ngành tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để phục vụ cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, nghiên cứu sinh xác định mục đích nghiên cứu đề tài “Pháp luật về
Trang 1VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Như Phát
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Như Phát Các số liệu, trích dẫn được sử dụng trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và đúng quy định
Hà nội, tháng 9 năm 2015
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thái Hà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN 6 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tài chính vi mô và pháp luật về tổ chức tài chính vi mô 6 1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu của luận án 18 CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH
VI MÔ 21 2.1 Khái quát chung về tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô 21 2.2 Khái quát chung về pháp luật về tổ chức tài chính vi mô 39 2.3 Kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô 48 CHƯƠNG 3:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 58 3.1 Thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản tổ chức tài chính vi mô 58 3.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động quản trị, điều hành tổ chức tổ chức tài chính vi mô 77 3.3 Hoạt động kinh doanh cơ bản của tổ chức tài chính vi mô 102 3.4 Đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 115 CHƯƠNG 4:KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIÊT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 121 4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 121 4.2 Những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 124 KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 149 TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật các tổ chức tín dụng 2010 ra đời đã chính thức ghi nhận tổ chức tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng, đồng thời giao trách nhiệm cho Ngân hàng Nhà nước ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành một số điều quy định về loại chủ thể này Tính đến nay, Luật này đã có hiệu lực được hơn bốn năm song chưa hề có một văn bản nào về tài chính vi mô được Ngân hàng Nhà nước ban hành
để hướng dẫn thi hành Trên thực tế, tất cả các văn bản đang được sử dụng để điều chỉnh đến các tổ chức tài chính vi mô đều được ban hành vào thời điểm trước năm
2010 và được dựa trên nền tảng của Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 Thực trạng pháp luật này đã tạo ra những bất cập lớn trong việc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến
tổ chức tài chính vi mô hiện nay - kể từ việc tạo lập tổ chức mới cho đến việc thực hiện các hoạt động quản trị, điều hành cũng như hoạt động kinh doanh Cũng chính
vì lý do này nên một trong những giải pháp được nêu lên trong “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô đến năm 2020” ban hành kèm theo Quyết định
số 2195/QĐ-Ttg ngày 6/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ là: “Xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp với đặc thù của hoạt động tài chính vi mô”
Để có thể thực hiện được giải pháp trên, rất cần có những nghiên cứu chuyên sâu dưới giác độ pháp lý về tài chính vi mô cũng như tổ chức tài chính vi mô nhằm tìm
ra những cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn vững chắc làm nền tảng cho việc xây dựng pháp luật Trên thực tế, mặc dù đã du nhập vào Việt Nam từ vài chục năm trước song tài chính vi mô ít nhận được sự quan tâm từ phía các nhà khoa học pháp lý, biểu hiện ở việc có khá ít những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này
Với mong muốn tìm ra những bất cập của các pháp luật hiện hành về tổ chức tài chính vi mô góp phần xây dựng cơ sở lý luận cũng như thực tiễn cho việc khắc
phục những bất cập đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam” để thực hiện Luận án tiến sĩ luật học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trước thực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô và nhu cầu phát triển
Trang 6ngành tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để phục vụ cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, nghiên cứu sinh xác định mục đích
nghiên cứu đề tài “Pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam” là nhằm:
Thứ nhất, Đánh giá mức độ phù hợp, chưa phù hợp của các quy định pháp luật Việt Nam về tổ chức tài chính vi mô đối với tình hình thực tiễn của ngành tài chính vi mô Việt Nam;
Thứ hai, Xác định rõ ràng cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức tài chính vi mô hiện hành, tạo tiền đề cho việc xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;
Thứ ba, với những điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam hiện nay, luận
án phải đề xuất được những giải pháp, kiến nghị có đủ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay phù hợp với mục tiêu xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất, phân tích, đánh giá và làm rõ vai trò của tài chính vi mô nói chung
và tổ chức tài chính vi mô nói riêng đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;
Thứ hai, làm rõ các khái niệm có liên quan như tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, pháp luật về tài chính vi mô đồng thời xác định rõ sự cần thiết phải tồn tại các quy định của pháp luật điều chỉnh đối với các hoạt động tài chính vi mô cũng như các tổ chức tài chính vi mô;
Thứ ba, phân tích một cách khoa học, đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh đến việc thành lập, giải thể, phá sản một tổ chức tài chính vi mô nhằm tìm ra những điểm hạn chế, bất cập của các quy định này với thực trạng hiện nay của ngành tài chính vi mô;
Thứ tư, xác định rõ ràng khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh của các
tổ chức tài chính vi mô, so sánh khung pháp luật này với các hành vi kinh doanh
Trang 7của các chương trình, dự án đang cung cấp dịch vụ tài chính vi mô để qua đó xác định những hợp lý cũng như bất hợp lý của khung pháp luật này;
Thứ năm, trên cơ sở những bất cập của thực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô hiện nay và thực tiễn ngành tài chính vi mô Việt Nam đòi hỏi, phải đề xuất được những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành để điều chỉnh có hiệu quả hơn đối với các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là các văn bản pháp luật hiện hành về tổ chức tài chính vi mô và thực tiễn tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định là các vấn đề pháp lý đặt ra đối với các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam bao gồm: (i) vấn đề thành lập, tổ chức lại; phá sản và giải thể tổ chức tài chính vi mô; (ii) vấn đề quản trị, điều hành tổ chức tài chính vi mô và (iii) hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính vi mô Thời gian nghiên cứu được xác định chủ yếu từ năm 2005 – thời điểm Việt Nam chính thức có văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh đến tổ chức tài chính vi
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận án
Trên cơ sở phương pháp luận nêu trên, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá, bình luận các quy định
pháp luật, các tình huống thực tiễn làm cơ sở cho những kết luận khoa học Phương
Trang 8pháp này được sử dụng chủ yếu tại chương 2 (nhằm làm rõ những cách hiểu về các khái niệm mà luận án cần tìm hiểu và giải thích) và chương 3 (chủ yếu ở mục 3.3 nhằm đánh giá về thực trạng pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay)
Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra những kết
luận tổng quan, những quan điểm mang tính cá nhân và là cơ sở để đưa ra các đề xuất, kiến nghị Phương pháp này cũng được sử dụng trải đều trong các chương của luận án nhằm tổng hợp những nội dung đã phân tích nhằm đưa ra được những kiến thức mang tính khái quát và cả những nhận định mang tính cá nhân về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp luật học so sánh được sử dụng khi phân tích, đánh giá các quy
định của pháp luật hiện hành của Việt Nam trong mối tương quan với quy định pháp luật của các nước nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự khác biệt trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Phương này chủ yếu được sử dụng ở chương 2 (mục 2.3) nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức TCVM và chương 4 (mục 4.2) nhằm đưa ra những kiến nghị, giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Phương pháp phân tích logic quy phạm, được sử dụng khi đánh giá thực
trạng pháp luật, xem xét về tính thống nhất hoặc phát hiện mâu thuẫn trong nội dung quy định pháp luật về TCVM Phương pháp này được sử dụng ở chương 2 (mục 2.3) chương 3 nhằm phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành nhằm tìm ra những điểm hợp lý và chưa hợp lý để tìm ra phương hướng khắc phục,
đề xuất giải pháp hoàn thiện
Phương pháp nghiên cứu liên ngành, được sử dụng khi nghiên cứu, đánh giá
về vai trò của tổ chức TCVM đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo tại các mục 2.1
và 2.2 (xã hội học – luật học); về xây dựng khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM tại mục 3.3 (luật học –kinh tế học)
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đã làm rõ một số khái niệm vốn đang được tiếp cận rất khác nhau trong thực tế như tài chính vi mô, tổ chức tài chính vi mô, pháp luật về
Trang 9tài chính vi mô, pháp luật về tổ chức tài chính vi mô
Thứ hai, làm rõ bản chất và nêu lên những đặc trưng pháp lý cơ bản của tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô;
Thứ ba, nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay qua đó xây dựng cơ sở lý luận của lĩnh vực pháp luật này;
Thứ tư, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về
tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Với tư cách là một nghiên cứu chuyên sâu dưới giác độ luật học, luận án đã phân tích, đánh giá một cách đầy đủ và hệ thống đối với thực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam qua đó, làm rõ cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn của lĩnh vực pháp luật này Chính vì vậy, luận án đã thể hiện được ý nghĩa khoa học của mình khi những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực pháp luật này
