1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung cơ bản của triết học cantơ tiểu luận cao học triết

25 714 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 171 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học cổ điển Đức được mở đầu từ hệ thống triết học của I.Cantơ, trải qua Phíchtơ, Senlinh đến triết học duy tâm khách quan của Hêghen và triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc. Chỉ trong một thời kỳ lịch sử khoảng một thế kỷ, triết học cỏ điển Đức đã tạo những tiền đề lý luận hết sức quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác vào giữa thế kỷ XIX. Triết học cổ điển Đức ra đời trong một điều kiện lich sử hết sức đặc biệt. Nước Đức vào cuối XVIII đầu XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình với 360 quốc gia tự lập trong Liên bang Đức hết sức lạc hậu về kinh tế và chính trị. Trong khi đó, ở nước Anh cuộc cách mạng công nghiệp,ở nước Pháp cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra làm rung chuyển Châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp. Trên một ý nghĩa nhất định, triết học cổ điển Đức không chỉ là sự phản ánh những điều kiện kinh tế chính trị và xã hội nước Đức mà còn của cả các nước Châu Âu lúc đó. Imanuen Cantơ (Imanuel Cantơ) là một trong những nhà triết học vĩ đại của lịch sử tư duy phương Tây trước Mác. Triết học Cantơ “là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học triết học Cantơ”. Triết học Cantơ có vị trí quan trọng trong triết học trong triết học cổ điển Đức. Triết học Cantơ đi vào rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, nêu lên những lý tưởng mới lạ, trừu tượng và hết sức khó hiểu. Chính vì vậy cho đến nay dù đã nhiều công trình nghiên cứu về Cantơ, song không phải những công trình đó đã đi sâu cặn kẽ vào hết các ý tưởng của Cantơ không phải ai cũng hiểu nó một cách hoàn toàn giống nhau. Chính vì lý do đó, em xin chọn đề tài “Nội dung cơ bản của triết học Cantơ” nhằm nghiên cứu một cách khái quát về hệ thống triết học của Cantơ cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Triết học cổ điển Đức được mở đầu từ hệ thống triết học của I.Cantơ, trảiqua Phíchtơ, Senlinh đến triết học duy tâm khách quan của Hêghen và triết họcduy vật nhân bản của Phoiơbắc Chỉ trong một thời kỳ lịch sử khoảng một thế

kỷ, triết học cỏ điển Đức đã tạo những tiền đề lý luận hết sức quan trọng cho

sự ra đời của triết học Mác vào giữa thế kỷ XIX Triết học cổ điển Đức ra đờitrong một điều kiện lich sử hết sức đặc biệt Nước Đức vào cuối XVIII đầu XIXvẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình với 360 quốc gia tự lập trong Liênbang Đức hết sức lạc hậu về kinh tế và chính trị Trong khi đó, ở nước Anh cuộccách mạng công nghiệp,ở nước Pháp cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra làm rungchuyển Châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp Trên một ýnghĩa nhất định, triết học cổ điển Đức không chỉ là sự phản ánh những điều kiệnkinh tế - chính trị và xã hội nước Đức mà còn của cả các nước Châu Âu lúc đó

Imanuen Cantơ (Imanuel Cantơ) là một trong những nhà triết học vĩ đại

của lịch sử tư duy phương Tây trước Mác Triết học Cantơ “là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học triết học Cantơ”.

Triết học Cantơ có vị trí quan trọng trong triết học trong triết học cổ điểnĐức Triết học Cantơ đi vào rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, nêu lên những lýtưởng mới lạ, trừu tượng và hết sức khó hiểu Chính vì vậy cho đến nay dù đãnhiều công trình nghiên cứu về Cantơ, song không phải những công trình đó đã

đi sâu cặn kẽ vào hết các ý tưởng của Cantơ không phải ai cũng hiểu nó mộtcách hoàn toàn giống nhau

