Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ các nhân tố tác động đến công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh - Trình bày một cách có hệ thống các chủ trương, đường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG CÔNG HỮU
ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẢM BẢO GIAO THÔNG VẬN TẢI TRÊN ĐỊA BÀN TỪ THANH HÓA ĐẾN
VĨNH LINH (1965 - 1975)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG CÔNG HỮU
ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẢM BẢO GIAO THÔNG VẬN TẢI TRÊN ĐỊA BÀN TỪ THANH HÓA ĐẾN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận
án được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Phó giáo sư, Tiến sỹ sử học Vũ Quang Hiển
Các số liệu và kết quả sử dụng trong luận án là chính xác, trung thực, bảo đảm khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đáng tin cậy
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Trương Công Hữu
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 7
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO ĐẢM BẢO GIAO
THÔNG VẬN TẢI TRÊN ĐỊA BÀN TỪ THANH HÓA ĐẾN VĨNH
LINH GIAI ĐOẠN 1965 - 1968
22
1.1 Tình hình giao thông vận tải từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh
1.1.1 Các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh - một địa bàn
1.1.2 Thực trạng và chủ trương khôi phục hệ thống giao thông vận tải
1.2 Đảng lãnh đạo đảm bảo giao thông vận tải từ Thanh Hóa đến Vĩnh
Chương 2 LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH ĐẢM BẢO GIAO THÔNG
VẬN TẢI TRÊN ĐỊA BÀN TỪ THANH HÓA ĐẾN VĨNH LINH
TRONG THỜI GIAN 1969 - 1975
69
2.1 Lãnh đạo khôi phục hệ thống giao thông vận tải, tích cực chi
viện cho tiền tuyến (1969 - 1971) 69
2.1.1 Chủ trương khôi phục hệ thống giao thông vận tải sau chiến
Trang 52.3 Đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến
Vĩnh Linh trong giai đoạn 1973-1975 108
2.3.1 Chủ trương hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục mạng
tranh phá hoại phải linh hoạt, sáng tạo, kết hợp khéo léo các loại hình
vận tải
133
3.2.2 Đảm bảo giao thông vận tải trong chiến tranh phá hoại phải chú
trọng xây dựng cả lực lượng vận tải, lực lượng phòng không và lực lượng
an ninh để đảm bảo an toàn cho hành lang giao thông và hàng hóa
136
3.2.3 Tổ chức đảm bảo giao thông vận tải trong điều kiện có chiến
tranh phá hoại, bên cạnh yếu tố kỹ thuật còn cần phải coi trọng yếu tố
con người
140
3.2.4 Quá trình chỉ đạo xây dựng cơ sở vật chất cho hệ thống giao
thông vận tải trong thời bình cần phải kết hợp nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội với nhiệm vụ quốc phòng
142
Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án 149
Trang 6tế cho cách mạng Lào và Campuchia
Như vậy, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Địa bàn
từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh có vai trò hết sức quan trọng Vai trò quan trọng đó bắt nguồn từ vị trí địa lý trung tâm của địa bàn này Đây là vùng đất nằm giữa hậu phương lớn miền Bắc, tiền tuyến lớn miền Nam và chiến trường Lào, Campuchia Tất cả công tác chi viện cho chiến trường đều phải
đi qua khu vực này Vì vậy nên trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mặt trận giao thông vận tải ở ở khu vực này luôn có vị trí trọng yếu; đó
là con đường huyết mạch nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam
Trang 7Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ bắt đầu leo thang bắn phá miền Bắc thì mặt trận giao thông vận tải ở Địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trở nên vô cùng nóng bỏng, khốc liệt Để ngăn chặn sự chi viện từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam, cũng như để khủng bố tinh thần kháng chiến của nhân dân, đế quốc Mỹ đã dội xuống đất nước ta một lượng bom đạn khổng lồ mà trọng tâm là khu vực này Trong cuộc chiến đó, đế quốc Mỹ đã sử dụng những loại vũ khí tối tân nhất như máy bay B52, các thiết bị điện tử hiện đại, các loại bom lade, bom từ trường, súng đạn công nghệ cao Nếu như toàn miền Bắc, tính trung bình mỗi mét vuông đất phải chịu 6 tấn bom, mỗi người dân phải chịu 45,5kg bom đạn, thì tại vùng trọng điểm Quảng Bình, Vĩnh Linh còn số này là 86,5 tấn/m2 , và 1.435kg/một người [45, tr.12]
Các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh trở thành trọng điểm đánh phá vô cùng dữ dội, ác liệt của không quân, hải quân Mỹ; nơi đây trở thành tuyến lửa thử thách ý chí, nghị lực, thành nơi đọ sức, đọ lực giữa quân và dân miền Bắc với đế quốc Mỹ xâm lược Trong cuộc chiến đấu này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân các địa phương nơi đây đã nêu cao tinh thần anh hùng cách mạng, vượt qua muôn vàn gian khổ, thử thách, hi sinh để đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Với quyết tâm “đánh địch mà đi,
mở đường mà tiến”, “sống bám trụ cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”, “xe chưa qua, nhà không tiếc”… quân và dân nơi đây đã bám trụ kiên cường nơi tuyến lửa, quyết giữ vững mạch máu giao thông, đảm bảo sự chi viện toàn diện, liên tục cho chiến trường miền Nam
Nhìn lại những năm tháng oanh liệt, có thể khẳng định rằng mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã đi vào lịch sử như một bản anh hùng ca, như một biểu tượng tinh thần dũng cảm của người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ
Cùng với tinh thần chiến đấu anh dũng, quả cảm của quân và dân các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh thì sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý
Trang 8nghĩa quyết định để chiến thắng đế quốc Mỹ trên mặt trận ác liệt này Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở địa bàn này trong những năm chống chiến tranh phá hoại chúng ta sẽ thấy rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, hiểu rõ hơn những sáng tạo của từng địa phương, qua đó góp phần tái hiện đầy đủ, sinh động hơn những trang sử hào hùng của dân tộc Cũng qua việc nghiên cứu chúng ta sẽ thấy rõ quá trình hình thành, hoàn thiện những chủ trương chiến lược, các giải pháp của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của các cấp bộ Đảng, các địa phương… trên mặt trận gay go, ác liệt này; quan trọng hơn nữa, qua nghiên cứu chúng ta có thể rút ra được bài học kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay Như vậy, có thể nói đây là một vấn đề vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn
Với những lý do trên nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài “Đảng lãnh
đạo đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh
(1965- 1975)” làm luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các nhân tố tác động đến công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh
- Trình bày một cách có hệ thống các chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng, các đảng bộ địa phương về đảm bảo giao thông vận tải
Trang 9- Trình bày quá trình quân và dân các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh thực hiện các chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải
- Phân tích những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo đảm bảo giao thông vận tải và nguyên nhân những hạn chế đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương, biện pháp của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong thời gian 1965 - 1975
- Những hoạt động của quân và dân các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ năm 1965 đến năm 1975, tức là từ khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Băc đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ Tuy nhiên để làm rõ tình hình giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh luận án cũng đề cập đến quá trình khôi phục hệ thống giao thông vận tải trước năm 1965
- Về không gian: Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và đặc khu Vĩnh Linh
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu những chủ trương, biện pháp của Trung ương Đảng và các đảng bộ địa phương nhằm đảm bảo giao thông vận tải chi viện tiền tuyến trên mặt trận giao thông vận tải đường bộ và đường sông
Những điều kiện khó khăn và thuận lợi đối với đảm bảo giao thông vận tải, gồm đặc điểm địa lý tự nhiên, cư dân, truyền thống; những âm mưu, thủ đoạn đánh phá của Mỹ trên các tuyến giao thông
Những hoạt động của các lực lượng tham gia đảm bảo giao thông vận tải
Trang 104 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
- Một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước về giao thông vận tải
- Các văn kiện của Trung ương Đảng, các Đảng bộ địa phương, Đảng bộ ngành Giao thông vận tải và các đơn vị vũ trang về công tác giao thông vận tải
- Các công trình nghiên cứu, sách đã xuất bản của các nhà khoa học các viện nghiên cứu, và các cơ quan Đảng, Chính phủ…
- Một số tài liệu lưu trữ của các cơ quan Nhà nước và các đơn vị quân đội
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giao thông vận tải
- Luận án kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic là chủ yếu; trong chừng mực nhất định, luận án còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, điền dã thực tế để giải quyết các vấn đề đã đặt ra
5 Đóng góp của luận án
- Luận án phục dựng lại quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đảm bảo giao thông vận tải chi viện tiền tuyến trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong thời gian 1965-1975