Ngoài ra, về mặt thực tiễn,những kiến nghị được đưa ra trong luận án được xây dựng trên cơ sở lý luận chặt chẽ và có kiểm chứng thực tế nên hoàn toàn có thể được sử dụng như một nguồn tham khảo tin cậy trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tài chính vi mô cũng như về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7 Cơ cấu của luận án
Để hoàn thành được nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, ngoài phần lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án sẽ được bố cục thành bốn (04) chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận của pháp luật về tổ chức tài chính vi mô
Chương 3: Thực trạng pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tài chính vi mô và pháp luật về tổ chức tài chính vi mô
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Thực tiễn thế giới đã cho thấy vai trò của TCVM trong công cuộc xóa đói giảm nghèo là vô cùng to lớn Vai trò này không chỉ thể hiện ở các nước đang phát triển mà thậm chí còn ở cả các nước phát triển như Mỹ, Canada… Chính bởi tầm quan trọng của lĩnh vực này đối với xã hội nên trong suốt thời gian vừa qua, có khá nhiều các công trình nghiên cứu về TCVM đã được thực hiện ở khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện theo hai hướng chính: (i) Các nghiên cứu nhằm tìm các giải pháp phát triển hoạt động TCVM và (ii) các nghiên cứu về những đóng góp và mức độ tác động của TCVM đối với hoạt động xóa đói, giảm nghèo Qua khảo sát tình hình nghiên cứu về TCVM có thể mô tả tổng quan tình hình nghiên cứu về lĩnh vực này như sau:
1.1.1.1 Nhóm những nghiên cứu đánh giá mức độ ảnh hưởng của tài chính vi
mô đối với hoạt động xóa đói giảm nghèo
Bên cạnh những nghiên cứu dưới góc độ kinh tế nêu trên, TCVM còn được nghiên cứu dưới một góc độ khác, đó là góc độ xã hội Điều này xuất phát từ đặc thù của hoạt động TCVM không phải chỉ là hoạt động kinh doanh đơn thuần mà luôn có hai mục đích song song tồn tại là: (i) tìm kiếm lợi nhuận để tồn tại bền vững và (ii) tương trợ giúp đỡ những người có thu nhập thấp trong xã hội Dưới góc độ này, có thể
kể đến các công trình nghiên cứu sau đây:
Trước hết, cần phải khẳng định rằng trong các nghiên cứu và báo cáo do ADB thực hiện, bên cạnh những phân tích, đánh giá về việc thực hiện các nghiệp vụ TCVM thì việc đánh giá về tác động của TCVM đối với công cuộc xóa đói, giảm nghèo cũng đặc biệt được chú trọng Cũng chính bởi vai trò này nên tổ chức này luôn dành những nguồn lực tài chính nhất định cho các quốc gia đang phát triển – nơi mà tỷ lệ người nghèo vẫn còn ở mức rất cao – để các quốc gia này có điều kiện xây dựng và phát triển
Trang 11ngành TCVM
Các nghiên cứu của Meyer và Nagarajan năm 1992 “Đánh giá vai trò của tài chính phi chính thức trong quá trình phát triển” (An assessment of the role of informal
finance in the development process) [92]
Nghiên cứu của Hulme D và Mosley P vào năm 1996 với tựa đề “Tài chính cho người nghèo hay những người nghèo nhất? Đổi mới về tài chính cho người nghèo
và dễ tổn thương” (Finance for the poor or poorest? Financial Innovation, Poverty and
Vulnerability) đưa ra những phân tích, đánh giá về mức độ tiếp cận của TCVM đến đối tượng nào trong xã hội, qua đó khẳng định tầm quan trọng của TCVM đối với những đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội [81]
M Zeller và L Meyer trong tác phẩm “Tam giác tài chính nông thôn: bền vững tài chính, sự tiếp cận và tác động” (The triangle of rural finance: Financial
sustainability, outreach, and impact) [114] trong năm 2002 đã đưa ra khung tam giác cho việc đánh giá sự phát triển hoạt động của các tổ chức TCVM nông thôn
Các nghiên cứu của Mohammat Yunus vào các năm 2003 về “Giảm phân nửa nghèo đói vào năm 2015” [66] và năm 2005 “Mở rộng tài chính vi mô để đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” (Expanding Microcredit to Reach the Millennium
Development Goal) [110] khẳng định thêm tầm quan trọng của TCVM nói chung và tài chính nông thôn nói riêng đối với vấn đề giảm đói nghèo và đạt mục tiêu thiên niên
kỷ do Liên hiệp quốc đề ra
Năm 2009, Chowdhury Annis khi thực hiện nghiên cứu “TCVM, một công cụ giảm nghèo – Một phương pháp đánh giá” (Microfinance as a Poverty Reduction Tool
– A Critical Assesment) [74] đã đánh giá khá chi tiết và đầy đủ về vai trò của TCVM với tính cách là một phương thức xóa đói, giảm nghèo hiện nay và qua đó, khẳng định tầm quan trọng của lĩnh vực này đối với mỗi một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển
Năm 2012, Olle Berggren có công trình: “Tác động của các tổ chức không chính thức có cung cấp dịch vụ TCVM” (The Impact of Informal Institution on
1 Ví dụ, năm 2013 ADB dành cho Việt Nam khoản viện trợ trị giá 40 triệu USD để phát triển TCVM ở Việt Nam Nguồn: NH phát triển Châu Á, Chương trình phát triển TCVM đến năm 2015
Trang 12Microfinance Performance) [97], đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức không được gọi là tổ chức TCVM nhưng có cung cấp dịch vụ TCVM đến thị trường TCVM cũng như đến xã hội trong giai đoạn 2003 đến 2010 trên 72 quốc gia trên thế giới
1.1.1.2 Nhóm nghiên cứu về các giải pháp phát triển hoạt động tài chính vi mô
Thực tế cho thấy, có khá nhiều những nghiên cứu đã được thực hiện theo hướng đánh giá về thực trạng hoạt động của các tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM; phân tích các yếu tố tác động đến sự tồn tại và phát triển của TCVM và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp giúp hoạt động TCVM có thể phát triển hơn nữa, cả vể chiều rộng và chiều sâu Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Trước hết, cần phải kể đến các công trình nghiên cứu do NH phát triển Châu Á (ADB) chủ trì trong suốt những năm vừa qua nhằm khuyến nghị những giải pháp phát triển hoạt động TCVM ở các nước đang phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương Có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu như: “Tài chính cho người nghèo: Chiến lược TCVM của ADB” (Finance for the poor: ADB Microfinance Strategies);
“Chính sách và tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật cho việc thực hiện chương trình phát triển TCVM của Việt Nam” (Policy and Advisory Technical Assistance to Vietnam’s
Implementation of Microfinance Development Program) [69,71] Những giải pháp được đưa ra trong các nghiên cứu của ADB không chỉ dừng lại ở việc nâng cao nghiệp
vụ hoạt động, tìm kiếm các giải pháp nhằm làm giảm chi phí…mà còn là cả những giải pháp dưới góc độ pháp lý – coi việc tạo dựng và duy trì một chính sách phù hợp, một khung pháp luật ổn định là điều kiện cần cho việc phát triển TCVM ở các nước đang phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Năm 1994, Rhyne E và Otero M có tác phẩm “Những dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp siêu nhỏ: Những nguyên tắc và tổ chức” (Financian Services For
Microenterprises: Principles and Institutions) [100] Nghiên cứu này đã chỉ ra sự cần thiết phải tồn tại hoạt động TCVM để cung cấp các dịch vụ tài chính cho những người nghèo, người có thua nhập thấp và các doanh nghiệp siêu nhỏ Bên cạnh đó, các tác giả cũng nêu ra những nguyên tắc căn bản trong việc xây dựng tổ chức và tiến hành các hoạt động kinh doanh của các tổ chức cung ứng dịch vụ TCVM nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động này
Trang 13Trong tác phẩm “Từ tín dụng nông nghiệp đến tài chính nông thôn” (From
Agricultural Credit to Rural Finance) viết năm 1995 [67], D.W Adams phân tích quá trình hình thành các Tổ chức TCVM nông thôn từ các chương trình tín dụng nông nghiệp và các nhân tố tác động tới quá trình này Theo ông, sự đặc thù của tín dụng nông nghiệp và môi trường sống của những người làm nông nghiệp chính là yếu tố căn bản đã làm xuất hiện các hoạt động TCVM nông thôn
Nghiên cứu của Meyer và Nagarajan năm 2000 “Thị trường tài chính nông thôn ở Châu Á: Các chính sách, mô hình và hoạt động” (Rural Financial Markets in
Asia: Policies, Paradigms, and Performance) [91] đã tiến hành phân tích các đặc điểm của thị trường tài chính nông thôn ở châu Á và từ đó khẳng định, chính những đặc điểm này (đặc biệt là chi phí giao dịch cao hay thiếu tài sản bảo đảm cho các khoản vay…) đã làm cho lãi suất cho vay đối với khu vực nông thôn bị tăng cao hơn so với khu vực đô thị Từ thực trạng đó, các tác giả cũng đưa ra những khuyến nghị về chính sách, pháp luật dành cho thị trường tài chính nông thôn đồng thời cũng nêu lên mô hình
tổ chức và phương pháp hoạt động nhằm đảm bảo thị trường tài chính châu Á có thể hoạt động có hiệu quả hơn
Hai nghiên cứu của J Yaron năm 1992 về “Các tổ chức tài chính nông thôn thành công” (Successful Rural Finance Institutions) và năm 1997 “Tài chính nông thôn: Các vấn đề, thiết kế và các kinh nghiệm tốt nhất” (Rural Finance: Issues, Design
and Best Practices) [108, 109] cũng đóng góp một phần quan trọng vào lý thuyết về phát triển các Tổ chức TCVM, đặc biệt là các tổ chức TCVM ở nông thôn Bên cạnh việc rút ra những bài học kinh nghiệm cho hoạt động xây dựng và phát triển các tổ chức TCVM nông thôn thì tác giả còn đưa ra các quan điểm và phương pháp đánh giá tác động của các tổ chức tài chính vi mô nông thôn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cộng đồng
Với tác phẩm “Cẩm nang tài chính nông thôn: Khía cạnh thể chế và tài chính”
(Rural Finance Handbook, An Institutional and Financial Perspective) viết năm 1999 [87], J Ledgerwood đã tổng kết lại những vấn đề then chốt nhất cũng như những yếu
tố có tác động lớn đến hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô nông thôn Công trình này chủ yếu đề cập đến việc phát triển các tổ chức TCVM ở môi trường nông
Trang 14thôn thông qua việc phát triển các sản phẩm mà TCVM cung ứng
M Zeller trong tác phẩm “Mô hình cho các thể chế tài chính nông thôn”
(Models of Rural Financial Institutions) [115] được viết làm tham luận chủ chốt cho hội thảo quốc tế về tài chính nông thôn năm 2003 đã tập trung phân tích về đặc trưng của các tổ chức TCVM nông thôn, tổng kết và rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển hoạt động các tổ chức TCVM nông thôn Trong bài viết này, Zeller cho rằng, Luật pháp cũng là một yếu tố quan trọng cho việc tồn tại và phát triển của các tổ chức TCVM ở nông thôn
Cũng trong năm 2003, D Steinwand có công trình nghiên cứu với tiêu đề
“Thách thức của sự tiếp cận bền vững: Kinh nghiệm của năm quốc gia châu Á” (The