Chính vì lý do đó, em xin chọn đề tài “Nội dung cơ bản của triết học Cantơ” nhằm nghiên cứu một cách khái quát về hệ thống triết học của Cantơ

cuộc đời và sự nghiệp của ông

Trang 2

Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

1.1 Hoàn cảnh ra đời triết học cổ điển Đức

Hai cuộc cách mạng tiêu biểu đó là Cách mạng công nghiệp Anh và Cáchmạng tư sản pháp ảnh hưởng rộng lớn đến phong trào giải phóng ở các nướcchâu Âu chống chủ nghĩa phong kiến, phát triển hệ tư tưởng tư sản - hệ tư tưởngmới và tiến bộ trong lịch sử Các nhà tư tưởng tư sản đòi hỏi phải trả lại cho conngười những cái mà hệ tư tưởng phong kiến đang phủ nhận Quyền tự do, bìnhđẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc Hệ tưtưởng tư sản tuyên bố: con người là thực thể tối cao, con người phải vươn tới trítuệ và tự do, phải thực hiện tiến bộ xã hội và hạnh phúc cho con người

Tuy nhiên về mặt chính trị, chủ nghĩa phong kiến chưa bị tiêu vong hoàntoàn Giai cấp tư sản cảm nhận được khả năng thất bại của mình không chỉ từ sựphản công của thế lực phong kiến mà cả từ phía quần chúng bị áp bức, nhữngngười mà sự khẳng định của CNTB cang làm cho đời sống của họ tồi tệ hơn.Ngay từ những cuộc cách mạng tư sản trước đó trong “đẳng cấp thứ ba” nàyxuất hiện những mâu thuẫn và giờ đây chúng trở thành mâu thuẫn đối kháng

Tình hình đó dẫn đến trong hệ tư tưởng tư sản khuynh hướng thoả hiệpvới các lực lượng phong kiến lại tăng lên, các thể chế phong kiến đến lượt mìnhlại thích nghi với trật tự tư sản và trong phạm vi đáng kể được tư sản hoá.Những mâu thuẫn và thoả hiệp có biểu hiện rõ nhất ở nước Đức, nơi mà có sựphát triển của CNTB bị cản trở bởi điều kiện kinh tế và chính trị của nó

F Enghen nhận xét rằng: đó là “thời kỳ nhục nhã về mặt chính trị và xãhội” “Mọi thứ đều nát bét lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còntới một tia hy vọng chuyển biến tốt lên vì dân tộc, thậm chí không còn đủ sứcvứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”

Nhưng đồng thời Enghen cũng viết rằng “thời kỳ nhục nhã” đó lại mangmột nét đặc biệt rất đáng tự hào: Đó là thời kỳ vĩ đại trong lịch sử văn hoá, nghệthuật và triết học Đức, mỗi tác phẩm xuất chúng của thời đại đó đều thấm đượm

Trang 3

tinh thần phê phán, phản kháng, chống lại chế độ xã hội đương thời Tinh thần

đó tràn đầy trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, triết học của: G.G.Heeđe(1744 - 1803), G.F.Lêxinh (1729 - 1791), G.F.Sinlơ (1759 - 1805), F.G.Phichtơ(1762 - 1814), S.V.Selling (1775 - 1854), G.V.F.Hêghen (1730 - 1831), LútvíchPhoiơbắc (1804 - 1872) các đại biểu lỗi lạc của triết học cổ điển Đức

Ở Đức cũng như ở Pháp, cách mạng đã chuẩn bị tư tưởng cho cách mạng

tư sản Nhưng khác với các nhà tư tưởng Pháp, các nhà triết học Đức khôngđồng thời là các nhà hoạt động cách mạng Không như P.H.Hônbach (1723 -1789), R.Điđirô và các nhà hoạt động khác ở thời kỳ khai sáng, các nhà triết họcĐức là những nhà duy tâm Điều đó được phản ánh trong sự bất lực tiến hànhmột cuộc cách mạng chống lại trật tự phong kiến, và cuối cùng thể hiện ở sựthoả hiệp của họ Các học thuyết triết học duy tâm của các nhà triết học cổ điểnĐức không thể làm tiền đề cho sự cải tạo tư sản nước Đức, theo mong muốn màtuyên ngôn của họ đã nêu, tự do, trí tuệ, hạnh phúc và quyền con người

