1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm

192 303 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Nếu thực hiện giáo dục GTNN cho sinh viên theo các quy trình, trong đó mỗi quy trình được thiết kế tương thích và gắn kết chặt chẽ với quy trình tổ chức một loại hình

Trang 1

Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong lao động sư phạm, nhân cách người giáo viên có vai trò vôcùng quan trọng Nó là tác nhân chủ yếu chi phối quá trình hình thành và pháttriển nhân cách học sinh, là yếu tố quyết định hàng đầu đến chất lượng giáodục của nhà trường Bàn về nhân cách người giáo viên, nhà giáo dục học nổitiếng K.D Usinxky đã khẳng định: “Trong việc giáo dục, tất cả phải dựa vàonhân cách người giáo dục, bởi vì sức mạnh của giáo dục chỉ bắt nguồn từnhân cách của con người mà có Không một điều lệ, chương trình, không một

cơ quan giáo dục nào dù nó được tạo ra một cách khôn khéo như thế nào cũngkhông thay thế được nhân cách của con người trong sự nghiệp giáo dục.Không một sách giáo khoa, một lời khuyên răn nào, một hình phạt, một khenthưởng nào có thể thay thế ảnh hưởng cá nhân người thầy giáo đối với họcsinh”[55]

ảnh hưởng của nhân cách người giáo viên đến học sinh thật là to lớn.Điều đó đã góp phần khẳng định vị thế của người giáo viên trong công tácgiáo dục cũng như trong đời sống xã hội, nhưng chính điều đó lại đòi hỏingười giáo viên phải có một nhân cách mẫu mực, phải là tấm gương sáng vềđạo đức, lối sống và tài năng trí tuệ cho học sinh noi theo Muốn có một nhâncách như vậy, người giáo viên cần phải không ngừng học tập, tu dưỡng đểhoàn thiện bản thân về mọi mặt, song trước hết họ phải được đào tạo mộtcách chuẩn mực

Đào tạo giáo viên, về bản chất, là quá trình tổ chức các loại hình hoạtđộng và giao lưu của giáo sinh nhằm giúp họ hình thành được nhân cách củanhà giáo dục Nói đến nhân cách nhà giáo dục là nói đến hệ thống định hướnggiá trị nghề nghiệp của họ Bởi lẽ, định hướng GTNN là thành tố cốt lõi trongcấu trúc nhân cách nhà giáo, có tác dụng xác định phương hướng hoạt động

Trang 2

trí tuệ và sự nỗ lực ý chí của người giáo viên, quyết định động cơ của họ tronghọc tập, sinh hoạt và lao động Các định hướng GTNN là cơ sở bên trong củamọi hoạt động và hành vi, là hạt nhân cơ bản tạo nên phẩm chất và năng lựccủa người giáo viên Vì thế, trong quá trình đào tạo của nhà trường sư phạm,

tổ chức một cách hiệu quả việc giáo dục, hình thành hệ thống định hướngGTNN cho giáo sinh là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt

1.2 Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốcdân, bậc học đầu đời của mỗi con người Lao động trong lĩnh vực GDTH,người giáo viên có những vai trò hết sức to lớn Giáo viên tiểu học là ngườiđầu tiên dẫn dắt trẻ em đi vào thế giới khoa học, giúp các em chiếm lĩnh cácgiá trị văn hóa của nhân loại để hình thành nên những cơ sở ban đầu, nhữngđường nét cơ bản nhất của nhân cách Trong quá trình giáo dục học sinh,GVTH là “ông thầy tổng thể”, có nhiệm vụ giảng dạy hầu hết các môn học và

tổ chức hầu hết các hoạt động giáo dục ở lớp mình phụ trách Như vậy,GVTH là người đóng vai trò chủ yếu trong việc định hình nhân cách học sinh,tạo dựng cho các em một nền tảng vững chắc để tiếp tục học lên các bậc họccao hơn Kết quả lao động của người GVTH có ảnh hưởng rất lớn đến sự pháttriển lâu dài của học sinh, đến chất lượng giáo dục của nhà trường tiểu học vàrộng hơn là của cả các nhà trường ở bậc học sau Tuy nhiên, kết quả lao độngcủa người GVTH lại phụ thuộc phần lớn vào trình độ phát triển nhân cách của

họ Do đó, có nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục nhân cách, giáo dụcGTNN trong đào tạo giáo GVTH thì mới đảm bảo được chất lượng giáo dụccủa nhà trường phổ thông, góp phần vào việc đào tạo nhân lực và nhân tài chođất nước

Trong giai đoạn hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoahọc kỹ thuật cũng như của đời sống xã hội, nhiều nước trên thế giới đã phấnđấu để dần dần toàn bộ GVTH được đào tạo ở trình độ đại học Nằm trong xuhướng chung đó, ở nước ta những năm gần đây, nhiều trường đại học cũng đã

Trang 3

triển khai chương trình đào tạo cử nhân GDTH Mục tiêu của chương trình làchuẩn bị cho sinh viên có đủ khả năng để trở thành giáo viên cốt cán bậc tiểuhọc và đáp ứng được sự phát triển của GDTH trong những thập kỷ tới Mụctiêu này đã cho thấy, việc tổ chức có hiệu quả quá trình giáo dục nhân cách,giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH có ý nghĩa rất quan trọng

và cấp thiết

1.3 Trong quá trình đào tạo của nhà trường sư phạm, việc giáo dụcGTNN cho sinh viên nói chung, sinh viên ngành GDTH nói riêng, được thựchiện thông qua các con đường: hoạt động dạy học, hoạt động thực hànhnghiệp vụ sư phạm, xây dựng môi trường văn hóa sư phạm,… Trong đó, hoạtđộng thực hành NVSP là con đường có những tiềm năng rất to lớn

Thực hành NVSP có chức năng hình thành các kỹ năng, rèn luyện taynghề sư phạm cho sinh viên Trong suốt quá trình đào tạo, hoạt động thựchành NVSP được triển khai thường xuyên, liên tục qua các hình thức: thựchành phương pháp giảng dạy các bộ môn, rèn luyện NVSP thường xuyên,thực tập sư phạm cuối khoá Các hoạt động thực hành này được sắp xếp thành

hệ thống theo hướng giúp sinh viên thích ứng dần với nghề dạy học Xét vềbản chất, thực hành NVSP là một hoạt động thực tiễn nên có nhiều ưu thếtrong việc giáo dục GTNN cho sinh viên Qua các nội dung thực hành nhưgiảng dạy, chủ nhiệm lớp, tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sinh viên có điều kiện để trải nghiệm những hiểu biết, kỹ năng và tình cảmnghề nghiệp của mình, từ đó củng cố được niềm tin, quan điểm và hình thànhnên hệ thống định hướng GTNN Thực hành NVSP, với những ưu thế của nó,chính là con đường giáo dục GTNN chủ yếu và quan trọng nhất trong đào tạogiáo viên Vì vậy, để hình thành hệ thống định hướng GTNN cho sinh viênngành GDTH, thì trước hết, phải tổ chức một cách khoa học và có hiệu quảviệc giáo dục GTNN qua các hoạt động thực hành NVSP

Trang 4

1.4 Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nói chung, trong giáodục học nói riêng, định hướng giá trị và giáo dục giá trị là những vấn đề cònmới mẻ nhưng đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học Nhiềucông trình nghiên cứu đã được triển khai nhằm làm sáng tỏ bản chất kháiniệm giá trị và định hướng giá trị; tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị củacác nhóm dân cư khác nhau; xác định bản chất, mục đích, nội dung và các conđường giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ Cũng đã có nhiều công trình nghiêncứu về vấn đề giáo dục giá trị văn hóa truyền thống, giáo dục giá trị văn hóaứng xử, giáo dục giá trị đạo đức, giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên.Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn rất ít công trình đề cập đến vấn đề giáo dụcGTNN trong đào tạo giáo viên ở nước ta Bởi vậy, nghiên cứu về tổ chức giáodục GTNN cho sinh viên ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP là vấn

đề có ý nghĩa lý luận quan trọng

1.5 ở nước ta hiện nay, xây dựng đội ngũ giáo viên có đủ phẩm chất vànăng lực để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã trở thành một trong những nhiệm vụ cơbản của quá trình đổi mới giáo dục Chỉ thị 40 - CT/ TW của Ban Bí thưTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “phải tăng cường xâydựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện Đây lànhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài,nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 vàchấn hưng đất nước…” [1]

Trong thực tế những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhàgiáo ngày càng đông đảo, phần lớn đều có phẩm chất tốt, trình độ chuyênmôn nghiệp vụ ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, trước những yêu cầumới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,đội ngũ nhà giáo còn có nhiều hạn chế, bất cập Đặc biệt, trình độ đào tạo củađội ngũ GVTH ở nước ta nói chung còn thấp Nhiều giáo viên chưa nhận thức

Trang 5

đúng vai trò, trách nhiệm to lớn của mình, chưa có định hướng GTNN phùhợp, chỉ coi dạy học là dạy chữ chứ chưa phải là dạy người theo nghĩa đầy đủnhất [2]

Để nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH, cần phải triển khai một cáchđồng bộ các giải pháp về đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Song, dù là giảipháp nào thì cũng phải lấy việc hình thành và hoàn thiện ở người giáo viênmột hệ thống định hướng GTNN phù hợp với yêu cầu của thực tiễn giáo dụclàm nhiệm vụ cơ bản Chính vì thế, tổ chức có hiệu quả việc giáo dục GTNNcho sinh viên ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP sẽ góp phần quantrọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiệnnay

Với những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm” để thực hiện luận án tiến sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng các quy trình tổ chức giáo dục giá trị thông qua hoạt độngthực hành nghiệp vụ sư phạm để tăng cường và nâng cao hiệu quả giáo dụcgiá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đào tạo giáo viên tiểu học ở trường đại học sư phạm

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện giáo dục GTNN cho sinh viên theo các quy trình, trong

đó mỗi quy trình được thiết kế tương thích và gắn kết chặt chẽ với quy trình

tổ chức một loại hình hoạt động thực hành NVSP nhất định, thì sẽ nâng caođược hiệu quả giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH

Trang 6

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xác định cơ sở lý luận của việc tổ chức giáo dục GTNN cho sinh

viên ngành GDTH, làm rõ hệ thống GTNN cần hình thành cho sinh viên đạihọc ngành GDTH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành

GDTH hiện nay

5.3 Xây dựng các quy trình tổ chức giáo dục GTNN cho sinh viên đại

học ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP Triển khai thực nghiệm sưphạm để kiểm chứng về tính khả thi và hiệu quả của các quy trình đó

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Về nội dung nghiên cứu: Giáo dục GTNN cho sinh viên sư phạm là

một quá trình liên tục, được thực hiện qua nhiều con đường khác nhau Đề tàinày tập trung nghiên cứu, thiết kế các quy trình tổ chức giáo dục GTNN chosinh viên đại học ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP Thực nghiệmgiáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH theo các quy trình tronghoạt dộng rèn luyện NVSP thường xuyên

6.2 Về địa bàn nghiên cứu: Các nghiên cứu thực tiễn bao gồm: khảo

sát thực trạng, thực nghiệm các quy trình tổ chức giáo dục GTNN được thựchiện tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận triển khai đề tài: Để đảm bảo tính khách quan,

trong quá trình nghiên cứu vấn đề giáo dục GTNN cho sinh viên ngànhGDTH cần kết hợp các cách tiếp cận phức hợp và hệ thống, tiếp cận xã hội -lịch sử, tiếp cận hoạt động - giá trị

7.1.1 Tiếp cận phức hợp và hệ thống: Giáo dục giá trị là vấn đề của

giáo dục học, song cũng là vấn đề được đề cập đến trong nhiều ngành khoahọc khác nhau Do đó, cần chú ý đến quan điểm phức hợp khi xem xét, xácđịnh nội dung và phương thức giáo dục GTNN cho sinh viên ngành GDTH

Trang 7

Mặt khác, giáo dục giá trị được xác định là một nội dung giáo dục nằmtrong hệ thống các nội dung của quá trình giáo dục nhằm hình thành toàn vẹnnhân cách con người Đồng thời, bản thân quá trình giáo dục giá trị cũng làmột hệ thống, trong đó là sự tương tác qua lại một cách hữu cơ giữa các thànhtố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức giáo dục giátrị… Vì thế, khi thiết kế các quy trình giáo dục GTNN cho sinh viên ngànhGDTH cần phải quán triệt quan điểm hệ thống.

