1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tình huống môn Luật Hình Sự 1 về tội Giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS 1999

13 687 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 31,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình huống: N là thiếu nữ đã kể với bạn trai là H về mâu thuẫn với bạn cùng thuê phòng trọ là Nguyễn Thị D đã có lời nói xúc phạm nhân phẩm của N. Nhân lúc N về quê, biết D ở phòng trọ một mình, H nảy sinh ý định gặp D để giải quyết mâu thuẫn hộ N. Khoảnh 21h, H đến phòng trọ của N và D, ở lại chơi khuya với lí do chờ tạnh mưa, mục đích là chờ mọi người người xung quanh ngủ hết mới hành động. Đến khoảng 1h sáng, H bất ngờ bóp cổ, đâp đầu D vào trường đến khi D bất tỉnh, H lấy chiếu đắp lên người D rồi ra về. Khoảng 3h sáng, bà S là chủ nhà thấy cửa phòng trọ không khóa và thấy D đang nằm vật dưới nền đất nên báo mọi người đưa D đi cấp cứu. Sau khi tiến hành điều tra, công an đã bắt giữ H. H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. H bị truy tố TNHS về tội giết người theo Khoản 2 Điều 93 BLHS

Trang 1

Tình huống:

N là thiếu nữ đã kể với bạn trai là H về mâu thuẫn với bạn cùng thuê phòng trọ

là Nguyễn Thị D đã có lời nói xúc phạm nhân phẩm của N Nhân lúc N về quê, biết D

ở phòng trọ một mình, H nảy sinh ý định gặp D để giải quyết mâu thuẫn hộ N Khoảnh 21h, H đến phòng trọ của N và D, ở lại chơi khuya với lí do chờ tạnh mưa, mục đích là chờ mọi người người xung quanh ngủ hết mới hành động Đến khoảng 1h sáng, H bất ngờ bóp cổ, đâp đầu D vào trường đến khi D bất tỉnh, H lấy chiếu đắp lên người D rồi ra về

Khoảng 3h sáng, bà S là chủ nhà thấy cửa phòng trọ không khóa và thấy D đang nằm vật dưới nền đất nên báo mọi người đưa D đi cấp cứu Sauk hi tiến hành điều tra, công an đã bắt giữ H H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

H bị truy tố TNHS về tội giết người theo Khoản 2 Điều 93 BLHS

Giải quyết vấn đề:

1.Các dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm trong tình huống

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối QHNQ giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội Những tình tiết mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội, định khung hình phạt và định mức hình phạt

- Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là một biểu hiện cơ bản, là nguyên nhân gây ra sự biến đổi của những đối tượng tác động của tội phạm, do

đó là nguyên nhân của sự gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm Không có hành vi khách quan thì không có tội phạm.Hành vi khách quan được hiểu là những biểu hiện của con người ra thế giới bên ngoài dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt mục đích có chủ định và mong muốn

Trang 2

Về hành vi khách quan của H:

Sự việc H có ý định giết D để trả thù cho bạn gái là N đã xảy ra trên thực tế Đây là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội Nó đã gây ra hậu quả nghiêm trọng cho quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ: quan hệ nhân thân, là tính mạng của con người

Vi phạm nghiêm trọng quyền con người được quy định tại Điều 19, Chương 2 -Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân – Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật.”;Điều 93- Tội giết người – Bộ luật hình sự 1999( bổ sung, sửa đổi năm 2009)

Vì vậy, hành vi của H là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác.Hành vi này đã chứa đựng khả năng gây ra cái chết cho D, chấm dứt sự sống của

D thông qua hành động bóp cổ, đập đầu D vào tường đến khi bất tỉnh Đồng thời hành

vi của H là hoạt động có ý chí và ý thức H có ý định giết D và lên kế hoạch cụ thể từ trước và trong khi H hoàn toàn có thể lựa chọn cách xử sự khác không vi phạm pháp luật để giải quyết mâu thuẫn giữa N và D Bản thân N – người yêu của H, không có ý định nhờ D giải quyết mâu thuẫn giúp mình.Do đó, hoàn toàn khách quan

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội và QHNQ giữa hành vi khách quan và hậu quả:

Tính nguy hiểm khách quan của tội phạm là ở chỗ tội phạm đã gây thiệt hại hặc

đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Hậu quả được quy định là là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP của tội giết người Tội giết người chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người Nếu hậu quả người chết không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội bị coi là phạm tội chưa đạt hoặc tội cố ý gây thương tích, tùy thuộc vào lỗi của người vi phạm

Trang 3

Hậu quả trong hành vi giết người của H là D bất tỉnh nhân sự, không loại trừ khả năng gây ra cái chết Tính mạng của D sẽ bị tước đoạt một cách bất hợp pháp Do

đó, hậu quả này không chỉ nguy hiểm đối với D mà là toàn xã hội Tính mạng của một con người bị đe dọa sẽ chứa đựng những khả năng đe dọa tới tính mạng của người khác.Nếu không xử lí nghiêm trước pháp luật, chúng ta sẽ vô tình tiếp tay cho tội ác, tạo ra những tiền lệ xấu, những nguy cơ đe dọa đến sự an toàn của xã hội, làm gia tăng các loại tội phạm trong đó có tội phạm giết người.Như vậy, hậu quả trong hành

vi của H đối với D chính là căn cứ để định tội và định khung hình phạt cho H

Về nguyên tắc, người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm về hậu quả nguy hiểm cho xã hội do chính hành vi của mình gây ra.Xét về mối QHNQ giữa hành vi của H và cái chết của D là một dạng QHNQ kép trực tiếp Bởi vì có hai hành vi trái pháp luật đều có khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả H đã bất ngờ bóp cổ, đập đầu D vào tường “Bóp cổ”, “đập đầu”, nếu chỉ có một trong hai thì cũng đều có khả năng gây ra cái chết của D Hành vi trái pháp luật của H xảy ra trước hậu quả D bất tỉnh, đồng thời hành vi này trực tiếp gây ra việc D bất tỉnh Vì bị H bóp cổ dẫn đến ngạt thở, đồng thời H đập đầu D vào tường làm D bị tổn thương não bộ dẫn đến bất tỉnh Không ngoại trừ khả năng do ngạt thở dẫn đến chết lâm sàng Hậu quả chết là hoàn toàn có thể và thực tế D bất tỉnh

- Những nội dung biểu hiện khác của mặt khách quan của tội phạm:

Những nội dung biểu hiện khác bao gồm phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, địa điểm, thời gian và hoàn cảnh phạm tội,…Việc xác định phương tiện phạm tội, phương pháp, thủ đoạn có ý nghĩa trong việc định tội và định khung hình phạt Địa điểm, hoàn cảnh được phản ánh ở một số tội là dấu hiệu của CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hoặc giảm nhẹ.Riêng thời gian không được phản ánh là dấu hiệu trong CTTP

Trang 4

Trong tình huống này, H sử dụng trực tiếp sức lực từ hai bàn tay của mình để ra tay với nạn nhân mà không sử dụng công cụ, phương tiện hỗ trợ nào Phương pháp, thủ đoạn phạm tội của H rất tinh vi H lên kế hoạch từ trước, lợi dụng lúc N vắng nhà,

ra tay sát hại D vào lúc 1h sáng là khoảng thời gian mà mọi người đang ngủ H đến nhà trọ của N và D lúc 21h và lấy lí do là mưa nên không về được đều nằm trong kế hoạch.Không những thế, H ra tay khi D hoàn toàn bị động H đã loại trừ những trường hợp bất lợi xảy ra với mong muốn thực hiện hành vi phạm tội đến cùng để tước đoạt tính mạng của D H đắp chiếu lên người D không loại khả năng trừ che dấu hành vi phạm tội nhằm trốn tránh trách nhiệm Những tình tiết này góp phần quan trọng vào việc định tội, định mức hình phạt đối với hành vi của H

2 Hình thức lỗi trong hành vi của H

Lỗi của H là lỗi cố ý trực tiếp

Lỗi là biểu hiện về mặt tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình

thức lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Biểu hiện về tâm lý của người phạm tội là nội dung dấu

hiệu lỗi Cấu trúc trong quan hệ tâm lý của con người nói chung và của người phạm tội nói riêng được hợp thành bởi 2 bộ phận là lý trí và ý chí đối với các biểu hiện của mặt khách quan là hành vi khách quan và hậu quả của tội phạm Cụ thể:

- Lý trí: Là khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm của hành vi và khả năng nhận thức hậu quả của hành vi đó

- Ý chí: Là khả năng điều khiển hành vi và khả năng điều khiển hậu quả

Dựa vào cấu trúc trong yếu tố lỗi, hình thức lỗi được chia làm 2 loại là lỗi cố ý ( lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý ( lỗi vô ý do cẩu thả và lỗi vô ý do quá tự tin)

Trang 5

Lỗi cố ý trực tiếp được quy định tại Khoản 1, Điều 9 BLHS “Lỗi cố ý trực tiếp

là lỗi của một người khi thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra”

Với khái niệm trên cho thấy lỗi cố ý trực tiếp được thể hiện như sau:

+ Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả tất yếu xảy ra hoặc có thể xảy ra

+ Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra

Theo dữ liệu của đề bài có thể nhận thấy hành vi của H thỏa mãn tất cả các hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp

Có thể phân tích như sau:

Về lý trí:H là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định nên H hoàn toàn có thể nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội

cụ thể là H nảy sinh ý định giết người để trả thù cho người yêu là chị N H thừa biết Việc tước đoạt trái phép tính mạng của người khác là vi phạm pháp luật nghiêm trọng,

là trái với đạo đức xã hội, bị toàn xã hội lên án Trong khi đó, hoàn toàn có thể lựa chọn cách xử sự phù hợp mà không vi phạm pháp luật song vẫn giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn giữa D và N Hơn thế nữa, vai trò của H trong mâu thuẫn này chỉ là người ngoài cuộc xong H tự mặc định vai trò của mình một cách thái quá

Về ý chí: H mong muốn hậu quả là D chết xảy ra Mọi hành vi mà H đã thực hiện đối với D đều nhằm mục đích hiện thực hóa ý định đó

+ Đầu tiên H đã nên kế hoạch rất tỉ mỉ và kỹ lưỡng để hậu quả xảy ra đúng mong muốn Vì đã nắm rõ thời gian D ở nhà một mình cụ thể nên hắn đã chọn khoảng thời gian tối muộn để bắt đầu kế hoạch Khoảng 21 h, H đến phòng trọ của N và D xin

Trang 6

chơi khuya vì lí do chờ mưa tạnh, mục đích là chờ mọi người xung quanh ngủ hết mới hành động

+ Tiếp đến khi mọi người đã ngủ say, vào khoảng 1h sáng H đã có hành động bất ngờ: bóp cổ, đập đầu D vào tường đến khi D bất tỉnh

+ Hành động H lấy chiếu đắp lên người D rồi ra về chứng tỏ trong ý thức của H

là D đã chết, nhằm không cho ai phát hiện ra D

 Do vậy lỗi của H là lỗi cố ý trực tiếp Đây sẽ là cơ sở quan trọng trong việc định tội, định khung, định mức hình phạt đối với hành vi của H

3 N không phải là đồng phạm với H

Theo Điều 20 BLHS năm 1999:

“1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm

2 Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện phạm tội

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm

3 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.”

Chúng ta có thể hiểu như sau:

Trang 7

Người tổ chức: là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức Người tổ chức có thể

có những hành vi: khởi xướng việc phạm tội, vạch kế hoạch thực hiện việc phạm tội cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện hành

vi phạm tội; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác;…

Người thực hành: Là người trực tiếp thực hiện tội phạm Nghĩa là trực tiếp có hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm: cầm dao chém nạn nhân, nhận hối lộ, dùng vũ lực cướp tài sản Người thực hành là người có vai trò quyết định thực hiện tội phạm, vì họ là người trực tiếp thực hiện tội phạm Dù là đồng phạm có tổ chức hay đồng phạm giản đơn thì đều có người thực hành Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích phạm tội không được thực hiện; hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình

sự đối với những đồng phạm khác

Người xúi giục: là những người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm Hành vi kích động, dụ dỗ thúc đẩy người khác thực hiện hành vi phạm tội chỉ được coi là người đồng phạm trong vụ án có tổ chức, khi hành vi xúi giục có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động phạm tội của những đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm trước khi bị xúi giục chưa có ý định phạm tội, vì có người khác xúi giục nên họ mới nảy sinh ý định phạm tội Nếu việc xúi giục không liên quan trực tiếp đến hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm đã có sẵn ý định phạm tội thì không phải là người xúi giục trong vụ án

có đồng phạm

Người giúp sức: là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm Trong vụ án có đồng phạm, vai trò của người giúp sức cũng rất