Mác gọi triết học Cantơ là học thuyết Đức của cách mạng tư sản Pháp.Định nghĩa đó cũng hoàn toàn đúng với triết học Phíchtơ, Sêling, Hêghen

Học thuyết của các nhà triết học Đức về sự phát triển đã gián tiếp hoặctrực tiếp chống lại các lực lượng phong kiến phản động V.I.Lênin viết: “lòng tincủa Hêghen vào lý tính của con người và vào quyền lợi của con người vànguyên lý cơ bản của triết học Hêghen cho rằng trong thế giới luôn diễn ra mộtquá trình liên tiếp biến hoá và phát triển , ngay cả cuộc đấu tranh chống hiệntrạng, cuộc đấu tranh chống bất công đang tồn tại và chống điều ác tung hoànhcũng bắt rễ từ quy luật phổ biến là sự phát triển không ngừng”

Song các học thuyết đó không biến thành cách mạng được, nó duy tâm vàyếu hèn Tính chất duy tâm và tinh thần yếu hèn đó đã dẫn đến những hạn chếtrong triết học cổ điển Đức

Hạn chế của nó là ở chỗ, các nhà triết học Đức hiểu sự phát triển như mộtquá trình tinh thần, một quá trình tự thức tỉnh và sự phát triển của lý tính Cáchhiểu đó đã xóa nhoà bản chất vật chất của sự cải tạo xã hội hiện thực và về lý

Trang 4

thuyết nó biện hộ cho sự thoả hiệp chính trị với các thế lực phong kiến của giaicấp tư sản.

Vấn đề dặt ra là tại sao các nhà duy tâm tư sản yếu hèn trong điều kiệnkinh tế - xã hội thấp kém của nước Đức lại làm nên những thành tựu vĩ đại trongtriết học

Lịch sử tư tưởng chứng minh rằng, các học thuyết tư tưởng tiến bộ có thểnảy sinh trong lòng một nước có trình độ kinh tế lạc hậu hơn nếu biết tiếp thuthành tựu mọi mặt của các nước tiến bộ khác

Ở Pháp vào thế kỷ XVIII nền kinh tế kém phát triển hơn ở Anh, song lạihình thành chủ nghĩa duy vật: Hônbach, R.Điđro Chính vì chủ nghĩa duy vậtPháp dựa trên những thành tựu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII ở Đứctình hình cũng tương tự Triết học cổ điển Đức dựa trên những thành tựu triếthọc của các nước phát triển châu Âu, nó tiếp thu được tư tưởng giải phóng tưtưởng cách mạng của các nhà duy vật cách mạng Pháp

Những tiền đề cho sự phát triển thế giới quan biện chứng đối với lịch sửnhân loại và sự khái quát lý thuyết phép biện chứng của các nhà duy tâm Đức là:bước ngoặt kinh tế - xã hội có tính chất thời đại của Anh, bước ngoặt tư tưởng

xã hội có tính lịch sử thế giới của cách mạng tư sản Pháp, sự kế thừa truyềnthống triết học biện chứng Đức và đặc biệt là những thành tựu của khoa học tựnhiên

Những bậc tiền bối của triết học cổ điển Đức là nhà triết học - toán họcPháp R.Điđro, nhà vật lý học Anh I.Niutơn, C.Vônphơ Các học thuyết của họchứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc

Khoa học tự nhiên lúc này với những phát minh xuất sắc đã vạch rõ tínhbiện chứng của quá trình tự nhiên, thúc đẩy việc xây dựng phép biện chứng

Những thành tựu đó phản ánh vào trong tư tưởng, trong những học thuyếtcủa các nhà triết học cổ điển Đức và là những tiền đề cho những tư tưởng biệnchứng thiên tài của họ Những thành tựu đó chứng tỏ khoa học tự nhiên đã chínmuồi cho sự tổng kết biện chứng, nó cần xây dựng một phương pháp tư duy vàkhảo sát mới - phương pháp biện chứng để có thể phản ánh đầy đủ những quy