- Tái hiện quá trình quân và dân các địa phương nơi đây thực hiện công tác đảm bảo giao thông vận tải dưới sự lãnh đạo của Đảng, cung cấp thêm một tài liệu tham khảo có hệ thống để nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống
Mỹ, lịch sử giao thông vận tải
- Từ những ưu điểm, hạn chế và kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng, luận án còn có giá trị thực tiễn đối với việc tổ chức mạng lưới giao thông vận tải trong quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc ngày nay
Trang 116 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu (6 trang), Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (15 trang), Kết luận (3 trang), Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án (1 trang), Danh mục tài liệu tham khảo (16 trang) và Phụ lục (20 trang), luận án gồm có ba chương:
Chương 1:Chủ trương và sự chỉ đạo đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh giai đoạn 1965 - 1968 (45 trang)
Chương 2: Lãnh đạo đẩy mạnh đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong thời gian 1969 - 1975 (44 trang)
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử (30 trang)
Trang 12TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Liên quan đến công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong kháng chiến chống Mỹ có khá nhiều công trình nghiên cứu, có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như sau:
1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Nhóm công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại
Nghiên cứu về vấn đề này có một số tác phẩm tiêu biểu như Chiến tranh
nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ của tác giả Văn
Tiến Dũng (1968) NXB Quân đội nhân dân, tác phẩm có nội dung chính là tổng
kết về cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, phần nổi bật nhất của tác phẩm này là những kinh nghiệm về phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở miền Bắc công tác chỉ đạo dân quân tự vệ vừa chiến đấu, vừa sản xuất và công tác vận tải trong chiến tranh
Tác phẩm Vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân địa phương tác giả
là Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1973), NXB Quân đội nhân dân Nội dung chính của tác phẩm nói về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng CSVN về vấn đề vũ trang quần chúng, đi sâu phân tích vị trí, vai trò của chiến tranh nhân dân ở các địa phương trong sự nghiệp bảo vệ đất nước Tác phẩm làm nổi bật vai trò quan trọng, mang tính quyết định của nhân dân trong các cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước, chứng minh vai trò đó qua thực tiễn chiến tranh cách mạng ở nước ta qua các thời kỳ lịch sử
Phân tích về cuộc chiến tranh nhân dân, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
có tác phẩm Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mĩ, tập 1 xuất bản năm 1982, tập 2 xuất bản năm 1983 (NXB Quân đội nhân
dân) Hai tập sách này trình bày những tư liệu lịch sử phong phú về thắng lợi
Trang 13của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, khái quát một số bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh của Đảng Ngoài ra tác phẩm còn phân tích những bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ tranh trong chiến tranh, bảo đảm giao thông vận tải, chuyển hướng nền kinh tế khi có chiến tranh phá hoại để đánh thắng chiến tranh phá hoại, bảo vệ hậu phương, đảm bảo chi viện cho tiền tuyến
Nghiên cứu về lịch sử của binh chủng Pháo binh, một lực lượng quan
trọng chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại có tác phẩm Lịch sử
Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1945 - 1975) của các tác giả Nguyễn
Đình Thạch, Đào Dũng Trí, Nguyễn Khắc Tính xuất bản năm 1991 với nội dung
cơ bản là trình bày quá trình hình thành và phát triển pháo binh quân đội nhân dân Việt Nam; những thành tích binh chủng pháo binh đạt được qua các chiến dịch, phương hướng xây dựng binh chủng pháo binh theo phương hướng chính quy hiện đại
Năm 1993, NXB Chính trị quốc gia xuất bản tác phẩm Về Chiến tranh
nhân dân Việt Nam, tác giả là Tổng Bí thư Lê Duẩn, cuốn sách là bản tập hợp
những bức thư, những bài phát biểu và một số bài viết của Tổng Bí thư Lê Duẩn
về tình hình chiến sự, nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Các tác giả Hồ Sĩ Hưu, Chu Thái, Thế Kỷ có tác phẩm Lịch sử quân
chủng phòng không, xuất bản năm 1993, NXB Quân đội nhân dân Tác phẩm có
dung lượng 430 trang, nội dung cơ bản là trình bày những sự kiện của quân chủng phòng không trong hai cuộc chiến tranh nhân dân đánh tan chiến tranh phá hoại của Mỹ (1965-1972) để bảo vệ các thành phố lớn, bảo vệ tuyến giao thông vận tải chi viện cho miền Nam và chiến đấu phối hợp giữa các binh chủng tại các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đường 9 - Khe Sanh, cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng
Tác giả Hoàng Phương có tác phẩm Hậu phương chiến tranh nhân dân
Việt Nam, (1997) NXB Quân đội nhân dân Tác phẩm có dung lượng 352 trang,
Trang 14do Hoàng Phương làm chủ biên ngoài ra còn có các tác giả Hồ Khang, Trịnh Vương Hồng, Vũ Tang Bồng tham gia Nội dung cơ bản của tác phẩm là điểm qua các chủ trương lớn của ta về công tác hậu phương trong kháng chiến chống Pháp - Mỹ; trình bày quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy sức mạnh hậu phương trong hai cuộc kháng chiến từ 1945-1975 Công bố nhiều số liệu quan trọng về công tác hậu cần nói chung và công tác đảm bảo giao thông vận tải nói riêng trên địa bàn cả nước trong hai cuộc kháng chiến
Bộ Tư lệnh công binh (1999), Lịch sử công binh 559 Đường Trường Sơn,
NXB Quân đội nhân dân Tác phẩm giới thiệu hệ thống các sự kiện về quá trình khảo sát, thi công mở các tuyến đường chi viện tiền tuyến; quá trình xây dựng
và phát triển của lực lượng công binh Đoàn 559 bộ đội đường Trường Sơn từ tháng 5 năm 1959 đến tháng 4 năm 1975
Năm 2000, Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đã
cho ra mắt tác phẩm Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và
bài học, NXB Chính trị quốc gia Tác phẩm có dung lượng 601 trang, với nội
dung cơ bản gồm 4 phần chính Phần thứ nhất nghiên cứu cuộc chiến tranh Việt Nam với tính chất cuộc đụng đầu lịch sử, nguyên nhân chiến tranh, diến biến cuộc chiến Phần thứ hai phân tích sáu bài học lớn về lãnh đạo chiến tranh cách mạng Việt Nam Phần thứ ba phân tích thắng lợi mang tầm vóc thời đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Phần phụ lục trình bày hệ thống bảng biểu, sơ đồ với nhiều số liệu của hai cuộc khang chiến Đây là một tác phẩm tổng kết công phu, có giá trị tra cứu cao
Nhóm công trình nghiên cứu về giao thông vận tải chi viện tiền tuyến
Năm 1988 Tổng cục Hậu cần phát hành tác phẩm Vận tải quân sự chiến
lược trên đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ Đây là ấn phẩm lưu
hành trong nội bộ quân đội, dung lượng 467 trang Tác phẩm có các nội dung chính sau:Phần một: Khái quát hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm cơ bản của tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 Phần hai: Quá trình hoạt động và phát triển của tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 Phần ba: Những kinh nghiệm
Trang 15chủ yếu về tổ chức lãnh đạo công tác vận tải quân sự chiến lược trên đường Hồ Chí Minh
Năm 1999 NXB Quân đội nhân dân xuất bản tác phẩm Lịch sử Đoàn 559
bộ đội Trường sơn đường Hồ Chí Minh Đây là ấn phẩm của quân đội, có dung
lượng 706 trang, được bố cục thành năm phần lớn với 12 chương trình bày cụ thể, tỉ mỉ về lịch sử Đoàn 559 từ lúc khảo sát thực tế, lên phương án thành lập, quá trình Đoàn ra đời, chức năng của Đoàn, các mốc phát triển qua từng giai đoạn cho đến tận quá trình xây dựng tổ quốc sau năm 1975
Bộ Tư lệnh Binh đoàn 12, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam năm 1999 xuất
bản tác phẩm Đường Hồ Chí Minh, một sáng tạo chiến lược của Đảng Đây là
kỷ yếu Hội thảo khoa học tập hợp 40 bản tham luận khoa học viết về lịch sử xây dựng và hoạt động của Đường Hồ Chí Minh, chứng minh Đường Hồ Chí Minh
là một sáng tạo chiến lược của Đảng, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Tác giả Đồng Sĩ Nguyên năm 1999 có tác phẩm Đường xuyên Trường
Sơn, NXB Quân đội nhân dân Tác phẩm là hồi ký ghi chép về chặng đường 11
năm chiến đấu, công tác ở Trường Sơn thời đánh Mỹ của tác giả và của một số đồng đội cùng chiến đấu
Trên một số tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều bài viết về mặt trận giao
thông vận tải trong thời kỳ chống Mỹ như: Tác giả Hồ Khang có bài Vài nét về
mặt trận giao thông vận tải thời kì đầu chống chiến tranh phá hoại 1964 - 1967,
Tạp chí Lịch sử quân sự (1998); tác giả Kim Ngọc Thu Trang có bài Góp phần
tìm hiểu về mặt trận bảo đảm giao thông vận tải đường bộ trong chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ Tạp chí Lịch sử Quân sự số 11/2007; tác
giả Xuân Trung có bài Những con đường chi viện tiền tệ cho chiến trường miền
Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tạp chí Lịch sử Quân sự số 3/2008…
Tác giả Kim Ngọc Thu Trang ở Đại học Thái Nguyên có luận văn thạc sỹ:
Giao thông vận tải đường bộ miền Bắc Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ
Trang 16cứu nước 1954 - 1975 Nội dung cơ bản là giới thiệu hệ thống giao thông vận tải
đường bộ trong những năm đầu sau Hiệp định Giơnevơ (1954-1960); trình bày quá trình xây dựng hệ thống giao thông vận tải đường bộ trong những năm 1961
