Luận văn nghiên cứu về những cơ sở khoa học về việc thiết kế bài tập thảo luận nhóm cho phân môn Tiếng Việt. Trên cơ sở khoa học đáng tin cậy chúng tôi hướng đến thiết kế hệ thống bài tập thảo luận nhóm trong dạy học Tiếng Việt 10. Chúng tôi mong muốn hệ thống bài tập này sẽ được ứng dụng vào thực tế dạy học ở mỗi lớp, mỗi trường trong những điều kiện thực tế khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Tiếng Việt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỞNG ĐẠI HỌC CÀN THƠ
THAI HONG YEN
BAI TAP THAO LUAN NHOM
CHO PHAN MON TIENG VIET 10 (SÁCH GIAO KHOA NGU VAN 10 BO CO’ BAN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học
bộ môn Văn và Tiếng Việt
Trang 2MỤC LỰC Lời cắm ơn .-.-.SẶ SH HS x x Những chữ vIẾt Cate once eee ene enue HH nh HH se Trang
PHẢN MỜ ĐẦU c
1 Lý đo chọn đề tài
2 Đối tượng và phạm vì nghiên cứu 5
2.1 Đối tượng nghiên cỨu -.- SH SH ng ng ng 6 eke PMID We SRI GIAN aasaaasaauanaasgus6saaasasasauaiassnaiasassaissssassiaaai 6
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
3.1 Lịch sử vấn để nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm 6 3.2 Lich si van để nghiên cứu vẻ bải tập Ngữ văn nói chung vả bải tập tiếng
Việt nót nẻng nh ng TH ng ng " " nh ng " nh ng " " ö„ LW
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ere L6
lu o XIN GD TRANH GIAN ssusuananasausnsss6665656463646456a665666606066563063645556 L6 thun 2 HN Y BE HO N Gasaeasaeaeaneanasaanansanasasannsaaanaeakanesasanaxasa: L6
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 Gia thuyét Whoa hoe ooo cece cece cence ceee ecee eee 17
7 Déng gúp của đẻ tài luận văn I8
§ Kết cấu của luận văn I8 PHAN NOI DUNG “coe ose pseu sey ta eeaaepretenaegeettnennureneernrenneeenes 19
Chuong 1 CO SO KHOA HOC CUA việc THIẾT xt BAI TAP THAO LUẬN NHÓM CHO PHẦN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 10 (SGK Ngữ văn 1
theo chương trình chuẩn) 1,1, Dạy học theo nhóm và bài tập thảo luận nhóm Lụ I.I.1 Đạy học theo nhóm - - - S-SSSS BS 19
L111 Khai nigm về đạy học theo nhóm -c-<- - - — ÍØ I.I.1.2 Các yếu tổ của đạy học theo nhỏm! À cc2 <5 ss-e ID
1.1.1.3 Che loại hình nhóm - - -.- <5 <2 c <- 7 2Í
I.1.1.4 Quy trình tô chức tháo luận nhỏm - - - 2Š
I.I.1.§ Vai trò và nhiệm vụ của giáo viên trong day hoc theo nhém., 29 I.I.1.6 Tác dụng của việc tô chức thảo luận nhóm 3Í
Trang 31.1.2 Băi tập thao luận nhóm ă.Ÿ.ăŸ{ {S2 32
1.1.2.2, Vi ti cba bas ip trong dạy học theo nhóm — BF
1.1.2.3, Yĩu chu cba bai tập thảo luận nhỏm cóc — để
1.1.2.4 Quy trinh thict kĩ bai tập thâo luận nhóm 34
1.2 Thực trạng của băi tập va sir dung bai tap ip tiếng Việt 10 theo hình thức
tho luận nhóm 37
1.2.2 Câch thức khảo sât thâo — 3Z
(.23 3 Nội dung khảo sắt, ị că cớ neo đỔ
1.24 Kết quả khảo sit., ¬————————_————————_— 40
Chương 2 THIẾT KĨ ì BĂI TẬP THẢO LUẬN NHÓM CHƠO CÂC BĂI
TIENG VIỆT 10 (SGK Ngữ văn 1 theo chương trình chuẩn) 47
2.1 Định hướng thiết kế băi tập thâo luận nhóm cho phđn môn Tiếng
2.2 Thiĩt kế băi tập thảo luận nhóm cho câc băi Tiếng Việt 1U (SGK Ngữ
văn 1(1 theo chương trình chuẩn) 49 2.2.1 Thiết kế bải tập thao luận cho băi “/toạt động giao tiếp hằng ngôn ngiề" (2
3.2.1.1 Kiến thức trọng tảm vă kĩ năng cơ bản $0 tuần luấn (AI BHING BI ĐIỆN saassansaauasssainnaaosaunissasaiasssas6sasöisaaeniaisuanses $0
3 Hướng dẫn thực hiện .- Q v22 S 1< <1 s22 $4
2 2.1.4 Gợi ý đâp ắn -.-QQQSQ TS SH 55
2.2.2 Thiĩt kĩ bai tap thảo luận cho băi **Vấn hẩ" (2tiết) 59
2.2.1 Kiĩn thue trong tim va ki nding eo ban 02 0.0 e cece eee eee 60 2.2.2.2 Che Load DAL CRD 22 eee ee ee eeeee eee eeeeueeeeeeeeeeeenes 60
3 3 Hướng dẫn thực hiện .ă (cv cv 21 vvc: 63 22.34 Gợi ý đắp ắn co HH ng nh nh nh nhu 64 32.3 Thiết kế bải tập thảo luận cho băi “Thực hănh phĩp tu Gr ân dụ vă hoân
Trang 42.2.3.2 Các loại bải tập - SG TQ TH HH ng ngư, 68
22 3.31 Hướng dẫn thực hiện co cv S01 sẰ 72
2.244 Thiết kế hài tập thảo luận nhóm cho bai “Nintag yew cau ve mir dung tieng
2.2.4.1 Kiến thực trọng tâm vả kĩ năng cơ bản 25-2 5S ss se 79
B.L.L Mage tie the mahidim 2 cece cece cence ence ee eeneeneewewes 97
3.1.3 Tiến trình thực nghiệm - v0 ng ng 97
3.1.4 Nội dung thực nghiệm 98
3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 122 3.2.1 Ket qua thyte maim o.oo c cece cece ue eeeeseeeeeeeeeen 122 3.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 2Q S52 S1 S1 sec 124
Trang 5PHAN MO DAU
I Lý đo chọn đề tài
Hiện nay, học hợp tic hay dạy bọc theo hình thức thảo luận nhóm đã trở
thành một hình thức dạy học rất phỏ biển ở nhiều nước trên thể giới Bởi vì, đạy học hợp tác đem lại nhiều lợi ích cho học sinh, Với phương pháp nảy, cơ hội bọc tập của học sinh sé nhiều hơn, Học sinh không chỉ học từ thắy mà còn được học
từ bạn Bên cạnh đó học sinh còn có điều kiện sử dụng những kinh nghiệm hiểu
biết của bản thân vào hình thành kiến thức mới Ngoài ra, trong quá trình học hợp
tác học sinh sẽ cẻ điều kiện rèn luyện kĩ năng diễn đạt : nghe- nói- đọc- viết và kĩ
năng phản hỏi Qua quá trình tự tìm tòi kiến thức, trao đôi, chia sẻ với bạn cùng
nhóm, củng lớp và vận dụng kiến thức đã biết vào hình thành kiến thức mới, năng lực tư đuy, tỉnh thần sáng tạo, tự chủ, kĩ năng vận dụng kiến thức của người học cũng được rèn luyện và phát triển Dạy học theo nhóm là một trong những hình thức cơ bản của dạy học hợp tác, hình thức tổ chức dạy học nảy có thể áp
dụng được ở hằu hết món học trong đẻ có môn Ngữ văn đặc biệt là phân món
Tiếng Việt
Trong hoạt dộng nhóm, bài tập có vai trò hết sức quan trọng Bởi bài tập vừa
là phương tiện nhưng cũng đẻng thời cũng là nội đung của hoạt động nhóm Bài tập được cøi là một trong những đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học Bai tap có tác dụng rèn luyện kĩ nắng thực bánh, luyện tập cho học sinh cách vận
dụng kiến thức lí thuyết vào việc giải quyết những vấn để cụ thể Với chức năng này, những kiến thức thuộc vẻ thực hành có tác dụng dẫn đắt, mở rộng, cùng cổ
và làm sâu sắc thêm những kiến thức vẻ lí thuyết, Thông qua làm bai tip, giáo
Viên sẽ tạo ra một môi trường gio dục che phép hoc sinh tương tác, néu cầu hoi,
tư duy, từ đó các em sẽ khám phá kiến thức và tự mình thu nhận kiến thức Dòng thời, thông qua hướng dẫn học sinh làm hài tập và quá trình làm bài tập của học
sinh, giáo viên có thể kiếm tra kết quả hoạt động đạy của mình và hoạt động học
của trò Thể nhưng, muốn có bài tập đạt hiệu quá cao, người dạy cần biết lựa chọn, định hướng và tê chức tốt qui trính giải bải tập nhằm giúp học sinh tham
gia giải quyết các nhiệm vụ của bài tập Hệ thống bài tập phải thể hiện sự phân
loại chặt chế vả logic, đa dạng vẻ hình thức, phong phú về nội đụng và phải xuất phát từ thực tiễn dạy học, xử lí được mỗi quan hệ giữa lí thyết với thực tiễn, giữa
Trang 6nội đụng với hình thức bải đạy Có thể thấy, thiết kế bài tập không phái là một công việc để dàng mả đòi hỏi sự chuẩn bị một cách có ý thức, sáng tạo của giáo
viên, Thế nhưng, trong thực tế hiện nay, vấn đẻ thiết kế bài tập nhóm chựa được quan tam ding mite trong quá trình dạy học môn Ngữ văn nói chủng và đặc biệt
là phân món Tiếng Việt nói riêng Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là đo sự
tác động của nhiều nhân tế mà trước hết là do ý nghĩ thực dụng của hầu hết giáo
viên Ngữ văn Vì chạy theo điểm số nên phản lớn giáo viên chỉ chú trọng dạy
những gì sẽ phải thị, họ bỏ qua hoặc day qua loa những chương trính không phụ
vu cho thi cử Những kiến thức và kĩ năng tiếng Việt không được coi lả nội dung
chính để kiểm tra đánh giá nên hẳu hết giáo viên không quan tâm đâu tư, Ngoải
ra, đo thời lượng tiết đạy thì ít mà lượng kiến thức trong sách giáo khoa thi nhiễu
dù đã qua nhiều lần giảm tài Do đó, giáo viên phải có gắng chạy đua với thời gian để mong sao truyền tại hết dụng lượng kiến thức cơ bản cho học sinh nên họ cũng ít cha ¥ cho hoc sinh Lim bai tập theo nhóm vì sợ mắt nhiều thời gian Hơn
nữa, bản thân một số giáo viên có thê đo chưa thật sự tâm huyết với nghẻ hoặc đo
hạn chế vẻ trình đó chuyên môn nên chưa thật sự đầu tư ở khâu chuẩn bị thiết
kế bài tập theo đúng nghïa của nó mả chỉ chủ yếu dựa vào những bải tập có sẵn trong sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bải tập Thực tiễn đạy học tiếng Việt hiện nay đã chứng mình là giáo viên chỉ luyện tập một cách máy móc theo bắt cứ hài tập nào trong SGK mà chưa biết chuyên bài tập đó thành cầu trúc luyện tập của bài đạy Vì vậy, việc luyện tập một mặt chưa có hệ thông, mặt khác, chưa khai thác hết các dạng bài tập Còn phải nói thêm là, trên các bài tập có sẵn,
luyện tập chỉ là tìm đáp số chứ chưa phải dạy quy trình giải Đấy cũng chính là
một trong các nguyên nhân làm kém hiệu quả và giảm hứng thủ học Tiếng Việt của học sinh
Vi tắt cả những lí đo trên, chúng tôi đã chọn để tài: “Bài tập thảo luận nhóm cho phân món Tieng Viet 10 (SGK Net van 10, bd co ban) để làm luận văn,