Trang 5

luật tự nhiên khách quan Nếu ở thế kỷ XVII những nhà khoa học bắt đầu từBêcơn, Galilê, xây dựng một cách tự phát phương pháp siêu hình cho nhận thứckhoa học thì ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà triết học Đức đã bắtđầu xây dựng phương pháp biện chứng cho khoa học Nhưng sự thực hiển nhiên

đó trong triết học cổ điển Đức chưa tiến hành triệt để, nó vẫn là triết học đầymâu thuẫn trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm xa lạ với tinh thần duy vật càng xa lạvới biện chứng duy vật khoa học

1.2 Đặc điểm của triết học cổ điển Đức

Kế tục tư tưởng triết học cổ đại (Xôcrat cho triết học là sự tự ý thức củacon người về chính bản thân mình) và phục hưng (coi con người là trung tâm).Cantơ lần đầu tiên hiểu con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trìnhhoạt động của mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận Hêghenphát triển thêm tư tưởng này và coi bản thân lịch sử phương thức tồn tại của conngười, mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình Ông khẳng định: conngười là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định vì vậy nó mang bản chất

Trang 6

Tuy vậy phải thấy một trong những thành tựu to lớn của triết học cổ điểnĐức là nó khẳng định rằng tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trong chừngmực con người nhận thức và cải tạo thế giới Con người là chủ thể, đồng thời làkết quả của toàn bộ nền văn minh do chính mình tạo ra, nghiên cứu tiến trìnhlịch sử nhân loại cũng như toàn bộ mối quan hệ con người - tự nhiên như mộtquá trình phát triển biện chứng.

Tuy từ lập trường duy tâm, các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nêncác hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, lôgic biệnchứng, học thuyết về các quá trình phát triển, mà tìm tòi lớn nhất trong tất cả cáctìm tòi của họ đó là phép biện chứng

Với cách nhìn tổng quát và phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổđiển Đức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạtđược Tiếp thu tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVIII trong việc phát triển tưduy lý luận và hệ thống hoá toàn bộ tri thức loài người, Cantơ và Hêghen có ý

đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng làm nền tảng cho thế giới quan củacon người, khôi phục lại các quan niệm coi triết học là khoa học của các khoahọc

Phải nói rằng: triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chấttrong lịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây, đồng thời nó ảnhhưởng to lớn đến triết học hiện đại

Chủ nghĩa duy tâm thần bí, phía trước và bên cạnh các nhà triết học cổđiển Đức là một dòng triết học duy vật, đặc biệt là tư tưởng duy vật của các nhà

Trang 7

triết học khai sáng Song các nhà triết học cổ điển Đức thấy rằng: từ quan điểmduy vật, người ta không thể giải thích được thế giới Bản chất của thế giới theo

họ là tinh thần, do vậy chỉ có thể giải quyết được những vấn đề của thế giới bằngtinh thần Họ đã từ thế giới tinh thần xây dựng nên những hệ thống triết học duytâm, thần bí

Triết học trừu tượng tách rời hiện thực, triết học cổ điển Đức đưa ra đượcnhững tư tưởng tiến bộ, chống chế độ xã hội cũ nhưng đó chỉ là những tư tưởng,

nó không đi vào chính trị xã hội và hoạt động cách mạng mà chỉ là những hệthống triết lý trừu tượng ở bên trên

Nếu các nhà tư tưởng pháp tiến hành cách mạng trong thực tiễn, côngkhai chống lại Nhà nước và giáo hội thì các nhà triết học cổ điển Đức chỉ suynghĩ về nó trong tư tưởng, không giám công khai chống lại thực tại đó Họ làcác giáo sư chính thức trong các trường Đại học của vương quốc Phổ, do sợ hãihiện thực cách mạng, thoả hiệp với giai cấp tư sản, tư tưởng cách mạng của họ

đã phải phủ ngoài triết học của mình một lớp vỏ thần bí duy tâm tự biện, nặng

nề, xa rời hiện thực

Trang 8

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC CANTƠ

2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của Cantơ

Cantơ là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức Ông sinh ngày 22 04

