đó, theo thống kê báo cáo của công ty mức lương trung bình của nhân viên công ty là trên 7,0 triệu đồng Theo một khảo sát cho thấy, 45% nhân viên có kì vọng thu nhập từ 5 – 8 triệu đồng, 30% mong muốn từ 8 – 12 triệu đồng, gần 10% mong muốn mức thu nhập khởi điểm trên 20 triệu đồng/tháng

Ông Phạm Tú Cường, Trưởng Ban Phát triển và Đảm bảo phát triển nguồn nhân lực FPT:"Thu nhập trung bình tại FPT Software là 1.000 USD/tháng, cao hơn rất nhiều so với mức thu nhập trung bình của ngành CNTT-TT Việt Nam (theo Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam, mức lương bình quân của lĩnh vực công nghiệp phần mềm là trên 5.000 USD/người/năm) Sinh viên mới ra trường nếu đáp ứng yêu cầu thành thạo một ngôn ngữ lập trình và biết giao tiếp bằng ngoại ngữ thì cũng có thể nhận được mức lương từ 7 - 12 triệu đồng/tháng" Do vậy, đa số cán bộ, nhân viên công ty cảm thấy hài lòng với chính sách đãi ngộ của công ty, tiền công mà họ nhận được đã đáp ứng được nhu cầu sống cơ bản của bản thân và gia đình họ

Mặc dù vậy, một bộ phận không nhỏ lao động hợp đồng làm việc bán thời gian cho công ty ở bộ phận kinh doanh vẫn chưa có một mức lương tương xứng Chỉ từ mức lương cơ bản là 600 nghìn đồng đối với nhân viên thử việc và 1,9 triệu với nhân viên chính thức, người

Trang 8

lao động khó có thể có mức sống đầy đủ khi tổng thu nhập khi đạt tối đa 25 hợp đồng là khoảng 1 -1.5 tr (thử việc) , 3.2 -3.9 tr( chính thức)

2 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong chính sách tiền công của người lao động

Thứ nhất, là do các quy định của pháp luật và chính sách của nhà nước hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập Việc cải cách tiền lương không đồng bộ với việc đổi mới các lĩnh vực

có liên quan nên kết quả đạt được không cao Bên cạnh đó, chỉ số giá sinh hoạt liên tục tăng làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút Nhà nước quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng cho những doanh nghiệp sử dụng 10 người trở lên, ở những doanh nghiệp đó người lao động được hưởng các trợ cấp bảo hiểm xã hội ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và được tiền tử tức Cũng theo quy định này, người sử dụng lao động phải đóng góp bảo hiểm xã hội bằng 19% so với tổng quỹ lương, người lao động phải đóng 6% tiền lương Rồi hàng loạt yêu cầu đối với doanh nghiệp khi sử dụng lao động được quy định tại Luật Lao động Mục đích của Chính Phủ là muốn tốt cho người lao động nhưng trên thực tế nhà tư bản có cơ hội gian lận tiền lương của người lao động bằng việc lấy cớ là đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động nhưng thực tế lại không đóng hoặc đóng trễ để trục lợi

Thứ hai, là cung – cầu lao động trên thị trường cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương Khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm và ngược lại, còn khi cung về lao động bằng cầu lao động thì thị trường lao động đạt tới sự cân bằng Ở Việt Nam hiện nay, nhìn chung thì cung về lao động là rất lớn nhưng phần lớn là lao động có trình độ chuyên môn kém, tay nghề thấp, phải đào tạo lại, không phù hợp với yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp nên được trả với mức lương rất thấp Trong khi đó lao động

có tay nghề được các doanh nghiệp sẵn sàng trả với lương cao để làm việc thì lại chiếm số lượng thấp trong tổng số lao động Việt Nam hiện nay Mức lương mà các doanh nghiệp trả cho người lao động chủ yếu được xác định bằng năng suất của họ và sự khan hiếm hoặc dư thừa tương đối về người lao động có những kỹ năng đó

Thứ ba, lạm phát cao khiến chi phí sinh hoạt, giá cả của hàng hóa và dịch vụ ảnh hưởng tiêu cực tới tiền lương của người lao động Khi xác định mức lương cần xem xét đến

Trang 9

yếu tố biến động của giá cả các mặt hàng, dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người lao động Khi tiền lương của người lao động có dấu hiệu tăng thì một loạt giá cả các mặt hàng thiết yếu của đời sống cũng tăng theo nên về cơ bản là lương thực tế của người lao động không được tăng thêm mà thậm chí còn có xu hướng giảm