Với để tài này chúng tôi hí vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc thiết kế bải giảng theo
phương pháp hiện đại ở nhà truờng phê thông hiện nay cũng như việc giảng dạy phân môn Tiếng Việt
2 Đắi tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 72.1 Đắi tượng nghiên cứu Đối tượng để tài nghiên cứu của chúng tôi chính lả bài tập nhóm cho phân môn Tiếng Việt 10 (SGK Ngữ văn 10, bộ cơ bản)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và điều kiện hạn hẹp, động thời để đảm bào tính chất lượng
của luận văn nên người viết không thể nghiên cứu và thực nghiệm rộng rãi Phạm
vi nghiên cứu của luận vẫn nảy sẽ giới hạn trong việc thiết kế bải tập thảo luận nhóm cho phản môn Tiếng Việt 10 {SGK Ngữ văn 10, bộ cơ bản) cụ thể gồm những bải sau đây:
- Hoạt động giao tiềp bring ngon ne (2 tiết)
- Văn hản (2 tiết
“Thực hành phép tu từ ân đụ và hoán dự (| tiểu
- Mlrềng vẻu cầu vẻ sử dụng tiếng Việt (L tiếu
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (L tiết
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm
Đôi mới phương pháp dạy học là vấn để được nhiều người quan tâm Và
một trong những phương pháp đạy học tích cực, lẫy người học làm trung tâm đỏ
chính là phương pháp dạy học hợp tác đang được các giáo viên chủ ý thực hiện
Có thể nói, vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào thiết kế bài học vả thiết
kế bải tập không phái là vấn để mới Trên thực tế đã có nhiều tác giả trong vả
ngoài nước nghiên cứu vẻ vấn để này Nhưng đo giới hạn của dễ tài người viết
chỉ tìm hiệu những sách, báo, tạp chí những bài viết đáng chú ý có hiện quan
đến để tài của mình nhằm mục đích phục vụ cho công việc nghiên cứu
Trước tiên, chúng tôi không thê không nói đến quyền giáo trình Uÿ luận day
học của Lê Phước Lộc, Đại học Cần Thơ, năm 2004 Giáo trình gồm có ba chương trình bảy những vấn để cơ bản của lý luận đạy học, những cơ sử cho việc thay đôi phương pháp dạy học, phương pháp dạy vả bọc Đặc biệt trong chương
3 tác giá có để cập đến phương pháp đạy học hợp tác Trước tiên, tác gid đưa ra
khái niệm vẻ kiều nhóm: nhóm dai han; nhóm đôi; nhóm thảo luận, Sau đó, tác
giả nêu ra xv khác nhau giữa dạy học theo nhóm (hop tac) và nhóm truyền thông (33: tr.132] Đêng thời, theo Lê Phước Lộc thì có các kiểu học nhóm: nhóm có
Trang 8định; nhóm dị động; nhóm ghép 2 lần: nhóm kim tự tháp: nhóm trả trộn Cudi
phản nảy, tác gia trinh bay md sổ kiểu nội dưng bài học có thể tô chức học hợp tác [22; tr_L 351 đó là: tháo luận đề đánh giá một qui trình lắm việc; trao đổi trước giữ học; tim sự tương ứng; phân loại, so sảnh; dùng sơ đỏ tóm tắt nội dụng bải
học hoặc tìm ra kiến thức mới
Giáo trình Ly luan day học trên của Lê Phước Lộc đã trình bày khái quát
về phương pháp dạy học hợp tác Đây là cơ sở lý luận rất can thiết dễ chúng tỏi nghiên cứu đẻ tài luận văn của mình Tuy nhiên, giáo trình vẫn chưa dưa ra khái niệm cụ thể và hoản chỉnh vẻ học hợp tác
Còn cuỗn Đạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường Nxb Dại
học sự phạm 2005, của Phan Trọng Ngọ là một cuỗn sách khả dảy, nghiên cứu
khá chỉ tiết về vấn để đạy học vả các phương pháp dạy học trong nhà trường
Cuốn sách gẻm có hai phản và mười bến chương Trong phần thứ nhất, tác giả chủ yếu trình bảy những vấn để chung vẻ đạy học và quá trình dạy học Phản thứ
hai có tổng cộng mười chương tác giì đã dành phần lớn dụng lượng đề trình bảy
về những phương pháp dạy học như phương pháp dùng lời của giáo viên, nhóm phương pháp trao đổi, nhóm phương pháp tó chức hành động của học viên, nhóm
phương pháp tỏ chức tương tác hành động học, các phương pháp làm việc độc lập của học viên có sự trợ giúp của giáo viên, Trong mỗi phương pháp tác giá đều có đưa khái niệm, những điểm mạnh vả những hạn chế cùng với biện pháp khắc phục những hạn chế Riêng nhóm phương pháp trao đôi tác giá đưa ra bến
phương pháp đó là phương pháp vấn đáp, phương pháp thảo luận, phương pháp
động não và xemina Bàn về phương pháp thảo luận nhóm trong quyền Day hec
và phương pháp dạy học trang nhà trường của Phan Trọng Ngọ cho rằng * Thao luận trên lớp là phương pháp dạy học trong đó người dạy (người điều khiến} tô
chức và điều khiến các thành viên trong lứp trao đổi ý kiến và tw tưởng của mình
về nội chung học tập qua đỏ đạt được tục đích dạy học” |36 tr 315] Đẻng thời
tác giả còn khẳng định: zhdo luận trên lớp đòi hỏi người học tích cực động nào,
tạo cơ hội cho mọi thành viên được tham gia vào quả trình học và được thẻ hiện
quan điểm của mình [36.tr 315] Ngoài nêu lên những điểm mạnh và những hạn
chế của phương pháp thảo luận Phan Trọng Ngọ còn nhấn mạnh vái trò của
người điều khiến, cách dẫn đất một buổi thảo luận, vả các hình thức thảo luận
Trang 9trên lớp Có thê khăng định đây là một quyên sách nghiên cứu khá kĩ vẻ các
phương pháp dạy học Và cũng chú ý đưa ra khả nhiều những phương pháp nhắm
gây sự hứng thú học tập cho người học Thiết nghĩ đây cũng chính lả một cuỗn tài liệu hữu ích cho những ai đang làm công tắc giảng đạy hay có quan tắm đến vấn để phương pháp giảng đạy trong nhà trường, Tuy nhiên, ngoài những điểm đáng ghi nhận nói trên thì có thể thấy cuên Đạy học vẻ phương pháp dạy học
trong nhà trưởng của tác gia Phan Trọng Ngọ còn mang nặng tính lí luận chứ
chưa đi vào thực tế ứng dụng vả giang dạy cụ thế trong nhả trường
Nhìn chung mỗi tác giả trình bảy một quan điểm, một khía cạnh của vẫn
để dạy học hợp tác Nhưng trong chuyên đề Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ vẫn, Dại học Cần Thơ, năm 2006 của tác giá Nguyễn Thị Hồng Nam, vẫn để học hợp tác được tác giả nghiên cứu vả trình bảy có tính chất chuyên sảu, khá
hoản chỉnh Trong chuyển để nảy, Nguyễn Thị Hồng Nam trình bày vẫn để tế
chức học hợp tác theo ba chương
- Chương l: Những vấn để chưng vẻ học hợp tác ong dạy học hợp tac (33:
tr.2] Trong chương nảy, tắc giả đã trình bày những vẫn đẻ: thế nào là học hợp
tắc, tại suo nên sử dụng học hợp tác trong dạy học và những véu tế tạo nên sự
thành công của việc day học hợp tic
- Chương 2: Cách tô chức dạy học hợp tác trong dạy học Ngữ văn [33: tr 15] Trong chương nảy tác giả đặc biệt nhắn mạnh vai trò của người giáo viên trong dạy học hợp tác Ngoải ra tác giả còn trình bảy các bước chuẩn bị cho giờ học hợp tác, quy trình tô chức thảo luận nhóm và tác dụng của học hợp tác
- Chương 3: Các bình thức đánh giả hiệu quả học hợp tác: “Đánh giá không chỉ đo lường kết qua mà đồi hỏi phải đo lường những tiên hộ của học sinh trong
từng giữ học [33; tr.33| Đồng thời tác giả tập trung trình bày những hình thức
đánh giá phủ hợp với dạy học hợp tác, đó là đánh giá thưởng xuyên, giáo viên
đánh giá học sinh, học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
Đặc biệt, trong chuyên để nảy, tác giả cũng cung cấp hệ thêng lý luận về các loại bải tập, các bước xảy đựng và những điều cẳn lưu ý khi xảy dựng bải tập
trong quả trình giáng dạy, Những nội dụng vừa trình bảy trên đây là cơ sở lý luận
vẻ phương pháp dạy học theo nhóm cũng như việc vận dụng phương pháp này
vào việc thiết kế bải tập thảo luận nhóm cho miền Ngữ văn nói chung vả bải tập
Trang 10nhóm cho phân môn Tiếng Việt nói riêng, Nhưng trong phân môn Tiếng Việt lại
có những đặc tính riêng, nên yêu cầu về vận đụng phương pháp tích cực cũng nhự thảo luận nhóm vào thiết kế giáo án, bải tập cho các bài Tiếng Việt cũng
phái có những đặc thù nẻng
Nhân kỉ niệm ŠŠ năm thành lập trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trin Bá
Hoành đã lựa chọn 26 bài viết trong 10 năm của mình về đổi mới phương pháp
dạy học, chương trình, sách giáo khoa in thành cuồn Đổi mới phương phap day học chương trình và xách giáo khoa, Nhà xuất bàn Đại học Sư phạm, 2067,
Trong quyền sách tập hợp 26 bải viết của Trần Bá Hoành ngoài phần lI nói vẻ
chương trình và sách giáo khoa phê thông thì có khá nhiều trang viết (từ trang 8 đến trang 174) tic giả bàn về đôi mới phương pháp dạy học Trong những vẫn để
lí luận chung Trin Bá Hoành lưu ý vấn đề đạy học lấy học sinh làm trung tâm, Quyền sách đã chỉ ra điểm khác nhau giữa dạy học lấy học sinh làm trung tâm vả dạy học lây giáo viên làm trung tâm Vẻ dạy học lấy giáo viên làm trụng tâm, tắc
giả cho rằng “ người ta guan tâm trước hết đến việc trang bị cho học sinh một trình độ kiến thức giáo viên xem trách nhiệm chính của mình là truyền đạt cho
hét nội dung đã gui định trong chương trùnh sách giáo khoa Nội dung dạy học
mang tính hàn lâm, thiên về những kiến thức lí thuyết hệ thông của các môn học
Pliương pháp dạy học chủ yếu là thuyết trình giảng giải, giảo viên tranh thứ
truyền thụ nhưng hiệu biết và kinh nghiệm của tình Học sink tiếp thu thu dong,
thưnh thoảng trả lời nhềng câu hỏi giáo viên nều ra về những vẫn đẻ đà giảng Giảo án được thiết kế theo đường thẳng, chung cho mọi học xinh, trên lớp giáo