- 1965, trình bày quá trình phát triển hệ thống giao thông đường bộ trong những năm 1965 - 1975
Bộ Giao thông vận tải có tác phẩm Lịch sử giao thông vận tải Việt Nam, NXB Giao thông vận tải (2005) Đây là một công trình khoa học được biên soạn
rất đồ sộ, với dung lượng 1444 trang, nội dung phong phú, tập hợp nhiều sử liệu quan trọng về ngành GTVT, được hệ thống hoá qua từng thời kỳ, có viết về công tác giao thông vận tải của từng địa phương, có tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu Qua từng tác phẩm, người đọc thấy rõ công sức đóng góp của những người làm công tác giao thông vận tải, thấy rõ những tấm gương chiến đấu hy sinh, lao động quên mình, trí thông minh sáng tạo, tuyệt vời của nhân dân, dù dưới mưa bom bão đạn vẫn đảm bảo cho mạch máu giao thông thông suốt Tác phẩm còn thể hiện sự cảm phục và tự hào trước sức lao động cần cù, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công nhân ngành giao thông vận tải trong
sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước hôm nay
Nhóm công trình nghiên cứu về cuộc chiến đấu trên mặt trận giao thông vận tải ở các địa phương
Ngay từ năm 1965, từ thực tiễn của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại trên đất Nghệ An, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân đã xuất bản tập tài liệu
Kinh nghiệm Nghệ An chiến thắng máy bay Mĩ của tác giả Nguyễn Văn Ca Đây
là công trình nghiên cứu trong khoảng thời gian ngắn, không gian trong phạm vi tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, với tính điển hình của một địa phương lập chiến công bắn rơi 136 máy bay Mĩ trong năm 1965 và có lực lượng dân quân tự vệ sử dụng súng bộ binh bắn rơi máy bay Mĩ đầu tiên ở miền Bắc, tác giả đã rút ra và chia
sẻ một số bài học kinh nghiệm trong việc đánh máy bay Mỹ ở Nghệ An
Năm 1972, đế quốc Mĩ đẩy mạnh chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc Việt Nam, địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh tiếp tục là mục tiêu
Trang 17đánh phá ác liệt Trong bài Chiến tranh nhân dân ở Vĩnh Linh trong tình hình
mới của đồng chí Trần Đồng Bí thư Đảng ủy khu vực Vĩnh Linh, đăng trên Tạp
chí Quân đội nhân dân (tháng 6 năm 1972), đã chỉ ra vị trí chiến lược của khu vực Vĩnh Linh là tuyến đầu của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn miền Nam Ở vào vị trí đó, khu vực Vĩnh Linh sớm đương đầu với những hoạt động chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mĩ Bài viết đi sâu phân tích sự hình thành thế trận chiến tranh nhân dân ở khu vực Vĩnh Linh nhằm chống lại hoạt động chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ
Năm 1980, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Thanh Hóa đã biên
soạn và xuất bản công trình nghiên cứu Hàm Rồng chiến thắng Trên cơ sở
nguồn tư liệu phong phú, bao gồm cả thành văn, nhân chứng, điền dã, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thanh Hóa đã dựng lại quá trình tổ chức lực lượng phòng không, bố trí trận địa hỏa lực nhiều tầng của quân và dân Thanh Hóa trong quá trình chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bảo vệ cầu Hàm Rồng Trước sức mạnh của không lực Hoa Kỳ, quân và dân Thanh Hóa đã quyết tâm bảo vệ cầu Hàm Rồng, giữ vững huyết mạch giao thông vận tải Bắc - Nam Công trình nghiên cứu là bức tranh sinh động thể hiện rõ nét thế trận chiến tranh nhân dân của quân dân ta trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước
Tác giả Võ Văn Minh có tác phẩm Quân khu IV Lịch sử kháng chiến chống
Mỹ cứu nước (1945 - 1975), NXB Quân đội nhân dân (1994) Đây là ấn phẩm
do Bộ Tư lệnh Quân khu 4 trực tiếp chỉ đạo nội dung và được tập thể tác giả là cán bộ của Quân khu biên soạn Với dung lượng 515 trang, ngoài phần Lời giới thiệu, lời nói đầu, phụ lục, bản đồ… cuốn sách có các nội dung cơ bản là mô tả quá trình xây dựng lực lượng, chiến đấu của nhân dân Khu 4 và mở rộng nghiên cứu cả một số chiến dịch ở trung Lào, hạ Lào và Campuchia Khu 4 trong tác phẩm này được hiểu theo địa giới từ thời chống Pháp nên không chỉ nghiên cứu
từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh mà còn đi sâu trình bày cả diễn biến trên chiến trường Quảng Trị và Thừa Thiên
Trang 18Sở Giao thông vận tải Thanh Hóa có tác phẩm Năm mươi năm xây dựng -
chiến đấu - trưởng thành giao thông vận tải Thanh Hóa, (1995) NXB Giao thông
vận tải Đây là tác phẩm viết về ngành giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa từ năm
1945 đến năm 1995 với các nội dung cơ bản gồm 5 phầm, chủ yếu giới thiệu tình hình giao thông vận tải Thanh Hóa sau ngày độc lập; quá trình xây dựng, phát triển ngành giao thông trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ, đặc biệt tác phẩm còn trình bày quá trình quân và dân tỉnh Thanh Hóa tham gia mặt trận giao thông vận tải chi viện tiền tuyến trong hai cuộc kháng chiến Tác phẩm cũng nói về những thành tích của giao thông vận tải Thanh Hóa trong quá trình xây dựng tổ quốc sau ngày thống nhất
Sở Giao thông vận tải Nghệ An có tác phẩm Lịch sử giao thông, vận tải
Nghệ An 1945- 1995, (1996) NXB Giao thông vận tải Tác phẩm có dung lượng
269 trang, với bố cục gồm 5 phần chính, gồm: Phần một giới thiệu về tự nhiên
và con người Nghệ An Phần hai giới thiệu về tình hình giao thông vận tải trên địa bàn Tỉnh giai đoạn 1945 - 1954 Phần ba nói về quá trình khôi phục hệ thống giao thông vận tải sau kháng chiến chống thực dân Pháp Phần bốn nói về Quân
và dân Nghệ An trên mặt trận giao thông vận tải trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ Phần năm nói về tình hình giao thông vận tải Nghệ An trong nhưng năm 1975 - 1995
Các tác giả Lê Văn Hựu, Nguyễn Sơn Cao, Phan Minh Châu có tác phẩm
Chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1975) - Chuyên đề: Phát huy vai trò dân quân tự vệ trong chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ trên địa bàn Quân khu 4,
(1954-(1997) NXB Quân đội nhân dân Tác phẩm có dung lượng 96 trang, là một phần của hệ thống tác phẩm bàn về vai trò của chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ Tác phẩm có nội dung bàn về một số đặc điểm tình hình
có liên quan đến việc chỉ đạo xây dựng, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ trên địa bàn Quân khu 4 trong những năm 1954 - 1975 Quá trình chỉ đạo phát huy vai trò chiến lược của dân quân tự vệ trong các thời kỳ chống chiến tranh
Trang 19phá hoại; Các bài học kinh nghiệm về nắm vững vị trí chiến lược, phát huy vai trò dân quân tự vệ trong chiến đấu
Sở Giao thông vận tải Quảng Bình có tác phẩm Lịch sử giao thông vận tải
tỉnh Quảng Bình 1885-1999, (1999) NXB Giao thông vận tải Tác phẩm có
dung lượng 364 trang, gồm các nội dung cơ bản sau: Phần mở đầu giáo thiệu về mảnh đất và con người Quảng Bình Phần thứ hai nghiên cứu về giao thông vận tải Quảng Bình trước cách mạng Tháng 8 Phần ba nghiên cứu về giao thông vận tải Quảng Bình trong kháng chiến chống Pháp Phần thứ tư nghiên cứu về giao thông vận tải Quảng Bình giai đoan 1954 - 1964 Phần thứ năm nghiên cứu về giao thông vận tải Quảng Bình phục vụ công tác chi viện tiền tuyến trong hai cuộc chiến tranh phá hoại Các phần còn lại nghiên cứu về quá trình xây dựng và phát triển giao thông vận tải Quảng Bình sau ngày giải phóng
Năm 2001 Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và Viện lịch sử quân sự Việt Nam đã
cùng tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề Mặt trận giao thông vận tải trên
địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Kỷ yếu Hội thảo
đã được NXB Quân đội nhân dân xuất bản thành sách tham khảo Đây là ấn phẩm được xuất bản trên cơ sở hơn 50 báo cáo của Hội thảo khoa học, có dung lượng 595 trang Các bài viết trong ấn phẩm này đề cập đến hầu hết các vấn đề của công tác giao thông vận tải chi viện tiền tuyến trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong kháng chiến chống Mỹ, các tác giả chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ thông sử Đây là một tài liệu có nội dung nghiên cứu rộng, đề cập đến nhiều lĩnh vực, giúp tác giả tìm hiểu nhiều vấn đề trong quá trình làm luận án
Năm 2002, NXB Hà Tĩnh xuất bản cuốn Ngã ba Đồng Lộc - Ngã ba anh
hùng do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Hà Tĩnh biên soạn Cuốn
sách đã tái hiện lại chiến công của 10 cô gái trong Tiểu đội nữ thanh niên xung phong làm nhiệm vụ san lấp hố bom, làm đường, đào hầm trú ẩn, bảo đảm an toàn cho xe và người qua Ngã ba Đồng Lộc
Trang 20Tác giả Bùi Thu Hương có bài Bảo đảm giao thông vận tải ở Ngã ba Đồng
Lộc trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất cuả đế quốc Mỹ Tạp chí
Lịch sử Quân sự số 7/2007 Nội dung chính là mô tả và đánh giá tình hình đảm bảo giao thông vận tải ở điểm xung yếu Ngã ba Đồng Lộc trong những năm
1965 - 1968
Tác giả Phan Xuyến Thanh Đồng có bài Quân khu IV chia lửa với mặt trận
Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972 Tạp chí Lịch sử Quân sự số 12/2007
Nội dung cơ bản là mô tả và đánh giá cuộc chiến đấu của quân và dân Quân khu
4 chống lại không quân Mỹ trong những ngày cuối năm 1972 Phân tích vai trò
cuộc chiến đấu đó trong việc hỗ trợ cuộc chiến đấu tại Hà Nội
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Công Thuận tại Đại học sư phạm Huế: Chiến
đấu đảm bảo giao thông vận tải ở Hà Tĩnh trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1965-1973, với nội dung cơ bản là mô tả và phân tích cuộc chiến đấu của