7.1.2 Tiếp cận xã hội - lịch sử: Là một quá trình giáo dục, giáo dục giá

trị luôn mang tính xã hội - lịch sử Trong mỗi quốc gia, vào mỗi giai đoạn lịch

sử cụ thể, giáo dục giá trị đều có những đặc trưng riêng về mục đích, nộidung, phương pháp giáo dục,…Bởi vậy, khi nghiên cứu về giáo dục GTNNcho sinh viên ngành GDTH cần phải chú ý đến các đặc trưng của giáo dục giátrị theo lịch đại và đồng đại Đặc biệt, phải đặt vấn đề tổ chức giáo dục GTNNcho sinh viên ngành GDTH trong bối cảnh phát triển của xã hội về mọi mặt

để xem xét

7.1.3 Tiếp cận hoạt động - giá trị: Nhân cách của mỗi người không

phải sinh ra đã có mà được hình thành trong quá trình sống bằng dòng hoạtđộng của bản thân Trong hoạt động, con người chiếm lĩnh các giá trị từ nềnvăn hoá xã hội của loài người để hình thành nên hệ giá trị, thang giá trị vàthước đo giá trị là những thành phần cốt lõi của nhân cách Khi đã hình thành,thang giá trị và thước đo giá trị lại được con người vận dụng để tạo ra cáchoạt động mới, để tổ chức và đánh giá các hoạt động khác nhau trong cuộcsống Như vậy, hoạt động và giá trị luôn có sự gắn kết chặt chẽ, chi phối qualại lẫn nhau Chính nhờ sự tương tác này mà nhân cách của mỗi con ngườingày càng được hoàn thiện Vì thế, khi nghiên cứu về giáo dục GTNN chosinh viên ngành GDTH, cần phải chú ý đến các hoạt động đa dạng của nghề,

tổ chức các hoạt động đó một cách thích hợp để tạo điều kiện cho họ nhận

Trang 8

thức, đánh giá, trải nghiệm về các GTNN và vận dụng các giá trị đó vào việcgiải quyết các vấn đề trong thực tiễn giáo dục

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Bao gồm các phương

pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết.Nhóm phương pháp này được sử dụng để xác định bản chất của các khái niệm

cơ bản trong đề tài, mối quan hệ giữa các khái niệm đó, xác định các loại hìnhthực hành NVSP và vai trò của chúng trong giáo dục GTNN cho sinh viên.Trên cơ sở đó xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho vấn đềnghiên cứu

7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng anket:

Phương pháp này được thực hiện để thu thập thông tin về thực trạngđịnh hướng GTNN của sinh viên đại học ngành GDTH và thực trạng tổ chứcquá trình giáo dục GTNN cho sinh viên trong nhà trường đại học sư phạm.Đối tượng điều tra gồm sinh viên đại học ngành GDTH các khoá đang đượcđào tạo, cán bộ quản lý, giảng viên thuộc Trường Đại học Sư phạm, Đại học

Đà Nẵng

- Phương pháp phỏng vấn:

Được dùng để tìm hiểu các nguyên nhân về thực trạng giáo dục GTNNcho sinh viên đại học ngành GDTH và quan điểm của đội ngũ cán bộ quản lý,giảng viên trong trường sư phạm về việc giáo dục GTNN cho sinh viên quahoạt động thực hành NVSP

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Phương pháp này được sử dụng nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quảcủa các quy trình tổ chức giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTHqua hoạt động thực hành NVSP

Trang 9

7.2.3 Các phương pháp hỗ trợ gồm phương pháp quan sát, phương

pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của sinh viên, phương pháp toán học

8 Những luận điểm cần bảo vệ

8.1 Giáo dục GTNN là một nội dung, nhiệm vụ giáo dục quan trọng

trong quá trình đào tạo của nhà trường sư phạm nhằm hình thành ở người sinhviên nhân cách của nhà giáo dục

8.2 Thực hành NVSP là con đường chứa đựng những khả năng to lớn

trong việc giáo dục GTNN cho sinh viên sư phạm nói chung, sinh viên đạihọc ngành GDTH nói riêng Để những khả năng đó trở thành hiện thực, cần

phải vận hành đồng thời hoạt động giáo dục GTNN và hoạt động thực hành NVSP trong sự gắn kết hữu cơ với nhau

8.3 Thực hiện giáo dục GTNN cho sinh viên đại học ngành GDTH

theo các quy trình, trong đó mỗi quy trình được thiết kế tương thích và gắnkết hữu cơ với quy trình tổ chức một loại hình hoạt động thực hành NVSPnhất định, là cách thức để tăng cường và nâng cao hiệu quả giáo dục GTNNtrong quá trình đào tạo cử nhân GDTH

9 Đóng góp mới của luận án

9.1 Luận án trình bày tương đối đầy đủ, có hệ thống về các vấn đề giá

trị, định hướng giá trị và giáo dục giá trị Bước đầu nêu lên nhận thức về giátrị nghề nghiệp, định hướng GTNN và giáo dục GTNN Đã tiến hành xác định

hệ thống GTNN của người GVTH, đề xuất nội dung giáo dục GTNN cho sinhviên ngành GDTH ở nước ta hiện nay Có thể xem đó là sự góp phần làmsáng tỏ thêm lý luận về vấn đề giáo dục giá trị, đặc biệt là về giáo dục giá trịnghề nghiệp

9.2 Luận án đã thiết kế được các quy trình tổ chức giáo dục GTNN cho

sinh viên ngành GDTH qua hoạt động thực hành NVSP Việc vận dụng cácquy trình này có thể giúp các trường sư phạm nâng cao được hiệu quả và chấtlượng đào tạo đội ngũ GVTH cho xã hội

Trang 10

10 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, nội dung chính củaluận án gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh

viên đại học ngành giáo dục tiểu học

Chương 2: Các hoạt động giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên

đại học ngành giáo dục tiểu học qua thực hành nghiệp vụ sư phạm

Chương 3: Đánh giá nội dung giáo dục giá trị nghề nghiệp và thực

nghiệm sư phạm về quy trình giáo dục

Trang 11

Chương 1

CƠ Sở khoa học CủA GIáO DụC GIá TRị NGHề NGHIệP

Cho sinh viên đại học ngành GIáO DụC TIểU HọC

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Ngày nay, giáo dục giá trị được quan niệm như là một vấn đề mới, một

xu thế mới của giáo dục hiện đại Tuy nhiên, kết quả khảo cứu các tài liệu chothấy, trên thế giới, việc tổ chức giáo dục giá trị trong nhà trường và nghiêncứu về giáo dục giá trị đã được tiến hành từ trước đó khá lâu

Có thể xác định lịch sử giáo dục giá trị được bắt đầu ở Mỹ vào năm

1776, khi những người trong Ban soạn thảo Tuyên ngôn độc lập Mỹ đã đặt ratrách nhiệm của nhà trường là giáo dục cho thế hệ tương lai các phẩm chấtđạo đức, truyền đạt cho họ các giá trị, đặc biệt là các giá trị dân chủ Trongthế kỷ XIX, giáo dục giá trị ở Mỹ rất được chú trọng, nhưng sang đầu thế kỷ

XX (lúc này được gọi là giáo dục tính cách) có chiều hướng bị giảm sút Vàocác năm từ 1925 đến 1929, Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Côlômbô

đã thực hiện một công trình nghiên cứu về vấn đề này và kết quả cho thấy:các chương trình giáo dục tính cách trong nhà trường ở Mỹ không mang lạihiệu quả [42] Công trình này mới chỉ tập trung vào việc đánh giá thực trạnggiáo dục tính cách, nhưng nó đã tạo ra tiền đề quan trọng cho quá trình nghiêncứu giáo dục giá trị về sau

ở Châu á, từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, vấn đề giáo dục giá trịcũng đã được bàn đến Trong cuốn Soka Kyoikugaku Taikei (Tổng luận vềGiáo dục học sáng tạo giá trị) được xuất bản năm 1930, nhà giáo dục NhậtBản Tsunesaburo Makiguchi đã nêu lên quan điểm của mình về việc xâydựng một nền giáo dục tam phương Mục đích của nền giáo dục này là đào

Trang 12

tạo học sinh thành những con người năng động, hạnh phúc, phát triển toàndiện và biết tạo ra giá trị Để thực hiện được nền giáo dục tam phương, T.Makiguchi đề nghị phải chuyển đổi chức năng của người giáo viên từ chỗ làngười truyền thụ tri thức thành người hướng dẫn hữu ích cho tiến trình tìm tòi

và học tập của học sinh Theo đó, người giáo viên phải được đào tạo và bồidưỡng để phát triển các giá trị trong nhân cách nghề nghiệp của họ Ông đã nêulên một số giá trị mà người GVTH cần có và quá trình đào tạo GVTH cần phảihướng vào Các giá trị đó là: những phẩm chất đạo đức cao hơn người thường,

có chí, lương tâm nghề nghiệp, có kỹ nghệ giảng dạy, vượt qua bản thân đểnâng cao tay nghề, tận tuỵ với nghề, hết lòng vì học sinh Ông cũng đề xuấtviệc cải cách chương trình đào tạo GVTH theo một sơ đồ ba nhánh gồm: kiếnthức tổng quát, huấn luyện kỹ thuật - phương pháp giảng dạy, rèn luyện đạođức [83]

Nhìn chung, T Makiguchi đã có một quan điểm rất hiện đại về chứcnăng của người giáo viên, về nhân cách nghề nghiệp của người GVTH và nộidung giáo dục GTNN trong đào tạo GVTH Tuy nhiên, ông chưa chỉ ra đượccác con đường để giáo dục GTNN cho người giáo sinh

Một thời gian khá dài sau khi T Makiguchi đưa ra ý tưởng của mình,giáo dục giá trị vẫn là vấn đề bị bỏ ngỏ Cho đến những thập kỷ gần đây, vấn

đề này mới thực sự được các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế quan tâmnghiên cứu Nhiều hoạt động khoa học có liên quan đến giáo dục giá trị đãđược thực hiện Cụ thể:

- Trong hoạt động điều tra nghiên cứu về định hướng giá trị của thanhniên, có các công trình đáng chú ý như: Chương trình nghiên cứu vấn đề giáodục đạo đức cho thanh niên do Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niêncủa Bungari thực hiện vào những năm 1977 - 1978; các cuộc điều tra do Phòngnghiên cứu thanh niên thuộc Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản thực hiệnđối với lứa tuổi từ 18 - 24 tuổi ở 11 nước trên thế giới và cuộc điều tra do Việnkhảo sát xã hội Châu Âu thực hiện đối với lứa tuổi 15 - 24 tuổi ở 10 nước Châu