viên chỉ động thực hiện một mạch theo các bước đà chuẩn bị Giáo viên là
người độc quyền đánh giả két qua học tập của học sinh, chủ ý chủ yếu tới khả năng ghi nhứ và tái hiện các thông tín" [ L6, tr8] Còn dạy học lấy học sinh làm
trung tâm thi * chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sông xã hội tân trọng mục đích nhu cầu, khả năng, lửng thú, lợi ích học tập của học sinh Nội dụng đạy: học chủ trạng các kĩ năng thực hành vận dụng kiến thức, năng lực giải quyềt các vẫn để thực tiền, hưởng vào xự chuẩn bị thiết thực cho từm kiếm việc làm,
hỏa nhập và phát triển công đong Phương pháp dạy học coi trọng việc rên luyện cho hoc sinh phương pháp tự hoc thong qua thao luận, thí nghiệm, hoạt động tìm tòi tập dượt nghiền cứu, quan tầm vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của
Trang 11từng cả nhân và tập thê học sinh Giáo án được thiết kế nhiều phương ản theo
kiêu phản nhánh, được giảo viên linh hoạt điều chỉnh theo điển tiên của tiết học
với xự (ham gia tích cực của học sinh trong lớn học giáo viên là người tỏ chức
hướng dân, điều tiết; bọc sinh tự giác chịu trách nhiệm về kết quả bọc tập của
minh, tham gia tw danh gia va danh gia lan nhan" [ L6 8-9} Trên cơ sử đó, tác
giả đã đưa ra một vải phương pháp đạy học theo hướng lấy học sinh làm trung
tim đó là phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác, sự thay đổi vai trò của giáo viên và học sinh qua sự phát triển các phương pháp sư phạm Qua đó tác giả cũng đưa ra những phương pháp tích cực cẳn được phát triên ở trường phê
thông như phương pháp vấn đáp tìm tỏi, phương pháp dạy học đặt van dé và giải
quyết vấn để, phương pháp dạy bọc hợp tác trong nhóm nhỏ Đẳng thời tác giả
cùng dua ra hướng tết kẻ bài học theo phương pháp tích cực: cần thay đôi cách
viết mục tiêu bai học, nâng cao trình đệ của câu hơi vẻ mặt nhận thức, phát triển
các dạng phiều hoạt động học tập, đêi mới việc đánh giá kết quả học tập
Nhin chung, những vắn để vẻ phương pháp và đổi mới phương pháp được
tắc giả của quyên sách: Đói mới „hương pháp dạy học chương trình và sách giáo khoa đã trình bay rit hợp lögic có hệ thống Nhưng vẫn còn mang nặng tính
lý thuyết, gàn như là nêu khải niệm cho người đọc hiểu được vấn để được trình bảy, chứ chưa thể hiện được khả năng vả điều kiện để vận đụng những cơ sở lí luận đó vào thực tế đạy học ở trường phê thông cụ thể như thể nào, Đêng thời,
quyên sách này cũng chưa đẻ cập đến nhiều vẻ phương pháp dạy học hợp tác
Những vấn đề mà các tic gia trình bày hằu như xuất phát chủ yếu từ cơ sở lí luận dạy học mang tính chung của quá trình dạy học, chưa thực sự bám vào thực tế
dạy và học ở trường phê thông trong hoàn cảnh lúc bấy giờ của nước nhà Tuy
nhiên, đây cũng là cơ sở lí luận rất có ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục, nhất là vấn để phương pháp
Ngoài những công trình lớn nghiên cứu về vấn để đổi mới phương pháp nói
chung vả phương pháp tháo luận nhóm nói nêng, thì trên Tạp chí Giáo dục cùng
cú khá nhiều những bải viết về phương pháp dạy học hợp tác Có thể thấy mỗi bài viết trình bày một khía cạnh về đạy học hợp tác nhưng đây đều là những bài ViẾt có giá trị
Bài viết Trao đổi thêm về phương pháp tỏ chức học sinh thảo luận
Trang 12nhỏm, của Lê Thăng Bừng Trong bải viết này, tác giả Lê Thăng Bừng nhắn mạnh
phương pháp tháo luận là “e2 pháp» có tỉnh đột phá", Đồng thời tác giá cũng chứng thực vai trò và tằm quan trọng của tháo luận nhóm Theo tác giả “Sản phẩm của nên giảo dục biện đại là những con người có phẩm chat or duy gan liên với thực tiền, biết giải guyết tái nhường vấn để thực tiền đôi hỏi, biết tìm tỏi nhừng giải
pháp, biết sảng tạo thực tien mới Dạy học hàng phương pháp thảo luận nhằm giúp?
hoc sink ty mink ca biet hoa sự giao duc de phat trien tiem nang noi tai cia ca
nhân, đảng thời tạ giao dục theo các mục tiêu chưng hành thành những kĩ năng
song, ki năng thích ứng kiến tạo con người cá nhân hài hòa với con người công
đẳng" {6: tr.L3]
Với bài viết Xải đựng kẻ hoạch bài học củ sử dụng hình thức nhỏm nhỏ của Vũ Thị Sơn, trường Đại học sư phạm Hả Nội đăng trên Tạp chí Giáo đục số (19, thắng 8, năm 2005 đã hày tô quan điểm và đóng góp ý kiến của mình đối với phương pháp dạy học hợp tác Tác giả đã nêu lên những ưu điểm cửa phương
pháp dạy học có sử dụng nhóm nho: “Minh thức nan giúp học sinh có kha năng thực biện những nhiệm vụ học tap plare tap” [4L: tr.16] và nêu lén vai trẻ quan trọng của người giáo viên trong giờ học có sử dụng hình thức nhóm nhỏ Đông
thời Vũ Thị Sơn cũng trình bày bên yêu cầu chú ý khi thiết kế bải giảng có hình
thức nhóm nhỏ lả:
- Xác định vấn để chính cia bai học và hình thành các câu hỏi mA học sinh phải
tra lời
- Lựa chọn những cảu hỏi thích hợp đề xảy đựng nhiệm vụ cho nhóm học sinh
- Thiết kế nhiệm vụ cho nhóm nhằm yêu cầu học sinh trong nhóm cùng giải quyết
- Xây dựng phương án đánh giá cụ thê
Đó là những yêu cầu rat thiết thực, người giáo viên nên có sự quan tâm thấu
đáo khi thiết kế giáo án có sử dụng hình thức nhóm nhỏ Đặc biết, ở phần kết
luận tác giả Vũ Thị Sơn còn khẳng định một lắn nữa việc sử đụng nhóm nhỏ trong Đại học đã trở thành một xu hướng mạnh mẽ vả rộng khắp không chỉ trong
nước mả trên cá phạm ví quốc tế, Ví vậy, khi sử dụng hình thức dạy học nhóm
clin phải được suy tính ngay từ lúc xây dựng kế hoạch bài học vả phải tính đến
những tác động giáo dục đối với học sinh để tránh lăng phí vẻ thời gian và công
Trang 13sức của giáo viên
Việc thiết kế một bài giảng có vận dụng những phương pháp tích cực phủ hợp cũng không phải là một việc dễ Đề thiết kế một bải giảng, người giáo viên phải chủ ý đến vấn để Tiết kể và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với nội
dung bai hoc Day la bài viết của Trịnh Quang Từ đăng trên Tạp chí Giáo dục, sẻ
154 kì 02, tháng 01, năm 2007 Trong bải viết này, tác giả đã trình bảy bến phương hướng lựa chọn phương pháp thiết kế hài giảng cho phủ hợp với nội dung bài học như sau:
- Thiết kế, lựa chọn phương pháp dạy học cẳn xác định các bước dạy học
cơ bản
- Thiết kẻ, lựa chọn phương pháp dạy học theo loại kiến thức
- Thiết kế, lựa chọn phương pháp theo mỗi quan hệ giữa các đơn vị kiến
thức nột dung bài học
- Thiết kế, lựa chọn phương pháp theo các con dường giải quyết vẫn dễ
Mỗi phương hướng mà Trịnh Quang Từ đưa ra đều có ưu và nhược
điểm nhất định và dĩ nhiên nhược điểm sẽ ít và bị tiêu trừ nêu biết vận dụng những phương hướng đẻ phủ hợp với nội dung bải học Đây là một tải liệu quan
trọng giúp tôi trong việc thiết kế bài giáng cũng như việc thiết ké bai tập cho học
sinh thảo luận để giải quyết các vấn để trọng tâm của bài học
3.3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về thiết kế bài tập Ngữ văn nói chung, bài tập tiếng Việt nói riêng
Khi vận dụng nhương pháp thao luận nhóm vào trong giang dạy thì một
trong những yếu tế quan trọng đầu tiên có thể giúp người giáo viên đạt được
thành công hay khiển họ thất bại đó chính là ở khâu thiết kế câu hỏi thảo luận (hay bải tập thảo luận) Trong quyền sách: “Máy vấn đề tí luận và thực tiễn vẻ
đạt: học tiếng Uiệt ở trưởng trưng học", Nhà xuất bản Thành phổ Hè Chí Minh,
nim 1998 của tắc giá Trương Dĩnh Tác giá đã nêu lên thực trạng đạy vả học
Tiếng Việt ở THPT và đưa ra những cơ sở lí luận về vấn dé đạy và học phản món Tiếng Việt, Trong dạy bọc tiếng Việt, tác giả đặc biệt nhắn mạnh vai td cba bai
tap “Luvern tập lảm cho việc hoc tiếng Việt có ý nghĩa thực tiến" [II:tr.I 18] và
điều quan trọng trong thiết kế bài tập chính là : “làm sao chọn được cho mỗi bài
Trang 14khái niệm} đến hưởng ngoại (vận dụng vào giaa tiếp xã hội) một cách hợp lí
nhắc Trong qua trink Gere hién hệ thông hài tập đó, lại phải biết làm thể nào cho học sinh không chú tùm ra đáp só bài tập mà từng hước biết suy: nghĩ cú trình tự
đề tùm ra các đáp số đú, tức là đi đến đáp số một cách cú ý thức” [L1;.120] Dựa vào mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ vả tư duy, tác giá phản loại các bài tập tiếng
Việt gồm các loại sau đây: bải tập nhận biết, bài tập cải biến, hài tập sảng tạo
hài tập chữa lài và bài tập tổng hợp Công trình nghiên cứu trên của Trương Dĩnh ra đời cách đây hơn 10 nim nhưng nó vẫn còn giá trị thiết thực và là tài liệu bẻ ích cho giáo viên khi dạy cũng như việc soạn giáo án, thiết kế những bải
tiếng Việt Tuy nhiên công trình này vẫn chưa xoáy sâu vào các phương pháp khi đạy và học môn Tiếng Việt,
Trong Đạy hoc Van ở trường phố thông, Nxb Dại học quốc gi Hà Nội,
2001, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương đã nhắn mạnh vai trò của việc đưa ra cảu
hỏi trong quá trình đạy môn Văn: “Hoạt động hưởng dẫn học xinh chuẩn bị bài:
đặt câu hoi nhằm gây hưng thú, định hưởng chủ ý' cho hoc sink vao tac pham va đặt ra những vấn đẻ khoa bạc đôi hỏi các em phái say: nghĩ tùm tôi, tự học phản tích giải thích và lí giải trên cơ sử sự biều biết của từng em” (17; 173) Tac giả khäng định: “một biện pháp cing quan trong dé tao ra hau không khí văn chương là biện pháp xât: dựng câu hỏi có vấn để Những câu hỏi phải chứa