challenge of sustainable outreach: Five case studies from Asia) [106] tổng kết các kinh nghiệm từ năm quốc gia châu Á trong việc phát triển các hoạt động tài chính ở nông thôn, trong đó có các hoạt động TCVM
Jonathan Morduch năm 2008 có nghiên cứu “Người nghèo nuôi sống TCVM như thế nào?” (How can the poor afford microfinance?) [94] đã tiến hành phân tích
bản chất việc tự vững của TCVM khi cung ứng các dịch vụ tài chính cho người nghèo
là việc áp dụng mức lãi suất cho các khoản vay dành cho người nghèo cao hơn so với mặt bằng lãi suất của thị trường
Năm 2009, Dilin Lim với Luận văn Thạc sĩ: “Những thách thức trong thực tiễn đối với các tổ chức TCVM” (Practical Challenges of Microfinance Institutions) [78] đã
phân tích, đánh giá các mô hình TCVM trên thế giới và mức độ tiếp cận đến người nghèo trong xã hội của từng mô hình này Tác giả của công trình này cũng đã đưa ra những khuyến nghị hết sức hữu ích cho việc phát triển các tổ chức TCVM như tạo dựng môi trường pháp lý ổn định; tăng độ sâu tiếp cận và mở rộng những sản phẩm cung ứng của các tổ chức TCVM…
Ledgerwood Joanna cùng với Julie Earne và Candace vào năm 2013 đã viết
cuốn: “Cẩm nang mới về TCVM: Viễn cảnh của thị trường tài chính” (The New
Microfinance Handbook: A Financial Market System Perspective) [88] Với hơn
500 trang viết, các tác giả đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về các kỹ năng thực hiện hoạt động quản trị, hoạt động kinh doanh của tổ chức TCVM cũng như các tác
Trang 15động mà tổ chức TCVM mang lại cho cộng đồng
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Cũng tương tự như trên thế giới, về TCVM ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều những nghiên cứu nhằm tìm cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và phát triển lĩnh vực này Mặc dù những nghiên cứu này đa phần đều được tiếp cận dưới góc độ của kinh tế học và xã hội học song cũng đã bắt đầu có những nghiên cứu được thực hiện dưới giác độ luật học nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc tạo dựng hành lang pháp lý để phát triển TCVM ở Việt Nam Có thể khái quát tình hình nghiên cứu về TCVM ở Việt Nam như sau:
1.1.2.1 Những nghiên cứu về hoạt động kinh doanh của tài chính vi mô và vai trò của tài chính vi mô đối với người nghèo trong xã hội
Phần lớn các nghiên cứu về TCVM hiện nay đều được thực hiện dưới góc độ này Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Năm 1998, Trần Thọ Đạt thực hiện Luận án Tiến sĩ với đề tài: “Chi phí giao dịch của người vay, thị trường phân tách và kém tiếp cận: nghiên cứu về thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam” (Borrower Transaction Costs, Segmented Markets
and Credit Rationing: A Study of the Rural Credit Market in Vietnam) [76] Công trình này đã tiến hành phân tích về chi phí giao dịch, sự chia tách thị trường trong khu vực TCVM nông thôn, với phần mô hình từ số liệu sơ cấp của khu vực Đồng bằng Sông Hồng
Năm 2000, Đào Văn Hùng với luận án tiến sỹ “Các giải pháp tín dụng đối với người nghèo ở Việt Nam hiện nay” [25] đã tiến hành phân tích cụ thể về tín dụng cho
người nghèo ở Việt Nam; sau khi bảo vệ thành công, tác giả đã có nghiên cứu tiếp
theo: “Báo cáo phân tích tiếp cận: Nâng cao khả năng tiếp cận của hộ gia đình đối với các dịch vụ tài chính chính thức ở Việt Nam” (Outreach Diagnostic Report: Improving
Household Access to Formal Financial Services in Vietnam) [26] phân tích sâu hơn về
sự tiếp cận TCVM của người nghèo ở Việt Nam, sử dụng các số liệu sơ cấp như số liệu điều tra về mức tiếp cận của dự án mở rộng tiếp cận Canada năm 2001 Đến năm 2005,
tác giả lại cho ra đời tiếp một công trình với tựa đề: “Phát triển hoạt động TCVM ở Việt Nam” [27] để mô tả những thuận lợi cũng như khó khăn cho sự tồn tại ngành
Trang 16TCVM ở Việt Nam đồng thời cũng đưa ra những giải pháp để phát triển các hoạt động này nhằm phục vụ cho công tác xóa đói giảm nghèo
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hương năm 2002: “Các giải pháp phát triển thị trường tài chính nông thôn trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế ở Việt Nam” [28] mặc dù là một luận án tiến sĩ kinh tế nhưng cũng đã có những phân tích về
môi trường pháp lý cho thị trường TCVM ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế
Năm 2005, Luận án tiến sĩ của Quách Mạnh Hào “Tiếp cận tới tài chính và giảm nghèo: Ứng dụng cho nông thôn Việt Nam”(Access to Finance and Poverty
Reduction: An Application to Rural Vietnam) [79] đã tiến hành phân tích mối quan hệ giữa việc tiếp cận tài chính và vấn đề xóa đói giảm nghèo, thông qua việc điều tra mức sống của người dân nông thôn Việt Nam giai đoạn từ 1992 đến 1998, qua đó khẳng định tầm quan trọng của các dịch vụ TCVM đối với công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam
A McCarty (năm 2001) với tác phẩm “Tài chính vi mô ở Việt Nam: Nghiên cứu các dự án và các vấn đề đặt ra” [32] đã thực hiện đánh giá sơ bộ về mảng tài chính do
các tổ chức phi chính phủ thực hiện tại Việt Nam và đưa ra một số kết luận sâu sắc về các vấn đề như sự tiếp cận, sự hài lòng của khách hàng, hay chi phí giao dịch của khu vực bán chính thức so với khu vực chính thức Nghiêm Hồng Sơn phân tích sâu hơn về năng suất và hiệu quả của các tổ chức tài chính nông thôn khu vực bán chính thức dựa
trên phân tích các số liệu điều tra của mình với tựa đề “Hiệu quả và hiệu lực của tài chính nông thôn ở Việt Nam: Bằng chứng từ các chương trình tài chính phi chính phủ vùng Bắc và Trung Bộ” (Efficiency and Effectiveness of Rural Finance in Vietnam:
Evidence from NGO Schemes in the North and the Central Regions) [105] năm 2006
Hai nghiên cứu của Lê Lân (năm 2003) “Tài chính vi mô ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức” [30] và Lê Lân và Trần Như An (năm 2005) “Hướng tới một ngành tài chính vi mô tự vững ở Việt Nam: Các vấn đề đặt ra và những thách thức” [31] phân
tích những yếu tố nội lực cơ bản và các cơ hội – thách thức từ bên ngoài đối với các tổ chức TCVM Việt Nam trong điều kiện hội nhập và phát triển
Đỗ Kim Chung với bài viết: “Tài chính vi mô cho xóa đói giảm nghèo Một
Trang 17số vấn đề lý luận và thực tiễn” [12] đã tiếp cận đến TCVM như là một công cụ xóa
đói giảm nghèo Tác giả đã khẳng định sự tác động của TCVM đến hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam là hết sức lớn và vì vậy, cần phải có giải pháp để phát triển lĩnh vực này
Với bài viết: “Tài chính vi mô và một số khuyến nghị đối với hoạt động tài chính vi mô ở nước ta” [59] Doãn Hữu Tuệ đã trình bày một số vấn đề lý luận về
TCVM và nêu lên một số giải pháp để phát triển ngành TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn đó
Năm 2007, NH thế giới công bố nghiên cứu “Việt Nam: Phát triển một chiến lược toàn diện để mở rộng tiếp cận [của hộ nghèo] đối với các dịch vụ tài chính vi mô, tăng cường tiếp cận, hiệu quả và bền vững” [45] thực hiện khảo sát và đánh giá về bức
tranh chung tài chính nông thôn Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách, đặc biệt việc thực hiện nghị định 28/2005 của Chính phủ đối với các tổ chức tài chính quy mô nhỏ
Năm 2006, GS TS Phạm Thị Mỹ Dung đã thực hiện một nghiên cứu với tựa
đề: “TCVM – Lý luận, phương pháp nghiên cứu và vận dụng” [13] Công trình này đã
đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về ngành TCVM dưới góc độ lý luận đồng thời cũng gợi
ý một số phương pháp để vận dụng những lý luận về TCVM vào trong thực tiễn
Luận án tiến sỹ của Lê Thanh Tâm năm 2008 với đề tài “Phát triển các tổ chức tài chính nông thôn Việt Nam” [48] thực hiện phân tích sự phát triển hoạt động
của các tổ chức tài chính nông thôn, tập trung vào ba tổ chức tài chính nông thôn là
NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, NHCSXH và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Năm 2009, TS Nguyễn Kim Anh và cộng sự thực hiện đề tài: “Phát triển TCVM ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” [1] cũng có những đề cập đến
môi trường pháp lý cho ngành TCVM Việt Nam nói chung và TCVM ở nông thôn Việt Nam nói riêng thông qua việc đánh giá môi trường pháp lý hiện hành và kiến nghị những giải pháp để hoàn thiện môi trường này Đến năm 2013, Nguyễn Kim Anh cũng
với Lê Thanh Tâm xuất bản cuốn: “Mức độ bền vững của các tổ chức TCVM Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị” [4] tiến hành phân tích thực trạng tính hiệu
Trang 18quả trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức TCVM cũng như các chương trình, dự
án đang cung cấp dịch vụ TCVM để đánh giá về tính bền vững của các tổ chức, chương trình, dự án này Các tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm giúp các tổ chức, chương trình này cải thiện, nâng cao hiệu quả trong hoạt động của mình
Năm 2012, Nguyễn Đức Hải thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài: “Phát triển TCVM tại Việt Nam” [23] đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng các hoạt động
TCVM tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TCVM cũng như mở rộng hoạt động này tại Việt Nam
Tháng 3 năm 2013, Võ Khắc Thường và Trần Văn Hoàng có bài viết
“TCVM tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế đói nghèo tại Việt Nam” [60] Nghiên cứu này đề cập đến mô hình tổ chức của TCVM
ở một số quốc gia có nền TCVM phát triển và rút ra những bài học kinh nghiệm cho TCVM Việt Nam
1.1.2.2 Những nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức tài chính vi mô
Nhìn chung, có khá ít nghiên cứu ở Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về TCVM Đây cũng là điều dễ hiểu bởi dưới góc độ pháp lý thì đây thực sự là một lĩnh vực khá mới mẻ: văn bản pháp luật đầu tiên về TCVM cũng chỉ chính thức được ban hành vào năm 2005 và tổ chức TCVM đầu tiên ở Việt Nam cũng chỉ mới ra đời vào năm 2010 Một số các công trình nghiên cứu dưới góc
độ này có thể kể đến:
Nghiên cứu đầu tiên về TCVM dưới góc độ pháp lý phải kể đến là bài viết
“Một số vấn đề về việc xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam” [51] được Nguyễn Hữu Thanh đăng tải trên Tạp chí NH vào năm 2004,
thời điểm chúng ta đang chuẩn bị ban hành Nghị định 28/2005/NĐ-CP, văn bản đầu tiên về TCVM ở Việt Nam Bài viết này đã phân tích và đưa ra một vài gợi ý cho việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh đến các hoạt động TCVM Cũng tác giả này