Trang 13

Âu được tiến hành vào năm 1985; Cuộc điều tra quốc tế về giá trị đạo đức củacon người chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, do The Club of Rome thực hiện theo

đề nghị của UNESCO, được tiến hành vào năm 1986… [125]

Có thể nhận thấy, trên đây là những cuộc nghiên cứu điều tra có quy

mô lớn, mang tầm cỡ châu lục Mục đích của các cuộc nghiên cứu này đều tậptrung vào việc xác định thực trạng giá trị đạo đức và định hướng giá trị củathanh niên trong tình hình thế giới có những biến đổi nhanh chóng, vận dụngkết quả nghiên cứu vào công tác giáo dục nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵnsàng bước vào cuộc sống Mặc dù các công trình này không trực tiếp nghiêncứu về giáo dục giá trị, nhưng đã tạo ra những cơ sở khoa học quan trọng choviệc xây dựng và triển khai chương trình giáo dục giá trị ở các nước

- Bên cạnh các cuộc điều tra nghiên cứu định hướng giá trị của thanh niên,nhiều hội nghị khoa học về giáo dục giá trị cũng đã được tổ chức Điển hình là:

Hội nghị khoa học với chủ đề “Đẩy mạnh giáo dục giá trị đạo đức nhânvăn, văn hoá quốc tế” được tổ chức tại Tôkyô, Nhật Bản vào tháng 2 năm

1994 Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm giáo dục giá trị đạo đức nhân văn vàthống nhất đưa ra 8 nhóm giá trị được xác định trên cơ sở có liên quan đến 8chủ đề: Quyền con người; Dân chủ; Hợp tác và Hòa bình; Bảo vệ môi trường;Bảo vệ di sản văn hóa; Bản thân và những người khác; Tính dân tộc; Tâm linh[108];

Hội nghị với chủ đề “Chuẩn bị cho cuộc họp lần thứ 44 của Đại hộiđồng quốc tế về giáo dục” được tổ chức tại Philippin vào tháng 3 năm 1994.Hội nghị đã đưa ra nhận định là trong thời đại ngày nay có 4 vấn đề lớn cầnquan tâm giáo dục cho mọi người, trước hết là cho học sinh, đó là: Hoà bình,Quyền con người, Dân chủ và Phát triển bền vững [108];

Tiếp theo, vào tháng 8 năm 1996, một cuộc hội thảo của 20 nhà giáodục đến từ khắp nơi trên thế giới diễn ra tại trụ sở của UNICEF ở thành phốNew York Hội thảo đã bàn về nhu cầu của trẻ em và những trải nghiệm khitiếp xúc với các giá trị, về Giáo dục Giá trị sống Năm 2005, Hội nghị Bộ

Trang 14

trưởng giáo dục Châu Mỹ bàn chuyên về giáo dục giá trị dân chủ trong giáodục chính quy và không chính quy, về chương trình, tài liệu và phương phápgiảng dạy giáo dục giá trị Hội nghị lần thứ 10 (năm 2005) và lần thứ 11 (năm2007) của APEID thuộc UNESCO Bankok đã bàn chuyên về giáo dục giá trị,coi đây là nội dung quan trọng nhất để đảm bảo phát triển bền vững [40]

Ngoài các hội nghị khoa học mang tầm cỡ khu vực, nhiều cuộc hội thảocũng đã được tổ chức tại các trường đại học hoặc các cơ quan nghiên cứu giáodục Trong các hội thảo này, nhiều bài tham luận quan trọng về giáo dục giá

trị đã được trình bày Đặc biệt, đáng chú ý là bài Giáo dục giá trị trong nhà

trường phổ thông Mỹ do tác giả Dale N Titut trình bày trong Hội thảo khoa

học về giáo dục tại Đại học Kutztow vào tháng 9 năm 1994 Nội dung của bàitham luận đã tổng kết Chiến lược giáo dục giá trị ở phổ thông của Mỹ gồm 12điểm Trong mỗi điểm đều bao gồm các GTNN mà người giáo viên cần phải

có [42]

Nhìn chung, tại các cuộc hội thảo và hội nghị, các nhà khoa học đãnhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục giá trị, chia sẻ kinh nghiệm trongviệc tổ chức giáo dục giá trị, nêu lên những định hướng về nội dung giáo dụcgiá trị cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay

- Hoạt động xây dựng và triển khai chương trình giáo dục giá trị cũng đãđược các tổ chức quốc tế và nhiều nước tích cực, chủ động tiến hành, cụ thể là:

Chương trình Giáo dục các Giá trị sống của LVEP (một tổ chức phi lợinhuận được UNESCO hỗ trợ, ủy ban UNICEF Tây Ban Nha và tổ chứcBrahma Kumaris tài trợ) được triển khai từ năm 1996 Mục đích của chươngtrình là cung cấp những nguyên tắc và những công cụ cho sự phát triển của tất

cả các cá nhân, với sự hiểu biết rằng mỗi cá nhân bao gồm những khía cạnh

về thể chất, tinh thần, tình cảm và trí tuệ Thực hiện mục đích này, chươngtrình đưa ra các hoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và nhữngphương pháp thực hành nhằm trang bị cho trẻ em và thanh thiếu niên các tri

Trang 15

thức, giúp họ trải nghiệm và khám phá 12 giá trị căn bản của cá nhân, gồm:

Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Yêu thương, Hòa bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung, Đoàn kết [111].

Bên cạnh Chương trình Giáo dục các Giá trị sống của LVEP, nhiềunước cũng đã xây dựng và triển khai chương trình giáo dục giá trị vào trongcác trường phổ thông ở Mỹ, giáo dục giá trị được tiến hành thông quachương trình giáo dục tính cách theo quy định của chính quyền các bang.Chẳng hạn, cơ quan lập pháp bang Gioocgia thông qua chương trình giáo dụctính cách vào năm 1997 và giao cho Hội đồng giáo dục Bang soạn thảo cácvăn bản cụ thể, xác định giáo dục giá trị là mang lại cho học sinh các cơ hộiphát triển tri thức, kỹ năng và thái độ, tương ứng với các giá trị và hành vibiểu hiện các giá trị ấy, tập trung ở niềm tin vào chân và thiện Hội đồng đãsoạn ra hệ giá trị gồm 26 giá trị, đề ra một kế hoạch triển khai rất cụ thể, từxây dựng chương trình, tài liệu giảng dạy, các hoạt động,… đến việc đào tạogiáo viên, ngân sách, cách đánh giá [42]

ở nhiều nước, giáo dục giá trị được gắn với giáo dục đạo đức hoặc giáodục công dân Chẳng hạn, Scotland đã nhấn mạnh đến việc hình thành ở họcsinh các giá trị của niềm tin cơ bản, các giá trị giao lưu; Bang New SouthWales đã chủ trương nâng cao chất lượng giáo dục các thái độ và hành vi với

3 loại giá trị: các giá trị của việc học tập, các giá trị về bản thân và về ngườikhác, các giá trị của tinh thần trách nhiệm công dân [40]

Một số nước ở khu vực Đông Nam á cũng đưa giáo dục giá trị vàotrong nhà trường và toàn xã hội từ rất sớm Năm 1988, Philippin tiến hànhxây dựng và triển khai “Chương trình giáo dục cho người Philipin” Đồngthời, cũng trong năm đó, Bộ Văn hoá giáo dục thể thao Philippin đã phát hànhtài liệu “Giáo dục giá trị cho người Philippin” Vào năm 1992, Trung tâmcanh tân và công nghệ giáo dục thuộc Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục ĐôngNam á công bố tài liệu “Giá trị trong hành động” Tài liệu trình bày về quan

Trang 16

điểm, mục tiêu, chương trình, cách đưa giáo dục giá trị vào nhà trường vàcộng đồng của các nước Indonesia, Philippin, Singapo, Malaysia, Thailand[125] Những định hướng nêu trong tài liệu đã được 5 nước này vận dụng kháhiệu quả vào việc xây dựng và triển khai các chương trình giáo dục giá trịtrong suốt hai thập kỷ qua Đặc biệt, ở Philipin, Hội đồng giáo dục đại học đãquy định Chương trình đào tạo cử nhân giáo dục tiểu học và cử nhân giáo dụctrung học bao gồm các kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị, kinh nghiệm bảođảm cho các giáo viên tương lai có đủ những năng lực cơ bản để dạy học cóhiệu quả ở bậc học mình phụ trách Theo đó, môn Giáo dục giá trị được quyđịnh nằm trong khối kiến thức chuyên môn của khung chương trình đào tạogiáo viên [53].

Tóm lại, hiện nay giáo dục giá trị đã trở thành một xu thế chung trênthế giới, hầu hết các nước đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu và tổ chứcgiáo dục giá trị trong nhà trường Quan niệm chung của các nước khi nghiêncứu và triển khai giáo dục giá trị đều hướng đến hình thành cho học sinh, sinhviên các giá trị cốt lõi, mang tính thời đại nhằm giúp họ có thể thích ứng vàhoạt động có hiệu quả trong một thế giới đang biến đổi hết sức nhanh chóng.Tuy nhiên, do phần lớn các nước đều mới bước đầu triển khai giáo dục giá trị,nên những nghiên cứu lý luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song vẫnchưa thật toàn diện và sâu sắc Việc nghiên cứu và triển khai chương trìnhgiáo dục giá trị mới chỉ tập trung vào các giá trị sống, giá trị đạo đức - nhânvăn Trong khi đó, vấn đề giáo dục GTNN cho người học nghề, bao gồm cảnghề dạy học, còn ít được quan tâm

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

ở nước ta, vấn đề giáo dục giá trị cũng được các nhà khoa học bàn đến

từ khá sớm Năm 1986, qua bài viết “Một số vấn đề về phương pháp giáo dục

và giảng dạy đạo đức cho học sinh phổ thông” đăng trên tạp chí Thông tinkhoa học giáo dục, Hà Thế Ngữ đã chỉ ra nhân lõi của phương pháp giáo dục

Trang 17

đạo đức là phải chuyển hóa được những giá trị xã hội vào trong ý thức củangười học, và do đó, giáo dục giá trị phải là một phần hữu cơ của quá trìnhgiáo dục đạo đức [89]

Bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, giáo dục giá trị cùng với giá trị vàđịnh hướng giá trị đã trở thành những vấn đề rất được quan tâm ở nước ta vàđược bàn đến trong nhiều công trình nghiên cứu về con người, đặc biệt làtrong một số đề tài thuộc hai chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước:Chương trình KX-07 “Con người là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xãhội” (1991-1995) và Chương trình KHXH-04 “Phát triển văn hóa, xây dựngcon người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996-2000)

Trong Chương trình KX-07, vấn đề định hướng giá trị và giáo dục giátrị được các đề tài KX-07-04 “Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cáchcủa con người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội” và đề tài KX-07-

10 “ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với sự phát triển nhân cách con ngườiViệt Nam” nghiên cứu một cách có hệ thống và khá sâu sắc Cụ thể là, trong đềtài KX-07-04, các tác giả đã điều tra làm rõ định hướng giá trị của các nhóm xãhội khác nhau ở nước ta, tiến hành xác định một cách khái quát về bản chất, mụcđích, nhiệm vụ, nội dung và các con đường giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ [125].Còn ở đề tài KX-07-10, các tác giả đã tiến hành điều tra, tập trung làm rõ nhữngđặc điểm nổi bật về định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong thời kỳđổi mới, mô tả sự biến đổi định hướng giá trị của họ về các mặt kinh tế, tưtưởng, chính trị, đạo đức,… trước và sau năm 1986 [120]