đựng rong chúng khả năng da dạng húa câu trả lời và tôi câu hỏi biên thành mộit tình buông đòi hỏi học sinh phải đào sâu khám phá, tìm ra cách giải quyết chúng hoặc xo sảnh phương an trả iớ@f` [ (7; tr.33T] Đây cũng là một tải liệu cơ
sử quý báu đề chúng tối hoản thành đẻ tải bởi thực chất bải tập nhóm cũng là
dạng câu hỏi có vấn dễ nhằm giúp học sinh khám phá, củng có và nâng cao kiến
thức
Trong Phương pháp dạy học tiếng Việt, cúc tác giả Lê A Nguyễn Quang
Ninh Bủi Minh Toán bên việc đề ra những lí luận cơ bản và một sẻ phương pháp
day học Tiếng Việt, Tập làm văn ở nhà trưởng phô thêng, cũng đã khăng định ý nghĩa của bải tập trong quá trình đạy học: “Bải tập tiếng Việt là một đơn vị nội
dung định hướng cho việc đạy học Tiếng Việt Thông gua việc hướng đẫn học
xinh làm bài tập và quả trình làm hài tập của các em, giáo viên kiêm tra Ñét qua hoạt động dạy của mình, học sinh cúng có được trí thức và thật sự hình thành
Trang 15được ki năng sử dụng tiếng Việt Bài tập có vai trò rất lớn trong quá trình dạy học Tiếng Việt Đề có thê đâm nhận được vai rò này bài tập phải đảm bảo tính mục đích, bài tập phải đa dạng và vừa đu, hài tập phải hưởng vào rên luyện k
năng giao tiếp” [1;tz.T5-T6] Bên cạnh đó, trong công trình nghiên cứu của mình, các tắc giá cũng phân loại bải tập tiếng Việt như sau: bải tập nhận diện, phẩm
tích; bài tập chuyên đôi; bài tập tạo lập: bài tập sửa chữa Đây chính là những
cơ sở lí luận vững chắc vẻ vai trò, vị trí của bài tập của Bài tập nhóm cho phan món Tiếng Việt f0 Những ý kiến quý báu của các tác giả đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tỏi tiến hành nghiên cứu và thực hiện dé tải
Bên cạnh đó, cuốn lương pháp dạy học Văn- Nxb Quốc gia Hà Nội 2M do Phan Trọng Luận chủ biên cũng đưa ra một số phương pháp day hoe
tích cực hiện nay, đó là: phương pháp gợi mở, phương pháp nghiên cứu, phương
pháp dọc sáng tạo, phương pháp tái tạo vả phương pháp nêu vấn đẻ Mặt khác, các tác giả của quyên sách nảy cũng chỉ ra cách thức để vận dụng những phương
pháp này bởi vì: “Mở phương pháp có vị trí và tính năng riêng của nó, cẩn được vận dụng sảng tạo trong những bài học và trường hợp cụ thể Trang từng tiết đạy., một phương pháp có thể vận dụng nhự phương pháp “Chủ công ” dựa trên
cơ sở nội dung mục đích của tài liệu giảng dạy và đặc điềm của đổi tượng giáo
đục do đỏ phải vận dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhaw" [33: tr901
Ngoài ra, các tác giả còn lưu ý: “Mới phương pháp đều có wá thế đối với từng
phiẩn tản và từng đói tượng nhất định” [33: tri90] Trong công trình nảy, tác giả cùng đặc biệt khang định: trong quá trình dạy học Ngữ văn “điểu quan trong ld không dừng lại ở bước nằm lí thuyết Lí thuyết chỉ được củng có, khắc họa tinh thông qua hệ thông bài tập lớn, nhỏ Giáo viên cần phản định một cách cụ thẻ
cú kế hoạch từng bước hệ thông bài tập tương ứng với từng thao tác và kỉ năng làm van" (23: 0.316) Cé thé nói, công trình nghiên cứu này đã nói đến rất nhiều
phương pháp dạy học văn Cụ thể là những giờ dạy và học tác phẩm văn chương
Li luận văn học, Văn học nước ngoài, Làm văn, Nhưng hàu như không nói đến
các phương pháp thích hợp khi dạy và học phân món Tiếng Việt và cũng không nói đến phương pháp thảo luận nhóm - một phương pháp đạy học tích cực và khá
Trang 16Quan tắm đến văn để nảy Nguyễn Thị Héng Nam trường đại học Can
Thơ đã viết bài Tiết kẻ cảu hỏi dạy học văn, một thứ thách đổi với giảo viên đăng trên Tạp chí Giáo dục số 147 tháng 1 năm 2006 Trong bải viết của mình
tắc giả đã cho rằng thiết kế cảu hỏi trong thảo luận nhóm không phải là một công
việc dễ dàng, đỏi hỏi sự chuẩn bị một cách có ý thức của giao viên, Cầu hơi phái
nhằm mục đích sư phạm và mục đích giáo dục Tác giả đã đẻ cập đến vấn dé vai
trỏ của câu hỏi và thực trạng vấn đề thiết kế, sử đụng câu hỏi trong đạy học Ngữ văn cua GV THPT Cudi bài viết của mình tác giả đã nhin manh “Thao ludn
nhỏm là một hình thức dạy học tích cực, tuy nhiên khí thiết kế câu hải thảo luận
phải chú ý:
- Câu hoi phải được vậy dựng tập trung vào trọng tâm của hai hoc
- Néu xứ dụng loại hoạt động trao đổi thì câu hỏi cho các nhằm phải có
độ khó tương đương nếu không nhóm có câu hỏi dể sẽ nhanh chóng tìm ra câu tra lời và sẽ nói chuyện riêng
- Trình tự câu hoi phải phụ hợp với các bước tt duy của học sùnh ”
[32.tr.I8|
Có thê nói bài viết “Thiết kế câu hỏi dạy học văn- một thứ thách với giáo
viên ” là một bài viết hữu ích giúp chúng tôi có cách nhìn khách quan vẻ thực
trạng cũng nhự nắm bắt được một số nguyên tắc cơ bản về vấn để thiết kế và sử
dụng cảu hỏi hài tập của ŒV trong suốt quá trình giảng day
Van dé bai tap Tiếng Việt trong Bài tập Ngữ van 10 (tap 1 va tip 2), Nxb Giao dyc, 2006, do Phan Trong Luan chu biên cũng là một trong những tải liệu
tham khảo chính nhằm hỗ trợ cho học sinh giải quyết phần luyện tập trong SGK,
Tuy nhiên trong tài liệu này, các tác giả chủ yếu nặng vẻ việc hướng dẫn, gợi ý giúp học sinh giải quyết những câu hỏi trong SGK mà chưa đưa ra nhiều bai tập
giúp học sinh mử rộng, nẵng cao kiến thức Do vậy, trong quá trình dạy vả học, bản thân GV và HS chưa thật sự tìm thấy hiệu quả thiết thực của quyền SBT Do vậy, trong thực tế, SBT Ngữ văn đổi khi bị lăng quên trong quá trình dạy vả học
ư trường THPT
Trong Pệ thẳng cảu hỏi trắc nghiệm và tự lưận Ngừ văn !f (tập 1 và tập
2), Nxb Dai học quốc gia TPHCM, 2006, tác ga Doàn Thị Kim Nhung va Hoang
Thị Minh Thảo đã đưa ra một số để kiểm tra với những bải tập tự luận và trắc
Trang 17nghiện được thiết kế khả công phu nhằm giúp học sinh tự ôn tập và củng cô kiến thức cơ bản, Đó là những tư liệu đáng quí để làm cơ sử cho chúng tôi thiết kế hệ
thẳng bải tập nhóm cho phân món Tiếng Việt của mình, Ngoài ra trong Öải tập trắc nghiệm Ngừ văn !, Nxb Giáo đục, 2006, do
Đỗ Ngọc Thống chủ biển cũng đã thiết kế khá công phu hệ thống bải tập trắc
nghiệm chương trình Ngữ văn 10 nhằm giúp HS tự ôn tập, củng cổ kiến thức cơ bản Đây cũng là tư liệu đáng quí cho chúng tôi tham khảo thiết kế hệ thắng bài tập Tiếng Việt
Chung quy lại, qua mỗi công trình nghiên cứu của cắc tác giả, người đọc có thể trang bị cho mình những hiệu biết về cơ sở lý luận về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động tích cực ở học sinh, Song song đó, người đọc cũng có thể học hỏi những kính nghiệm cần thiết cho mình để có thể thiết kế bài giảng và thiết kế bai tập thảo luận chớ học sính thực hành dạt hiệu quả
Tuy nhiên, dù đã cé nhiều tải liệu nghiên cứu vẻ các phương pháp dạy
học tích cực nói chung vả trong môn Ngữ văn nói riêng, đặc biệt là trong phân món Tiếng Việt, kể cả việc nghiên cứu thiết kế bải tập tiếng Việt Nhưng vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể vả đầy đủ về việc “Bài tập tháo luận nhóm cho phân thân Tiếng Việt II” ( SGK Ngữ văn i0.hộ cơ bản) Thực hiện đề
tài này, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp phần vào việc nghiên cứu thiết kế bài tập
thảo luận cho phân miên Tiếng Việt lớp 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu Khi hắt tay thực hiện đẻ tài này, chúng tôi xác định rõ mục đích của đẻ tài
là nghiên cứu những cơ sở khea học về việc thiết kế bài tập tháo luận nhóm cho phân môn Tiếng Việt Trên cơ sở khoa học đáng tin cậy chúng tôi hướng đến
thiết kể hệ thông bải tập thảo luận nhóm trong đạy học tiếng Việt 10, Chúng tôi mong muốn hệ thông bài tập này sẽ được ứng dụng vào thực tế đạy học ở mỗi lớp, mỗi trường trong những điều kiện thực tế khác nhau nhằm nắng cao hiệu quả dạy học phản môn Tiếng Việt
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sử lí thuyết và thực tiễn của hệ thống hài tập thảo luận
nhóm
Trang 18Quan tắm đến vấn để nảy Nguyễn Thị Hỗng Nam trường đại học Can
Thơ đã viết bài Thiết kẻ cảu hỏi dạy học văn, một thứ thách đổi với giảo viên đăng trên Tạp chí Giáo dục số 147 tháng 10 năm 2006 Trong bài viết của mình tác giá đã cho rằng thiết kế cảu hỏi trong thảo luận nhóm không phải là một công
việc dễ dàng, đòi hỏi sự chuẩn bị một cách có ý thức của giáo viên Câu hỏi phải
nhằm mục đích sư phạm và mục đích giáo dục Tác giả đã đề cập dén van dé vai trỏ của câu hỏi và thực trạng vấn đề thiết kế, sử đụng cầu hỏi trong đạy học Ngữ
văn của GV THPT Cuỏi bài viết của mình tác giả đã nhắn mạnh “Thao ludn
nhỏm là một hình thức dạy học tích cực, tuy nhién khi thiết kế câu hỏi thảo luận
phải chú ý:
- Câu hai phái được vậy dựng tập trung vào trọng tâm của hài học
- Néu xứ dụng loại hoạt động trao đổi thì câu hỏi cho các nhóm phải có
độ khó tương đương nếu không nhóm có câu hỏi dễ sẽ nhanh chóng tìm ra cẩu tra lời và sẽ nói chuyện riêng
- Trình tự câu hoi phải phụ hợp với các bude ar duy cia hoc sink.”