năm 2007 đã thực hiện nghiên cứu “Quy chế pháp lý của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” [52] với tư cách là một luận văn thạc sĩ luật học tại Viện nghiên cứu Nhà
nước và pháp luật Trên cơ sở phân tích các quy định của Nghị định
Trang 1928/2005/NĐ-CP, tác giả có nêu lên một vài bất cập của văn bản này và đề xuất hướng xử lý Năm 2009, Nguyễn Thái Hà có hai nghiên cứu về hình thức pháp lý và cơ
cấu tổ chức, quản trị điều hành các tổ chức TCQMN: “Bàn về hình thức pháp lý của các tổ chức TCQMN” và “Cơ cấu tổ chức và quản trị điều hành tổ chức TCQMN”
[21, 22] với nội dung cơ bản là phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề thành lập, hoạt động, giải thể và phá sản các tổ chức TCQMN (nay được gọi là tổ chức TCVM) theo quy định của pháp luật hiện hành
Từ năm 2011 đến 2013, Viên Thế Giang có bốn (04) bài viết về TCVM dưới
góc nhìn của Luật học: “Phát triển tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam” “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam”
“Hình thành hệ thống tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam nhìn từ góc độ pháp lý”
“Định hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay” được
đăng tải trên các tạp chí: Nhà nước và pháp luật (số 1/2012), tạp chí NH (số 17 năm 2011) và tạp chí Công nghệ NH (số tháng 8/2011) [17 - 20] Thông qua các nghiên cứu này, tác giả cũng đã phần nào đề cập đến những bất cập của pháp luật về TCVM ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
Năm 2012, tác giả Hoàng Văn Thành thực hiện luận văn thạc sĩ tại Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh với đề tài “Đánh giá chính sách về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô” [53] Trong nghiên cứu này tác giả đã tiến
hành đánh giá hiệu quả áp dụng các văn bản pháp luật trong việc điều chỉnh hoạt động TCVM ở Việt Nam – được thực hiện chủ yếu bởi các chương trình, dự án chứ không phải của tổ chức TCVM2
Trần Văn Duy và Hoàng Văn Thành năm 2013 cũng tiến hành nghiên cứu về
việc thành lập tổ chức TCVM tại Việt Nam hiện nay với đề tài: “Điều kiện thành lập và cơ cấu tổ chức của tổ chức tài chính vi mô theo quy định của pháp luật hiện hành: những vướng mắc cần được tháo gỡ” [15] Các tác giả đã đề cập đến một số
bất cập hiện nay của pháp luật Việt Nam quy định về điều kiện thành lập một tổ chức TCVM cũng như những quy định về quản trị điều hành tổ chức này và đề xuất
2 Thời điểm này tổ chức TCVM đầu tiên và duy nhất của Việt Nam là Tổ chức TCVM TNHH một thành viên TYM mới khai trương hoạt động được một thời gian ngắn sau khi được cấp giấy phép vào 17/08/2010
Trang 20một số giải pháp khắc phục
Năm 2013, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thực hiện một đề tài
nghiên cứu khoa học cấp cơ sở với tiêu đề: “Chế độ pháp lý về TCVM hiện nay”
[62] Nghiên cứu này, về cơ bản đã tiến hành phân tích, đánh giá về sự phù hợp với thực tiễn của các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về TCVM và đề xuất các giải pháp khắc phục những bất cập
Có thể thấy, các nghiên cứu đối với pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam thường có đối tượng nghiên cứu là một nội dung nào đó của lĩnh vực pháp luật này
mà chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện một cách hệ thống đối với tổng thể các vấn đề liên quan đến tổ chức TCVM dưới góc độ pháp lý và vì vậy, một cái nhìn toàn cảnh đối với pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam, cho đến nay là chưa có
1.1.3 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu về TCVM ở cả trong nước và ngoài nước, tác giả có một số nhận xét về các kết quả nghiên cứu như sau:
1.1.3.1 Những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển Thứ nhất, đã làm rõ được một số khái niệm cần thiết như TCVM, tổ chức TCVM theo thông lệ quốc tế Đây là nội dung cực kỳ quan trọng để trên cơ sở đó, luận án giải quyết các vấn đề tiếp theo
Thứ hai, các công trình nghiên cứu nêu trên (đặc biệt là các công trình nghiên cứu ngoài nước) đã chứng minh sự xuất hiện và tồn tại của TCVM là thực
sự cần thiết và có những ý nghĩa rất lớn trong hoạt động làm giảm đói nghèo ở các quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Đây thực sự là công cụ chống đói nghèo hữu hiệu và quan trọng trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, vì đa phần những nghiên cứu đã được thực hiện đều là những nghiên cứu được thực hiện dưới góc độ kinh tế nên những nghiệp vụ mà TCVM thực hiện đều được phân tích, đánh giá khá cụ thể và kỹ lưỡng Những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các nghiệp vụ này cũng đã được đưa ra Điều này giúp cho luận án có thêm cơ sở để đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra được những thách thức mà TCVM
Trang 21phải đối mặt trong quá trình tồn tại và các giải pháp khắc phục Đây chính là những kinh nghiệm quý báu cho TCVM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thứ năm, các công trình nghiên cứu trong nước, dưới giác độ Luật học đã phần nào mô tả được khung pháp luật về TCVM ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra được những bất cập cần khắc phục cũng như đưa ra những giải pháp để khắc phục những bất cập đó Có thể nói, đây là một trong những kết quả quan trọng mà luận án có thể
kế thừa để trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp cụ thể của luận án
1.1.3.2 Những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo hoặc còn bỏ ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, qua khảo sát các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước về TCVM đã được thực hiện, tác giả nhận thấy còn một số vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo như sau:
Thứ nhất, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống đối với pháp luật về tổ chức TCVM Chính bởi lý do này nên sự đánh giá về mức độ phù hợp/không phù hợp của các quy định pháp luật với thực trạng ngành TCVM Việt Nam chưa được giải quyết một cách thấu đáo Luận án sẽ giải quyết được vấn đề này
Thứ hai, hiện nay mặc dù khái niệm TCVM và tổ chức TCVM đã được làm
rõ và về cơ bản, các công trình nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước đều tiếp cận như nhau Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam Luận án sẽ làm rõ vấn đề này để tìm ra cách hiểu phù hợp nhất với thực tiễn TCVM ở Việt Nam
Thứ ba, Do thiếu những nghiên cứu một cách toàn diện và trực tiếp đến pháp luật về tổ chức TCVM nên những giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh đối với các tổ chức TCVM cũng chưa được các công trình nghiên cứu đã thực hiện, kể cả những nghiên cứu trong nước dưới góc độ luật học, luận giải một cách
cụ thể và thuyết phục
Thứ tư, các nghiên cứu đã thực hiện, thường được tiếp cận đơn ngành dưới góc độ kinh tế học, xã hội học hoặc luật học Mặc dù cũng có một số nghiên cứu được tiếp cận đa ngành kinh tế - xã hội học song một nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận luật học – kinh tế học là chưa được thực hiện Luận án sẽ sử dụng cách tiếp cận
Trang 22này nhằm đưa ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này Thứ năm, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TCVM song một nghiên cứu trực tiếp đến pháp luật về tổ chức TCVM ở cấp độ một luận án tiến sĩ là
chưa được thực hiện Chính bởi lý do này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về
tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu trong luận án tiến sĩ của mình
1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án
1.2.1 Lý thuyết sử dụng để nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu, luận án sử dụng một số lý thuyết sau:
Thứ nhất, Học thuyết của Mác về kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa;
Thứ hai, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Phát triển kinh tế đất nước được nêu lên tại Hội nghị lần thứ 9 (mở rộng) của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 24/4/1956;
Thứ hai, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội;
Thứ ba, quan điểm của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững;
Thứ tư, quan điểm của Nhà nước về xây dựng và phát triển hệ thống TCVM ở Việt Nam theo Quyết định 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ; Thứ năm, lý thuyết về doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp;
Thứ sáu, lý thuyết về TCVM với tư cách là một công cụ xóa đói nghèo mà Mohamat Yunus đã khởi xướng;
Thứ bảy, lý thuyết về vận hành thị trường TCVM với tính cách là một bộ phận của thị trường tài chính – NH và sự tham gia của NHNN Việt Nam vào thị trường này
1.2.2 Các câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi lớn mà luận án cần trả lời được bao gồm:
Thứ nhất, TCVM là gì? TCVM có thể được thực hiện bởi những chủ thể nào trong xã hội? Vai trò của TCVM đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Thứ hai, tổ chức TCVM là gì? Tổ chức TCVM có gì khác biệt so với các chủ thể không phải là tổ chức TCVM nhưng có thực hiện hoạt động TCVM?
Thứ ba, hiện nay pháp luật đang điều chỉnh như thế nào đối với các tổ chức
Trang 23TCVM ?
Thứ tư, thực trạng pháp luật điều chỉnh đối với các tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay có thực sự phù hợp và đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn? Thứ năm, để hoàn thiện pháp luật về tổ chức TCVM cần phải thực hiện những giải pháp nào? Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của những giải pháp đó là gì?
1.2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cở sở lý thuyết và những câu hỏi nghiên cứu lớn nêu trên, luận án đưa ra giả thuyết nghiên cứu là pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam hiện nay chưa thực sự phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn ngành TCVM ở Việt Nam Các quy định của pháp luật còn tồn tại nhiều bất cập, chưa thực sự tạo ra được một môi trường thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức TCVM nói riêng và ngành TCVM Việt Nam nói chung
1.2.4 Kết quả nghiên cứu
Sau khi hoàn thành, luận án sẽ mô tả được bức tranh toàn cảnh của pháp luật
về tổ chức TTCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay qua đó, nêu lên những hạn chế, bất cập đang tồn tại và đề xuất những giải pháp khắc phục nhằm làm cơ sở cho việc hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này Cụ thể, dự kiến luận án sẽ có được những kết quả nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, làm rõ và phân biệt rạch ròi khái niệm TCVM và tổ chức TCVM; Thứ hai, phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức TCVM để qua đó tìm ra những hạn chế, bất cập đang tồn tại;