-1724 và lớn lên trong một gia đình trung lưu gốc Scốtlen tại Kenítbec, mộtthành phố cổ vùng Đông - Bắc nước Phổ trước đây Mùa thu năm 1740 ông vàohọc khoa triết học trường đại học Kenítbec Ở đây ông được trang bị không chỉtriết học mà cả khoa học tự nhiên Ngay từ những năm trong trường đại học ông

đã rất quan tâm và có năng khiếu về các môn toán học và vật lý học và cơ học,

ra đời, nâng ông lên vị trí một trong những học giả uyên bác nhất thời đó.Những học thuyết của ông thống trị tư tưởng khoa học và triết học tư sản thế kỷXIX Ông đã để lại cho nhân loại một trong những hệ thống triết học độc đáo vàsâu sắc nhất.Quá trình phát triển triết học của Cantơ diễn ra qua hai thời kỳ

Thời kỳ 1: Từ năm 1770 trở về trước

Thời kỳ 2: Từ năm 1770 đến cuối đời

Bởi nhiệm vụ triết học trong thời kỳ 2 do Cantơ đặt ra là phê phán (các hệthống triết học trước đó) nên thời kỳ này được gọi là thời kỳ phê phán Còn thời

kỳ 1, tư tưởng phê phán chưa rõ ràng nên được gọi là thời kỳ tiền phê phán

Trang 9

2.1.1 Thời kỳ tiền phê phán và những tư tưởng triết học khoa học tự nhiên

Thời kỳ 1, Cantơ đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực mà ông đang giảng dạy

và nghiên cứu trong trường Đại học nhưng chủ yếu tập trung vào triết học tựnhiên Nghiên cứu những vấn đề trong lĩnh vực triết học tự nhiên Cantơ xuấtphát từ niềm tin cho rằng: Triết học với tư cách là một khoa học lý thuyết tựbiện có thể lý giải được mà không cần đến kinh nghiệm.Thời kỳ này, với nhữngthành công trong khoa học ông là người lạc quan, tin tưởng vào khả năng nhậnthức thế giới của con người Trong thời kỳ này Cantơ viết một khối lượng lớncác công trình về triết học, khoa học tự nhiên Đặc điểm rõ rệt trong các côngtrình này là những tư tưởng triết học và khoa học tự nhiên gắn bó chặt chẽ vớinhau Ở nhiều ngành khoa học tự nhiên, nơi mà Cantơ bỏ công nghiên cứu, ôngđều đề xuất được những ý tưởng có giá trị

Trong vật lý học, khi phát triển các tư tưởng về sự vận động, về lực hấpdẫn của các nhà toán học, vật lý học và cơ học, Cantơ đã luận giải sâu hơn lýthuyết về sự vận động và đứng im

Trong sinh học, Cantơ đã đề xuất tư tưởng phân loại động vật theo nguồngốc riêng của từng loại, cơ sở của sự phân loại là dựa vào các nhóm gen củachúng

Trong nhân loại hoc, Cantơ đề xuất tư tưởng về lịch sử tự nhiên của loàingười ở đây ông lý giải sự hình thành và sự phát triển của loài người qua cácgiai đoạn mông muội, văn minh và hiện đại

Khác với Niutơn, Cantơ đã thử ứng dụng các nguyên tắc của khoa học tựnhiên hiện đại vào việc giải thích không chỉ kết cấu của hệ thống Mặt trời chogiai đoạn hiện tại, mà còn giải thích sự nảy sinh của hệ thống đó

2.1.2 Thời kỳ phê phán và những quan điểm triết học cơ bản.

Nếu ở thời kỳ tiền phê phán, Cantơ nghiên cứu triết học khoa học tự nhiênthì sang thời kỳ phê phán ông chú ý những vấn đề xã hội con người, nếu trướcđây ông thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới thì bây giờ ông lạicho rằng con người không nhận thức được thế giới, trước đây ông là người đềcao trí tuệ thì nay ông lại đề cao tín ngưỡng