quân và dân Hà Tĩnh trên mặt trận giao thông vận tải chi viện tiền tuyến trên trong những năm 1965 - 1973, rút ra một số kinh nghiệm trong việc đảm bảo giao thông vận tải ở Hà Tĩnh trong điều kiện có chiến tranh
Luận án của Lê Tố Anh tại Viện Khoa học xã hội: Bảo đảm hậu cần của mặt
trận Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1964 - 1975
Luận án gồm ba chương với nội dung cơ bản là Giới thiệu mặt trận Tây Nguyên thành lập và nhu cầu hậu cần của mặt trận Tây Nguyên Công tác đảm bảo hậu cần của mặt trận Tây Nguyên từ khi thành lập và trong thời kỳ chống chiến lược Chiến tranh cục bộ của Mỹ (1964- 1968) Bảo đảm hậu cần của mặt trận Tây Nguyên trong thời kỳ chống chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1969 – 1975) Cuối cùng, luận án đưa ra một số nhận xét chung và một số kinh nghiệm chủ yếu về đảm bảo hậu cần của mặt trận Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Năm 2008 Nhà xuất bản Nghệ An xuất bản cuốn Truông Bồn - chiến công
và huyền thoại Nội dung cuốn sách đã giới thiệu về địa danh Truông Bồn; khái
quát toàn cảnh cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ trên
Trang 21mảnh đất Nghệ An nói chung và Truông Bồn nói riêng Cuốn sách còn giới thiệu các bài viết về công tác chỉ huy đảm bảo giao thông, về những tấm gương chiến đấu, hy sinh anh dũng của các tập thể, cá nhân tại mảnh đất Truông Bồn, trong đó nổi bật nhất là sự hy sinh của 13 liệt sỹ thanh niên xung phong khi làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông vận tải trên đường 15A
Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc đảm bảo giao thông vận tải chi viện tiền tuyến
Năm 2001 Bộ Tổng tham mưu có Chuyên đề Vai trò lãnh đạo của Đảng
bộ, chính quyền, đoàn thể và cơ quan quân sự địa phương trên địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ 1946-1975, NXB
Quân đội nhân dân Tác phẩm có dung lượng 227 trang, với nội dung cơ bản là tổng kết đánh giá vai trò của Đảng bộ, chính quyền và cơ quan quân sự trong hoạt động thực tiễn tiến hành chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) Tác phẩm cũng đề cập đến một số nội dung liên quan đến công tác sơ tán, phòng không để bảo vệ tính mạng nhân dân và tài sản
Luận án của Đồng Xuân Quách tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh: Đảng bộ Vĩnh Linh lãnh đạo quân dân địa phương đánh thắng chiến tranh
phá hoại của đế quốc Mỹ lần thứ nhất (1965-1968) Với nội dung cơ bản: Sự lãnh
đạo của Đảng bộ Vĩnh Lĩnh lãnh đạo nhân dân chống đế quốc Mỹ giai đoạn
1954-1964, đảm bảo giao thông vận tải chi viện cho tiền tuyến miền Nam giai đoạn 1965-1968; một số bài học kinh nghiệm về lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của Đảng bộ Vĩnh Linh
Luận văn thạc sỹ lịch sử của tác giả Nguyễn Văn Quang: Đảng lãnh đạo
xây dựng và bảo vệ hậu phương trên địa bàn Quân khu 4 từ 1964 đến 1973
(2006), tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng ủy Quân sự Trung ương, Đảng ủy Quân khu 4 đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương chiến lược Quân khu 4 trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ Trên cơ sở đánh giá
Trang 22những thành công, hạn chế của quá trình xây dựng và bảo vệ hậu phương, tác giả luận văn đã rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng về xây dựng và bảo
vệ hậu phương Quân khu 4, từ đó vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc hiện nay
Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Mấy vấn đề chỉ
đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng 1945-1975 NXB Quân đội
nhân dân, Hà Nội Nội dung cơ bản của tác tác này là nghiên cứu sự chỉ đạo của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Phân tích nghệ thuật chỉ đạo tiến hành kháng chiến, cách phát động cuộc chiến tranh nhân dân chống lại chiến tranh xâm lược của kẻ thù
Nhóm công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam dưới góc nhìn của người nước ngoài
Việt Nam Thông tấn xã phát hành tác phẩm: Về cuộc chiến tranh xâm lược ở
miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc nước ta: Hồi ký của Linđơn Giônxơn (1972) Tác phẩm có các nội dung cơ bản trích từ hồi kí của Tổng thống
Mỹ Giônxơn nói về chiến tranh Việt Nam cùng những bức thư và những văn kiện liên quan đến Việt Nam, bình luận các sự kiện "bảo vệ Nam Việt Nam", đánh phá miền Bắc Việt Nam, tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam…
Tác phẩm Trận đồ bát quái xuyên rừng rậm (1979) của Cục Chính trị -
Tổng cục xây dựng kinh tế biên soạn và phát hành Tác phẩm có dung lượng
654 trang, là tài liệu nghiên cứu nội bộ của quân đội, với nội dung cơ bản là giới thiệu những tài liệu được trích dịch từ các sách báo của nước ngoài nói về đường mòn Hồ Chí Minh, chủ yếu là của chính giới Mỹ, gồm các báo cáo của các cơ quan có trách nhiệm ở Nhà Trắng, Lầu Năm Góc đối với chiến tranh Việt Nam, các báo của tướng tá Mỹ, các nhà viết sử, nhà chiến lược, giáo sư ở các trường đại học của Mỹ, Nhật, Pháp… Tài liệu này có góc nhìn khách quan về cuộc chiến tranh Việt Nam
Trang 23George C Heering (1988), Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ,
NXB Chính trị quốc gia Tác phẩm có dung lượng 360 trang, với nội dung tình bày các giai đoạn của cuộc chiến tranh của nước Mỹ tại Việt Nam từ 1950-1975, những thất bại và hậu quả của nó
Tác giả Nguyễn Chương có bài Chiến tranh phá hoại và chống chiến tranh
phá hoại qua tư liệu phương Tây, Tạp chí Lịch sử quân sự năm 1994 Bài viết
đưa ra một số tư liệu, quan điểm của các nhà quân sự, các học giả phương Tây
về cuộc chiến tránh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam và góc nhìn của người phương Tây về cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Việt Nam
Tác giả Philíp B Davitson (1995) có tác phẩm Những bí mật của cuộc
chiến tranh Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Tác phẩm có dung lượng 323
trang, với nội dung nhìn nhận, đánh giá lại cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam
từ quan điểm của một người tham gia trực tiếp với cương vị là một người chỉ huy quân báo tại Việt Nam Tác giả nghiên cứu chiến lược chiến tranh cách mạng của nhân dân của Việt Nam, cuộc tấn công Mậu Thân 1968, công bố sức mạnh của quân đội Mỹ Ngoài ra tác giả còn phân tích nguyên nhân thất bại của
Mỹ và giả thiết những điều Mỹ cần làm để có được chiến thắng
Mắc Namara, Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt
Nam (1995), NXB Chính trị quốc gia Tác phẩm có dung lượng 388 trang, đây là
hồi ký của bộ trưởng bộ quốc phòng Mỹ Robert S Mc Namara qua cuộc chiến tranh ở Việt Nam Tác phẩm nhìn nhận cuộc chiến tranh Việt Nam dưới con mắt một lãnh đạo cao cấp của Mỹ với những bài học và kinh nghiệm về tổ chức và triển khai chiến tranh
Năm 2007, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã xuất bản cuốn Hồ sơ chiến
tranh Việt Nam - Tiết lộ lịch sử bí mật của chiến lược thời Nixon của tác giả
Jeffrey Kimball Đây là cuốn sách được coi là tập ký sự “Bạch cung bí sử” thời Richard M Nixon làm chủ Nhà Trắng Nội dung của cuốn sách được tác giả biên tập dựa trên nguồn tài liệu lưu trữ, bao gồm tài liệu thành văn và bản ghi
Trang 24âm của Nhà Trắng từ giữa những năm 1970 và năm 1998 Liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ, tác giả phân tích và đánh giá dưới thời Richard M Nixon, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã đưa lên mức độ tàn khốc nhất ở cả hai miền Nam - Bắc
2 Kết quả các công trình nghiên cứu
Vấn đề giao thông vận tải trong kháng chiến chống Mỹ đã được nhiều tác giả nghiên cứu, nhiều ấn phẩm, bài viết đã được phát hành Có thể khẳng định đây là một vấn đề có nhiều tư liệu Thậm chí đã có những hội thảo khoa học được tổ chức để nghiên cứu về vấn đề này Điều đó chứng tỏ mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong kháng chiến chống
Mỹ là một vấn đề được nhiều học giả quan tâm Có thể liệt kê một số kết quả mà các công trình nêu trên đã nghiên cứu như sau:
Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu sâu về cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại Nhiều tác phẩm đã mô tả chi tiết quá trình quân và dân Việt Nam nói chung cũng như quân và dân các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân để bảo vệ miền Bắc và bảo vệ hệ thống giao thông vận tải chi viện miền Nam Nhiều tác phẩm
đã tái hiện rõ tinh thần bất khuất, anh hùng của quân và dân các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh cũng như sự tàn khốc, ác liệt của cuộc chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ tiến hành
Thứ hai: Một số công trình nghiên cứu sâu về hệ thống giao thông vận tải miền Bắc nói chung và công tác tổ chức giao thông chi viện tiền tuyến nói riêng; nhiều công trình nghiên cứu sâu về công tác giao thông trên địa bàn Quân khu 4 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Các công trình này nghiên cứu chi tiết quá trình khôi phục hệ thống giao thông vận tải sau kháng chiến chống Pháp, quá trình cải tạo, xây dựng hệ thống giao thông để phục vụ công tác chi viện tiền tuyến Một số tác phẩm còn nghiên cứu về quá trình phát triển lực lượng giao thông vận tải trong kháng chiến chống Mỹ
Trang 25Thứ ba: Có một số tác phẩm nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc đảm bảo giao thông vận tải ở một số địa phương miền Bắc, bước đầu khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trên mặt trận giao thông Tuy vậy các công trình này không nhiều và chủ yếu nghiên cứu đơn lẻ ở một vài địa phương