Trong Chương trình KHXH-04, cũng có một số đề tài (hoặc chuyên đề)

đã đề cập đến vấn đề định hướng giá trị và giáo dục giá trị Tuy nhiên, trongcác đề tài (chuyên đề) này, vấn đề định hướng giá trị và giáo dục giá trị khôngđược nghiên cứu chuyên biệt, mà được đề cập đến thông qua việc phân tíchthực trạng và giải pháp xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống, chuẩn giá trị xã

Trang 18

hội mới trong các tầng lớp nhân dân, đề xuất mô hình nhân cách và giải phápmang tính chiến lược để thực hiện mô hình nhân cách đó [37]

Ngoài các đề tài nằm trong khuôn khổ hai Chương trình khoa học côngnghệ nêu trên, vấn đề định hướng giá trị và giáo dục giá trị còn được nhiều tácgiả nghiên cứu, bàn đến trong các đề tài khoa học, đề tài luận án tiến sĩ, trongcác hội thảo khoa học, các bài báo khoa học,… Qua khái quát, có thể nhậnthấy, những hướng chủ yếu được các tác giả tập trung nghiên cứu hoặc bànđến gồm:

- Xác định thực trạng định hướng giá trị của học sinh, sinh viên [23],32], [51], [68], [70], [80], [84], [99], trong đó, có tác giả đã tìm hiểu về thựctrạng định hướng giá trị nghề của sinh viên [95], thậm chí là định hướng giátrị nghề dạy học của sinh viên sư phạm [118];

- Giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống cho học sinh, sinh viên [4],[17], [26], [71], [81], [90], [98], [103], [107]

- Giáo dục các giá trị đạo đức - nhân văn cho thế hệ trẻ nói chung, chohọc sinh, sinh viên nói riêng [18], [109]

- Giáo dục giá trị sống cho thanh thiếu niên [72], [111], đặc biệt, trongcác năm 2005 và 2006, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục đã biênsoạn và phát hành hai tài liệu về giảng dạy các giá trị sống trong nhà trường[126], [127]

Trên thực tế, từ năm 2000, LVEP đã triển khai Chương trình Giáo dụccác Giá trị sống vào nước ta Trong khuôn khổ của Chương trình, nhiều hoạtđộng như tập huấn giảng viên, cung cấp tài liệu, hướng dẫn thực hành các giátrị sống cho các đối tượng khác nhau đã được tổ chức Tuy nhiên, Chươngtrình mới chỉ được triển khai tại các cơ sở giáo dục - lao động - xã hội với cácđối tượng là học viên cai nghiện, trẻ em đường phố, trẻ em bị thiệt thòi,… vàmột số trường phổ thông dân lập ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh [111]

Trang 19

Như vậy, vấn đề giáo dục giá trị đã được đông đảo các nhà khoa học ởnước ta quan tâm từ rất sớm Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đãđược thực hiện với những nội dung nghiên cứu hết sức đa dạng, từ tìm hiểuthực trạng định hướng giá trị, đề xuất giải pháp giáo dục giá trị ở tầm vĩ môđến xác định các con đường và biện pháp cụ thể để thực hiện giáo dục giá trịvăn hóa truyền thống dân tộc, giá trị đạo đức - nhân văn cho học sinh, sinhviên,… Tuy nhiên, việc xây dựng và triển khai các chương trình giáo dục giátrị vào trong các nhà trường còn rất hạn chế và chậm chạp

1.1.3 Vấn đề giáo dục GTNN trong đào tạo giáo viên ở nước ta

Từ trước đến nay, các trường sư phạm ở nước ta rất chú ý đến việc rènluyện cho giáo sinh các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp Đặc biệt, trongcác giáo trình Tâm lý học và Giáo dục học đều có dành riêng một chương đểbàn về nhân cách người thầy giáo với những phẩm chất và năng lực mà họcần phải có Mặc dù vậy, vấn đề giáo dục GTNN cho giáo sinh còn ít đượcquan tâm nghiên cứu, nhất là vấn đề giáo dục GTNN cho giáo sinh qua conđường thực hành NVSP lại càng ít được chú ý hơn Thực ra thì cũng khôngkhó để lý giải cho thực trạng này, bởi lẽ, giáo dục GTNN không phải là mụcđích tự thân của các nghiên cứu về hoạt động thực hành NVSP Mục đích củacác nghiên cứu này là xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn để tổ chức có hiệuquả các hoạt động rèn luyện tay nghề cho giáo sinh Do đó, trên thực tế, tuy

có ít công trình bàn đến giáo dục GTNN qua hoạt động thực hành NVSP,nhưng lại có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về hoạt động thực hànhNVSP trong đào tạo giáo viên nói chung, đào tạo GVTH nói riêng Cụ thể,vấn đề hoạt động thực hành NVSP đã được các tác giả tập trung nghiên cứuhoặc bàn đến theo các hướng chủ yếu sau đây:

- Làm rõ tầm quan trọng và những cơ sở khoa học của việc tổ chức cáchoạt động thực hành NVSP [52], [56], [57], [66], [133]

Trang 20

- Xác định mục tiêu và nội dung của các hoạt động thực hành NVSP,xây dựng chương trình và hướng dẫn tổ chức các hoạt động thực hành NVSPtrong đào tạo giáo viên [11], [13], [14], [58], [76], [102], [104], [105], [106]

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động thực hành NVSP, đềxuất các giải pháp, biện pháp và thiết kế quy trình tổ chức các hoạt động thựchành NVSP trong đào tạo giáo viên [59], [67], [85], [96], [110]

Trong những nghiên cứu nêu trên, cũng có tác giả đã bàn về vai trò củahoạt động thực hành NVSP trong việc hình thành những phẩm chất, năng lựcnghề nghiệp cho giáo sinh Chẳng hạn, tác giả Phạm Minh Hùng đã cho rằngcác đợt thực tập sư phạm đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng lòngyêu nghề, yêu trẻ cho sinh viên Việc xuống trường phổ thông, được tập làmnhững công việc của người giáo viên sẽ tạo nên hứng khởi ban đầu nhưng rấtcần thiết đối với nghề nghiệp [58] Các tác giả Phạm Trung Thanh và NguyễnThị Lý cũng khẳng định rằng hoạt động rèn luyện NVSP là một bộ phận nòngcốt trong quá trình rèn luyện tay nghề, góp phần quan trọng vào sự hình thành

và phát triển năng lực sư phạm của giáo sinh [105]

Như vậy, vấn đề giáo dục GTNN cho giáo sinh qua con đường thựchành NVSP còn ít được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, giáo dục GTNN vàthực hành NVSP là hai hoạt động giáo dục có mối quan hệ với nhau hết sứcmật thiết Do đó, những kết quả nghiên cứu về hoạt động thực hành NVSPcũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu và tổ chức giáo dụcGTNN cho giáo sinh

Tóm lại, giáo dục giá trị cho thế hệ trẻ là vấn đề đã được đặt ra từ cáchđây khá lâu, nhưng phải đến cuối của thế kỷ XX, vấn đề này mới thực sự trởthành mối quan tâm chung của các tổ chức quốc tế, của các quốc gia và củacác nhà khoa học Qua những khảo cứu ở trên có thể nhận thấy, các hoạt độngnghiên cứu về giáo dục giá trị diễn ra rất đa dạng và ngày càng phát triển rộngrãi Trên phạm vi toàn cầu, nhiều cuộc hội thảo khoa học với các tầm mức

Trang 21

khác nhau đã được tổ chức, nhiều chương trình giáo dục giá trị với các quy

mô khác nhau đã được xây dựng và triển khai Mặc dù vậy, trong nghiên cứucũng như trong thực tiễn, vấn đề giáo dục GTNN cho sinh viên sư phạm còn

ít được bàn đến

Giáo viên là người mang hệ thống giá trị của nhân loại đến cho họcsinh, là người sử dụng các giá trị trong nhân cách nghề nghiệp của mìnhlàm công cụ lao động chủ yếu Vì thế, để đào tạo ra những thế hệ giáo viên

có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong thời đại hiệnnay, thì việc nghiên cứu vấn đề giáo dục GTNN cho sinh viên sư phạm làhết sức cần thiết

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Giá trị nghề nghiệp

1.2.1.1 Giá trị

Từ thời cổ đại, những hiểu biết đầu tiên về giá trị đã có trong các tưtưởng triết học Đến cuối thế kỷ XIX, với sự xuất hiện của giá trị học, thuậtngữ giá trị được dùng để chỉ về một khái niệm khoa học và được nghiên cứungày càng sâu rộng trong triết học, đạo đức học, văn hóa học, xã hội học, tâm

lý học… Với mỗi ngành học đều có những hướng tiếp cận riêng đối với kháiniệm “giá trị” Vì thế, xung quanh khái niệm “giá trị” có khá nhiều cách địnhnghĩa khác nhau

Theo một số từ điển Việt Nam và từ điển nước ngoài, khái niệm “giá

trị” được định nghĩa “là phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự

vật hay của con người, là cái làm cho vật có ích lợi, đáng quý, là tính ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của khách thể đối với con người, giai cấp, nhóm, xã hội nói chung, được phản ánh vào các nguyên tắc và chuẩn mực đạo lý, lý tưởng, tâm thế, mục đích Có giá trị vật chất và giá trị tinh thần” [33, tr.123].

Trang 22

Nhà xã hội học J H Fichter (Hoa Kỳ) coi: “Tất cả những gì có ích lợi,

đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc nhóm xã hội đều có một giá trị” [28, tr 173]

Nhà văn hóa học C Kluckholn (Hoa Kỳ) cho rằng: “Người ta nhận

thấy ở giá trị những quan niệm thầm kín hoặc bộc lộ cái ao ước riêng của một cá nhân hay của một nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục đích khả thi của hành động” [27, tr.

31]

Còn theo quan niệm của nhà giáo dục học T Makiguchi (Nhật Bản) thì:

“Giá trị là sự thể hiện có tính định lượng của mối quan hệ giữa chủ thể đánh

giá và đối tượng của việc đánh giá” [83, tr.104].

Trong những thập kỷ gần đây, ở nước ta cũng đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về giá trị Nhìn chung, tác giả của các công trình này đều quan niệmgiá trị là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tượng đối

với chủ thể Chẳng hạn, theo tác giả Thái Duy Tuyên thì giá trị là: “cái đáng

quý, cái cần thiết, có ích, có nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, giai cấp, nhóm xã hội nói chung” [121, tr 106].

Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về giá trị Qua các địnhnghĩa có thể nhận thấy những quan điểm chung sau đây:

Thứ nhất, giá trị là tính ích lợi, tính ý nghĩa tích cực của các sự vật,

hiện tượng trong hiện thực khách quan đối với cuộc sống của con người Nónói lên khả năng của sự vật, hiện tượng trong việc thỏa mãn những nhu cầuvật chất hay tinh thần của từng người, từng nhóm người, của cộng đồng, xãhội và của toàn nhân loại Giá trị của một khách thể (sự vật, hiện tượng) hoàntoàn khác với cái gọi là bản chất và quy luật của chính bản thân khách thể đó.Cái bản chất và quy luật của khách thể luôn tồn tại một cách khách quan,không phụ thuộc vào nhu cầu của con người Còn giá trị của khách thể lại chỉ

có thể tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của chủ thể (cá nhân, nhóm, cộng

Trang 23

đồng,…) Nhờ nhu cầu mà chủ thể xác định được một đối tượng có giá trị haykhông và giá trị ấy cao hay thấp

Thứ hai, giá trị là sự biểu hiện mối quan hệ lợi ích, đánh giá của chủ thể

đối với sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan Điều đó có nghĩa, giátrị có mặt khách quan và mặt chủ quan Mặt khách quan của giá trị là nhữngđối tượng trong hiện thực chứa đựng những đặc tính có khả năng thỏa mãnnhu cầu vật chất hoặc tinh thần nào đó của con người Còn mặt chủ quan củagiá trị là thái độ, quan điểm, tiêu chuẩn lựa chọn giá trị cũng như phương thứcđánh giá đối tượng của xã hội và cá nhân Sự phân biệt hai mặt cấu thành củagiá trị đã cho thấy giá trị chỉ nảy sinh và tồn tại thông qua sự đánh giá của chủthể, mà chủ thể bao giờ cũng là con người nên giá trị là một phạm trù mangbản chất xã hội Giá trị là cái thuộc về xã hội, chỉ có trong xã hội loài người.Các giá trị giúp con người định hướng hoạt động và góp phần tạo dựng nên xãhội loài người Tuy nhiên, sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một giá trị nào

đó không phụ thuộc vào ý thức của con người mà phụ thuộc vào những yêucầu và điều kiện thực tiễn trong đó họ sống và hoạt động Do vậy, trong mỗithời đại lịch sử, mỗi chế độ xã hội, mỗi cộng đồng dân tộc, tôn giáo, giai cấp,

… đều có những giá trị riêng của mình Nói khác đi, giá trị là một phạm trùmang tính xã hội, tính lịch sử - cụ thể, luôn biến đổi theo không gian và thờigian

Thứ ba, Giá trị được hình thành trong hoạt động thực tiễn, gắn liền với

hoạt động của con người Khi đã hình thành, giá trị có vai trò là chỗ dựa đểcon người xác định mục đích, phương hướng cho hoạt động của mình Mọicách thức và hành động của con người trong hoạt động đều được chỉ đạo bởicác giá trị Vì thế, giá trị là cái chi phối con người trong việc lựa chọn cácphương thức, phương tiện và mục đích hoạt động

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách khái quát: Giá trị là

tính ích lợi, tính có ý nghĩa tích cực của sự vật, hiện tượng đối với sự thỏa

Trang 24

mãn nhu cầu của con người, có tác dụng chi phối con người trong việc lựa

chọn mục đích, phương thức và phương tiện hoạt động

Trong xã hội loài người có vô số các giá trị khác nhau Thông thường,các giá trị được phân chia thành hai loại tương ứng với hai lĩnh vực cơ bảntrong đời sống con người, đó là giá trị vật chất (thỏa mãn các nhu cầu vậtchất) và giá trị tinh thần (thỏa mãn các nhu cầu tinh thần) Người ta cũngthường phân biệt các giá trị xã hội với các giá trị cá nhân Giá trị cá nhân làgiá trị mà một con người, với tư cách là một chủ thể của hoạt động, đã tiếpthu hoặc tạo ra được cho chính bản thân mình Còn giá trị xã hội là giá trịđược đa số người trong cộng đồng thừa nhận và cần đến nó như một nhu cầuthực sự Các giá trị xã hội là các giá trị căn bản của con người, là cơ sở củagiá trị cá nhân Do đó, việc giáo dục giá trị cho cá nhân phải dựa trên nền tảngcủa các giá trị xã hội

Các giá trị, dù là giá trị cá nhân hay giá trị xã hội, bao giờ cũng tồn tại

và vận động trong mối liên hệ chặt chẽ với các giá trị khác Khi một tổ hợpcác giá trị khác nhau được cấu trúc theo những vị trí thứ bậc khác nhau, tạothành một chỉnh thể thống nhất, phù hợp với việc thực hiện các chức năng đặc

thù của xã hội thì được gọi là hệ giá trị (hệ thống giá trị) Mỗi hệ giá trị đều

có một cấu trúc riêng, trong đó các giá trị được sắp xếp theo từng nhóm tươngứng với từng lĩnh vực hoạt động của con người Các nhóm giá trị này có vị tríđộc lập tương đối và có sự tương tác với nhau trong quá trình thực hiện cácchức năng xã hội

Hệ thống giá trị là một hình thức của hệ thống xã hội nói chung, củacấu trúc xã hội nói riêng, trong đó thể hiện các cấp độ giá trị và mối liên hệgiữa các cấp độ giá trị Nói đến cấp độ giá trị là nói đến sự hệ thống hóa cácgiá trị theo tầng bậc của cộng đồng Cụ thể là, có cấp độ giá trị của toàn nhânloại, cấp độ giá trị của khu vực (châu lục), cấp độ giá trị của quốc gia - dântộc, cấp độ giá trị của một giai cấp, của tộc người, của từng nhóm xã hội, cấp

Trang 25

độ giá trị của từng cá nhân Giữa các cấp độ giá trị có nhiều nét đồng nhất vớinhau, nhưng cũng có những điểm khác biệt thể hiện ở các giá trị đơn lẻ và đặcbiệt là ở sự xếp đặt thứ tự các giá trị trong tổng thể bảng giá trị

Hệ giá trị luôn có tính lịch sử - cụ thể và chịu sự chế ước bởi lịch sử.Trong cấu trúc của hệ giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ và củahiện tại, có các giá trị đương đại và các giá trị truyền thống, các giá trị củaquốc tế, của khu vực, của dân tộc, của giai cấp… Cấu trúc đó là kết quả củaquá trình hình thành, phát triển và chuyển hóa các giá trị dưới tác động củacác điều kiện lịch sử cụ thể Do đó, trong mỗi thời kỳ lịch sử, hệ giá trị lại cómột cấu trúc tương ứng Khi điều kiện lịch sử biến đổi thì cấu trúc của hệ giátrị cũng biến đổi theo, có những giá trị cũ bị mất đi và có những giá trị mớiđược nảy sinh Điều đó đã nói lên khả năng thích ứng cũng như tính phát triểnnội tại của hệ giá trị

Hệ giá trị khác nhau thì trật tự sắp xếp các giá trị cũng khác nhau Việcsắp xếp các giá trị (hay nhóm giá trị) theo một thứ tự ưu tiên nhất định được

gọi là thang giá trị (hay thước đo giá trị) Thang giá trị được hình thành và

thay đổi theo thời gian cùng với sự phát triển, biến đổi của xã hội loài người,của dân tộc, của cộng đồng, của từng nhóm người và của từng cá nhân Thanggiá trị không tồn tại tự thân mà vận động và phát triển thông qua quá trình conngười, với tư cách là chủ thể của hoạt động và giao lưu, vận dụng vào thựctiễn để nhận thức, đánh giá, lựa chọn và chấp nhận các giá trị cũng như đểsáng tạo ra các giá trị mới Vì thế, nói đến thước đo giá trị là nói đến mặt thựctiễn của thang giá trị

Thang giá trị, thước đo giá trị được dùng để đánh giá về các giá trị.Trên thực tế, mỗi cá nhân hay cộng đồng xã hội đều có những thước đo giá trịriêng Tuy nhiên, dù là thước đo giá trị nào thì trong nó cũng có những giá trịgiữ vị trí là giá trị cốt lõi, chuẩn mực chung cho nhiều người, chiếm vị trí ở

Trang 26

bậc cao hoặc vị trí then chốt Những giá trị đó được coi là giá trị chuẩn hay

chuẩn giá trị

Chuẩn giá trị là một giá trị cụ thể, được cộng đồng xã hội lựa chọn,đánh giá trong quá trình họ tham gia vào các loại hình hoạt động và giao lưu.Khi giá trị được chọn lọc lên đến cấp độ chung cho mọi người thì nó trở thànhchuẩn giá trị nằm trong hệ giá trị xã hội, giữ vị trí là giá trị cốt lõi, thực hiệnvai trò của một giá trị hạt nhân để điều chỉnh các giá trị khác, đảm bảo chomối quan hệ tương tác trong nhóm giá trị cũng như trong cả hệ thống giá trịluôn đa dạng và ổn định Vai trò hạt nhân của chuẩn giá trị được thể hiện rõnét nhất khi nó nằm trong cấu trúc của thang giá trị ở đây, chuẩn giá trị đượclấy làm căn cứ, làm tiêu chuẩn để phân định các giá trị vào từng thang bậcphù hợp Bởi thế, chuẩn giá trị chính là thang bậc chuẩn trong thước đo giátrị

Chuẩn giá trị có vị trí độc lập tương đối Tuy nhiên, trong đời sống củamỗi cộng đồng xã hội, các giá trị chuẩn không tách rời nhau, mà liên hệ mật thiếtvới nhau tạo thành hệ chuẩn giá trị của cộng đồng Hệ chuẩn giá trị giữ vị trí lànhân lõi của hệ giá trị xã hội Nội dung của hệ giá trị xã hội được biểu hiện mộtcách cô đọng nhất ở hệ chuẩn giá trị Vì vậy, qua hệ chuẩn giá trị của một cộngđồng có thể xác định được những đặc trưng cơ bản trong hệ giá trị của cộngđồng đó Đây là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng đối vớiviệc xây dựng nội dung giáo dục giá trị cho học sinh, sinh viên hiện nay

Giá trị luôn gắn liền với sự thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinhthần của con người Do đó, nó có vai trò hết sức to lớn trong đời sống cá nhân

và cộng đồng Giá trị là nguồn động lực thôi thúc con người hành động và nỗlực vươn tới lý tưởng chân, thiện, mỹ Nó có tác dụng như những biểu tượngđịnh hướng cho hoạt động của con người, đồng thời cũng lại như nhữngchuẩn mực, quy tắc để điều chỉnh hành động của họ Mỗi nhóm xã hội và giaitầng xã hội đều có một hệ giá trị đặc thù đóng vai trò điều chỉnh mọi hoạt

Trang 27

động của cộng đồng Hệ giá trị này là hạt nhân tạo nên tâm thức chung củacộng đồng, định hướng cho các thành viên cộng đồng cùng thống nhất hànhđộng theo mục tiêu chung mà xã hội đã đề ra Chính vì thế, xây dựng các hệthống giá trị để định hướng cho xã hội nói chung, cho từng lĩnh vực giáo dục

và đào tạo nói riêng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng

1.2.1.2 Giá trị nghề nghiệp

Giá trị nghề nghiệp là một bộ phận của hệ thống giá trị xã hội, là mộtloại giá trị gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của con người Bởi vậy, kháiniệm “giá trị nghề nghiệp” chỉ trở nên rõ ràng khi nó được xem xét trong mốiquan hệ với khái niệm “nghề nghiệp”

Nghề nghiệp, theo tài liệu “Dân số - lao động - việc làm - giải pháp” của

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, được xác định là: “một lĩnh vực mà trong đó

con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những cái cần thiết cho

xã hội, nhờ đó con người có thể thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại và phát triển của mình” [129, tr 68]

Trong Từ điển Tiếng Việt thông dụng, “nghề” được định nghĩa là:

“Công việc chuyên môn theo sở trường hoặc theo sự phân công của xã hội” [134, tr 702], còn “nghiệp” là: “Nghề làm ăn, sinh sống” [134, tr 710].