Thứ ba, trên cơ sở những hạn chế, bất cập đã được nêu lên, luận án đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về tổ chức TCVM nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn ngành TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Kết luận chương 1
Mặc dù mới chỉ có vài chục năm tồn tại và phát triển song TCVM đã khẳng định được vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động xóa đói giảm nghèo một cách bền vững ở nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, lĩnh vực này cũng thể hiện được những ưu điểm của mình so với các phương thức xóa đói nghèo mang
Trang 24tính truyền thống trước đây Chính bởi ý nghĩa xã hội lớn lao này nên TCVM đã nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới nhằm tìm ra giải pháp thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này Ở Việt Nam, thời gian gần đây những nghiên cứu về TCVM xuất hiện ngày càng nhiều song phần lớn đều được thực hiện dưới giác độ kinh tế học và chủ yếu cũng chỉ đề cập đến các hoạt động TCVM Một nghiên cứu có tính toàn diện, hệ thống đối với pháp luật về tổ chức TCVM ở Việt Nam nhằm tìm giải pháp hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này, cho đến
nay vẫn chưa được thực hiện Vì vậy, luận án đã xác định rõ hướng nghiên cứu
thông qua những câu hỏi nghiên cứu cần phải giải đáp và dự kiến lựa chọn những phương pháp nghiên cứu thích hợp để giải quyết những vấn đề đã được xác định trong phạm vi nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu: tìm ra những điểm bất cập của các quy định hiện hành về tổ chức TCVM và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng
và phát triển hệ thống tổ chức TCVM ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Những kết quả đã đạt được trong chương 1 bao gồm:
Thứ nhất, tổng hợp được tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài của luận án, bao gồm cả những nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài Trên cơ
sở này, xác định những nội dung luận án dự định nghiên cứu là chưa được đề cập một cách hệ thống trong các nghiên cứu trước đây;
Thứ hai, xác định rõ cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu và trên cơ sở đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu lớn để xác định mục tiêu cần đạt được của luận án
Trang 25CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 2.1 Khái quát chung về tài chính vi mô và tổ chức tài chính vi mô
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tài chính vi mô
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tài chính vi mô trên thế giới
Như chúng ta đã biết, hoạt động tín dụng đã xuất hiện từ khá lâu và có những đóng góp nhất định với lịch sử phát triển của xã hội loài người Tín dụng tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế nhưng có lẽ, hoạt động cấp tín dụng cho khu vực nông thôn (tín dụng nông thôn) luôn có ý nghĩa xã hội vô cùng lớn vì
nó giúp cho những bộ phận có thu nhập thấp của xã hội có cơ hội tiếp cận với các nguồn tài chính cần thiết để xúc tiến các hoạt động kinh tế của mình Chính bởi lý
do này nên các chương trình tín dụng nông thôn đã thực sự được chú trọng và phát triển mạnh trong khoảng thời gian từ những năm 50 đến những năm 70 của thế kỷ trước Đặc trưng cơ bản của loại hình tín dụng này là mang nặng tính bao cấp: khoản vay được cấp cho những người có thu nhập thấp mang nặng tính xã hội khi
có mức lãi suất khá thấp Điều này thực sự rất có ý nghĩa đối với khách hàng vay vốn bởi họ có được những nguồn tài chính nhất định với mức lãi nhỏ để phục vụ cuộc sống bản thân và gia đình Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng cho vay thì rất khó khăn trong việc tìm kiếm lợi nhuận từ những đối tượng khách hàng này: Lãi suất thường thấp hơn lãi suất thị trường và mức độ rủi ro trong việc thu hồi nợ luôn ở mức cao Do vậy, có thể thấy, tín dụng nông thôn trong khoảng thời gian này có cách tiếp cận không thực sự bền vững khi không thể tự bảo đảm cho sự tồn tại của chính mình
Để đảm bảo sự phát triển bền vững của các chương trình cho vay đối với khu vực nghèo, đói, một cách tiếp cận mới, bền vững hơn so với tín dụng nông thôn đương đại đã xuất hiện vào cuối những năm 70, dầu những năm 80 của thế kỷ trước: Việc cho vay đối với các đối tượng cần giúp đỡ sẽ không dựa trên nền của sự bao cấp mà dựa trên sự tồn tại và phát triển bền vững của chính tổ chức cho vay và khách hàng vay vốn qua việc xác định hoạt động cho vay, kể cả đối với những khách hàng đặc biệt nghèo, cũng phải là một hoạt động kinh doanh thực thụ - có lợi nhuận - và đó chính là cách tiếp cận của TCVM Cũng chính vì mục tiêu lợi nhuận luôn được đặt ra bên cạnh mục đích trợ giúp xã hội nên TCVM thường có mức lãi
Trang 26suất cho vay cao hơn, thậm chí là cao hơn khá nhiều so với các chương trình tín dụng nông thôn khác có sự bao cấp của nhà nước Mặc dù vậy, trong khoảng thời gian này, TCVM ở một số quốc gia vẫn tìm được cho mình một chỗ đứng trong nền kinh tế bởi mấy lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đối tượng tiếp cận của TCVM thường là những người đặc biệt nghèo trong xã hội nhưng những điều kiện cần thiết để có thể tiếp cận đến các nguồn vốn trợ giúp của các chương trình tín dụng nông thôn có sự bao cấp của nhà nước lại thường không hội tụ đủ (ví dụ như điều kiện về tài sản, điều kiện về sự bảo lãnh bằng tín chấp của một tổ chức chính trị xã hội…) và vì vậy, họ không thể vay được từ các chương trình tín dụng nông thôn có sự bao cấp của nhà nước;
Thứ hai, khác với các chương trình tín dụng nông thôn có sự bao cấp của nhà nước không thực sự sát sao với việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả của người vay thì TCVM lại “dạy” cho những người vay vốn biết cách sinh lời từ những đồng vốn vay một cách hiệu quả;
Thứ ba, các chương trình tín dụng nông thôn có sự bao cấp của nhà nước khi thực hiện việc thu nợ vẫn áp dụng theo cách thức truyền thống: ai vay, người đó trả
và hầu như không có bất cứ cá nhân nào khác phải có trách nhiệm đối với khoản vay
đó thì TCVM thường cho vay đến từng cá nhân nhưng lại gắn trách nhiệm trả nợ đến từng nhóm người3 Điều này tạo sức ép cho khá nhiều người khi trong nhóm có thành viên có khả năng không trả được nợ, buộc họ phải tạo những điều kiện có thể để thành viên đó kinh doanh có hiệu quả nhằm đảm bảo cho khả năng trả nợ của mình Cách tiếp cận mới về tín dụng dành cho các khách hàng có thu nhập thấp ở khu vực nông thôn đã đòi hỏi sự xuất hiện của các thể chế mới - các tổ chức TCVM
- để thực hiện điều này Những tổ chức TCVM đầu tiên trên thế giới ra đời vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 ở Nam Á (Bangladesh – được cấp phép thành lập năm 1976) sau đó phát triển dần sang Mỹ La tinh, Đông Nam Á và gần đây bắt đầu phát triển sang các quốc gia thuộc Châu Phi, Nam Thái Bình Dương, Trung quốc và
cả ở các quốc gia thuộc Liên Xô cũ Theo khảo sát của SBP (chương trình cho vay bền vững hộ nghèo của NH thế giới - WB), các tổ chức TCVM phát triển nhanh
3 Các nhóm được thiết lập theo khuyến nghị của chính tổ chức TCVM với số thành viên nhóm tùy thuộc vào từng tổ chức TCVM và có thể là vài người nhưng cũng có thể lên đến vài chục người/nhóm
Trang 27nhất ở Châu Á (chiếm khoảng 80%), đứng thứ hai là Châu Mỹ La tinh (chiếm khoảng 15%) và cuối cũng là các quốc gia Châu Phi (với khoảng 5%) Các tổ chức TCVM tồn tại ở các quốc gia khác nhau có những mô hình tồn tại và hoạt động khá
đa dạng song nhìn chung, các tổ chức này đều có những đóng góp đáng kể vào công cuộc xóa đói nghèo của quốc gia và trong một chừng mực nhất định, cũng đảm bảo được những điều kiện cần thiết để có thể dần trở nên độc lập trước các nguồn vốn tài trợ ban đầu [80] Về số lượng các tổ chức TCVM thì cũng khó có thể có được một con số thống kê chính xác song, cũng theo khảo sát của SBP thì ngay từ năm
1995, chỉ tính riêng những tổ chức TCVM có thời gian tồn tại trên 3 năm với trên
1000 khách hàng thì toàn thế giới cũng đã đạt đến con số 1000 tổ chức với khoảng
46 triệu lượt tiết kiệm và 14 triệu lượt cho vay Sự lan rộng một cách nhanh chóng của các tổ chức TCVM cả về số lượng tổ chức cũng như phạm vi khách hàng được phục vụ là một minh chứng hùng hồn cho sự thành công của cách tiếp cận mới trong công cuộc xóa đói nghèo trên toàn thế giới trong giai đoạn hiện nay
Mặc dù hoạt động TCVM ngày càng phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, nhưng mô hình tổ chức của các chủ thể hoạt động TCVM ở thì không giống nhau hoàn toàn mà trái lại, khá đa dạng và phong phú: ở một số nước, hoạt động này được thực hiện bởi các tổ chức TCVM, ở một số khác lại được thực hiện bởi hệ thống NH hay hợp tác xã tín dụng và cũng có những nước, TCVM được thực hiện bởi các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, một số mô hình tổ chức thực hiện khá thành công hoạt động TCVM trên thế giới bao gồm:
Một là, mô hình NH Grameen ở Bangladesh (Grameen Bank): Đây là một tổ
chức TCVM nhưng được thành lập dưới dạng một NH thực thụ nhưng hoạt động theo một cơ chế khác biệt so với các NHTM: không phải tuân theo cơ chế lãi suất trần, không bị ràng buộc bởi các quy định của Hiệp hội NH và bắt buộc khách hàng phải chấp nhận mức lãi suất khá cao (lớn hơn tỷ lệ lạm phát+chi phí vốn) đồng thời phải có tiền gửi tiết kiệm bắt buộc để thay thế cho tài sản bảo đảm…
Hai là, mô hình tổ chức phi chính phủ hoạt động TCVM: Ở mô hình này,
hoạt động TCVM được thực hiện thông qua các chương trình, dự án của các tổ chức phi chính phủ nhằm giúp xóa đói giảm nghèo Điển hình của mô hình này là BRAAC của Bangladesh
Trang 28Ba là, mô hình NH làng: Đây là mô hình mà hoạt động TCVM được cung
cấp đến khách hàng thông qua các NH nhỏ ở địa phương Thành công với mô hình này có BRI và BPRs của Indonesia và các Bancomunales ở Costarica;
Bốn là, mô hình các hợp tác xã tín dụng: Ở mô hình này, hoạt động TCVM
được thực hiện qua hình thức pháp lý là các hợp tác xã tín dụng Mô hình này được
áp dụng khá thành công ở Srilanca và Nam Thái Bình dương Một biến thể của mô hình này là CULT - Hội liên hiệp tín dụng Thái lan, hoạt động theo Luật Hợp tác xã Thái lan;
Năm là, mô hình NH phục vụ nông nghiệp: Hoạt động TCVM được thực