bị đối phương coi là trọng điểm đánh phá, giới hạn nghiên cứu trong khoảng thời gian ngắn trên một địa bàn hẹp, có khi chỉ một tỉnh, thậm chí một huyện
Thứ tư: Có nhiều tác phẩm nghiên cứu về kinh nghiệm tổ chức vận tải chi viện miền Nam; kinh nghiệm tổ chức lực lượng vận tải, kinh nghiệm phòng không, sơ tán, bảo mật, phòng gian… để bảo vệ người và hàng hóa Có nhiều tác phẩm của các đơn vị quân đội nghiên cứu sâu về các phương thức vận tải, phối hợp binh chủng để đảm bảo giao thông chi viện tiền tuyến
Nghiên cứu tổng quan về tình hình nghiên cứu mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh giai đoạn 1965 - 1975 cho thấy các tác phẩm đã ấn hành chủ yếu tập trung nghiên cứu mặt trận giao thông vận tải ở miền Bắc nói chung và khu vực từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ dưới góc độ thông sử Quá trình nghiên cứu đó cho ta thấy được vai trò quan trọng của giao thông vận tải ở địa bàn này trong kháng chiến chống
Mỹ Tuy vậy, chưa có tác phẩm nào chuyên khảo về đường lối lãnh đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong những năm 1965 - 1975
3 Những nội dung luận án nghiên cứu
Với lịch sử vấn đề như trên, luận án sẽ đi sâu nghiên cứu các nội dung sau:
- Nghiên cứu những chủ trương, biện pháp của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong thời gian 1965 - 1975
- Nghiên cứu những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng
Mục tiêu của luận án là làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong việc đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong hai cuộc
Trang 26chiến tranh phá hoại; rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong việc đảm bảo giao thông vận tải ở địa bàn trên trong những năm 1965 - 1975
Vì chưa có tác phẩm nào chuyên khảo về đường lối lãnh đạo của Đảng trên mặt trận giao thông vận tải ở địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong những năm 1965 - 1975 nên có thể khẳng định rằng hướng tiếp cận vấn đề của luận án là hoàn toàn độc lập; luận án của nghiên cứu sinh là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với công trình khoa học nào đã công bố ở trong và ngoài nước
Trang 27Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO ĐẢM BẢO GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRÊN ĐỊA BÀN TỪ THANH HÓA ĐẾN VĨNH LINH
GIAI ĐOẠN 1965 - 1968 1.1 Tình hình giao thông vận tải từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trước năm 1965
1.1.1 Các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh - một địa bàn trọng yếu trên mặt trận giao thông vận tải
Địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh là một dải đất dài và hẹp, một bên chạy dọc ven biển miền Trung một bên chạy dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ Dải đất này kéo dài suốt từ Thanh Hoá vào đến tận bắc Quảng Trị Vị trí địa lý của khu vực này nằm vào khoảng 16,2 đến 20,3 độ vĩ Bắc, 103,5 đến 108,10 độ kinh Đông; phía Bắc giáp các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Sơn La; phía tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía nam giáp Quảng Trị, phía Đông giáp biển
Trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam, nơi đây luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, từ các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc thời phong kiến cho đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh luôn được coi là căn cứ địa quan trọng, là nơi cung cấp nhân lực, vật lực cho toàn bộ cuộc chiến
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), đây là địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng; là nơi tiếp xúc với tiền tuyến, nơi tập kết lực lượng để chi viện cho chiến trường miền Nam, nơi kết thúc tuyến vận tải hậu phương và là điểm bắt đầu của các tuyến vận tải nơi tiền tuyến Đứng trên phương diện vận tải thì khu vực từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh lúc bấy giờ gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể là:
Về địa thế: các dãy núi cao và dốc nằm dọc ở phía tây cùng với biển ở phía đông đã làm cho địa bàn này trở thành thế “độc đạo”, với chiều ngang nơi rộng nhất chỉ khoảng 207km (Nghệ An), nơi hẹp nhất chỉ có 46,5km (Quảng Bình); rõ ràng đây là địa hình dễ bị kẻ thù thực hiện âm mưu chia cắt, phong toả Trên thực tế, trong những năm chống chiến tranh phá hoại, trước sự đánh phá dữ dội của không quân, hải quân Mỹ, giao thông vận tải nơi đây không ít lần đã bị ách tắc, thiệt hại
Bên cạnh sự khó khăn về địa thế như trên thì những khó khăn về địa hình
Trang 28cũng không nhỏ Do địa hình dốc về phía Tây và thấp dần về phía Đông nên địa bàn Thanh Hóa đến Vĩnh Linh có nhiều sông ngòi chảy cắt ngang đã làm cho địa hình bị chia cắt, gây khó khăn trong việc đi lại và vận chuyển Trong những năm chiến tranh, nhiều khu vực cầu, phà ở nơi đây trở thành nơi đấu sức, đấu trí giữa ta và đế quốc Mỹ; tiêu biểu như khu vực cầu Hàm Rồng, cầu Bùng, cầu Tào, phà Ghép, phà Bến Thuỷ, phà Quán Hàu, phà Linh Cảm
Một khó khăn nữa trong việc đảm bảo giao thông vận tải ở khu vực này là nơi đây không những bị chia cắt bởi sông mà còn bị chia cắt bởi núi Có nhiều dãy núi chạy dài từ miền Tây vươn ra biển, tạo thành các đèo dốc rất hiểm trở, gây khó khăn trong việc vận tải, đi lại, đặc biệt là gây khó khăn cho các phương tiện cơ giới, các dãy núi nổi tiếng như núi Nưa, Cao Sơn, Đại Huệ, Mồng Gà, Hoành Sơn, Bạch Mã
Về khí hậu, khu vực từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh là địa hình có điều kiện khí hậu tự nhiên hết sức khắc nghiệt có những vùng lượng mưa lên tới 300ml mỗi năm nhưng cũng có vùng thường xuyên xảy ra hạn hán Nắng nóng có thể lên tới 40 độ nhưng mùa đông vẫn rất lạnh Bão lũ xảy ra thường xuyên làm cho công tác giao thông vận tải ở đây vốn đã khó khăn lại càng gian khổ hơn
Bên cạnh những khó khăn trên, công tác đảm giao thông vận tải ở các các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh cũng có một số thuận lợi nhất định Thuận lợi đáng kể nhất là sau 10 năm hòa bình, quân và dân các địa phương nơi đây đã xây dựng được một mạng lưới giao thông tương đối tốt, cơ bản đáp ứng nhu được nhu cầu vận tải hàng hóa vào miền Nam Tuyến đường sắt Bắc - Nam qua địa bàn dài 776,4km, có 70 ga lớn nhỏ phần lớn chạy dọc đồng bằng và gần như song song với đường quốc lộ 1A cùng với các tuyến đường phụ Cầu Giát - Nghĩa Đàn, Vinh - Cửa Lò, Vinh - Bến Thủy (các tuyến này hiện nay không dùng nữa) Khối lượng vận chuyển bằng đường sắt khá cao, là phượng tiện quan trọng để chuyên chở người và hàng hóa Đường số 1 chạy dọc ven biển qua nhiều đèo cao, nhiều cầu phà hiểm trở nhưng vẫn là tuyến đường huyết mạch Đường 15 từ Vạn Mai (giáp giới Thanh Hóa, Hòa Bình) chạy dọc đông Trường Sơn qua Quan Hóa, Triệu Sơn, Nghĩa Đàn, Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn Đức Thọ, Hương Khê, Tuyên Hóa, Bãi Hà, Hướng Hóa Ngoài ra còn có các tuyến ngang như đường 217 (Đồng Tâm - Na Mèo - Bắc Lào), Đường Số 7 (Diễn Châu - Nậm Cắn qua Lào), đường Số 8 (Bãi Vọt - Hương Sơn - Na Pê - Lạc Xao) Các đường 10, 12, 16, 20 nối đường 15 đoạn Quảng Bình qua Lào
Trang 29cùng các tuyến đường liên huyện, liên xã, đường lên các nông - lâm trường cũng
là hệ thống đường bộ quan trọng Thanh Hóa đến Vĩnh Linh cũng là vùng có nhiều cầu phà do hệ thống sông suối phức tạp, trong thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ, địa bàn này có hàng trăm chiếc cầu, 10 bến phà lớn (Ghép, Bến Thủy, Sông Gianh, Quán Hàu, Xuân Sơn, Long Đại, Đô Lương, Nam Đàn, Linh Cảm, Địa Lợi) Địa hình nơi đây tuy hiểm trở nhưng có dải đồng bằng chạy dọc ven biển tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho các phương tiện cơ giới hoạt động
Như vậy, cùng với những khó khăn, các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh cũng có một số thuận lợi trong quá trình đảm bảo giao thông vận tải trong điều kiện có chiến tranh phá hoại Tuy vậy những điều kiện thuận lợi trên rất nhỏ bé so với khó khăn mà quân và dân nơi đây phải đối mặt trong công tác đảm bảo giao thông vận tải chi viện tiền tuyến
Các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh là vùng đất có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm Với tổng số khoảng 8 triệu người (trong kháng chiến chống Mỹ), nhân dân nơi đây có truyền thống yêu nước từ lâu đời, truyền thống đó được cha truyền con nối, được lưu giữ và phát huy Mỗi khi tổ quốc lâm nguy thì nhân dân nơi đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng để bảo vệ tổ quốc Người dân nơi đây tính tình ngay thẳng, nghĩa hiệp, trung thành, yêu quê hương đất nước, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc và là lực lượng chính để đảm bảo giao thông vận tải trong chiến tranh phá hoại
Thật vậy, từ những triều đại phong kiến đầu tiên của Việt Nam, Ngô Quyền, một tướng giỏi được cử trông coi vùng Châu Ái (Thanh Hoá và một phần Nghệ An ngày nay) đã dựa vào địa thế và truyền thống yêu nước của vùng đất này để xây dựng lực lượng rồi sau đó kéo quân ra Bắc đánh tan quân Nam Hán Thời Lý, vùng Hoan, Ái (Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày nay) là hậu phương chiến lược quan trọng để triều đình và nhân dân đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống Đến thời Trần, trước sự tấn công ồ ạt của quân Nguyên Mông, nhà Trần