[32.tr.18]
Có thê nói bài viết “Thiết kế câu hỏi dạy học văn- một thứ thách với giáo
viên ” là một bải viết hữu ích giúp chúng tôi có cách nhìn khách quan vẻ thực
trạng cũng nhự nắm bắt được một sẻ nguyên tắc cơ bản về vấn để thiết kế và sứ
dụng cảu hỏi bài tập của GV trong sudt qua trình giảng day
Vẫn đề bái tập Tiếng Việt trong Bài tập Ngữ văn !f† (tập 1 va tap 2), Nxb Ciiáo dục, 2006, do Phan Trọng Luận chủ biên cũng là một trong những tải liệu tham khảo chính nhằm hỗ trợ cho học sinh giải quyết phần luyện tập trong SGK Tuy nhiên, trong tài liệu này, các tác giả chủ yếu nặng về việc hướng dẫn, gợi Ỹ giúp học sinh giải quyết những câu hỏi trong SGK mà chưa đưa ra nhiều bải tập giúp học sinh mử rộng, nẵng cao kiến thức Do vậy, trong quá trình dạy vả học, bản thân GV và HS chưa thật sự tìm thấy hiệu quả thiết thực của quyền SBT Do
vậy, trong thực tế, SBT Ngữ văn đổi khi bị lăng quên trong quá trình dạy vả học
ư trường THPT
Trong Hệ thẳng cảu hỏi trắc nghiệm và tự luận Ngừ văn lí (tập Ì và tập
3), Nxb Đại học quốc gia TPHCM, 2006, tic gia Doan Thi Kim Nhung va Hoang
Thị Minh Thao đã đưa ra một sẻ để kiểm tra với những bài tập tự luận và trắc
Trang 19nghiệm được thiết kế khả công phu nhằm giúp học sinh tự ôn tập và củng cô kiến thức cư bản, Dó là những tư liệu đáng quí để làm cơ sử cho chúng tôi thiết kế hệ thống bải tập nhóm cho phần món Tiếng Việt của mình,
Ngoài ra, trong ải tập trắc nghiệm Ngừ văn !, Nxh Giáo đục, 2006, do
Đỗ Ngọc Thông chủ biến cũng đã thiết kế khá công phụ hệ thống bài tập trac nghiệm chương trình Ngữ văn 10 nhằm giúp HS tự ồn tập, củng cổ kiến thức cơ
bản Đây cũng là tư liệu đáng quí cho chúng tôi tham khảo thiết kế hệ thống hài tập Tiếng Việt
Chung quy lại, qua mỗi công trình nghiên cứu của các tác giả, người đọc có thé trang bị cho mình những hiệu biết về cơ sở lý luận về phương pháp dạy học
phát huy tính chủ động tích cực ở học sinh Song song đó, người đọc cũng có thé học hỏi những kính nghiệm cắn thiết cho mình để có thế thiết kế bài giảng và thiết kế bài tập thảo luận cho học sinh thực hành dạt hiệu quả
Tuy nhiên, dù đã có nhiều tải liệu nghiên cứu về các phương pháp dạy
học tích cực nói chưng vả trong môn Ngữ văn nói riêng, đặc biệt là trong phân
món Tiếng Việt, kế cả việc nghiên cứu thiết kế bải tập tiếng Việt Nhưng vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể vả đầy đủ về việc “Bài tập tháo luận nhóm cho phản thân Tiếng Việt 10” ( SGK Ngữ văn 10,bộ cơ bản) Thực hiện đề
tài này, chúng tôi hỉ vọng sẽ đóng góp phản vào việc nghiên cứu thiết kế bài tập
thảo luận cho phân môn Tiếng Việt lớp 10
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1 Mục đích nghiên cứu
Khi hắt tay thực hiện đẻ tài này, chúng tôi xác định rõ mục đích của đẻ tài
là nghiên cứu những cơ sở khea học về việc thiết kế bài tập tháo luận nhóm cho
phân môn Tiếng Việt Trên cơ sở khoa học đáng tin cậy chúng tôi hướng đến
thiết kế hệ thống bải tập tháo luận nhóm trong đạy học tiếng Việt L0, Chúng tôi
mong muốn hệ thông bài tập này sẽ được ứng dụng vào thực tế đạy học ở mỗi
lớp, mỗi trường trong những điểu kiện thực tế khác nhau nhằm nắng cao hiệu quả dạy học phản môn Tiếng Việt
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của hệ thống bài tập thảo luận
Trang 20- Xây dựng hài tập thảo luận nhóm cho các bải Tiếng Việt 10 (SGK Ngữ văn theo chương trình chuẩn)
- Tổ chức thực nghiệm để kiểm tra khả nắng thực thi của hệ thông bài tập được thiết kế
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề nghiên cứu vẫn để mà luận văn đặt ra, chúng tôi đã kết hợp, vận dụng
tảng hợp các phương pháp nghiền cứu lí thuyết và phương pháp nghiên cứu thực
nghiệm, cụ thế như sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp được sử đụng đề nghiên cứu lịch sử vấn
để và phát hiện, rút ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua tìm
hiểu các tư liệu, tạp chí, giáo trình, các bải nghiên cứu .có liên quan trực tiếp đến phạm vi để tải
- Phương pháp diểu tra, khảo sát được sử dụng để thu thập những tư liệu thực tế vẻ tinh hình thiết kế vả sử dụng bải tập nhóm cho phản môn Tiếng Việt
LŨ (theo chương trình chuẩn) dang diễn ra ở trường THPT trên địa bàn huyện
Binh Tan
- Phương pháp thực nghiệm, ở đẻ tải này, do mục đích, nhiệm vụ nghiên
cứu việc thực nghiệm sẽ ở phạm vì tở chức đạy thực nghiệm giáo án để xuất
trong sự đối chứng với các giáo án thông thường để kiếm nghiệm khả năng ứng
dụng vả tính hiệu quả của để tài,
- Phương pháp thẳng kẻ được sử dụng đề xử lí các sẻ liệu trong quá trình
khảo sát, thực nghiệm, bê trợ cho phương pháp phân tích, tổng bợp nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan
- Phương pháp têng kết kinh nghiệm được dùng để xem xét lại những
thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ đẻ rút ra những kết luận hẻ ích
cho thực tiễn và cho khoa học
Cúc phương pháp nghiên cứu nảy sẽ được người viết vận dụng linh hoạt,
phủ hợp để mang lại kết quả nghiên cứu tốt nhất
6 Gia thuyết khoa hục Bài tập thảo luận nhóm có vai trò hết sức quan trọng trong đạy học hợp tic Nhung trong thực tẾ hiện nay, vấn dẻ thiết kế bải tập thảo luận nhóm cho tmỏn Ngữ văn nói chúng và phân môn Tiếng Việt nói riêng vẫn chưa được các
Trang 21giáo viên ở trưởng THPT coi trọng đúng mức Thiết nghĩ, nêu hệ thông bai tip
thào luận nhóm được xảy đựng dựa trên những cơ sử lí thuyết khoa bọc vả thực
tiễn tin cậy phù hợp với trình độ học sinh, phù hợp với đặc điểm môn học thì sẽ góp phần không nhỏ vào kết quá tổ chức thảo luận nhóm, góp phản nẵng cao chất
lượng dạy và học tiếng Việt ở trường Trung học phê thông
7 Đóng gúp của đè tài luận văn
Luận văn khóng thiên về tìm ra những quan điểm mới về lí thuyết thảo
luận nhém cũng như bải tập tháo luận nhóm má chúng tôi thông nhất với quan
điểm của những nhà nghiên cứu trước đây Chúng tôi chỉ mong muốn mang những kiến thức mình nghiên cứu được ứng đụng vào thiết kế hệ thông bải tập thảo luận nhóm cho phân món Tiếng Việt LŨ vả cung cấp các bải tập thảo luận
nhóm trong các bải Tiếng Việt 10 (SGK Ngữ văn L0, bộ cơ bản) dựa trên cơ sử
khoa học tin cậy, nhiều khả năng thực thị và có hiệu quá Đề từ đó, thông qua hệ thong bai tap được thiết kế, giáo viên có thể rút kinh nghiệm đề thiết kế các hài
học Tiếng Việt khác trong chương trình
8 Kết cấu của luận vẫn
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và phần kết luận thì luận văn gẻm có 3 chương: Trong chương |, chang téi trình bảy những cơ sử khoa học của việc
thiết kế bài tập thảo luận nhóm cho phản môn Tiếng Viết 10 (sách giáo khoa Ngữ van 10, bộ cơ bản), Ở chương nảy chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu hai nội dung lớn đó là lí thuyết về dạy học theo nhóm và bài tập thảo luận nhóm đồng
thời chúng tôi cũng tiến hành khảo sắt thực trạng của bài tập và sử dụng hài tập
Tiếng Việt LÍ theo hình thức thảo luận nhóm ở bà trường THPT trên địa bản
huyện Bình Tân Chương 2 chính là chương trọng tâm của luận văn Chúng tôi dựa trên những cơ sử khoa học đảng tin cậy dé tiến hành thiết kế hệ thong bải tập
nhém cho từng bài cụ thể ở phân môn Tiếng Việt 10 Chương cuối củng là chương 3, đây chính là chương thực nghiệm sư phạm Chúng tôi tiến hành đưa hệ thẳng bài tập thiết kế vào thực tế giảng dạy ở trường THPT đề kiếm tra khả năng
Trang 22PHÁN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SƠ KHOA HỌC CUA VIỆC THIET KE BAI TAP THẢO LUẬN NHÓM CHO PHẦN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 10 (SGK Ngữ
van 10 bộ cơ bản) 1.1 Đạy học theo nhóm và bài tập thảo luận nhóm 1.1.1 Day học theo nhóm
1.1.1.1 Khái niệm về đạy học theo nhóm
Dạy học theo nhóm là một hình thức tô chức dạy học trong đó các nhóm học sinh cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra, từ đó rút
ra bai hoe dưới sự hướng dẫn của giáo viên Hình thức học tập nảy đỏi hỏi sự
tham gia đêng góp trực tiếp va tích cực của mỗi học sinh vào quá trình học tập vả
sẽ tạo nên mỗi trưởng giao tiếp, hợp tác giữa trỏ — trò, thầy — trò, trong đỏ, vai trò
của mỗi học sinh gắn nhự ngang nhau
Mô hình dạy học hep tac
1.1.1.2.Các yếu tế cơ bản của tháo luận nhóm
Yếu tổ đâu tiên vả quan trọng nhất của thảo luận nhóm là sự phụ thuộc lẫn nhau một cách rõ rảng giữa các thánh viên trong nhóm Các thánh viên trong
nhém phải nhận thức được rằng: Họ hoặc lả luôn sát cánh bên nhau để thành
công, hoặc là cùng thất bại, Các thành viên trong nhóm phải nhận thức được rằng
[Type text]
vietluanvanonline.com
Trang 23sự nỗ lực của mỗi người không chỉ đem lại lợi ích cho cá nhần mả cỏn cho cả
nhóm Việc phụ thuộc chặt chế vào nhau tạo nên sự cam kết đối với thành công của mọi người cũng như của từng người Dây chính là điểm cốt yếu của tháo luận nhóm Bởi vỉ chỉ có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực thi mới có sự hợp tác
Yếu tế thứ hai của tháo luận nhóm là trách nhiệm của từng cá nhân và của cả nhóm Nhóm phải có trách nhiệm xác định được mục đích đẻ ra, dòng thời mỗi
cá nhân phải có trách nhiệm đóng góp vào công việc chung cia nhóm để đạt
được mục đích Mỗi thành viên trong nhém không được phép ÿ lại vào các thành viên khác của nhém Nhóm phải xác định rõ mục đích của mình và đánh giá
được củ tiễn trình đạt đến mục đích đó cũng như sự nỗ lực của mỗi cá nhãn Trách nhiệm cá nhân tỏn tại khi việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi học sinh được đánh giá và kết quả được trao lại cho nhóm và cá nhân đó, từ đó xác định xem ai cản được hễ trợ và khuyến khích thêm để hoàn thành nhiệm vụ Mục dịch của
nhóm thao luận là làm cho các thành viên trong nhóm trợ thành những cá nhân
có kha năng làm việc dạt hiệu qua bơn, tức là thông qua công việc cùng nhau
hoạt động, học sinh dẫn dàn đạt được kết quả cá nhân tốt hơn
Yếu t6 thứ ba của thảo luận nhóm đó là khuyến khích sự tác động qua lại, tết nhất là băng hình thức trực điện giữa các thành viên trong nhóm, Học sinh cần được thực hiện các hoạt động củng nhau, tử đó thúc đây sự thành công của nhau thông qua việc chứa sẻ kinh nghiệm, sự giúp đỡ, ủng hộ, khuyến khích va tạo cho nhau hứng thú để học tập Nhóm học hợp tác vừa là một hệ thống hỗ trợ học vấn vừa là hệ thông hỗ trợ cá nhắn Một số hoạt động nhận thức quan trọng và tính năng động liên cá nhân chỉ xuất hiện khi bọc sinh khuyến khích quá trình học tập của nhau bằng việc trình hày miệng cách giải quyết văn đẻ, thảo luận bản chất
cúc khái niệm đang được học, chia sẻ với bạn sự hiểu biết của mình vả kết nếi những kiến thức đã được tích lũy trong quá khứ với những kiến thức trong hiện tại Thông qua việc khuyến khích quá trình học tập của nhau một cách trực điện,
các thành viên trở nên gắn bó với nhau để đạt được các mục tiểu chung
Yếu tế thứ tư của thảo luận nhém đó là sử dụng thích hợp các kỹ năng giao tiếp của cá nhân vả của nhóm Các kỳ năng nảy bao gêm: hiểu và tin tưởng
người khác, kỳ năng điển đạt chính xác những ý tưởng của mình thông qua lời
Trang 24nói chơ người khác hiểu, biết chấp nhận và ủng hộ ý kiến của các thành viên
trong nhóm cho đủ rằng đỏ là ý kiến trắi ngược với ý kiến của mình, biết cách giải quyết xung đột giữa các thành viên trong nhỏm với tỉnh thắn xảy đựng.,
Đo đó, người giáo viên phái dạy những kỷ nắng làm việc nhóm cho học sính
song song quá trình đạy những kỹ năng học tập Sự hựp tác vả sự mâu thuẫn có
liên quan chặt chẽ với nhau, các bước và các kỹ năng giải quyết mâu thuẫn mang tính xảy dựng là dặc biệt quan trọng cho sự thành công của nhóm học tập
Yếu tổ thứ năm của thảo luận nhóm là quá trình hoạt động nhóm Quá trình
hoạt động nhóm tên tại khi các thành viên của nhém thảo luận được về việc hợ
đã dạt được mục tiêu tốt đến mức độ nào và duy trì hiệu quả các mối quan hệ hợp tắc ra sao Nhóm cắn nhận thức được những hoạt động gỉ có hiệu quả và không
có hiệu quá, hành vi nảo cản tiếp tục hay thay đôi, Sự tiễn bộ liên tục của kết quá
học tập có được là nhờ việc các thành viên hoạt dộng cùng nhau vả hiệu qua lam
việc của nhóm tăng cường như thế nào?