hiện thông qua một NH đặc biệt - NH chuyên phục vụ hoạt động nông nghiệp Điển hình của mô hình này là BAAC ở Thái lan
Như vậy, TCVM mới thực sự xuất hiện vào khoảng vài chục năm trở lại đây như là một loại hình tín dụng để thay thế cho vai trò hỗ trợ những thành phần có thu nhập thấp, thuộc diện đói nghèo trong xã hội có thể thoát nghèo Tuy vậy, TCVM
đã dần khẳng định được ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của nó trong các hoạt động với mục đích xã hội đồng thời cũng khẳng định được hiệu quả trong hoạt động như một lĩnh vực kinh doanh thực thụ Đây chính là điểm mấu chốt để có thể giải thích cho sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này trong thời gian gần đây
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của tài chính vi mô ở Việt Nam
Việt Nam là một đất nước với tỷ lệ dân số sống bằng nông nghiệp khá cao
Đa phần trong số những người sinh sống bằng nghề này đều có mức thu nhập thấp
và cần phải được trợ giúp về mặt tài chính và cách tạo thu nhập Cũng chính bởi lý
do này mà Nhà nước ta đã luôn có những chính sách hỗ trợ người nông dân thông qua hoạt động của các NHTM, NH phục vụ người nghèo (nay là NHCSXH) và các Quỹ tín dụng nhân dân Trong một chừng mực nào đó, các hoạt động trợ giúp nông thôn Việt Nam của các định chế tài chính này cũng mang dáng dấp của TCVM nhưng không thực sự là hoạt động TCVM đích thực bởi lẽ tính bao cấp vẫn luôn hiện diện khá rõ ràng trong các hoạt động này Cho đến năm 1987, khi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Hội nghị khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về
“Tạo việc làm và tăng thu nhập cho phụ nữ” thì ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các
dự án “tiết kiệm - tín dụng” cho phụ nữ Việt Nam Đây cũng là lúc mà các đoàn
thể, các tổ chức phi chính phủ chính thức tham gia vào công cuộc chống đói nghèo
Trang 29ở Việt Nam qua các chương trình trợ giúp về mặt tài chính (có hoàn trả) đồng thời dạy cho phụ nữ Việt Nam biết cách tiết kiệm và tạo thu nhập từ những đồng vốn được tài trợ, đánh dấu mốc thời điểm TCVM xuất hiện tại Việt Nam
Qua thời gian, các chương trình trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ này
đã dần khẳng định được vai trò và tầm quan trọng trong công cuộc xóa đói nghèo ở Việt Nam và, có những chương trình, dự án hoạt động thực sự hiệu quả khi vừa thực hiện được mục tiêu xã hội lại vừa đảm bảo được sự tồn tại và phát triển bền vững của chính mình khi chẳng những bảo toàn mà còn gia tăng được số vốn được tài trợ ban đầu Các chương trình này dần trở nên độc lập về mặt tài chính (nhưng không độc lập về tư cách pháp lý) so với tổ chức phi chính phủ là chủ thể tài trợ tài chính của các chương trình đó Tuy nhiên, một khung pháp luật cho sự tồn tại của các hoạt động này chưa hề xuất hiện tại Việt Nam cho đến trước năm 2005, thời điểm có sự xuất hiện của Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/03/2005 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức TCQMN tại Việt Nam được ban hành Với mong muốn phát triển ngành TCVM ở Việt Nam một cách bền vững, Nhà nước Việt Nam đã từng bước xây dựng và dần hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm điểu chỉnh có hiệu quả đến hoạt động TCVM Kết quả là tính đến 31/12/2014, Việt Nam đã chính thức có ba tổ chức TCVM được NHNN cấp phép thành lập và hoạt động Các tổ chức này đều được hình thành từ sự chuyển đổi các chương trình TCVM của các tổ chức phi chính phủ trước đây: tổ chức TCVM TNHH một thành viên TYM được chuyển đổi từ Quỹ TYM (được NHNN cấp phép năm 08/2010); Tổ chức TCVM TNHH M7 hình thành từ sự chuyển đổi ba Quỹ thuộc mạng lưới M7 trước đây (Cấp phép tháng 1/2012) và Tổ chức TCVM TNHH Thanh Hóa được chuyển đổi từ Quỹ phụ nữ Thanh Hóa (Cấp phép tháng 8/2014) Như vậy, cho đến năm 2015 việc cung ứng dịch vụ tài chính NH cho người nghèo ở Việt Nam đang được thực hiện bởi rất nhiều các chủ thể khác nhau bao gồm: Thứ nhất, NHCSXH Việt Nam – một NH thuộc sở hữu Nhà nước được thành lập nhằm trợ giúp người nghèo trong xã hội Cũng có quan điểm cho rằng hoạt động của NHCSXH là hoạt động TCVM (vì giá trị khoản tín dụng nhỏ và đối tượng phục
vụ là người có thu nhập thấp) song theo quy định của pháp luật Việt Nam, đây không phải là tổ chức TCVM;
Thứ hai, NHHTX và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Loại hình chủ thể này
Trang 30cũng thực hiện những hoạt động cung ứng các dịch vụ tài chính NH cho đối tượng
có thu nhập thấp trong xã hội là chủ yếu (với điều kiện người vay tiền phải là thành viên của Quỹ) Tuy nhiên cũng theo quy định của pháp luật Việt Nam, đây không phải là tổ chức TCVM mà là một loại hình TCTD độc lập;
Thứ ba, các tổ chức TCVM Như phần trên đã nêu, loại chủ thể cho đến nay mới chỉ có ba tổ chức trên toàn lãnh thổ Việt Nam;
Thứ tư, các chương trình, dự án hoạt động TCVM của các tổ chức phi chính phủ hiện đang tồn tại dưới dạng các “Quỹ”, “Hội” hay “Chương trình”… (Quỹ khuyến khích cộng đồng miền núi phát triển, huyện Mai Sơn, Sơn La (M7 Mai Sơn); Quỹ Dariu; Quỹ Hỗ Trợ Phụ Nữ Phát triển Kinh Tế Tỉnh Tiền Giang; Quỹ CEP…); các chương trình (Chương trình Anh Chị Em; Chương trình Bàn Tay Vàng; Chương trình Tín dụng tiết kiệm - Hội liên hiệp phụ nữ Phù Yên, Sơn La) hay các dự án (Dự án Tiết kiệm và vốn vay thôn bản (VSL) của tổ chức Plan; Dự án tín dụng và tiết kiệm - Chương trình sinh kế Child Fund Việt Nam); Các Trung tâm (Trung tâm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp Nhỏ (SEDA); Trung tâm phát triển vì người nghèo Can Lộc (PPC); Trung tâm vì phụ nữ và phát triển cộng đồng (CWCD))…4 Nếu tính về mặt số lượng, nhóm chủ thể này chiếm số lượng lớn nhất
và cũng đa dạng nhất về mặt hình thức pháp lý
2.1.2 Khái niệm và bản chất của tài chính vi mô
Cùng với sự thành công của việc cấp tín dụng nói riêng và cung ứng các dịch vụ tài chính nói chung cho người nghèo trở nên thành công ở khá nhiều nơi trên thế giới, khái niệm TCVM – Microfinance – đã xuất hiện để mô tả các hoạt động này Có khá nhiều những cách giải thích khái niệm này ở các góc nhìn khác nhau:
Theo cách hiểu của Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo - The Consultative Group to Assist the Poor (CGAP-) thì:
“TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu người nghèo như: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, lương hưu, chuyển tiền ” [73,
Tr 1] Với cách tiếp cận này, CGAP cho chúng ta thấy TCVM bao gồm các hoạt động được liệt kê như hoạt động gửi tiền (chỉ dừng lại ở tiền gửi tiết kiệm mà không
4 Nguồn: Nhóm công tác TCVM Việt Nam (MFWG), Hà nội 2014
Trang 31có các dịch vụ tiền gửi khác); các hoạt động cấp tín dụng; dịch vụ bảo hiểm và một số các dịch vụ tài chính đơn giản khác Tuy nhiên, các dịch vụ này chỉ được gọi là TCVM khi có đối tượng tiếp cận là những người nghèo
Ở một cách tiếp cận khác, J Ledgerwood cho rằng: “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp… TCVM thường bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội” [87, Tr 1] Thông qua cách lý giải này, Ledgerwood
cũng cho chúng ta thấy TCVM là việc cung ứng các dịch vụ tài chính cơ bản cho đối tượng là những người nghèo (người có thu nhập thấp) nhưng bà cũng khẳng định, TCVM vừa có tính kinh doanh (trung gian tài chính) vừa có tính xã hội (trung gian xã hội)
Cũng có cách lý giải tương tự, NH phát triển Châu Á (ADB) cho rằng:
“TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ của họ” [69, Tr 2]
Dưới góc nhìn của kinh tế phát triển, PGS.TS Nguyễn Kim Anh và TS Lê
Thanh Tâm thì: “TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong
xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư TCVM vừa là công cụ NH vừa là công
cụ phát triển” [4, Tr 24] Có thể thấy, hai tác giả này cũng đưa ra cách tiếp cận về
TCVM tương tự như J Ledgerwood như đã trình bày phần trên
Ở Việt Nam, mặc dù Luật các TCTD năm 2010 đã chính thức đề cập đến TCVM5 song một sự lý giải đầy đủ về TCVM vẫn chưa được thực hiện Các văn bản điều chỉnh lĩnh vực này hiện nay vẫn khá lủng củng và thiếu thống nhất: trong khi Luật các TCTD đã có hiệu lực được vài năm, đồng nghĩa với việc thuật ngữ TCVM đã chính thức được luật hóa thì những văn bản dưới luật được ban hành từ nhiều năm trước (Nghị định 28/2005/NĐ-CP; Nghị định 165/2007/NĐ-CP và Thông tư 02/2008/TT-NHNN) vẫn tiếp tục có hiệu lực và đương nhiên, thuật ngữ
5 Trước khi Luật các TCTD năm 2010 ra đời, thuật ngữ TCVM không được đề cập đến trong bất cứ một văn bản pháp luật nào mặc dù văn bản dùng để điều chỉnh hoạt động này chúng ta đã có nhưng thuật ngữ được sử dụng không phải là TCVM mà là TCQMN (Nghị định 28/2005/NĐ-CP; Nghị định 165/2007/NĐ-CP và Thông tư 02/2008/TT-NHNN)
Trang 32được sử dụng không phải là TCVM mà là tài chính quy mô nhỏ (TCQMN) Dường như, ngành TCVM Việt Nam vẫn chưa nhận được những sự quan tâm cần thiết từ phía các cơ quan công quyền Tuy nhiên, với sự tồn tại song song của những văn bản này, chúng ta cũng có thể hiểu, TCVM là khái niệm được sử dụng để thay thế cho khái niệm TCQMN trước đây Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 và 4 Điều 2 Nghị định 28/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 1 Nghị định 165/NĐ-CP thì:
“Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo.”
Và “Dịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản gồm: tín dụng quy mô nhỏ; nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc; tiền gửi tự nguyện; một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp.”
“Tín dụng quy mô nhỏ là khoản cho vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có tài sản bảo đảm đối với các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống.”
Sử dụng tới ba (03) quy định chỉ để giải thích một khái niệm không quá phức tạp cho thấy sự lúng túng của nhà làm luật khi tiếp cận đến TCVM Tuy nhiên, khi loại bỏ sự lủng củng, phức tạp của các quy định này chúng ta có thể hiểu, pháp luật Việt Nam hiện nay đang cho rằng:
“TCQMN (TCVM) là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, NH bao gồm: các khoản tín dụng có giá trị nhỏ, tiền gửi tiết kiệm và một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp” Khoản tín dụng có giá trị nhỏ,
theo cách giải thích tại điểm 2.1 Thông tư 02/TT-NHNN6 là: “khi tổng dư nợ cho vay của tổ chức tài chính quy mô nhỏ đối với khách hàng đó không vượt quá ba mươi triệu đồng.”