đã đưa quân chủ lực về vùng Thanh - Nghệ ngày nay để phòng thủ và dựa vào địa thế, kinh tế của vùng này để tích lũy thêm lực lượng, thành chỗ đứng chân, thành bàn đạp đánh lui quân Nguyên - Mông Thanh Hoá, Nghệ An cũng là nơi
Lê Lợi, Nguyễn Trãi xây dựng cờ khởi nghĩa, xây dựng lực lượng để đánh đuổi giặc Minh…
Đến cuối thế kỷ XIX, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân
Trang 30vùng đất này đã lợi dụng địa thế đặc biệt hiểm trở của địa phương, nhiều lần tổ chức kháng chiến, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân hay các phong trào Đông Du, Duy Tân chống thuế ở Trung Kỳ
Từ năm 1930, dưới sự Đảng Cộng sản Việt Nam, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân nơi đây lại càng mạnh mẽ hơn Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra đã làm thực dân Pháp khiếp sợ Sau thời kỳ 1930-1931, tuy bị đàn áp dã man nhưng người dân Nghệ An và Hà Tĩnh vẫn một lòng trung thành với Đảng, ra sức xây dựng lực lượng để rồi đến năm 1945 đã cùng cả nước vùng lên đập tan ách đô hộ gần 100 năm của thực dân Pháp
Trong 9 năm chống Pháp, Phần lớn khu vực này là vùng tự do, là hậu phương của chiến trường chính Bắc bộ Đặc biệt năm 1954, nhân dân nơi đây đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một hậu phương chiến lược; cung cấp cho chiến trường hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, hàng chục vạn chiến sĩ, hàng triệu lượt dân công, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ vĩ đại
Có thể khẳng định, nhân dân các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh vốn có truyền thống anh hùng, yêu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống anh hùng đó được nhân lên gấp bội và đó cũng là một nhân tố quan trọng
để chúng ta dành chiến thắng trên mặt trận giao thông vận tải sau này
Với những đặc điểm về tự nhiên và xã hội như trên, các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trở thành một khu vực có tầm quan trọng chiến lược trong tất cả các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta Đã nhiều lần địa bàn này trở thành hậu phương, thành nơi phòng thủ chiến lược để đánh tan các cuộc xâm lăng của kẻ thù Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tính chiến lược của địa bàn này lại càng rõ hơn, nơi đây là thành luỹ để che chắn cho miền Bắc Kẻ thù đã nhiều lần đưa biệt kích, bọn phản động ra Bắc hoạt động đã
bị nhân dân nơi đây kịp thời ngăn chặn, giữ vững an ninh Như vậy, địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh là bức tường phía Nam trong cuộc đấu tranh chống
đế quốc Mỹ; là cầu nối để chúng ta chi viện cho cách mạng miền Nam Kẻ thù coi đây là cái “cuống nhau”, “cuống phễu” chúng điên cuồng đánh phá hòng cắt đứt con đường huyết mạch này
Đối với Đông Dương, các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh là đầu
Trang 31mối quan trọng của chiến trường Lào và chiến trường Campuchia, nhiều lần Việt Nam đã chi viện cho chiến trường nước bạn thông qua hệ thống giao thông vận tải nơi đây
Đối với sự nghiệp cách mạng chung của cả nước, khu vực Thanh Hóa đến Vĩnh Linh là nơi đấu trí, đấu sức giữa hai miền; đây vừa là hậu phương nhưng cũng vừa là tiền tuyến Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, khu vực này trở thành tuyến lửa của cả nước, các địa phương nơi đây trở thành “túi bom”, trở thành nơi kẻ thù triển khai các âm mưu thâm độc, các loại vũ khí tối tân và cũng
là nơi để chúng ta chứng minh sức mạnh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam
Trên thực tế, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam được quyết định bởi
sự chi viện từ miền Bắc, sự chi viện Bắc- Nam lại phụ thuộc rất lớn vào công tác đảm bảo giao thông vận tải ở địa bàn Thanh Hóa đến Vĩnh Linh; do đó, công tác giao thông vận tải chi viện ở đây có vai trò đặc biệt quan trọng Đây vừa là nơi vận chuyển, vừa là nơi cung cấp và cũng là nơi tập kết hàng hoá (thành chân hàng) để miền Bắc chi viện cho miền Nam
Như vậy khu vực Thanh Hóa đến Vĩnh Linh là một địa bàn có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa chiến lược, trọng yếu trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đây là địa bàn mang tính sống còn của cách mạng Việt Nam, là cầu nối giữa hai miền Nam - Bắc, là cửa ngõ của chiến trường Đông Dương Khu vực này là điểm chốt quan trọng trong
hệ thống mạch máu giao thông vận tải của nước ta, là địa bàn mang tính chiến lược trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước
1.1.2 Thực trạng và chủ trương khôi phục hệ thống giao thông vận tải
từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong thời gian 1954 - 1964
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như nhiều địa phương khác trên
cả nước hệ thống giao thông vận tải ở các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh bị hư hỏng nặng nề, không đáp ứng được nhu cầu đi lại cũng như yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của nhân dân Hệ thống đường sá nơi đây vốn
đã lạc hậu lại lâu ngày không được tu sửa nên việc đi lại rất khó khăn Tuyến đường sắt do thực dân Pháp xây dựng đã bị tháo gỡ gần hết để thực hiện chính sách “tiêu thổ kháng chiến” và lấy nguyên vật liệu cho nhân dân làm vũ khí kháng chiến, các tuyến đường bộ lớn cũng bị đào phá để chống cơ giới địch, sau khi kháng chiến thành công nhân nhân nơi đây lại chưa có điều kiện để sửa chữa nên hầu như các phương tiện cơ giới hoạt động đều rất khó khăn, nhân dân chủ
Trang 32yếu đi bộ hoặc xe thô sơ, chỉ cơ quan cấp tỉnh, các đơn vị quân đội hay cơ quan Trung ương mới có xe cơ giới, khả năng vận tải rất kém Các tuyến đường sông, bến cảng không được nạo vét, tu sửa trong nhiều năm nên bị bồi cạn, hư hỏng không sử dụng được; hệ thống đường dây điện thoại dùng để vận chuyển thông tin thì sau khi thực dân Pháp rút lui đã bị tê liệt hoàn toàn và đường ống để dẫn chất lỏng thì ở khu vực này hoàn toàn không có
Sau chiến tranh, dù đã hết sức nỗ lực để khắc phục thực trạng trên nhưng sau 2 năm xây dựng Bộ Chính trị đã đánh giá tổng thể về hệ thống giao thông vận tải của của miền Bắc nói chung cũng như của khu vực Thanh Hóa đến Vĩnh Linh nói riêng (tính đến năm 1957) là: “hiện nay đường sá của ta tuy mật độ cao nhưng phần lớn đều tập trung ở đồng bằng, đường thì nhỏ, cầu thì yếu, không phù hợp với yêu cầu của chiến tranh hiện đại và của một bộ đội có trang bị tương đối nặng” [68, tr.235]
Đây là một nhận định chính xác về tình hình giao thông vận tải của nước
ta sau kháng chiến chống Pháp Tuy đảm bảo được vấn đề vận tải, chi viện trong
9 năm kháng chiến nói chung và chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng nhưng điều
đó không có nghĩa là giao thông vận tải của miền Bắc đã đảm bảo Trên thực tế, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phương thức vận tải của Việt Nam rất thô sơ, phương tiện là xe thồ và sức người là chính Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, hệ thống giao thông vận tải cũ kỹ đó không còn đáp ứng đủ nhu cầu chiến tranh nữa Đế quốc Mỹ là kẻ hiếu chiến và có phương tiện chiến tranh hiện đại vào loại bậc nhất, để vượt qua sự phong toả của Mỹ thì việc nâng cấp
hệ thống giao thông vận tải để sử dụng các phương tiện cơ giới là điều hết sức cần thiết
Để thấy rõ hơn bức tranh toàn cảnh về hiện trang hệ thống giao thông vận tải của khu vực Thanh Hóa đến Vĩnh Linh trong những năm 1954 - 1964 chúng
ta cần tìm hiểu rõ thực trạng từng địa phương, cụ thể như sau:
Thanh Hoá là một địa bàn hết sức quan trọng trong kháng chiến chống Pháp nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng và phương tiện giao thông vận tải nơi đây rất thấp kém Sở Giao thông vận tải Thanh Hoá đã tự đánh giá như sau:
Về hệ thống giao thông đường bộ, “sau cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân pháp, hệ thống giao thông vận tải Thanh Hóa gần như bị tê liệt Đường sá, cầu cống hầu hết bị hư hỏng, phương tiện vận tải chủ yếu là của tư nhân Lúc này Thanh Hóa chỉ còn vài xe ô tô ca chở khách của tư nhân chạy
Trang 33bằng khí than” [126, tr.68] Về giao thông đường thủy: “Đường thủy lại càng gặp khó khăn, dòng sông, cửa lạch bị phù sa bồi lấp cũng không hoạt động được lực lượng vận tải quốc doanh chưa hình thành mà chỉ có lực lượng vận tải thủy của tư nhân với một số thuyền nhỏ chở hàng hóa, 4 - 5 chiếc ca nô, 10 chiếc đò dọc chở khách chủ yếu là người buôn bán giao lưu giữa các chợ phiên” [126, tr.68]
Như vậy, sau nhiều năm chiến tranh hệ thống đường sá, xe cộ ở Thanh Hóa bị như hỏng nặng Các tuyến giao thông chủ yếu là đường đất phát triển
tự phát, không đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân cũng như an ninh quốc phòng
Nghệ An là địa phương có truyền thống anh hùng cách mạng, là địa bàn quan trọng trong kháng chiến chống Pháp nhưng sau 1954 thực trạng kinh tế của Tỉnh nói chung và thực trạng hạ tầng cơ sở giao thông vận tải nói riêng, gặp rất nhiều khó khăn Trong Hội nghị tổng kết năm 1956, Tỉnh uỷ Nghệ An nêu rõ:
“Giao thông vận tải gặp khó khăn, đường sá hỏng nhiều, xe ôtô đầu năm có 65 chiếc nay còn 9 chiếc, các xe hỏng không có phụ tùng thay thế các xe thô sơ cũng hư hỏng nhiều, lại thiếu các vật liệu, phụ tùng thay thế vận tải bị ách tắc” [124, tr.51]