Vậy, có thể xác định nghề nghiệp là công việc chuyên môn trong một lĩnhvực hoạt động nhất định, là dạng lao động đòi hỏi ở người làm việc phải cónhững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêucầu của công việc chuyên môn Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người

có thể tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, đồng thời thỏa mãnđược những nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của bản thân

Trong đời sống xã hội luôn tồn tại nhiều nghề khác nhau Bất cứ nghềnào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị nghề nghiệp Các GTNNnằm trong khái niệm “giá trị” nên nó cũng mang đầy đủ các dấu hiệu bản chấtcủa giá trị Nghĩa là, GTNN cũng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của

Trang 28

con người và chỉ được hình thành thông qua sự đánh giá của chủ thể Tuynhiên, bên cạnh những dấu hiệu chung ấy, ở GTNN còn có những đặc điểmriêng biệt sau đây:

- Giá trị nghề nghiệp là cái có khả năng giúp con người thỏa mãnnhững nhu cầu liên quan đến việc thực hiện các chức năng chuyên môn trongmột lĩnh vực hoạt động nhất định Với các nghề khác nhau thì các GTNNcũng khác nhau Song, nhìn chung, các GTNN trong mỗi nghề đều bao gồm:các phẩm chất nghề nghiệp, truyền thống của nghề, các tri thức lý thuyết củanghề, các kỹ năng, kỹ xảo, hiệu quả lao động Các GTNN đóng vai trò địnhhướng và điều chỉnh hoạt động chuyên môn của nghề, chi phối người laođộng trong việc lựa chọn mục đích, phương thức và phương tiện khi tiến hànhcác hoạt động chuyên môn Tổng thể các GTNN trong một nghề tạo nên vănhóa của nghề đó Việc lĩnh hội các GTNN từ nền văn hóa nghề sẽ giúp conngười hình thành được nhân cách nghề nghiệp ở bản thân Nhờ vậy, họ có thểtham gia lao động trong nghề và khẳng định được giá trị của mình trong hoạtđộng nghề nghiệp cũng như trong cộng đồng xã hội Vì thế, GTNN chính làgiá trị nhân cách nghề nghiệp của người lao động, là giá trị của con người

- Nguồn gốc của GTNN nằm trong thực tiễn của nghề, nó vốn là đặctính của những đối tượng nhất định Đặc tính này trở thành GTNN khi nóđược người lao động nhận thức, đánh giá là có ý nghĩa tích cực cho hoạt độngnghề nghiệp của bản thân và mong ước chiếm lĩnh lấy nó Như vậy, GTNNchỉ được hình thành trong thực tiễn nghề và thông qua sự đánh giá của chủ thểhoạt động trong nghề (cá nhân, nhóm người hoặc cộng đồng người lao động)

- Các GTNN luôn gắn kết chặt chẽ với công việc chuyên môn trongmột lĩnh vực hoạt động nhất định Chúng chỉ hình thành và tồn tại trong mốiquan hệ với những nhu cầu có liên quan đến công việc chuyên môn của ngườilao động Mỗi nghề là một lĩnh vực chuyên môn đặc thù với những chứcnăng, mục đích, nội dung, phương thức, phương tiện và điều kiện thực hiện

Trang 29

riêng biệt Tính đặc thù về chuyên môn của nghề đã tạo ra tính đặc thù trongnhu cầu về chuyên môn của người lao động, và do đó, tạo ra tính đặc thù củacác GTNN nằm trong nghề Nói khác đi, GTNN bao giờ cũng là giá trị đặctrưng cho một nghề cụ thể.

Từ những đặc điểm trên, tác giả luận án sử dụng khái niệm “giá trị nghề

nghiệp” với hàm nghĩa là giá trị (phẩm chất, tri thức, kỹ năng…) đặc trưng

của người lao động trong một nghề, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu liên quan đến công việc chuyên môn của người lao động, chi phối họ trong việc lựa chọn mục đích, phương thức và phương tiện để tiến hành các hoạt động chuyên môn

Như vậy, khái niệm “giá trị nghề nghiệp” hoàn toàn khác với khái niệm

“giá trị của nghề nghiệp” Khái niệm “Giá trị của nghề nghiệp” được dùng đểchỉ về những ích lợi mà nghề đó mang lại cho cá nhân và xã hội Còn kháiniệm “giá trị nghề nghiệp” lại được dùng để chỉ về những phẩm chất, đứctính, các tri thức lý thuyết, các kỹ năng, kỹ xảo,… mang tính đặc trưng củamột nghề Các GTNN là các giá trị con người, giúp con người thực hiện tốtchức năng nghề nghiệp của mình GTNN có quan hệ mật thiết với giá trị củanghề nghiệp Nhờ GTNN mà người lao động đã làm cho nghề nghiệp củamình trở nên có giá trị đối với cộng đồng, xã hội Nói cách khác, GTNN tạonên giá trị của nghề nghiệp

Khi bàn đến khái niệm GTNN cũng cần phân biệt nó với khái niệmchuẩn nghề nghiệp Trên thực tế, hai khái niệm này thường đi liền với nhau,nhiều khi ý nghĩa của chúng trùng khít với nhau, rất khó tách bạch Tuynhiên, nếu xem xét đầy đủ thì GTNN và chuẩn nghề nghiệp có nhiều điểmkhác biệt GTNN là biểu tượng tinh thần có tác dụng thúc đẩy người lao độngtích cực thực hiện các chức năng của nghề, còn chuẩn nghề nghiệp là quy ướcchung về những điều mà người lao động trong nghề nên làm, phải làm vànhững điều không nên làm, không được làm, nó nhắc nhở mỗi người cần phải

Trang 30

ứng xử như thế nào trong từng tình huống cụ thể GTNN là cái quy định mụcđích hoạt động của người lao động, còn chuẩn nghề nghiệp là sự vận dụng cụthể GTNN vào việc định hướng các khuôn mẫu ứng xử và quy tắc hành động

để đạt đến mục đích ấy Giá trị và chuẩn nghề nghiệp có quan hệ mật thiết vớinhau GTNN là nền tảng tạo nên chuẩn nghề nghiệp, còn chuẩn nghề nghiệplại là sự hiện thực hóa của các GTNN Vì thế, trên cơ sở khái quát các chuẩnnghề nghiệp có thể rút ra các GTNN tương ứng

Trong thực tiễn nghề nghiệp luôn hàm chứa vô số các GTNN khácnhau Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có thể đưa ra những tiêu chí khácnhau để phân loại các GTNN Chẳng hạn:

+ Dựa vào hiệu quả của GTNN về phương diện lợi ích có thể phânthành giá trị vật chất và giá trị tinh thần

+ Căn cứ vào thời điểm hình thành GTNN và thời gian tồn tại của nótrong lịch sử phát triển nghề có thể phân thành giá trị truyền thống và giá trịhiện đại

+ Phân loại các GTNN theo chức năng của nó trong hoạt động nghề, ta

có giá trị mục đích và giá trị công cụ

Sự phân loại GTNN chính là sự sắp xếp các giá trị theo những quan hệnhất định Căn cứ vào sự phân loại GTNN cũng như căn cứ vào chức năng,mức độ phổ biến hoặc mức độ tác dụng của giá trị, có thể xác định được các

hệ thống GTNN và thang GTNN

Hệ giá trị nghề nghiệp là một tổ hợp các GTNN khác nhau được sắp xếp,

hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định tạo thành một chỉnh thể thống nhất

để thực hiện các chức năng chuyên môn trong hoạt động nghề nghiệp

Một hệ GTNN bao giờ cũng có một cấu trúc cụ thể Trong đó, các giátrị được sắp xếp thành từng nhóm Các nhóm này có vị trí độc lập tương đối

và có sự tương tác qua lại với nhau Hệ GTNN có cấu trúc như thế nào là tùythuộc vào cách sắp xếp các giá trị tồn tại bên trong nó Chẳng hạn, nếu sắp

Trang 31

xếp giá trị theo các mặt hoạt động thì cấu trúc của hệ GTNN gồm có cácnhóm giá trị: đạo đức nghề nghiệp, tri thức nghề nghiệp, kỹ thuật lao động.Còn khi sắp xếp giá trị theo các mặt trong nhân cách nghề nghiệp thì cấu trúccủa hệ GTNN lại bao gồm các nhóm giá trị: đạo đức nghề, trình độ tay nghề,phong cách nghề.

Nghề nghiệp là một lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Trong lĩnhvực nghề nghiệp luôn tồn tại nhiều nghề, nhiều chuyên môn khác nhau Mỗinghề, mỗi chuyên môn đều có những hệ GTNN riêng, mang tính đặc thù.Việc hệ thống hóa các giá trị trong một hệ GTNN theo tầng bậc cộng đồng sẽxác định được các cấp độ giá trị trong hệ GTNN đó Ví dụ, trong hệ thốngGTNN của nghề dạy học có các cấp độ giá trị từ toàn cầu, quốc gia,… đếntừng trường, từng bộ môn, từng cá nhân Một GTNN được xác định nằm ởcấp độ giá trị nào tức là nó có ý nghĩa với mọi người trong cộng đồng đó Cáccấp độ giá trị trong một hệ GTNN có quan hệ bao hàm nhau, nằm trong nhau.Bởi vậy, giữa các cấp độ giá trị trong một hệ GTNN có nhiều nét đồng nhấtvới nhau thể hiện ở những giá trị chung cho nhiều cấp độ, nhưng cũng cónhững điểm khác biệt thể hiện ở các giá trị đơn lẻ và đặc biệt là ở sự xếp đặtthứ tự các giá trị trong tổng thể bảng GTNN

Bất cứ hệ GTNN nào cũng mang tính lịch sử - cụ thể, chịu sự chế ướcbởi những điều kiện phát triển xã hội - lịch sử Trong sự biến đổi của xã hội

từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, hệ GTNN cũng biến đổi theo Có những giátrị mới được nảy sinh, có những giá trị cũ bị mất đi, đồng thời là sự chuyểnhoá cho nhau giữa các GTNN và các nhóm GTNN Bởi vậy, trong một hệGTNN luôn bao gồm cả những giá trị có tính truyền thống và tính thời đại, cảnhững giá trị mang tính nhân loại, tính dân tộc và tính cộng đồng,

Thang giá trị nghề nghiệp là một hệ thống GTNN được sắp xếp theo

một trật tự ưu tiên nhất định Trong thực tế, tuỳ theo đặc điểm phát triển củanghề ở từng thời điểm lịch sử nhất định, mà giá trị này được ưu tiên hơn giá

Trang 32

trị khác, giá trị này được cần đến hơn giá trị kia Bởi vậy, thang GTNN cũngthay đổi cùng với sự thay đổi của xã hội cả về thời gian và không gian Khithang GTNN được một chủ thể nào đó (người lao động hoặc người quản lýlao động trong nghề,…) vận dụng vào quá trình thực hiện hay đánh giá cáchoạt động trong mối quan hệ với công việc, với đồng nghiệp, với tập thể, với

xã hội và với chính bản thân mình, hoặc để sáng tạo, nhận thức đánh giá, lựachọn và chấp nhận các giá trị cần cho nghề nghiệp của mình thì được gọi là

thước đo giá trị nghề nghiệp Vấn đề thang GTNN và thước đo GTNN là vấn

đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nghề, nó địnhhướng và thúc đẩy sự phát triển nhân cách của người lao động, giúp họ hìnhthành được các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cần thiết Do đó, việcchuyển hoá thang GTNN, thước đo GTNN thành thang giá trị, thước đo giá trịcủa từng người lao động sẽ tạo nền tảng vững chắc để họ gắn bó với nghề,hoàn thành tốt các chức năng nghề nghiệp của mình