Như vậy, dù có các sự diễn đạt khác nhau, mức độ quy định về phạm vi hoạt động của TCVM khác nhau song ở góc độ nào thì TCVM cũng là những dịch vụ tài chính, NH có đối tượng phục vụ là những người có mức sống thấp trong xã hội Xuất phát từ những cách lý giải nêu trên và thực trạng ngành TCVM, Luận án xin được đưa ra định nghĩa về TCVM như sau:
6 Thông tư này không có Điều, Khoản mà các quy định được đánh số theo thứ tự 1, 2, 3…
Trang 33TCVM là hoạt động kinh doanh thông qua việc cung ứng các dịch vụ tài chính,
NH có giá trị nhỏ cho những chủ thể có thu nhập thấp trong xã hội
Từ cách hiểu này, có thể thấy TCVM có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, TCVM là một hoạt động kinh doanh Có thể nói, đây là đặc điểm
quan trọng nhất để phân biệt TCVM với các hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính,
NH cho người nghèo của các định chế tài chính khác trong xã hội Nếu như theo
cách tiếp cận truyền thống, chúng ta hiểu những người có thu nhập thấp là đối
tượng dễ bị tổn thương trong xã hội cần được trợ giúp về mặt kinh tế nên các dịch
vụ tài chính dành cho họ thường có chi phí thấp (khoản vay có lãi suất thấp; dịch vụ
tài chính có chi phí thấp ), tức là hoạt động này mang nặng tính bao cấp Trái lại,
TCVM không phải là một hoạt động có tính bao cấp mà có tính kinh doanh – tức là
có lợi nhuận – chi phí mà người nghèo trả cho TCVM không phải là chi phí bao cấp
mang tính tượng trưng mà là nhưng chi phí thực thụ của thị trường Thực tế cho
thấy, các chi phí mà khách hàng của TCVM phải chi trả thường cao hơn khá nhiều
so với mặt bằng chung của thị trường Như vậy, TCVM là một ngành kinh doanh
thực thụ chứ không phải lĩnh vực thuần túy cung ứng dịch vụ mang tính từ thiện
theo đúng như cách nói của Giáo sư Muhammad Yunus, người sáng lập NH
Grameen:
“TCVM không phải là từ thiện Đây là kinh doanh: Kinh doanh với một mục
đích xã hội là giúp con người thoát nghèo” 7
Thứ hai, đối tượng khách hàng của TCVM chủ yếu là những người có thu nhập
thấp trong xã hội Nếu nhìn vào mục đích của hoạt động TCVM ta thấy dường như
có sự mâu thuẫn ở đây khi đối tượng tạo ra lợi nhuận cho các hoạt động TCVM lại
là nhưng người có thu nhập thấp, thậm chí là nhưng người rất nghèo Tuy nhiên,
đây chính là mặt thứ hai của TCVM: một công cụ quan trọng giúp người nghèo
thoát nghèo Đây cũng chính là điều được Kofi Annan - Nguyên Tổng Thư ký Liên
Hợp quốc – khẳng định: “TCVM là ý tưởng của kỷ nguyên đương đại”8
7 Nguyên gốc: “This is not charity This is business:Business with a social objective, which is to help people
get out of poverty.” Bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Yunus trong chương trình Nightly Business Report
Trang 34Thứ ba, dịch vụ được cung ứng bởi TCVM thường có giá trị nhỏ Đặc trưng
này được xuất phát từ chính đối tượng khách hàng của TCVM là những người có mức thu nhập thấp trong xã hội, thậm chí là những người không bao giờ có cơ hội được tiếp cận đến các dịch vụ của các NHTM bởi thường họ không có tài sản có thể dùng để đảm bảo cho các khoản vay Chính bởi vậy, các hoạt động kinh tế của họ đều là nhưng hoạt động nhỏ lẻ và do đó, nhu cầu về vốn cũng là không lớn Bên cạnh đó, các chủ thể cung cấp dịch vụ TCVM cũng không phải là các trung gian tài chính với tiềm lực mạnh mẽ nên để đảm bảo an toàn, các khoản vay của họ luôn có giá trị khá nhỏ;
Thứ tư, TCVM không chỉ là hoạt động kinh doanh mà luôn kết hợp hài hòa giữa mục đích kinh doanh và mục đích xã hội Thông thường, các doanh nghiệp
trong xã hội mà hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận (các doanh nghiệp công ích) thì luôn nhận được sự bao cấp từ phía nhà nước bởi đơn giản họ hiếm khi có thể tìm được những khoản thu nhập đủ để bù đắp những chi phí trong hoạt động của mình Những doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thì sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện các chính sách xã hội bởi tôn chỉ lợi ích kinh tế của mình Khác với hai hoạt động đó, TCVM không sống dựa vào nguồn lực dồi dào của Ngân sách Nhà nước mà bằng chính những đồng lợi nhuận kiếm được từ hoạt động kinh doanh của mình và đồng thời cũng không tối đa hóa mục tiêu lợi nhuận khi tìm đến đối tượng khách hàng là tầng lớp đáy của xã hội với mong muốn giúp họ có được những nguồn lực tài chính nhất định để thực hiện hoạt động kinh doanh, thoát đói nghèo Chính bởi đặc trưng này nên có thể coi TCVM là một phương thức xóa nghèo bền vững trong giai đoạn hiện nay;
Thứ năm, TCVM dạy cho người nghèo biết cách làm kinh tế và biết tiết kiệm
Đây có thể coi là một đặc trưng hết sức cơ bản của TCVM, thể hiện sự khác biệt căn bản của lĩnh vực này so với các hoạt động tín dụng khác trong xã hội Quy định của pháp luật cũng như thực tế hoạt động TCVM cho thấy, để có thể được vay vốn của TCVM, người nghèo buộc phải thực hiện việc gửi tiền tiết kiệm (tiết kiệm bắt buộc) tại chính chủ thể mà họ dự định vay vốn9 Đòi hỏi này tạo sức ép cho chính
9 Phương thức gửi tiền tiết kiệm bắt buộc được thực hiện theo ngày/tuần/tháng hay một lần do chính chủ thể cung ướng dịch vụ TCVM quyết định Trên thực tế, các chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM ở Việt Nam thực
Trang 35những người nghèo buộc phải có hành vi tiết kiệm trong chi tiêu của mình và qua
đó, dần tạo thành thói quen tiết kiệm trong cuộc sống hàng ngày – tiền đề để những con người này dần thoát khỏi đói, nghèo
Ở một khía cạnh khác, mặc dù pháp luật không có quy định song trên thực
tế, các chương trình, dự án có cung ứng dịch vụ TCVM luôn có những hoạt động dạy cho người nghèo biết cách kiếm tiền thông qua các hoạt động kinh doanh phù hợp10 Thực chất, đây chính là một phần của hoạt động TCVM và có những đóng góp không nhỏ vào chính thành công của TCVM này bởi lẽ, việc khách hàng của TCVM biết cách tạo ra thu nhập từ những khoản vay của TCVM chính là tạo khả năng trả nợ của những người nghèo, đói cho chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM Có thể thấy, đây chính là một trong những khác biệt căn bản của TCVM với các hoạt động tín dụng khác, đặc biệt là tín dụng ưu đãi dành cho người nghèo Cũng chính bởi yếu tố này nên TCVM luôn được coi là phương thức xóa nghèo bền vững11 Tóm lại, về mặt bản chất thì TCVM là một hoạt động kinh tế hết sức đặc biệt trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng khi có thể kết hợp một cách hết sức hài hòa giữa mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận (để tồn tại) và thực hiện được vai trò xã hội quan trọng của mình (góp phần xóa đói, giảm nghèo) TCVM không phải là hoạt động kinh doanh tiền tệ thuần túy như các NHTM hay bất kỳ một TCTD nào khác đồng thời, TCVM cũng không phải là một hoạt động mang tính xã hội theo kiểu “bao cấp – từ thiện” như các dịch vụ được cung ứng bởi NHCSXH hiện nay TCVM là dịch vụ ngân hàng hướng đến phục vụ những đối tượng nghèo nhất của xã hội nhưng với mức lãi suất đủ cao để TCVM có thể tồn tại đồng thời người thụ hưởng dịch vụ (người nghèo) cũng đủ khả năng để chấp nhận Nói một cách ngắn gọn, TCVM chính là phương thức xóa đói giảm nghèo bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi mà số lượng người nghèo, đói vẫn còn ở mức cao như Việt Nam
11 Người nghèo biết tạo ra thu nhập nên họ sẽ thoát nghèo bởi chính những nguồn thu nhập đó và tổ chức TCVM thu được nợ, đảm bảo an toàn vốn và sự an toàn của chính tổ chức đồng thời có được những nguồn thu nhập cần thiết để duy trì hoạt động cũng như mở rộng hoạt động của mình
Trang 362.1.3 Vai trò của tài chính vi mô
Sự thành công của hàng loạt các mô hình TCVM ở nhiều nước trên thế giới thông qua sự lớn mạnh bền vững của các mô hình này cùng với việc thoát cảnh nghèo đói của số lượng người ngày càng nhiều hơn đã cho chúng ta thấy tầm quan trọng của TCVM cả dưới khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội Thực tế cũng chứng minh rằng, ở những nước đang phát triển, nơi mà số lượng người nghèo, đói vẫn còn chiếm một tỷ lệ khá lớn thì TCVM càng thể hiện rõ nét hơn vai trò quan trọng của mình như một công cụ chống đói nghèo hiệu quả
Cũng là một nước đang phát triển với tỷ lệ hộ nghèo còn cao, ngành TCVM Việt Nam cũng luôn thể hiện được mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng của mình đối với bộ phận dân cư có thu nhập thấp Mặc dù vậy, việc đánh giá một cách chính xác về vai trò của TCVM ở Việt Nam hiện nay có lẽ vẫn còn là một điều khó khăn khi vẫn có những quan điểm trái chiều về lĩnh vực này Tuy nhiên, qua khảo sát thực tiễn hoạt động TCVM ở một số địa phương như Hà nội, TP Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Điện Biên, Đồng Nai và Quảng Ninh, có thể thấy TCVM ở Việt Nam đang thể hiện vai trò quan trọng của mình như ngành TCVM ở các quốc gia khác trên thế giới Có thể thấy, TCVM có những vai trò cơ bản sau đây:
Thứ nhất, TCVM đã và đang giúp một bộ phận dân cư thoát khỏi đói nghèo thông qua việc cải thiện thu nhập Thực tế, các chương trình, dự án hoạt động TCVM
không chỉ cấp vốn cho người nghèo mà còn truyền cho họ cách tạo ra thu nhập một cách hiệu quả từ những đồng vốn vay đó Đây thực sự là một việc làm có ý nghĩa vì
nó giúp cho người nghèo có thể vượt qua cái nghèo một cách đơn giản hơn rất nhiều
so với việc chỉ đơn giản là cho họ vay một món tiền với lãi suất thấp12 Ngoài ra, việc
sử dụng vốn vay hiệu quả chính là tiền đề quan trọng để tổ chức cho vay có thể thu hồi được vốn vay của mình Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất lý giải cho câu hỏi tại sao phần lớn các chương trình, dự án hoạt động TCVM đều tồn tại với thời gian lâu dài chỉ bằng những khoản tài trợ không lớn của các tổ chức phi chính phủ lúc ban đầu;
Thứ hai, TCVM góp phần làm giảm bớt thiệt hại mà người nghèo có thể phải
12 Phương thức mà các chương trình xóa đói giảm nghèo của nhà nước đã và đang áp dụng với các hộ nghèo