Cũng như Nghệ An, Hà Tĩnh là địa phương có truyền thống anh hùng, là cái nôi của cách mạng và sau 1954, kinh tế xã hội của tỉnh cũng hết sức khó khăn Sau khi hoà bình lập lại, bên cạnh những khó khăn về kinh tế Hà Tĩnh đồng thời đứng trước thực trạng hạ tầng cơ sở, phương tiện vân tải lạc hậu, nghèo nàn Toàn tỉnh chỉ có vài xe ôtô, phương tiện đi lại chủ yếu là xe thô sơ và
đi bộ; các tuyến đường do lâu ngày không được nâng cấp, sửa chữa nên cũng bị
hư hỏng nặng, các bến cảng hầu như không hoạt động
Địa bàn cuối cùng của miền Bắc là khu vực Quảng Bình và Vĩnh Linh Hiệp định Giơnevơ đã tạm chia cắt đất nước ta thành hai miền Nam - Bắc và giới tuyến phân chia là vĩ tuyến 17 Do có sự phân chia đó, huyện Vĩnh Linh của tỉnh Quảng Trị được giải phóng, phần còn lại của tỉnh Quảng Trị thuộc Việt Nam Cộng hòa Nắm vững đặc điểm cũng như vai trò, vị trí quan trọng của huyện Vĩnh Linh, ngày 28/5/1955, Trung ương Đảng ra Nghị quyết 16/NQTW, quyết định thành lập Đảng
ủy khu vực Vĩnh Linh Tiếp đó ngày 16/6/1955, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định
số 551/TTg thành lập đặc khu Vĩnh Linh, nghị định có đoạn: “khu vực Vĩnh linh
Trang 34của tỉnh Quảng Trị từ đây được tổ chức thành một đơn vị hành chính riêng ngang với một tỉnh, dưới sự chỉ đạo của chính phủ Trung ương” [8, tr.81] Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, tỉnh Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về kinh tế Trên thực tế, hệ thống giao thông vận tải của Quảng Bình và Vĩnh Linh lúc này còn lạc hậu, khó khăn hơn cả các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
độ chuyên môn về xây dựng hệ thống giao thông nên mọi việc lúc này gần như xuất phát từ số không Việc xây dựng một hệ thống giao thông vận tải đáp ứng được nhu cầu đi lại, chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
là một thử thách không nhỏ đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân
Trước thực trạng khó khăn đó, trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh, Đảng đã có những chủ trương chỉ đạo quân và dân nơi đây nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục hệ thống
giao thông vận tải
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của hệ thống giao thông vận tải, để giải quyết khó khăn, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn
mới, Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khóa II (3/1957) chỉ đạo: “Chú trọng phát
triển các đường giao thông, đặc biệt là những đường giao thông chiến lược ở hậu phương, và có kế hoạch xây dựng từng bước các kiến trúc quốc phòng ” [68, tr.199] Tuy vậy trong quá trình phát triển không được xây dựng một cách ồ ạt mà: “Cần kết hợp nhu cầu kinh tế với nhu cầu quốc phòng mà sửa chữa những con đường chiến lược đi thông với nước bạn và đi qua nội địa các quân khu, những con đường chiến dịch cần thiết cho mỗi quân khu và một số con đường vận chuyển thường, đường sắt thì cần phát triển Một số đường sông cũng cần sửa lòng sông” [68, tr.235]
Đây là sự chỉ đạo mang tính vĩ mô, chiến lược nhưng cũng hết sức cụ thể;
là định hướng quan trọng để nhân dân cả nước nói chung cũng như nhân dân khu vực Thanh Hóa đến Vĩnh Linh nói riêng bắt tay vào việc khôi phục và xây
Trang 35dựng, nâng cấp hệ thống giao thông Việc kết hợp giữa giao thông vận tải phục
vụ nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng là một chủ trương hết sức đúng đắn Chủ trương đó vừa đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế, nhu cầu đi lại của nhân dân sau chiến tranh, vừa đáp ứng được đòi hỏi của việc củng cố và tăng cường an ninh, quốc phòng Thời kỳ này, mỗi khi xây mới một công trình giao thông, Đảng đều chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tính toán sao cho ngoài việc phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế công trình đó còn phải đảm bảo tính chiến lược, hợp lý khi có chiến tranh nổ ra
Năm 1959, để tránh thế độc đạo trong việc di chuyển từ bắc vào nam trên quốc lộ 1A, Đảng đã chỉ đạo quân đội và nhân dân xây dựng tuyến đường 15A
từ Hòa Bình vào tận Vĩnh Linh Đặc biệt, để đảm bảo cho công tác chi viện vào chiến trường miền Nam, tháng 5 năm 1959, Tổng Quân uỷ đã quyết định thành lập một đơn vị chuyên trách công tác giao thông vận tải, đó là Đoàn 559 Đoàn 559 lúc bấy giờ có tên là “Đoàn công tác quân sự đặc biệt”, có nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng hoá quân sự vào miền Nam và đưa đón cán bộ, liên lạc giữa hai miền Nam - Bắc Ngay khi mới thành lập, Đoàn 559 hoạt động rất hiệu quả và địa bàn chính của đơn vị này chính là các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh
Như vậy, ngay sau kháng chiến chống Pháp, Đảng đã tích cực chỉ đạo công tác khôi phục và phát triển hệ thống giao thông vận tải theo hướng kết hợp nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội với nhu cầu quốc phòng Chủ trương đó được các đảng bộ địa phương tiếp thu và nhanh chóng triển khai
Ngay từ khi hoà bình được lập lại, Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đã tích cực chỉ đạo khôi phục kinh tế, việc khôi phục hệ thống giao thông vận tải là một nội dung quan trọng trong công tác khôi phục kinh tế của Tỉnh Vào thời điểm đó,
hạ tầng cơ sở và phương tiện giao thông vận tải của tỉnh Thanh Hoá rất thấp kém Sau nhiều năm chiến tranh hệ thống đường sá bị như hỏng nặng Các tuyến giao thông chủ yếu là đường đất phát triển tự phát, vì vậy việc đi lại rất khó khăn (chủ yếu vẫn là đi bộ) toàn tỉnh chỉ có vài ôtô chở khách cũ kỹ chạy bằng khí than của một số tư nhân Trước thực trạng đó, thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ Thanh Hoá đã coi nhiệm vụ khôi phục giao thông vận tải là một công tác trọng điểm, cần được ưu tiên làm trước Đảng bộ Thanh Hoá chủ trương: “Nhanh chóng khôi phục lại hệ thống Giao thông vận tải Tích cực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mới phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế
Trang 36xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam” [126, tr.68]
Để thực hiện tốt chủ trương trên, Ty giao thông vận tải của tỉnh Thanh
Hoá đã đề ra 5 nhiệm vụ của công tác giao thông vận tải là: “Vận tải phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cho thương mại, cho KTCB (kinh tế cơ bản - TG) và quốc phòng an ninh” [126, tr.79] Trên cơ sở nắm vững chủ trương của Đảng, quân và dân Thanh Hóa đã thực hiện nhiều biện pháp quan trọng để khôi phục và phát triển hệ thống giao thông của tỉnh Nhiệm vụ khôi phục và xây dựng đường sá được giao cụ thể tới từng cơ quan, ban, ngành trong tỉnh, ngoài ra Thanh Hóa còn rất chú trọng tới việc phát triển các phương tiện vận tải thô sơ để phục vụ nhu cầu trước mắt
Việc đề ra nhiệm vụ cụ thể cho công tác khôi phục giao thông vận tải có tác dụng rất tích cực, đó chính là sự cụ thể hoá quá trình chỉ đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh trong điều kiện cụ thể của địa phương Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, hệ thống giao thông vận tải của Thanh Hoá về cơ bản đã được khôi phục xong, bắt đầu có những bước phát triển mới
Nghệ An là địa phương có truyền thống anh hùng cách mạng, là một địa bàn chiến lược trong nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Sau 1954, thực trạng hệ thống giao thông vận tải của Tỉnh rất khó khăn lạc hậu Trước tình hình
đó, việc nhanh chóng khôi phục hệ thống giao thông vận tải để phát triển kinh tế
xã hội trở thành một nhiệm vụ cấp bách Nhận thức rõ vấn đề, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã nhanh chóng có sự chỉ đạo kịp thời, sát sao để quân và dân Nghệ
An gấp rút phục hồi, củng cố tình hình giao thông trên địa bàn tỉnh Quá trình phục hồi và xây dựng các công trình phục vụ giao thông vận tải của tỉnh Nghệ
An thời kỳ này về cơ bản cũng giống như các địa phương khác trên phạm vi cả nước Đó là sự kết hợp giữa việc xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế xã hội với việc xây dựng các công trình đảm bảo an ninh quốc phòng Nói cách khác, mỗi công trình giao thông vận tải phải đảm bảo được cả hai yêu cầu phục vụ kinh tế và quốc phòng Tinh thần đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đảng bộ Nghệ An lần thứ 10 (vòng 2), tháng 3 năm 1961 với nội dung toàn Tỉnh quyết tâm Ra sức đẩy mạnh sản xuất, chủ trọng củng cố hệ thống giao thông vận tải làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà
Cũng như Nghệ An, sau năm 1954 Hà Tĩnh là địa phương có hệ thống giao thông vận tải lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và
Trang 37quốc phòng Nhưng với truyền thống anh hùng cách mạng của mình, Đảng bộ
Hà Tĩnh đã nhanh chóng đã nhanh chóng lãnh đạo quần chúng nhân dân khôi phục lại hệ thống đường sá, cầu, cảng nhằm phát triển kinh tế và làm cơ sở cho cuộc kháng chiến chống Mỹ Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương cũng như nắm rõ tình hình và thực trạng giao thông vận tải trên địa bàn, Đảng
bộ Hà Tĩnh đã chủ trương sửa chữa một số tuyến đường chính, lấy đó làm nền tảng để khôi phục kinh tế, phục vụ đời sống dân sinh; sau đó, khi các tuyến đường chính đã được sửa chữa xong, các đơn vị xây dựng mới tiếp tục thi công sửa chữa các tuyến đường còn lại Như vậy, Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh đã chia ra từng bước với các nhiệm vụ cụ thể để cải tạo hệ thống giao thông vận tải Thực hiện tốt sự chỉ đạo của Trung ương, công tác phục hồi và xây dựng các công trình giao thông vận tải của Hà Tĩnh thời kỳ này được quy hoạch và triển khai thực hiện bằng những biện pháp hiệu quả, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng Như vậy, cũng giống như các địa phương khác trong cả nước, việc lãnh đạo công tác khôi phục giao thông vận tải của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ 1954-1964 chủ yếu là phục vụ nhu cầu kinh tế nhưng bên cạnh đó các công trình cũng được quy hoạch để luôn đảm bảo