Trang 8

quan trọng, nếu không có người giúp sức thì người thực hiện tội phạm cũng gặp khó khăn

Từ những điều kiện trên, hoàn toàn loại trừ khả năng N là đồng phạm với H: Thứ nhất, việc N kể cho H việc D đã có lời nói xúc phạm tới nhân phẩm của mình chỉ là chuyện H tâm sự với N trong quan hệ tình cảm giữa hai người , N không

có ý định nhờ H trả thù hộ mình mà sau khi N về quê, H tự ý “nảy sinh” ý định giải

quyết mâu thuẫn với D hộ N Rõ ràng N hoàn toàn không biết điều này và việc giết D

là ý định chủ quan của H nên không thể coi N là người xúi giục hay người chủ mưu được

Thứ hai,việc N về quê không được coi là hành vi giúp sức, tạo điều kiện cho

H thực hiện hành vi giết người của mình Việc N về quê chỉ là sự kiện xã hội ngẫu nhiên trùng với thời gian gây án của H, đó không phải là sự kiện pháp lý.N về quê mà không biết H sẽ gây án với D, mà ý định gây án của H được quyết định sau khi N đã

về quê Nên không thể ghép N với vai trò người giúp sức được

Thứ ba, H gây án một mình nên H là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, từ việc lên kế hoạch cho đến việc ra tay sát hại D Cho nên N nghiễm nhiên không phải là người thực hành

Vì vậy, N hoàn toàn không phải là đồng phạm vụ án này

4 H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS

Điều 18.Phạm tội chưa đạt: “

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện đến cùng

vì nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội

Trang 9

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt của mình.”

Về phương diện khách quan, phạm tội chưa đạt bao gồm bốn dấu hiệu như sau:

Một là, đây là một giai đoạn phạm tội chưa hoàn thành thứ hai trong các giai

đoạn phạm tội ( tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp )

Hai là, chủ thể đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong

cấu thành tội phạm của Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

Ba là, chủ thể chưa ( hoặc không ) thực hiện được hành vi phạm tội đến

cùng là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội

Bốn là, hậu quả của tội phạm mà người phạm tội mong muốn đạt được đã

không xảy ra hoặc nếu có thể xảy ra thì chưa thỏa mãn với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm của Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

Về phương diện chủ quan, phạm tội chưa đạt bao gồm hai dấu hiệu sau:

Một là, lỗi của người phạm tội trong phạm tội chưa đạt là cố ý , vì khoa học

luật hình sự đã chứng minh và thực tiễn xét xử đã thừa nhận, chỉ có hình thức lỗi

cố ý mới tồn tại các giai đoạn phạm tội

Hai là, mục đích phạm tội là mong muốn thực hiện hoàn thành hành vi

phạm tội và mong muốn cho hậu quả của tội phạm xảy ra, nhưng hậu quả không xảy ra như dự định của người phạm tội

H đã phạm tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp Tuy nhiên trong trường hợp này H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt theo khoản 2 Điều 93

Bộ luật hình sự bởi hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm giết người không xảy ra do D chưa chết mà chỉ bất tỉnh Điều này được hiểu là hậu quả không xảy ra

Trang 10

như dự định của người phạm tội, mặc dù H đã thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa gây ra hậu quả chết người

Về quyết định hình phạt cho H, theo khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự về

Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt có

ghi “ Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định ” Nhận thấy hành vi của H ứng với tội giết người chưa đạt theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự “ Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm ”

Như vậy, mức phạt tù cao nhất của H phải chịu là ba phần tư của mười lăm năm, tương đương với 11 năm 3 tháng

5 H mới 15 tuổi 6 tháng thì H vẫn phải chịu TNHS về tội giết người

Điều 12 của Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định

về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

Về căn cứ phân loại tội phạm, khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Hình sự

1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định như sau:

“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung

Ngày đăng: 30/06/2016, 20:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w