ở Việt Nam
Trang 37gánh chịu do những tác động bất thường Bản thân người nghèo, do sự yếu kém về
năng lực tài chính nên thực sự khá nhạy cảm và rất dễ bị tốn thương bởi những tác động bất thường như thiên tai, hỏa hoạn, bệnh tật hay sự suy giảm về khả năng tài chính của gia đình và bản thân… Sự đồng hành của TCVM trên bước đường của người nghèo đã và đang thực sự là nguồn động viên cần thiết cả về vật chất và tinh thần, sẵn sàng cùng với họ đối mặt với những quy luật khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường, nơi mà sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng trở nên rõ nét Đây thực sự
là một ý nghĩa xã hội quan trọng mà ngành TCVM mang lại cho xã hội chúng ta hiện nay;
Thứ ba, Với Việt Nam nói riêng, TCVM góp phần nâng cao vị trí xã hội của người phụ nữ Việt Nam Vai trò này xuất hiện khi hầu hết các chương trình, dự án
có hoạt động TCVM ở Việt Nam đều hướng đến đối tượng khách hàng là những người phụ nữ Việc người phụ nữ được tiếp cận đến một nguồn tài chính và được học cách tạo ra thu nhập từ những nguồn tài chính đó sẽ làm cải thiện vị trí của họ
cả trong gia đình và trong xã hội;
Thứ tư, dưới góc độ kinh tế, TCVM hoàn toàn có thể trở thành một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả, thể hiện qua việc bảo toàn vốn và thu được mức lợi nhuận rất
đáng khích lệ Việt Nam, với số lượng đối tượng khách hàng khá lớn, trải đều ở các địa phương trong cả nước chính là thị trường rộng lớn mà TCVM có thể khai thác Nếu có một cơ chế quản lý tốt và một cách tiếp cận đúng đắn với sự hỗ trợ cần thiết
từ phía pháp luật, TCVM Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một lĩnh vực kinh doanh thực sự hiệu quả Đây là một điểm đáng mừng và thực sự cần thiết vì đó là yếu
tố căn bản để tổ chức TCVM tồn tại và phát triển bền vững, qua đó đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc chống đói nghèo hiện nay;
Thứ năm, dưới góc độ xã hội, TCVM sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, góp phần bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội Thoạt nghe có vẻ vai trò này là khá xa lạ và
quá sức với TCVM song trên thực tế điều này là hoàn toàn khả thi Có thể khẳng định, sự tồn tại của tín dụng ưu đãi đã, đang và sẽ luôn có những ý nghĩa nhất định với xã hội nói chung và những đối tượng khó khăn trong xã hội nói riêng song cũng không thể phủ nhận rằng, sự hiện diện của tín dụng ưu đãi cũng tạo thêm cơ hội trục lợi cho giới trung lưu, làm gia tăng cơ hội tham nhũng cho những đối tượng có chức quyền Sự xuất hiện của TCVM làm cho người nghèo, đói có thể thoát nghèo mà
Trang 38không cần nhờ đến các khoản tín dụng ưu đãi chính là đã làm giảm bớt cơ hội tham nhũng, trục lợi của giới trung lưu trong xã hội Ngoài ra, TCVM còn giúp góp phần người nghèo hạn chế phải tiếp cận đến các hoạt động tín dụng đen – cho vay nặng lãi – khi đã có được những nguồn tài chính cần thiết Điều này sẽ góp phần hạn chế việc gia tăng các hoạt động tín dụng nặng lãi trong xã hội trong giai đoạn hiện nay
2.1.4 Khái niệm và bản chất của tổ chức tài chính vi mô
Mặc dù TCVM đã có một khoảng thời gian tồn tại khá dài song một cách hiểu thống nhất về khái niệm tổ chức TCVM vẫn chưa được xác định mà hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này:
Theo NH phát triển châu Á (ADB) thì “Tổ chức TCVM là các tổ chức có hoạt động kinh doanh chủ yếu về TCVM” và cơ quan này cũng xác định TCVM
không chỉ được cung ứng bởi các tổ chức TCVM mà trái lại, có tới ba nguồn cung ứng dịch vụ TCVM bao gồm: các tổ chức chính thức, ví dụ các NH và các hợp tác xã; các tổ chức bán chính thức, ví dụ như các tổ chức phi chính phủ; và nguồn không chính thức, như những người cho vay tiền và chủ hiệu [43, Tr 1]
Ở một cách tiếp cận khác, CGAP cho rằng các tổ chức TCVM bao gồm các NHTM và các NH phát triển nhà nước cung cấp dịch vụ TCVM (các tổ chức TCVM NH) và các hợp tác xã tài chính gồm các hiệp hội tín dụng, các tổ chức được cấp giấy phép và không được cấp giấy phép khác (các tổ chức TCVM phi NH) [73,
Tr 1] Bằng cách liệt kê này, CGAP cho chúng ta cách hiểu tổ chức TCVM là một
tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM mà không cần bận tâm đến việc TCVM có phải là hoạt động chủ yếu của tổ chức đó hay không
Mặc dù không đưa ra cách lý giải trực tiếp thế nào là tổ chức TCVM nhưng Microfinance network (Mạng lưới TCVM - MFN) liệt kê các tổ chức TCVM bao gồm nhiều loại hình tổ chức Đó có thể là những chương trình TCVM phi lợi nhuận hình thành nên các tổ chức TCVM chính thức, các NH của Chính phủ có bộ phận hoạt động TCVM, các NHTM thành lập các đơn vị phụ thuộc hoạt động TCVM, và các hiệp hội tín dụng [75, Tr 2]
Qua các cách lý giải trên đây chúng ta thấy dường như thế giới ít quan tâm đến việc lý giải cặn kẽ thế nào là một tổ chức TCVM mà chú ý nhiều hơn đến việc xác định dịch vụ TCVM được cung ứng bởi những nguồn nào Thực tiễn này cho thấy vẫn không có được sự thống nhất về mặt tiêu chí để xác định thế nào là một tổ
Trang 39chức TCVM mà vẫn tồn tại hai cách lý giải:
Thứ nhất, tổ chức TCVM là tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM – TCVM chỉ là một trong số các dịch vụ mà tổ chức này cung ứng;
Thứ hai, tổ chức TCVM là những tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM như là hoạt động kinh doanh cốt lõi (thậm chí có thể là duy nhất)
Như vậy, mặc dù đã xác định tầm quan trọng của TCVM trong công cuộc
chống đói nghèo như: “Phương pháp cấp tín dụng sử dụng các cơ chế hiệu quả thay thế vật thế chấp để phân phối và thu hồi vốn vay kinh doanh ngắn hạn cho các nhà doanh nghiệp nhỏ 13 (hoặc doanh nghiệp nhỏ tiềm năng), với triển vọng là những doanh nghiệp nhỏ của khách hàng sẽ tăng trưởng, tạo thu nhập cho họ và đôi khi tạo thêm việc làm, đưa người nghèo thoát khỏi nghèo khổ” [30] thì đương
nhiên việc xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi cho TCVM cũng là điều đã phải được tính đến, trong đó bao hàm cả quy chế pháp lý rõ ràng cho tổ chức TCVM Mặc dù vậy, cho đến nay, việc xác định thế nào là tổ chức TCVM vẫn là sự lựa chọn dành riêng cho từng quốc gia quan tâm
Ở Việt Nam, trong một khoảng thời gian khá dài chúng ta không có các quy định pháp luật cần thiết để điều chỉnh đến hoạt động TCVM thì đương nhiên, cũng không có một cách hiểu mang tính pháp lý về tổ chức TCVM Các học giả Việt Nam khi thực hiện các nghiên cứu về lĩnh vực này cũng chịu tác động của những cách tiếp cận phổ biến trên thế giới về tổ chức TCVM, theo đó họ hiểu, bất cứ tổ chức nào cung ứng các dịch vụ tài chính, NH nhỏ cho đối tượng khách hàng là những người có thu nhập thấp trong xã hội thì đều được gọi là tổ chức TCVM Theo
đó, tổ chức TCVM bao gồm ba nhóm: (i) các tổ chức TCVM chính thức (bao gồm các tổ chức được cấp phép để thực hiện các hoạt động tài chính – NH vì được quản
lý với tính cách/như là một TCTD); (ii) các tổ chức TCVM bán chính thức (bao gồm các tổ chức được cấp phép không phải là các TCTD nhưng được phép thực hiện một, một số các hoạt động TCVM) và (iii) các tổ chức TCVM không chính thức (bao gồm các chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM mang tính tự phát, không trên
13 Thuật ngữ “doanh nghiệp nhỏ” này được dịch từ thuật ngữ “microenterpreneurs” rất hay xuất hiện trong các tài liệu về TCVM Có thể hiểu đây là những chủ thể kinh doanh có nguồn lực tài chính hạn chế, cơ sở kinh doanh nhỏ và cần phân biệt với khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ (small and medium enterprises - SMEs) đang được sử dụng ở Việt Nam hiện nay
Trang 40cơ sở sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) [4, Tr 24,25] Với cách tiếp cận này, đã xuất hiện quan điểm cho rằng, tổ chức TCVM ở Việt Nam bao gồm cả NHHTX, các Quỹ tín dụng nhân dân; Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, Hội Nông dân VN, Hội Cựu chiến binh VN, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh14 rồi hụi họ biêu phường….[60]
Cách lý giải về tổ chức TCVM nêu trên khá rộng và dường như, bất kỳ một chủ thể nào bao hàm cả các tổ chức, cá nhân và nhóm tự phát nếu thực hiện việc cung ứng dịch vụ tài chính – NH cho đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội đều được coi là tổ chức TCVM, thậm chí trong đó có cả những chủ thể không phải là một tổ chức thực thụ Tuy nhiên, đây lại là cách tiếp cận đến TCVM của khá nhiều quốc gia trên thế giới [88] hiện nay
Rõ ràng, cách tiếp cận trên đây cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về các nguồn cung cấp dịch vụ TCVM trong xã hội song nếu coi tất cả các nguồn đó là tổ chức TCVM thì sẽ không dễ cho nhà làm luật xây dựng một quy chế pháp lý chuẩn
để có thể áp dụng chung cho tất cả những nguồn cung cấp dịch vụ TCVM đó Chính bởi vậy, khi văn bản đầu tiên của Việt Nam được ban hành để điều chỉnh về TCVM
- Nghị định 28/2005/NĐ-CP - được ban hành thì Khoản 2 Điều 2 văn bản này đã xác định:
“Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực
tài chính, NH, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình,
cá nhân có thu nhập thấp.”
Một định nghĩa cho dù thực sự chưa rõ ràng để hiểu khi mà ngay từ tên gọi
đã có sự khác biệt với thông lệ quốc tế đến nội hàm được xác định khá phức tạp song cũng có thể coi, đây chính là nền móng cho việc tiếp cận đến khái niệm tổ chức TCVM ở Việt Nam
Khi Luật các TCTD năm 2010 được ban hành thì TCVM và tổ chức TCVM được quy định rõ ràng hơn và dường như, đúng đắn hơn khi đã trả lại cho lĩnh vực này tên gọi vốn có của nó theo thông lệ quốc tế Khoản 5 Điều 4 Luật các TCTD
14 Thực chất các tác giả này đã nhầm lẫn các chương trình các chương trình dự án hoạt động TCVM (tồn tại khá nhiều ở Việt Nam dưới dạng các quỹ xã hội) của các tổ chức chính trị xã hội với chính các tổ chức này
và cho rằng các tổ chức chính trị xã hội chính là các tổ chức TCVM