an ninh, quốc phòng
Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh là hai địa phương phía Nam của miền Bắc Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, tỉnh Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh không những gặp rất nhiều khó khăn trong việc khôi phục hệ thống giao thông vận tải mà gặp khó khăn trong mọi lĩnh vực Tuy vậy, với tinh thần yêu nước Đảng bộ các cấp của tỉnh Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh đã nhanh chóng đề
ra những chủ trương và giải pháp cụ thể để khôi phục và phát triển hệ thống giao thông vận tải
Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ V (8/1963) của Đảng bộ Tỉnh Quảng Bình ghi rõ: “Phải tăng thêm phương tiện vận tải đường bộ và đường thuỷ, kết hợp chặt chẽ giữa thô sơ và cơ giới, tăng cường việc bảo quản và sửa chữa tốt các đường giao thông vận tải trong tỉnh, mở thêm một số đường mới ở một số khu vực kinh tế mới và miền núi, nạo vét các lạch và xúc tiến việc xây dựng cảng sông Gianh để phục vụ kinh tế và quốc phòng Phát triển mạnh việc vận tải đường thuỷ, hướng dẫn các hợp tác xã cải tiến các phương tiện vận chuyển, xây dựng đường giao thông nông thôn ” [125, tr.123]
Trang 38Quán triệt đường lối của Đảng, nhiều cơ quan, ban ngành của hai địa phương trên đã ra sức khôi phục, xây dựng hệ thống giao thông vận tải trên địa bàn Nhiều tuyến đường mới được xây dựng, nhiều đoạn sông, kênh được nạo vét, tạo sự đi lại thuận lợi cho thuyền bè Các tuyến đường liên huyện, liên xã được tu sửa và mở rộng Nhờ những giải pháp đồng bộ, huy động được công sức, lòng nhiệt tình và sự sáng tạo của đông đảo nhân dân, trong những năm 1954-1964 Quảng Bình và Vĩnh Linh đã xây dựng được một hệ thống giao thông vận tải khá cơ bản Đặt trong điều kiện là vùng đất “cực nam” của địa bàn miền Bắc thì những kết quả khôi phục, phát triển giao thông vận tải trong giai đoạn này ở Quảng Bình và Vĩnh Linh đã tạo điều kiện nền tảng cho công tác chi viện sau này
Năm 1960, Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm Quảng Bình, Vĩnh Linh; sau khi kiểm tra thực địa, nghe cán bộ cơ sở báo cáo về tiến độ việc xây dựng đường 15 đoạn qua Quảng Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích nguy
cơ địch phong toả đường 15 và chỉ đạo rõ: “Ta phải có đường vượt Trường Sơn
đi xuống đường 9, như vậy kẻ địch có nham hiểm đến mấy đi nữa cũng không thể ngăn cản sự chi viện ngày càng tăng của miền Bắc kéo vào miền Nam” [125, tr.118] Như vậy trong quá trình khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội cũng như phục hồi và xây dựng hệ thống giao thông vận tải, Quảng Bình và Vĩnh Linh luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng
Qua phần trình bày trên, có thể khẳng định rằng ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung ương Đảng cũng như các Đảng bộ địa phương
ở khu vực Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã rất quan tâm đến công tác giao thông vận tải Đường lối chỉ đạo chung nhất của công tác giao thông vận tải thời kỳ này là kết hợp nhu cầu phát triển kinh tế với nhu cầu quốc phòng Đây là một chủ trương hết sức đúng đắn, cùng lúc giải quyết được cả vấn đề trước mắt và vấn đề lâu dài Nhờ
có chính sách này nên quân và dân nơi đây đã từng bước khôi phục lại được hệ thống giao thông vận tải, vấn đề đi lại được đảm bảo Bên cạnh đó, bước đầu khu vực này đã xây dựng được một số tuyến đường mang tính chiến lược để chuẩn bị cho công tác chống chiến tranh phá hoại sau này Các địa phương gần Trung ương như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trong quá trình xây dựng các tuyến giao thông vận tải tuy đã quan tâm đến công tác quốc phòng nhưng vẫn lấy việc phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội làm trọng Trong khi đó, các địa phương gần đối
Trang 39phương như Quảng Bình, Vĩnh Linh, do tiếp giáp với khu phi quân sự (vĩ tuyến 17) nên đã sớm mở các tuyến giao thông vận tải chiến lược, chi viện cho miền Nam
Chấp hành sự chỉ đạo của Trung ương, các đảng bộ địa phương trên địa bàn từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã đưa ra nhiều chủ trương cụ thể để khôi phục và từng bước xây dựng hệ thống giao thông vận tải, phục vụ công tác chi viện tiền tuyến
Quá trình khôi phục hệ thống giao thông vận tải được bắt đầu bằng việc chỉ đạo sửa chữa lại các tuyến đường Ngay từ những ngày đầu từ khi hoà bình lập lại, ngành giao thông vận tải và nhân dân khu vực từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đã mở các chiến dịch san lấp mặt đường Thanh Hoá là một trong những địa phương làm rất tốt công tác này Sau khi họp bàn cụ thể, Đảng bộ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã huy động hàng vạn ngày công của nhân dân bên đường Quốc lộ 1A tham gia vào công tác khôi phục mặt đường và chỉ sau 10 ngày 100 km tuyến Quốc lộ 1A đoạn qua địa bàn của tỉnh Thanh Hoá đã được san lấp xong, chất lượng mặt đường được cải thiện rõ rệt, góp phần quan trọng vào quá trình phục hồi kinh tế sau chiến tranh Tuy vậy, vẫn còn những đoạn đường quá xấu, công tác khôi phục cải tạo gặp rất nhiều khó khăn, điển hình là
30 km đường chạy qua huyện Tĩnh Gia Đoạn đường này bị lún nặng, mặt đường đầy các “ổ gà”, tốc độ ôtô trung bình chỉ đạt 5 km/h Trước tình hình đó,
Ty Giao thông vận tải Thanh Hoá đã có sáng kiến dùng cuốc và cào răng ở xe ủi xới tung mặt đường, trộn thêm đá dăm, đất sét, sau đó tưới nước và dùng xe lu lèn đều Nhờ sáng kiến đó, chất lượng mặt đường phần nào được cải thiện; tốc
độ di chuyển của xe cao hơn
Ở Nghệ An và Hà Tĩnh, công tác chỉ đạo sửa chữa các tuyến đường cũng được các đảng bộ nhanh chóng chỉ đạo tiến hành và đạt được nhiều thành tích đáng kể Cũng như Thanh Hoá, đảng bộ hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã chỉ đạo mở các chiến dịch san lấp mặt đường với khẩu hiệu đầy quyết tâm “Ướt áo
để ráo đường” Với khí thế ấy, chỉ sau một thời gian ngắn, tuyến quốc lộ 1A đi qua địa bàn Nghệ - Tĩnh đã được san lấp xong, đảm bảo nhu cầu đi lại, vận chuyển của nhân dân Đảng bộ hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh còn rất quan tâm đến công tác giao thông ở nông thôn Hệ thống đường liên huyện, liên xã cũng được chỉ đạo nhanh chóng sửa chữa, phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất nông nghiệp, lưu thông
Ở Quảng Bình và Đặc khu Vĩnh Linh, tuyến Quốc lộ 1A từ đèo Ngang
Trang 40đến tận cầu Hiền Lương cũng được các cấp bộ đảng chỉ đạo phục hồi tu bổ Tất
cả các hố “chữ chi” trên mặt đường (do ta đào hồi 9 năm chống Pháp) đều được san lấp Những đoạn đường yếu, có nguy cơ sạt lở được kè đá khá kiên cố Hệ thống đường nội tỉnh, liên xã, liên thôn cũng được sửa sang để phục vụ đời sống nhân dân Nhờ sự chỉ đạo của Đảng và quyết tâm, sáng kiến của nhân dân mà giao thông vận tải của Quảng Bình và Vĩnh Linh nhanh chóng được phục hồi, công tác san lấp mặt đường hoàn thành sớm, đảm bảo được nhu cầu đi lại
Năm 1956 ngành Giao thông vận tải Quảng Bình đã phấn đấu thực hiện
kế hoạch kế hoạch xây dựng phát triển giao thông, kết quả đạt 164% so với chỉ tiêu đề ra Năm 1960, Bộ Giao thông vận tải quyết định mở bến phà II sông Gianh ở xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch Ty Giao thông vận tải Quảng Bình còn quyết định thành lập Công trường xây dựng cơ bản để củng cố và mở rộng các tuyến đường nội tỉnh
Cùng với việc san lấp, sửa chữa mặt đường là công tác củng cố, xây dựng cầu phà Sau 9 năm kháng chiến, phần lớn cầu phà ở khu vực từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh đều bị như hỏng nặng, nhiều nơi bị đứt gãy gây ách tắc giao thông
Để khắc phục vấn đề đó, nhân dân nơi đây đã nhanh chóng lập các đội sửa chữa cầu phà Các địa phương nơi đây là vùng có nhiều sông suối, bởi vậy công tác đảm bảo thông suốt gặp rất nhiều khó khăn Đối với những đoạn sông lớn như
Đò Lèn, Hàm Rồng, Ghép, Bến Thuỷ, Linh Cảm, Quán Hàu bên cạnh việc tu sửa, xây dựng cầu chúng ta còn phải chuẩn bị một số phà Nhiều phà mới, trọng tải lớn đã được đóng một cách khẩn trương để nhanh chóng thông suốt các tuyến giao thông Đối những cầu, cống nhỏ, nhân dân các địa phương đã có sáng kiến
bó các thanh ray lại (từ những đoạn đường sắt cũ, hỏng) chắp nối với những bộ phận còn tận dụng được từ cầu cũ để làm dầm cầu, xếp các thanh tà vẹt, ghim lại
và nối thành trụ cầu sau đó lát ván hoặc các tấm sắt lên để xe chạy qua Đó là những sáng kiến có giá trị, tạm thời phục vụ việc đi lại của nhân dân và vận chuyển hàng hóa Vào thời điểm sau chiến tranh, khi kinh tế còn muôn vàn khó khăn thì việc đảm bảo thông suốt các tuyến đường như trên là một sự nỗ lực lớn của các đảng bộ và nhân dân các địa phương từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh
Bên cạnh việc sửa chữa mặt đường, khôi phục cầu phà thì công tác khảo sát và mở những con đường mới cũng là một nội dung quan trọng trong công tác đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn Tháng 10/1955, dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ, nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã khởi công mở tuyến đường Thanh Hoá -