1.1.1.3 Các loại hình nhóm
Có rất nhiều hình thức thảo luận theo nhóm Hiệu quả của chủng phụ
thuộc vào ý đẻ và tính chất sử dụng của người dạy Dưới đây là một số loại hình nhém phỏ biến:
Dựa vào sẻ lượng học sinh tham giá trong một nhóm có: nhóm 2 học sinh, nhém 4-Š học sinh, nhóm 6-10 hoe sinh
* Nhém 2 hoc sinh
Đây là hình thức 2 học sinh ngôi cạnh nhau, trao đổi giải quyết tình hudng do giáo viên dé ra, trong quá trình giải quyết các tình huồng, học sinh sẽ
thu nhận kiến thức một cách tích cực Đé học sinh có thế làm việc theo cặp, giáo
viên phải tạo ra dạng bài tập “Lỗ hẻng thông tin” cho học sinh, Nếu giáo viên không tạo được “Lễ hỏng thông tin” thì sẽ không tạo ra như cầu hợp tác thật sự
giữa các học sinh
Ưu điểm của kiểu nhóm này là không mắt nhiễu thời gian, việc tổ chức thảo luận không xáo trộn chỗ ngồi mà vẫn huy động được học sinh làm việc với nhau, Nhóm 2 bọc sinh còn được dùng trong việc chốt lai bai học, có hai hình thức sau:
- Hinh thức đôi bạn cùng viết: Hình thức nảy đời bói học sinh vào cuối giữ học sẽ làm việc theo cặp để viết một bài thụ hoạch vẻ những vắn để chính đã
Trang 25học hoặc thảo luận về những câu hỏi mà chưa được trả lời Công việc nảy giúp
học sinh tập trung vào những điểm chính của bài học, phát triển khả năng viết
của học sinh,
- Hinh thức đôi bạn cùng gh: chép: Hình thức nảy hoe sinh lam việc theo cặp, cả hai cùng nhau ghi chép bài và sau đó xem lại cùng bở sung cho nhau để hẻn thiện củng ghi chép hoàn hảo Hình thức nảy giúp cho học sinh có được một
bài ghi chép hoàn hảo, đễ hiệu, chính xác, tóm tắt được những quan điểm chính
vận dụng trị thức thực hành hoặc là các hài tập tinh huong, hình thức thực hành
hoặc các bải tập vận dụng tr thức giải quyết các tình huông thực tiễn
Loại hoạt động nhóm nảy thưởng được sử dụng cho những bải học cỏ
dung lượng kiến thức lớn mà thời gian trên lớp lại hạn hẹp
Vẻ ưu điểm của nhóm này là tổ chức gọn nhẹ, huy động tắt cả các học
sinh vào hoạt động của nhóm, lớp Học sinh trở thành trung tắm của giờ học
Mô hình nhóm 4-5 hoe sinh
* Nhóm 6-10 học sinh Nhóm có từ 6 đến L0 em học sinh
Vẻ tổ chức lớp, phải kê bản ghế lại vị trí chỗ ngôi của nhóm đã được phân
Trang 26hình thức này có tính chất tổ chức cao vì học sinh đông cần phải có quản lí, nên
cẳn phải phản công nhiệm vụ rõ rằng cho từng thành viên
Nhóm này thường được sử dụng tốt trong các giờ học có thí nghiệm, thực
hành mả học sinh phái thực hành, quan sắt, phân tích hoặc phái rẻn luyện kỹ năng tổ chức, rất khó khăn cho việc đi lại của giáo viên lúc cẳn thiết
thành viên mang số 2: 22222: các nhóm 3,4,5 cũng tương tự như vậy Mỗi nhóm
háo nhiệm vụ và cách giải quyết nhiệm vụ của nhóm mình cho nhóm mới
Hình thức ghép nhém khó sử dụng ơ những lớp đông học sinh nhưng có ưu
điểm là việc báo cáo cêng việc của các nhóm sẽ do tắt cả các thành viên trong
nhóm đảm nhận chứ không phát chỉ do một học sinh khá, giỏi dam nhận, Mỗi
hoc sinh nắm một màng thêng tin để lấp ghép thành một mảng thông tin hoản
Trang 27chỉnh và sẽ không có một học sinh nảo đứng ngoài hoạt động của lớp học Nếu
trong các loại nhóm khác, ưu thể thường thuộc vẻ các thành viên khá, giỏi thì trong loại ghép nhóm, mỗi thành viên đều có vai trò thật sự Cách này làm tăng
sự tự tin cho các thành viễn trong nhóm
Mô hình nhôm ghép
* Nhóm kim tự tháp
Thảo luận theo mô hình kim tự tháp là cách tổng hợp ý kiến tập thể về
mot van dé bai hoe
Đầu tiên, giáo viên đưa ra một vấn để chơ lớp làm việc độc lập, kế đó ghép
hai học sinh thành một cặp để các học sinh trao doi ý kiến với nhau, sau đẻ các cặp sẽ ghép lại thành nhóm 4 người, các nhóm bến người sẽ hợp lại thành nhóm
tắm người nhóm mười sáu người Cuối cùng cả lớp có một bảng tổng kết các kiến hoặc một giải pháp tốt nhất giải quyết vấn đề, Như vậy ý kiến của cá nhân phải dựa vào ý kiến chụng của tập thê
Đây chính là quá trình hoạt động dân chủ, làm việc dựa trên nguyên tắc tương hỗ Cách học này giúp bọc sinh hiểu vai trò của học tập thể, rằng ý kiến tập thé tốt hơn ý kiên cá nhân, có thế học hỏi được nhiều điều hay, điều mới ở bạn mình Cách học này rất phù hợp với các giữ ên tập khi học sinh cản phải nhứ
các định nghĩa, khát niệm, công thức đã học trong một chương
Trang 28Mo hink nhom kim tự thải
* Nhém hoạt động trà trộn
Đây là một hình thức đòi hỏi tắt cá học sinh trong lớp học phải di
chuyên trong lớp để thu thập thông tin từ các thành viên khác Việc di chuyên khỏi chỗ ngồi cổ định làm cho học sinh cảm thấy thoái mát, thích thú hơn Đổi với học sinh yếu, nhút nhát thì đây là cơ hội đề học hỏi nhiều bạn bè mà không
cam thấy ngạt ngùng., Bằng cách học nảy, học sinh cảm thấy hứng thú để giải quyết một vẫn đề qua
nhiều câu trủ lời đúng, nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau Với ý nghĩa này, hoạt động trả trộn là “Bang ưng câu ý kiến” hoặc “Khảo sát ý kiến của tập thể" Hoạt động này thường được dùng để mở đầu cho mớt tiết học nhằm “Khai
động" hoặc kích thích sự nhận thức của học sinh trước khi giáo viên truyền đạt
kiến thức mới
Hoạt động nảy rat thích hợp với giờ ôn tập
Trên đảy là các hình thức thảo luận nhóm được sử dụng phẻ biến, đem đến
hiệu quả cao ở trường phê thông, nhất là các nước có nền giáo dục tiên tiền
thường sử dụng đề giang dạy Tùy theo mỗi món học, nội dụng dạy học, mục
đích dạy học, số tiết, số học sinh trong một lớp, .mà giáo viên lựa chọn loại hình nhém cho phủ hợp vả đạt hiệu quả cao
1.1.1.4, Quy trình tổ chức thảo luận nhóm
* Xác định số lượng học sinh
Số lượng học sinh trong nhóm tủy thuộc vào mục tiêu bải học, độ tuổi vả
kinh nghiệm lim việc của học sinh, chương trình, tài liệu, dụng cụ hiện có va
lượng thời gian giới hạn cho mỗi bài học Khi quyết định số lượng học sinh trong nhóm giáo viên cẳn lưu ý một số điểm sau:
Trang 29- Khi sẻ lượng học sinh trong nhóm cảng tăng, phạm vì, khả năng, kiến thức
chuyên môn, kỹ năng số lượng “đầu óc” để tiếp thu và xứ lý thông tin cũng
ting
- Trong nhém đôi khí học sinh chỉ kiểm sốt hai tác động qua lại với nhau
Trong nhóm ba người, có đến sáu tác động qua lại Trong nhóm bến người có
đến mười hai tắc động qua lại, Khi số lượng tác động qua lại giữa các học
sinh càng tăng, mới quan hệ cá nhân và những kỹ năng cần thiết dế làm việc
trong nhóm cũng tăng
- Thời gian cảng ít số lượng học sinh trong nhóm cảng it
- Nhóm cảng ít học sinh càng khó đựa dẫm vào người khác và không thê nào
không đóng gép vào công việc của nhóm,
- Nhỏm càng Ít cảng để tìm ra khó khăn mã học sinh có thê gặp phải khi cùng
nhau làm: việc,
® Chia nhóm
- Chia nhóm ngẫu nhiên:
Vị dụ: Muốn chưa lớp thành 6 nhóm ngẫu nhiên ta làm như sau:
+ Giai đoạn 1: Yêu cầu học sinh dém sé (bat dau tit hoc sinh & ban dau
tiên bén trai hay bên phải của lớp học, vị trí hắt đàu đếm sẻ này giáo viên có thé lựa chọn theo nhiễu vị trí khác nhau) đếm số 1, học sinh tiếp theo đếm sé 2, sinh tiếp theo đểm số 3, (có thể đểm số theo hàng ngang hoặc hàng đọc) + Giai đoạn 2: Yêu cảu học sinh có cùng sẻ | vào một nhóm, học sinh có cùng số 2 vào một nhóm, học sinh có cùng số 3 vào một nhóm, Ta có được
sáu nhóm ngẫu nhiên
Tương tự đổi với các nhóm ngẫu nhiên khác thì giáo viên cũng cho học sinh
Trang 30khá, những nhóm có nhiều học sinh trung binh, những nhóm có nhiều học sinh yếu, dẫn đến sự chênh lệch vẻ khả năng làm việc của các nhóm
- Chia nhóm: đủ trinh độ
Ví dụ : Để chứa lớp thành bến nhóm: đủ trình độ, giáo viên thực hiện như sau:
+ Giai đoạn 1: Phân loại (một cách tương dối) trình độ học sinh trong lớp
thành bến loại: giỏi, khá, trung bình, yếu với sẻ lượng tương đương
+ Giai đoạn hai: Yêu cầu học sinh đếm số riêng ở mỗi nhóm {giỏi, khá, trung
e Ưu điểm; Tạo ra khả năng tương tắc giữa các học sinh, Học sinh trung bình,
yếu có cơ hội học hỏi những bạn khá, giỏi Ngược lại, những bạn khá, giỏi thông qua sửa lỗi, giúp đỡ các bạn yếu hơn có kinh nghiệm cho ban thân đểng thời
hiệu rõ, sảu hon bai học
e Hạn chế: Học sinh trung bình, yếu có thể ý lại vào các bạn khá, giỏi không
thật sự hợp tác làm việc
- Chia nhóm cùng sơ trường :
Căn cứ vào quá trình học tập của học sinh, giáo viên phản những học sinh
giỏt vào cùng một nhóm, khá vào cùng một nhóm, trung bình vào cùng mốt nhóm, yếu vào cùng một nhóm
e Ưu điểm: Phát huy sử trường học tập của học sinh, phát triên năng lực của
hoc sinh theo kha nang cla minh,
e Hạn chế: Đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị bài giảng đa đạng, công phụ hơn,
việc xử lí các tình huống sư phạm trên cũng rắt phức tạp
- Chia nhém theo cơ cầu lớp học : Theo cách này giáo viên có thê chia nhóm theo tế, đây bản
Ví dụ: hai bản cạnh nhau tạo thành một nhóm, lớp có bên tổ thi mỗi tổ là một
nhóm,
® Ưu điểm: Ít tổn thời gian cho việc thành lập nhóm
e Hạn chế: Học sinh it có cơ hội tiếp xúc với nhiều bạn trong lớp
"“ 2°79
Trang 31- Chia nhém ty chon:
Giáo viên cho học sinh tự chọn với nhau đề thành lập nhóm
e Ưu điểm: Học sinh được lắm việc với những bạn mình thích nên tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho việc tháo luận nhóm,
e Hạn chế: Tốn nhiều thời gian cho việc thành lập nhóm, các nhóm được thành
lập có thể chênh lệch nhau về khả năng làm việc của nhóm {do các hạn học sinh
giỏi, khá có thế chọn với nhau dé thành lập nhém)
-Thư kí: người ghi chép các ý kiến, kết quả thảo luận của nhóm, chuẩn bị tài liệu đề trình bày trước lớp
- Giám sắt viên: người đón đốc công việc đề nhóm hoàn thành đúng thời gian quy định cũng như nhắc nhở các bạn vẻ trật tự, về sinh, di dời dia diém,
- Báo cáo viên: thay mặt nhóm báo cáo công việc của nhóm
- Các vai khác: cỏ thê làm nhiệm vụ trợ lý cho nhóm trướng., Ngoài ra, tùy vào nội dụng học tập giáo viên có thể phần thêm một số vai khác khi cắn thiết (các chức đanh của nhóm có thé do giáo viên chỉ định hoặc đo
hye sinh bau ra)
* Giao nhiém vy cho cac nhém va phan thời gian thảo luận Cáo viên giao nhiệm vụ học tận cho các nhom (khi giao nhigm vy cho nhóm, giáo viên phải giải thích rõ nhiệm vụ làm cho học sinh nắm vững, thời
gian làn) việc, .)