Trong một hệ GTNN nói chung, một thang GTNN nói riêng bao giờ

cũng có các giá trị chuẩn (hay chuẩn GTNN) Đó là những giá trị cốt lõi, giữ

vị trí then chốt và có thứ tự ưu tiên cao trong hệ thống GTNN Các chuẩnGTNN được hình thành, xác định trong quá trình cá nhân hoặc cộng đồngnhững người lao động tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ nghềnghiệp với tư cách là chủ thể của các hoạt động và các mối quan hệ đó Vìvậy, các chuẩn GTNN luôn đóng vai trò là cơ sở định hướng cho đạo đức, lốisống nghề nghiệp của mỗi cá nhân và cộng đồng người lao động

1.2.2 Định hướng giá trị nghề nghiệp

1.2.2.1 Định hướng giá trị

Khái niệm “định hướng giá trị” được sử dụng phổ biến trong các ngànhkhoa học xã hội và nhân văn Đây là một khái niệm phức tạp và có nhiều định

nghĩa khác nhau Theo “Từ điển tâm lý học tóm tắt” của Liên xô thì: “Định

hướng giá trị là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý

Trang 33

nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng, động cơ hoạt động.” [125, tr 67] Trong cuốn “Những cơ sở nghiên

cứu xã hội học”, các tác giả đã quan niệm: “Định hướng giá trị là khuynh

hướng chung đã được quy định về mặt xã hội được ghi lại trong tâm lý cá nhân, nhằm vào mục đích và phương tiện hoạt động trong lĩnh vực nào đó”

[131, tr 57]

ở nước ta, khi thực hiện hai chương trình khoa học công nghệ cấp nhànước KX-07 và KHXH-04, các nhà khoa học đã tiến hành thao tác với kháiniệm này và đã đưa ra những định nghĩa khá cụ thể Trong đề tài KX-07-10,

các tác giả đã cho rằng: “Định hướng giá trị là thái độ, là sự lựa chọn các giá

trị vật chất và tinh thần, là một hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích của con người đối với một giá trị nào đó”[120, tr.3] Cũng vậy, các tác giả đề tài

KHXH-04-03 đã quan niệm: “Định hướng giá trị là sự lựa chọn các giá trị

vật chất và tinh thần trên cơ sở hệ thống thái độ, niềm tin, sở thích và tâm thế, nhằm phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ

đó hình thành nội dung cơ bản của động cơ và xu hướng hoạt động và ứng

xử”[131, tr.59] Còn Phạm Minh Hạc thì định nghĩa một cách ngắn gọn: “Sự

sắp xếp, lựa chọn giá trị gọi là định hướng giá trị”[33, tr.125].

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về định hướng giá trị Qua cácđịnh nghĩa có thể nêu lên những điểm chung sau đây:

- Thứ nhất, định hướng giá trị là thái độ lựa chọn giá trị của con người,

là một dạng hoạt động tinh thần giúp con người phân biệt được cái có ý nghĩa,

có giá trị với những cái vô nghĩa, vô giá trị đối với họ Nội dung cơ bản củađịnh hướng giá trị là niềm tin mang tính chất thế giới quan, niềm tin đạo đứccủa con người, là những khát vọng sâu xa và liên tục, những nguyên tắcchân, thiện, mỹ của hoạt động xã hội và hành vi ứng xử Nghĩa là địnhhướng giá trị có liên hệ mật thiết với các quá trình nhận thức, ý chí và cảmxúc của con người

Trang 34

- Thứ hai, định hướng giá trị diễn ra trên cái nền của tâm thế, thái độ,

niềm tin và sở thích của con người Bởi vậy, định hướng giá trị có quan hệhữu cơ với các yếu tố này Trong định hướng giá trị có sự thể hiện thái độ, đó

là thái độ đánh giá, thái độ cảm xúc, thái độ lựa chọn giá trị mà chủ thể chấpnhận Cũng vậy, tâm thế, niềm tin và sở thích là một bộ phận tổ thành củađịnh hướng giá trị Nhờ các thành tố này mà chủ thể thực hiện sự lựa chọn giátrị một cách có chủ đích và luôn sẵn sàng hành động, ứng xử phù hợp với cácgiá trị đã lựa chọn

- Thứ ba, định hướng giá trị là thành tố cốt lõi trong cấu trúc nhân

cách Tập hợp những định hướng giá trị ổn định và không mâu thuẫn tạo nênnhững nét đặc trưng của ý thức, đảm bảo tính mục đích, tính tích cực và kiênđịnh của nhân cách khi hoạt động theo phương hướng nhất định Chúngcũng biểu thị nhu cầu, hứng thú cá nhân là những yếu tố quyết định và điềuchỉnh hệ động cơ của nhân cách Định hướng giá trị gắn liền với việc giảiquyết những mâu thuẫn, những xung đột trong hệ động cơ, trong cuộc đấutranh giữa hành vi đạo đức và những kích thích thực dụng Sự phát triển cácđịnh hướng giá trị là dấu hiệu trưởng thành của nhân cách, là chỉ tiêu đo đạctính xã hội của nhân cách

Tóm lại, định hướng giá trị là một dạng hoạt động tinh thần, thực hiện

việc lựa chọn và sắp xếp các giá trị trên cơ sở hệ thống thái độ, niềm tin, sở thích và tâm thế của con người, nhằm phân biệt ý nghĩa của các đối tượng đối với bản thân cũng như cộng đồng, từ đó hình thành nên nội dung cơ bản của xu hướng và động cơ hoạt động

Trong lĩnh vực giáo dục học, bên cạnh hàm nghĩa là một dạng hoạt độngtinh thần diễn ra trong ý thức của chủ thể, khái niệm “định hướng giá trị” cònđược dùng khá phổ biến với ý nghĩa là hoạt động giáo dục giá trị Sự tồn tại hainghĩa này trong nội hàm của khái niệm định hướng giá trị đã được nhiều tác giả

Trang 35

đề cập đến với những cách nhìn khác nhau Chẳng hạn, Thái Duy Tuyên cho

rằng: “Khái niệm định hướng giá trị thường được hiểu theo hai nghĩa:

- Mỗi cá nhân hay cộng đồng nào đó định hướng giá trị cho mình có

nghĩa là lựa chọn cho mình một giá trị hoặc hệ thống giá trị nào đấy.

- Mỗi cá nhân hay cộng đồng định hướng giá trị cho một người hay một tập thể nào đấy có nghĩa là giáo dục giá trị ” [121, tr.124].

Không tách bạch thành hai nghĩa độc lập như cách hiểu trên mà xemchúng là hai mặt không thể thiếu của một quá trình định hướng giá trị, các tác

giả của giáo trình “Đạo đức học quân sự” đã quan niệm: “Định hướng giá trị

bao hàm sự hướng dẫn từ bên ngoài và sự định hướng của chủ thể” [115,

tr.178] Cũng có tác giả lại nhấn mạnh đến nghĩa hoạt động giáo dục giá trịtrong nội hàm của khái niệm định hướng giá trị, còn hàm nghĩa hoạt độngđịnh hướng giá trị (hoạt động tinh thần) của chủ thể chỉ được đề cập đến như

là kết quả của hoạt động giáo dục giá trị [48]

Hoạt động giáo dục giá trị là hoạt động có tính định hướng Đó là sựđịnh hướng của nhà giáo dục đối với quá trình nhận thức, lựa chọn giá trị củangười được giáo dục, giúp họ hình thành nên ở bản thân một hệ thống giá trịphù hợp với sự mong đợi của xã hội Vì thế, việc đưa giáo dục giá trị vàotrong nội hàm của định hướng giá trị là phản ánh đúng bản chất của giáo dụcgiá trị và mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời giữa giáo dục giá trịvới sự định hướng giá trị của cá nhân Tuy nhiên, trong nghiên cứu, cần có sựphân biệt rõ ràng giữa giáo dục giá trị với hoạt động định hướng giá trị củanhân cách Riêng trong đề tài này, khái niệm định hướng giá trị được dùngvới hàm nghĩa là một thành tố cốt lõi trong cấu trúc nhân cách để phân biệtvới hàm nghĩa là một quá trình xã hội hình thành định hướng giá trị cho cánhân (nghĩa là giáo dục giá trị)

Định hướng giá trị là một thành phần cấu tạo nên nhân cách, là hoạtđộng tâm lý diễn ra trong ý thức của chủ thể theo các quá trình với những giai

Trang 36

đoạn khác nhau Việc phân chia các giai đoạn này được dựa trên cơ sở nhữngtiêu chuẩn xác định giá trị cụ thể Theo các tác giả Paths, Harmin và Simon[125], có bảy tiêu chuẩn để xác định giá trị Do đó, một hoạt động định hướnggiá trị thường trải qua bảy giai đoạn dựa trên cái nền của ba quá trình cơ bảnlà: lựa chọn, cân nhắc và hành động Trong đó, quá trình lựa chọn gồm có cácgiai đoạn: lựa chọn tự do, lựa chọn từ các khả năng khác nhau, lựa chọn saukhi cân nhắc; Quá trình cân nhắc bao gồm: giai đoạn cân nhắc và tâm niệm,giai đoạn khẳng định; Quá trình hành động có các giai đoạn: hành động theolựa chọn và lặp lại hành động Kết quả của hoạt động định hướng giá trị làcon người khẳng định được một giá trị nào đó, lấy nó làm cái để bản thânhướng tới trong cuộc sống

1.2.2.2 Định hướng giá trị nghề nghiệp

Cho đến nay, vẫn chưa có ai đưa ra định nghĩa cụ thể về “định hướnggiá trị nghề nghiệp” Tuy nhiên, dựa vào khái niệm “định hướng giá trị” và

khái niệm “giá trị nghề nghiệp” ở trên, tác giả luận án quan niệm định hướng

GTNN là sự lựa chọn, sắp xếp các giá trị nghề nghiệp trên cơ sở tâm thế, thái

độ, niềm tin và sở thích của người lao động, nhằm phân biệt ý nghĩa của chúng đối với việc thực hiện các chức năng nghề nghiệp, từ đó hình thành nên nội dung cơ bản của xu hướng và động cơ trong nhân cách nghề nghiệp của bản thân

Khái niệm “định hướng GTNN”, với quan niệm như vậy, hoàn toànkhác với khái niệm “định hướng giá trị của nghề” Sự khác biệt này thể hiện ởchỗ, “định hướng GTNN” là sự lựa chọn, sắp xếp các phẩm chất, tri thức, kỹnăng và kỹ xảo theo ý nghĩa của chúng đối với việc thực hiện một hoạt độngnghề nghiệp nào đó, còn “định hướng giá trị của nghề” lại là sự lựa chọn, sắpxếp của con người đối với những ích lợi mà một nghề có thể mang lại cho cánhân hoặc xã hội Những lợi ích đó có thể là nghề nhàn rỗi, nghề có thu nhậpcao, nghề được mọi người kính trọng Định hướng GTNN có tác dụng giúp

Trang 37

con người làm tốt chức năng nghề nghiệp của mình, còn định hướng giá trịcủa nghề đóng vai trò là cơ sở để con người lựa chọn nghề nghiệp cho bảnthân hoặc người khác.