Trang 10

Về nhận thức luận, Cantơ luôn luôn bác lại những nhà duy vật kinhnghiệm chủ nghĩa, những nhà cho rằng trí tuệ của chúng ta có được là nhờ kinhnghiệm, nhờ kinh nghiệm mà ta nhận thức đuợc thế giới.Ngược lại,Cantơ chorằng, trí tuệ là một cơ quan năng động có sẵn khả năng hiểu biết -trí tuệ tiênnghiệm, chúng ta nhận thức thế giới có hiệu quả chính là bằng trí tuệ tiênnghiệm đó

Từ năm 1770 về sau, Cantơ đã đặt ra nhiệm vụ cho bản thân mình là phảixây dựng một hệ thống triết học theo quan điểm duy tâm phê phán tiên nghiệm

Hệ thống triết học đó được Cantơ trình bày chủ yếu trong bộ ba tác phẩm

Phê phán lý tính thuần tuý (1781)

Phê phán lý tính thực tiễn (1788)

Phê phán năng lực phán đoán (1790)

2.2 Nội dung cơ bản của triết học Cantơ

2.2.1 Triết học lý luận của Cantơ

Triết học lý luận của Cantơ chủ yếu đề cập đến những vấn đề nhận thứcluận và logíc học với mục đích xây dựng một nền tảng thế giới quan mới chocon người, xác định đối tượng và giới hạn của tri thức con người hay nói theongôn ngữ của Cantơ là nhằm giải đáp vấn đề "tôi có thể biết được cái gì?

- Nhiệm vụ cơ bản của triết học và vấn đề vật tư nó.

Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển khoa học tự nhiên lý thuyếtthế kỷ XVII- XVIII, cũng như nhiều nhà triết học cận đại, Cantơ đòi hỏi ở cáctri thức khoa học và triết học một sự hoàn hảo tuyệt đối, coi đó là lý tưởng củatri thức con người Cũng như Hium & Lepnhit, Cantơ cho rằng tri thức khoa họcphải thực sự dựa trên những tri thức tiên nghiệm (apriori) với hai đặc tính cơ bản

là phổ quát và tất yếu Do chưa thoát khỏi quan niệm siêu hình, nhìn nhận thếgiới một cách tách rời, Cantơ cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong thế giới bênngoài chúng ta chỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất và cá biệt Điều này buộc Cantơphải lựa chọn một trong hai quan niệm:

Trang 11

Thứ nhất nếu khẳng định mọi tri thức đều là sự phản ánh các sự vật hiệntượng trong thế giới khách quan thì phải thừa nhận mọi khoa học và triết họcđều chỉ dựa trên những tri thức đơn lẻ, ngẫu nhiên.

Thứ hai, nếu đòi hỏi mọi tri thức khoa học & triết học phải đạt đến tínhphổ quát & tất yếu thì phải thừa nhận nguồn gốc của khoa học (triết học) khôngphải là sự phản ánh thế giới khách quan mà là kết quả của sự sáng tạo của riêngtrí tuệ con người

Đứng trước sự lựa chọn trên, Cantơ lập luận: "từ trước đến nay, người tacho rằng, mọi tri thức của chúng ta đều phải phù hợp với các sự vật (quan điểmnhận thức luận duy vật) Tuy nhiên ở đây mọi ý đồ thông qua khái niệm để xáclập một cái gì đó tiên nghiệm (apriori) về sự vật, cái có thể mở rộng tri thức củachúng ta về chúng, kết cục đều thất bại Vì vậy, theo Cantơ sẽ hiệu quả hơn nếu

ta xuất phát từ luận điểm: "các sự vật phải phù hợp với nhận thức của chúng ta".Điều này sẽ đáp ứng tốt hơn việc đòi hỏi triết học phải có được tổ thức tiênnghiệm về "vật tự nó"