* Các nhóm tiến hành làm việc
Cho các nhóm tiễn hành Lim việc (trong quá trình các nhóm: làm việc, giáo viên phải giám sát, giúp đờ, gợi ý cho học sinh kịp thời)
* Tô chức thảo luận chung
Tẻ chức chơ học sinh thảo luận chung trên lớp băng cách chơ các nhóm
háo cáo kết quả làm việc của các nhóm
Trang 32Khi đại điện các nhóm trình bày kết quả, giáo viên ghi lại những kết quả
đúng, nêu câu hỏi gợi mở cho học sinh tiếp tục phát triển những vấn để mà các nhóm chưa tìm ra câu trả lời, cho các nhóm khác nhận xét bộ sung Sau đẻ, giáo viên nhận xét, chốt lại vấn để và đánh giá kết quá làm việc của học sinh
1.1.1.Š Vai trò và nhiệm vụ của giáo viên trong thảo luận nhóin Một cuộc thao luận thành công là cuộc thảo luận phát sinh và giải quyết
được nhiều mâu thuẫn nhận thức giữa các thành viên trong các nhóm Vì vậy hiệu qua của cuộc thao luận phụ thuộc rất nhiều vào vat trò của người điều khiến,
Thêng thường trong các cuộc tháo luận ở trưởng THPT, vai trỏ này do giảo viên
đảm nhận, trong nhiều trường hợp có thê giao cho học sinh trong lớp Người diều khiến có thể là người trọng tài phân xử ý kiến của các học viên, cũng có thê là người hướng đạo, dẫn đắt học sinh khám phá và phát hiện những điều mới trong các ý kiến khác với mình Diễu nảy phụ thuộc rắt nhiều vào thái độ vả nghệ thuật dẫn đắt thảo luận của giáo viên hay người điều khiên
- Trước tiên giáo viên phái xác định rõ rang mục đích thao luận nhóm
- Có nhiều yếu tô ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc thảo luận Trong đó yếu tố sử dụng câu hỏi hay thiết kế bài tập là một trong những yếu tế quan trọng
Đề có một buổi học thảo luận đạt hiểu quả, giáo viên phải dầu tư thiết kế bài tập thảo luận Tránh nêu những vấn để có sẵn câu trả lời trong sách giáo khoa 80%
sự thành công của thảo luận nhóm là giáo viên nêu ra được những van dé tha vị,
thách thức, kích thích tính tò mò sự lí thủ trong cảu trả lời, Giáo viên phải xây dựng những câu hỏi trọng tắm của bài bọc, không phải tắt cả nội dung văn bản để
ra có thể đem ra thảo luận nhóm, nột đụng thảo luận chỉ nên hướng vào những
van dé then chót phức tạp
- Khi đã đưa ra bài tập thảo luận nhóm, giáo viên phải t chức cho lớp thảo
luận Mỗi cá nhân trong nhóm góp mót phần kinh nghiệm kiến thức của mình để
giải quyết bải tập của nhóm
Việc học nhóm sẽ không hảo hứng khi có miột vải thành viên trong nhóm không nót lên những được suy nghĩ của mình hoặc sợ hài khi phái đóng góp ý
kiến, Do vậy nhiệm vụ của giáo viên là phải kích thích tinh than hee tập của học
sinh, khuyến khích sự hợp tác trong nhóm và giữa các nhóm, phát huy tối đa
tăng lực trí tuệ vả sự tự tin của hoe sinh bảng các biện pháp sau:
Trang 33- Không được áp đặt câu trả lời tạo không khí nặng nÈ trong lớp học, giáo
viên phải là người chủ động tạo không khí cửi mở, thoái mái trong tiến trình thảo
luận
- Nêu rõ các tiêu chuẩn cần đạt khi giao bài tập cho các nhóm, nếu mỗi thành
viên trong nhóm đạụt được tiều chuẩn đã nêu thì bản thần học sinh đó và cả nhóm
được điểm tết
- Làm cho học sinh thấy rõ được trách nhiệm của mỗi cá nhân trong nhóm va
trách nhiệm đổi với tập thê bằng cách phân công cụ thế công việc cho từng thành
viên trong nhóm,
- Hạn chế tình trạng Ì hoặc 2 học sinh độc chiếm “điển đản" lẫn át các học sinh khác bằng cách phản công một học sinh làm trưởng nhóm đóng góp vai trò xúc tác, kích thích các thành viên khác phát biếu
- Động viên các nhóm bằng cách cho điểm cộng hay bằng những lời động viên
khen ngợi khi các nhóm giải quyết tốt các nhiệm vụ học tập mà giáo viên đưa ra
déng thời khi các nhóm có thái đệ tích cực trong thảo luận
- Trong khi học sinh tháo luận, giáo viên phải theo dõi lắng nghe ý kiến của
học sinh, đến gan các nhóm thảo luận để nhắc nhở các vẫn đẻ cần thiết Ghi chép
những vấn để nảy sinh trong quá trình tháo luận, ghỉ chép những ý kiến hay của học sinh, yêu cầu học sinh phát biêu ý kiến đó trước lớp
- Khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của mình bảng sơ đẻ, hình về hoặc
bảng bang dễ khái niệm để giải thích cho cả lớp Đêng thời quan sắt tinh than
thai độ của học sinh Diễu này giúp giáo viên đánh giá công bằng hơn các nhóm
- Sau khi học sinh thao luận xong, giáo viên tạo điền kiện cho tắt cả các nhóm trình bày bài tập trước lớp bằng cách đại điện nhóm viết kết qua thao luận
trên bảng hoặc trình bảy trước lớp
- Khi nhóm trình bảy ý kiến, giáo viên nhắc nhử các nhóm phải lắng nghe, đánh giá, bỏ sung ý kiến, Đông thời giáo viên cũng phải biết lắng nghe mọi ý kiển Giáo viên nên tránh tranh cäi với học viên Sau khi lắng nghe mọi ý kiến,
giáo viễn phải lựa chọn phương án đề trả lời Nên trả lời các cầu hỏi tích cực
trước, khăng định chúng và khai thác triệt để chúng trước khi để cập những câu
hỏi mang tính tiêu cực Bên cạnh đó giáo viên càn quan sắt học sinh, đưa ra những gợi ý đề hướng cuộc thảo luận đi đến kết thúc
Trang 34Trong phương pháp thảo luận nhóm, giáo viên là người tế chức, hướng
dẫn, động viên, kích hoạt, đánh thức các năng lực tiểm tảng ở học viên, động thời
giáo viên cũng là người cổ vấn, trọng tải, đánh giá bảo đảm cho các hoạt động
theo nhóm được đi đúng hướng, đạt tới mục tiêu học tập Có thê nói, khi tổ chức thảo luận nhóm, giáo viên phải hết sức linh hoạt vả nhạy bén, phải lắng nghe Ý kiến của học sinh, xử lí kạp thời vớt ý kiến đúng sai để kịp thời bê sung vào bài
guing
1.1.1.6.Tác dung của việc tô chức tháo luận nhóm
Day và học theo hình thức thảo luận nhóm là một trong những phương pháp cẻ tác dụng tích cực đối với cả giáo viên và học sinh Dưới đây là một số tác dụng tích cực của bọc nhóm
* Tác dụng đối với học sinh
Pdi vin hoe sinh, hoc hợp tác sẻ:
- Tạo điều kiện tết cho tắt cả các học sinh có cơ hội tham giá vào các hoạt động
học tập của lớp, đặc biệt là học sinh trung hình, học sinh yếu, kém và những học
sinh nhút nhát cam thấy tự tin hơn trong quá trình tham gia học tập Từ đó tạo
được mới quan hệ bình đăng giữa các thành viên, không còn sự phân biệt học
sinh giới, khá hay yếu kém mà ai cũng có nhiệm vụ vai trẻ riêng
- Bước đầu hình thành khá năng tự học, tự nghiên cứu, về cơ bản thì học sinh nim bải ngay trên lớp, biết vận đụng kiến thức để làm bải tập, đặc biệt là nhớ được kiến thức lâu hơn, Điều nảy sẽ làm cho hoe sinh chủ động, sắng tạo hơn
- Học sinh có thể học từ bạn Trong quá trình học hợp tác, học sinh học từ bạn
những kinh nghiệm, phương pháp học tập, cách lí luận đề đưa ra vin dé, cùng với thái độ tinh than cla các bạn cùng nhóm
- Rèn luyện cho người học tính thần hợp tác khi tham gia giải quyết nhiệm vụ,
mục tiêu của nhóm Tắt cá học sinh phái nhận thức được trách nhiệm cá nhắn của mình đối với sự thành công chung của nhóm mà có thái độ học tập tích cực
- Trong quá trình học theo nhóm tháo luận vả cả tập thể lớp, học sinh sẽ phát
huy được nhiều kỹ năng giao tiếp như; năng lực diễn đạt, kỹ năng nghe, kỳ năng
đặt câu hỏi, trả lời, giải thích, tóm tắt, kết luận, Đó là cơ sở cho sự phát huy trí
tuệ của bọc sinh
- Bên cạnh đó, học theo nhóm sẽ phát huy năng lực tư duy, nhận thức của học
Trang 35sinh Trong quá trình thảo luận sự tác động qua lại giữa cúc ý kiến, quan điểm
khác nhau sẽ thúc đẩy vả phát triển năng lực tư đuy của học sinh Các em sẽ có
cơ hội hiệu rõ hơn những quan hệ đánh giá một cách chính xác những sai lệch,
những khiến khuyết trong hiệu biết của mình Từ đó định hướng, điều chính hoạt
động cá nhắn
- Tạo ra bầu không khí học tập vui vẻ, thoải mắt, học sinh năng động, thích thủ hơn Mỗi quan hệ giữa học sinh với nhau trở nên tốt đẹp hơn, giữa giáo viên và học sinh trở nên gần gũi hơm, trong tiết học có sự giao lưu = phản hỏi từ học sinh
vả giáo viên
- Ngoài ra, việc học nhóm có ưu thế trong việc phát huy nhãn cách của từng cá