Định hướng GTNN được con người (cá nhân, cộng đồng người laođộng của một nghề) tạo ra khi họ chủ động vận hành hệ GTNN, thang GTNNtrong hoạt động và giao lưu về chuyên môn Bản chất của định hướng GTNN

là lấy cách hiểu về giá trị, cách đánh giá về các đối tượng trong thực tiễn củanghề làm cơ sở cho những gì liên quan đến việc thực hiện các chức năng nghềnghiệp: một mục đích cần đạt đến, một quan điểm về chuyên môn, mộtnguyên tắc và chuẩn mực ứng xử trong lao động, một niềm tin vào điều mìnhđang làm… Định hướng GTNN được thể hiện ở việc con người đánh giá cao

và ấp ủ những GTNN nào đó, lấy chúng làm kim chỉ nam cho các hoạt độngnghề nghiệp của bản thân Bởi vậy, định hướng GTNN là thành phần quantrọng nhất trong cấu trúc nhân cách nghề nghiệp của người lao động Nó quyđịnh động cơ, phương hướng hoạt động trí tuệ và sự nỗ lực ý chí của ngườilao động khi tiến hành các hoạt động trong nghề Sự phát triển các địnhhướng GTNN ở người lao động chính là chỉ tiêu để đo đạc về trình độ pháttriển nhân cách nghề nghiệp của họ

Quá trình hình thành và phát triển hệ thống định hướng GTNN của mỗingười là một quá trình lâu dài Điều kiện cho sự hình thành và phát triển hệthống định hướng GTNN ở con người là họ phải được sống trong môi trườngvăn hoá của nghề với những giá trị mang tính đặc trưng đã được tạo ra, bảotồn và chuyển hoá trong suốt lịch sử phát triển của nghề Nhìn chung, quátrình hình thành và phát triển hệ thống định hướng GTNN ở con người trảiqua các giai đoạn: từ khi còn học ở trường phổ thông, được đào tạo nghề ởtrường chuyên nghiệp, và thời gian lao động trong nghề Trong đó, giai đoạnđược đào tạo ở trường chuyên nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, bởi nó tạo

Trang 38

nền tảng vững chắc cho sự hình thành hệ thống định hướng GTNN của ngườilao động

1.2.3 Giáo dục giá trị

1.2.3.1 Bản chất của giáo dục giá trị

Như trên đã đề cập, “giáo dục giá trị” được nhiều tác giả xác định làmột nghĩa trong nội hàm của khái niệm định hướng giá trị Theo đó, giáo dụcgiá trị được hiểu là sự hướng dẫn, khuyến khích người được giáo dục chiếmlĩnh các giá trị xã hội Có thể xem đây là cách hiểu về khái niệm giáo dục giátrị với nội hàm rộng nhất của nó Cách hiểu này chưa làm rõ được bản chấtcủa giáo dục giá trị

Bàn về khái niệm “giáo dục giá trị”, người Philippin cho rằng: “Giáo

dục giá trị là một phần trong kế hoạch giảng dạy của nhà trường, nó là quá trình mà ở đó giá trị được hình thành cho người học dưới sự hướng dẫn của giáo viên như là tác động qua lại của người học trong môi trường Song nó không phải bao gồm bất kỳ quá trình giảng dạy nào ”[125, tr.185].

Trong đề tài KX-07-04, khi xem giáo dục giá trị là một nội dung nằmtrong quy trình chung của việc giáo dục, hình thành nhân cách con người, các

tác giả đã xác định: “Bản chất của việc giáo dục giá trị có thể hiểu là một quá

trình tổ chức, hướng dẫn, kích thích hoạt động tích cực của con người được giáo dục để họ lĩnh hội được các giá trị xã hội, hình thành nên hệ thống giá trị của cá nhân, phù hợp với mong đợi của xã hội.”[125, Tr 185]

Qua các định nghĩa này, có thể xác định khái niệm “giáo dục giá trị” cónhững nét bản chất sau:

- Giáo dục giá trị là quá trình được tổ chức một cách có kế hoạch, nhằmgiúp người học có sự hiểu biết sâu sắc về các giá trị, về cách đánh giá các đốitượng trong hiện thực, biết phân tích, tổng hợp, khái quát từ những sự kiện,tìm ra các mối quan hệ logic, tự đi đến kết luận về một giá trị hay một cách

Trang 39

đánh giá giá trị nào đó (tức là làm phát triển lý trí về giá trị); có sự rung động

về các giá trị đã lựa chọn, yêu thích chúng và mong muốn chiếm lĩnh chúng,

có thái độ phản đối những hành động đi ngược lại với các giá trị đã lựa chọn(tức là làm phát triển tình cảm phù hợp với giá trị đã lựa chọn); biết hànhđộng theo các chuẩn mực giá trị đã lựa chọn, biết vận dụng các giá trị vàoviệc ra quyết định hành động và giải quyết các tình huống của cuộc sống (tức

là làm phát triển hành vi và hành động phù hợp với giá trị đã lựa chọn) Nóimột cách khái quát thì, quá trình giáo dục giá trị bao gồm trong nó những tácđộng chuyên biệt của nhà giáo dục đến người học nhằm tạo ra ở họ sự pháttriển lý trí (nhận thức) về giá trị, sự phát triển tình cảm và hành động phù hợpvới những giá trị đã lựa chọn

- Giáo dục giá trị là quá trình hướng dẫn, kích thích hoạt động tích cựccủa người học, giúp họ chuyển hóa được các giá trị xã hội từ bên ngoài vàotrong ý thức, biến chúng thành các định hướng giá trị của bản thân Quá trìnhchuyển hóa này diễn ra theo một cơ chế rất phức tạp, nó đòi hỏi người họcphải tiến hành nhận thức về các giá trị, phải đánh giá xem các giá trị đó có ýnghĩa như thế nào đối với mình, phải lựa chọn ra những giá trị phù hợp vớibản thân và thực hiện các hành động theo sự chi phối của các giá trị đó Quátrình chuyển hóa giá trị từ bên ngoài vào bên trong diễn ra chủ yếu ở bản thânngười học và phụ thuộc phần lớn vào hoạt động tích cực của họ trong sự tácđộng qua lại với môi trường Vì thế, để giúp người học chiếm lĩnh được cácgiá trị xã hội thì quá trình giáo dục giá trị phải là quá trình tổ chức và hướngdẫn các hoạt động phong phú cùng các mối quan hệ đa dạng của họ, phải thúcđẩy và dẫn đến quá trình tự giáo dục giá trị của họ

- Giáo dục giá trị, với tư cách là quá trình hoạt động và giao lưu chunggiữa người giáo dục và người được giáo dục, bao giờ cũng bao hàm hai mặt,

đó là: sự tác động mang tính hướng dẫn, kích thích của nhà giáo dục đến

Trang 40

nhận thức, tình cảm, ý chí của người học; và sự hưởng ứng tích cực củangười học đối với các tác động đó cũng như sự chủ động, tự giác của họtrong việc tham gia vào các hoạt động đa dạng để tiếp thu, chiếm lĩnh cácgiá trị xã hội Nói khác đi, sự thống nhất giữa tác động sư phạm của nhà giáodục và hoạt động tự giáo dục của người học là một nét bản chất của quátrình giáo dục giá trị

Tóm lại, với những phân tích trên, tác giả luận án quan niệm giáo dục

giá trị là quá trình tổ chức, hướng dẫn, kích thích các hoạt động tích cực, tự giác của người được giáo dục nhằm giúp họ phát triển lý trí về giá trị, phát triển tình cảm và hành động phù hợp với những giá trị đã lựa chọn, từ đó hình thành được ở bản thân một hệ thống định hướng giá trị phù hợp với mục đích giáo dục của xã hội.

1.2.3.2 Các thành tố của quá trình giáo dục giá trị

Cũng như bất cứ quá trình giáo dục nào khác, quá trình giáo dục giá trị

có một cấu trúc xác định với những nét đặc thù được thể hiện ở các thành tốmục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp tiếp cận và con đường giáo dục

* Mục đích của giáo dục giá trị

Giáo dục giá trị là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục toàn vẹn,thực hiện việc hình thành ở con người một hệ thống định hướng giá trị phùhợp với định hướng giá trị của xã hội Hệ thống định hướng giá trị của xã hộiđược phản ánh trong mục đích chung của giáo dục với tư cách là thành phầncấu trúc cơ bản của mô hình nhân cách mà quá trình giáo dục toàn vẹn cầnphải đạt đến Do đó, mục đích của giáo dục giá trị là hình thành nên ở ngườihọc hệ thống các định hướng giá trị đã được quy định trong mục đích chungcủa giáo dục

* Nhiệm vụ của giáo dục giá trị

Quá trình giáo dục giá trị có nhiệm vụ làm cho người được giáo dục:

- Nhận thức đầy đủ và sâu sắc về các giá trị nêu trong mục đích giáo dục

Ngày đăng: 30/06/2016, 13:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Quan niệm của CBQL, GV về khái niệm giáo dục GTNN - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 1.2 Quan niệm của CBQL, GV về khái niệm giáo dục GTNN (Trang 67)
Hình 1.1: Biểu đồ xác định việc sử dụng các con đường giáo dục GTNN - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Hình 1.1 Biểu đồ xác định việc sử dụng các con đường giáo dục GTNN (Trang 74)
Bảng 1.7: Sự đánh giá của cán bộ, giảng viên về hiệu quả của các con - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 1.7 Sự đánh giá của cán bộ, giảng viên về hiệu quả của các con (Trang 75)
Bảng 1.8: Lòng yêu nghề, thương yêu học sinh của sinh viên ngành GDTH - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 1.8 Lòng yêu nghề, thương yêu học sinh của sinh viên ngành GDTH (Trang 77)
Hình 1.3: Lòng yêu nghề, yêu trẻ của sinh viên ngành GDTH - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Hình 1.3 Lòng yêu nghề, yêu trẻ của sinh viên ngành GDTH (Trang 78)
Bảng 1.10: Thái độ của sinh viên ngành GDTH đối với lối sống nhà giáo - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 1.10 Thái độ của sinh viên ngành GDTH đối với lối sống nhà giáo (Trang 80)
Hình 1.5: Thái độ đối với lối sống nhà giáo của sinh viên ngành GDTH - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Hình 1.5 Thái độ đối với lối sống nhà giáo của sinh viên ngành GDTH (Trang 82)
Bảng 3.2: Mức độ phù hợp của các giá trị tay nghề sư phạm - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 3.2 Mức độ phù hợp của các giá trị tay nghề sư phạm (Trang 135)
Bảng 3.4: Mẫu thực nghiệm Nhóm Lớp Số sinh viên tham gia - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 3.4 Mẫu thực nghiệm Nhóm Lớp Số sinh viên tham gia (Trang 139)
Bảng 3.6: Bảng phân phối tần suất điểm bài kiểm tra - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất điểm bài kiểm tra (Trang 147)
Hình 3.2: Biểu đồ kết quả xếp loại trình độ đầu vào - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Hình 3.2 Biểu đồ kết quả xếp loại trình độ đầu vào (Trang 149)
Bảng 3.9: Bảng phân phối tần số điểm bài kiểm tra sau thực nghiệm - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 3.9 Bảng phân phối tần số điểm bài kiểm tra sau thực nghiệm (Trang 150)
Bảng 3.12: Bảng phân phối tần suất lũy tích điểm bài kiểm tra - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Bảng 3.12 Bảng phân phối tần suất lũy tích điểm bài kiểm tra (Trang 151)
Hình 3.3: Đường biểu diễn tần suất lũy tích điểm kiểm tra đầu ra - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Hình 3.3 Đường biểu diễn tần suất lũy tích điểm kiểm tra đầu ra (Trang 152)
Hình 3.4: Biểu đồ kết quả xếp loại trình độ đầu ra - Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học qua hoạt động thực hành nghiệp vụ sư phạm
Hình 3.4 Biểu đồ kết quả xếp loại trình độ đầu ra (Trang 153)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w