Thứ tư, tác động từ tăng trưởng kinh tế Tăng lương hợp lý có thể coi là biện pháp kích cầu lành mạnh để thúc đẩy sản xuất phát triền, góp phần vào tăng trưởng chung thúc đẩy nền kinh tế Ngược lại, nền kinh tế có tăng trưởng thì tiền lương mới tăng Kinh tế suy thoái hoặc khủng hoảng, các doanh nghiệp có thể đứng trong tình trạng rất khó khăn, phải cắt giảm nhân lực, chi tiêu của doanh nghiệp Lúc này doanh nghiệp buộc phải thay đổi mức lương của người lao động để có thể tiếp tục hoạt động Nếu trong tình hình nền kinh tế tăng trưởng tốt, các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong hoạt động của mình, lợi nhuận tăng cao cũng sẽ khiến doanh nghiệp có điều kiện tăng mức tiền lương của người lao động để khuyến khích và giữ chân người lao động

III Giải pháp

1.Tăng tiền công danh nghĩa

Mặc dù tiền công danh nghĩa không phản ánh đúng mức sống của người lao động nhưng muốn tăng tiền công thực tế trước tiên cần tăng tiền công danh nghĩa Bởi lẽ trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống

Trước tiên, Nhà nước cần nghiên cứu kĩ trước khi ban hành các quy định về mức lương tối thiểu của người lao động với các đối tượng khác nhau cho từng vùng kinh tế, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội riêng biệt mỗi vùng Đồng thời, các doanh nghiệp nên tăng các khoản phụ cấp như: tiền công tác, tiền thưởng chuyên môn, tiền thưởng cuối năm, thưởng thêm cho nhân viên khi doanh thu tốt, hoặc bổ sung thêm các khoản phúc lợi vào tiền lương Ngoài ra các doanh nghiệp cần nâng cao hiệu quả sản xuất, khi đó sẽ tạo được nguồn để vừa tăng lợi nhuận, vừa tăng được tiền lương cho người lao động Bên cạnh đó, cần

Trang 10

tăng cường công tác xây dựng kế hoạch lao động, định mức lao động, quỹ lương kế hoạch xác định đơn giá tiền lương trong mỗi doanh nghiệp

2 Nhà nước phải kiểm soát được lạm phát ở mức thấp

Năm 2015, lạm phát của Việt Nam xuống mức thấp kỉ lục là 0,63%, chủ yếu là nhờ thế giới giảm mạnh Nhưng theo dự báo năm 2016, con số đó có thể tăng đến 5% Khi mà lạm phát tăng, đồng nghĩa với việc giá cả tăng cao, tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ của người lao động cũng tăng trong khi tiền công danh nghĩa không đổi Chính vì thế, cần phải kiềm soát lạm phát ở mức thấp

Muốn vậy, phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về tài chính - tiền tệ và các giải pháp

bổ trợ khác; tái cơ cấu đầu tư đảm bảo phát triển các ngành then chốt chủ đạo tăng tính chủ động cho nền kinh tế; thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế quản lí giá; xác định khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với từng giai đoạn; áp dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích dự báo lạm phát và cuối cùng là triển khai thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, nâng cao năng lực tài chính và chất lượng hoạt động của các

tổ chức tín dụng

3 Giải pháp với thuế thu nhập, trích lập và quản lí quỹ bảo hiểm

Thuế thu nhập là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 bộc lộ nhiều hạn chế: Luật chưa tạo được sự đồng tình xã hội về ngưỡng khởi điểm tính thuế thu nhập cá nhân và mức giảm trừ gia cảnh cho đối tượng phụ thuộc;sự thiếu kiểm soát mức thu nhập của người dân, nhất là khoản thu nhập khó kiểm soát, dẫn tới bất bình đẳng trong kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân trong xã hội; đăc biệt, luật chưa tính đến tốc độ lạm phát của đồng tiền, làm ảnh hưởng đến đời sống của các thành viên trong xã hội Do đó, Luật thuế thu nhập cá nhân phải nhanh chóng được điều chỉnh để phù hợp hơn với người lao động, vì sự phát triển của toàn xã hội

Việc trích lập, quản lí quỹ bảo hiểm được quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

có hiệu lực thi hành từ ngày 1/ 1 / 2016 Thực tế việc tổ chức, thực hiện còn nhiều yếu kém,

Ngày đăng: 30/06/2016, 21:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w