Như vậy với ý đồ xây dựng nền tảng tri thức tiên nghiệm của khoa họcmang tính phổ quát và tất yếu cũng như quan niệm rằng mọi tri thức của conngười không phải là sự phản ánh thế giới khách quan tức "vật tự nó", Cantơ điđến khẳng định rằng "vật tự nó" là không thể nhận thức được

"Vật tự nó" được Cantơ hiểu theo mấy nghĩa sau:

Thứ nhất, đó là sự thể hiện những gì thuộc về lĩnh vực các hiện tượng(được ông đồng nhất với các kinh nghiệm) mà chúng ta chưa nhận thức được

Thứ hai, "Vật tự nó" là căn nguyên của thế giới, là cái thực sự, là bản chấtcủa mọi vật khách quan tồn tại bên ngoài chúng ta, mà theo ông chúng thuộc vềlĩnh vực siêu nghiệm (transendent) và về nguyên tắc, con người không thể nhậnthức được nó

Thứ ba, "Vật tự nó" còn ám chỉ những chuẩn mực, lý tưởng đạo đức của

sự hoàn thiện tuyệt đối mà con người không thể đạt tới nhưng đó lại là nhữngđiều mà nhân loại hằng mong ước: Chúa, tự do, sự bất tử của linh hồn Đây làlĩnh vực thuộc đối tượng của tín ngưỡng, niềm tin

Trang 12

Quan niệm của Cantơ về "vật tự nó", theo nhận xét của nhiều nhà nghiêncứu, là cánh cửa đi vào triết học phê phán của ông Từ đây, ông coi đối tượngcủa triết học lý luận của mình không phải là nghiên cứu giới tự nhiên như bảnthân nó, điều mà nhiều nhà tư tưởng trước đó quan niệm, mà là nghiên cứu quátrình nhận thức của con người, xác định những quy luật và giới hạn của trí tuệcon người, biến triết học thành lý luận về chủ thể Theo nghĩa đó, ông gọi triếthọc tiên nghiệm với nhiệm vụ trước tiên là nghiên cứu con người như một chủthể hoạt động Trên cơ sở thừa nhận "vật tự nó", Cantơ khẳng định triết học vàkhoa học phải dựa trên những tri thức tiên nghiệm mang tính phổ quát và tấtyếu, về cơ bản khác với những tri thức kinh nghiệm cảm tính Cantơ phân biệt

sự khác nhau giữa hai dạng tri thức, suy lý: đó là tri thức dựa trên kinh nghiệmcảm tính và tri thức tiên nghiệm Chẳng hạn:

"Tất cả các loài thiên nga đều màu trắng" là mệnh đề thuộc về kinhnghiệm cảm tính Nó là kết quả của sự quan sát của chúng ta từ xưa đến nay chỉthấy một loại thiên nga màu trắng Vì thế, nó có thể bị bác bỏ nếu khi nào đó tatìm thấy có loài thiên nga màu khác

Còn mệnh đề: "mọi sự vật đều có quảng tính" hoặc "mọi vật đều thuộc vềvật chất hay tinh thần" là những mệnh đề tiên nghiệm Nó là kết quả khái quátcủa tư duy lý luận cho nên đúng ở mọi thời điểm

Mặt khác, theo Cantơ, khoa học phải là 1 hệ thống mở, các từ thức pháttriển không ngừng Do đó ông đề cao tri thức tổng hợp hơn tri thức phân tích.Mệnh đề phận tích là mệnh đề mà trong chủ ngữ đã chứa đựng (có thể gián tiếp)bao hàm những điều trong vị ngữ Vị ngữ chỉ giải thích những điều đã có trongchủ ngữ (mệnh đề phân tích còn gọi là mệnh đề giải thích)

VD: "Chó là loài động vật có 4 chân" Đây là mệnh đề phân tích bởi vìtrong khái niệm "chó" đã bao hàm đặc tính của "động vật có bốn chân" rồi Vịngữ ở đây chỉ có tác dụng làm rõ nghĩa thêm cho chủ ngữ

Ngược lại, mệnh đề tổng hợp là những mệnh đề mà vị ngữ đem lại tri thứcmới so với chủ ngữ

Ngày đăng: 30/06/2016, 13:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w