nhân, Thông qua học tập nhóm tại lớp học sinh có điều kiện trao đổi tâm tự, tinh cảm, kinh nghiệm, phương pháp học tập để từ đẻ hiểu rõ mình vả hiểu rõ người khác Hay nói khác hơn, học sinh sẽ hiểu biết lắn nhau nhiều hơn không chỉ vẺ trí
thức, kỷ năng mà cá thái độ Ứng XỨ giữa người với người,
Tóm lại, học theo nhóm có tác dụng phát huy cac độ tính tích cực, tự giác
độc lập, sáng tạo của người học nhằm chiếm lĩnh trí thức, kỹ năng, kỹ xảo một
cách chủ động Là mục tiêu của giáo dục và đạy học nhằm đào tạo thể hệ trẻ thích ứng với môi trường luôn biến động đáp ứng được sự biến đổi kinh tế, xã
hội trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
* Tác dụng đối với giáo viên Hình thức đạy bọc theo kiều thảo luận nhóm sẽ tạo điều kiện cho giáo
Viên :
— Do lường và đánh giá chính xác mvức độ hiểu bải, nhận thức, tình cảm và
năng lực diễn đạt cũng như các năng lực tư duy của học sinh,
—_ Trên cơ sử đó, điều chỉnh phương pháp dạy học có hiệu quả
—_ Trong một số trường hợp, giáo viên có thê học được tử học sinh những điều hay những cách lí giải vấn để mà trước đó giáo viên chưa nghĩ đến
1.1.2 Bài tập thảo luận nhóm
1.1.3.1 Khái niệm vẻ bài tập Bài tập là biến dạng của câu hỏi để tẻ chức hoạt động độc lập chơ học sinh
trong quá trình học tập Muén giải quyết vấn để chứa đựng trong bài tập, học
sinh phải dựa trên kiến thức đã học đẻ độc lập phân tích câu hỏi, các số liệu tìm
Trang 36tòi rút ra các kết luận cần thiết trong yếu cầu xác định của bải tập
1.1.2.2 Vị trí của bài tập trong đạy học theo nhóm
Học hợp tác yêu cầu học sinh phải cũng nhau giải quyết các nhiệm vụ học
tập, tử đó rút ra hải học Chính vì thế nhiệm vụ tiên quyết của giáo viên là phái
thiết kế được các nhiệm vụ học tập cho học sinh khám phá kiến thức Vì vậy mả trong thảo luận nhóm, bài tập có vai trẻ hết sức quan trọng Bài tập vừa là phương tiện vừa là nội dụng hoạt động nhóm Bài tập là phương tiện để tô chức
hoạt động tích cực của học sinh, giáo viên thông qua hệ thông hài tập tạo ra cắc mâu thuẫn lôgw trong nhận thức của học sinh Đó chính là động lực thúc day qua
trình học tập tích cực ở học sinh Đồng thời, hài tập được cơi là một trong những
đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học Bải tập có tác dụng rẻn luyện kĩ
năng thực hảnh, luyện tập cho học sinh cách vận dụng kiến thức lí thuyết vào việc giải quyết những vấn đẻ cụ thể, Với chức năng này, những kiến thức thuộc
về thực hành có tác dụng dẫn dắt, mở rộng, củng có và làm sâu sắc thêm những kiến thức vẻ lí thuyết
Bài tập được sử dụng ở tắt cả các khâu trong quá trình dạy học:
- Bài tập là phương tiện truyền thụ kiến thức mới
- Bài tập là phương tiện củng cẻ kiến thức
- Bài tập là phương tiện nâng cao kiến thức
- Bài tập là phương tiện kiêm tra và đánh giá kiến thức
1.1.3.3 Yêu cầu của bài tập tháo luận nhóm
Thiết kế bai tập cho học sinh thio luận là một thử thách dối với giáo viên, Điều này đòi hỏi giáo viên phải nắm vừng kiến thức của bải học, trình đệ học sinh, trên cơ sở dó thiết kế bài tập tháo luận phù hợp Vì vậy, khi xảy dựng câu hoi, bai tap thao luận giáo viên cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Cấu trúc câu hỏi, bài tập phải ngắn gọn, từ ngữ phải rõ rằng, dễ hiểu
- Câu hỏi, hải tập phải đảm báo vừa sức và phủ hợp với đặc điểm tắm: lÍ
của học sinh
- Bài tập không quá khó hoặc quá dễ
- Hệ thống cảu hỏi, bài tập để tế chức cho học sinh nhận thức một vắn đẻ cẳn sắp xếp theo một trình tự phù hợp với lôgic phát triển kiến thức trong tư đuy
của người học
Trang 37- Nhiệm vụ khám phá phái xoay quanh nói dụng trọng tắm của bài hoc sao
cho qua quá trình giải quyết các nhiệm vụ này học sinh rút ra nội đụng của bài
lĩnh kiến thức và kĩ năng Đỏng thời, khi thiết kế câu hỏi, bài tập giáo viên nên
lưu Ý xác định thời gian tháo luận phủ hợp với các bải tập
1.1.2.4 Quy trình thiết kế bài tập tháo luận nhóm
Đê thiết kế được bải tập thảo luận, giáo viên phải thực hiện hai bước sau:
- Bước l: Phản tích kĩ nội dung bải học, xác định rõ mục tiểu của bái
học, xác định rõ kiến thức nảo là trọng tâm, kiến thức nào cần thảo luận
- Bước 2: Từ đó giáo viên xây dựng các bài tập tháo luận dựa trên các
kiến thức đó
1.1.2.Š Các dạng bài tập thảo luận nhóm Việc đổi mới phương pháp cũng như đổi mới sách giáo khoa ngày càng mang lại những kết quả đáng mừng trong đạy học Ngữ văn Bên cạnh những câu
hỏi, bài tập sách giáo khoa đã cụng cắp, người giáo viên có thể thiết kể, xây dựng thêm hoặc lựa chọn những câu hỏi, bải tập khác để phục vụ cho việc giáng đạy cha minh thật tết phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập Ngày nay việc vận dụng phương pháp mới đã giúp cho người giáo viên có được
sự chủ động và đạt được hiểu quả cao trong giảng dạy
Các dạng hài tập thảo luận được sử dụng đa dạng tùy theo giờ Đọc hiểu
văn bản, Tiếng Việt hay Lam văn; tùy theo thời điễm sử dụng: học bài mới, giờ
ôn tập, giờ thực hành hoặc tủy theo mục tiêu là giúp học sinh khám phá kiến thức mới hay ôn tập Nhìn chung gồm có các đạng sau:
* Các đạng bài tập thảo luận trước giờ học (bải tập định hướng bai
Trang 38là dạng bải tập thưởng được giáo viên giao cho một nhóm thực hiện trước khi
học một tác phẩm: văn xuôi đải)
- Hói- đáp: Yêu cầu học sinh đọc bài sắp học (tác phẩm văn chương, bải Tiếng Việt, .) và ghi những câu hỏi về những vẫn để của bài học Những câu hỏi
này sẽ được thao luận trong nhóm khi học bài mới hoặc vào đâu tiết học, giáo
viên chỉ ngẫu nhiên chọn hai học sinh, một em nêu câu hỏi, em kia trả lời
- Thuyết trình: cho mỗi nhóm chuẩn bị một vấn đẻ, hay tat cả các nhóm
cùng chuẩn bị một vẫn đẻ trong bài sắp học và thuyết trình trước lớp
- Khám phá, cảm thụ : Yêu cầu học sinh đọc kĩ bài sắp học (tác phẩm
văn xuôi, thơ) và khám phá cảm thụ cái hay cát đẹp của tác phẩm (về nội dung
và nghệ thuật) Đề học sinh khám phá, cảm thụ cái hay cái đẹp của tác phẩm giáo
viên có thể thiết kế hệ thẳng câu hỏi giao cho các nhóm: thực hiện trước giờ học
hoặc yêu cảu các nhóm viết lên những điều mà em thấy hay nhất khi đọc tác
phẩm:
- Sưu tầm: yêu cầu các nhóm tìm các tài liệu, tranh ảnh trong báo chí,
sách tham khảo hoặc thu thập thông tin từ những người có hiệu biết vẻ những
vấn đẻ có liên quan đến bài học
- Liên hệ: Trước khi học bài mới giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ văn bản, nắm nội dung van ban Sau đó, các nhóm liên hệ giữa vẫn bản mình sắp học
với những văn bản đã học hoặc được biết Hoặc liên hệ văn bán với thực tẾ cuộc sing
* Các đạng bài tập tháo luận trong gil hoe (bai fp grip hoe sinh
khám phá kiến thức mới)
Trong quá trình dạy bài mớn, giáo viên có thể sử dụng một sở dạng bài tập
sau:
- So sánh: Giáo viên yêu cầu học sinh so sánh, rút ra những điểm giống
nhau khác nhau giữa hai sự kiện, hai van dé
- Nhận điện phân tích: Giáo viên cho sẵn ngữ liệu và yêu cầu học sinh nhận diện, phản tích kết cấu ngữ pháp của một cảu, cấu trúc của một văn bán,
phản tích ý nghĩa một chỉ tiết, biện pháp nghệ thuật, hoặc phân tích tính cách
tột nhắn vật, nội đụng một đoạn văn, một khê thơ,
- Tổng hợp: Giáo viên yêu cầu các nhóm khái quát một vẫn để nào đó của
Trang 39bài học Ví dụ: thảo luận vẻ chủ để tác phẩm, tóm tat mét vin ban,
- Phân loại: Giáo viên yêu cầu học sinh chọn lựa các chỉ tiết, hiện tượng
sự kiện phủ hợp với tiêu chí đã đẻ ra
- Sắp xếp theo thứ tự: Sau khi đọc xong tác phẩm, giáo viên cho học sinh bảng sắp xếp lộn xôn các sự kiện trong tác phẩm, hoặc các bước thực hiện một công việc, yêu càu học sinh sắp xếp lại cho ding
- Lập kế hoạch: Giáo viên yêu cầu học sinh xác định các bước trình bảy mot van de, các bước phân tích một để văn, các thao tic tóm tắt một văn ban
- Tạo lập sản phẩm theo những yêu cầu nhất định: Giáo viên cho mỗi
học sinh (nhém: 2 hoặc 4-5 học sinh} một để tài, các nhóm xây dựng đản ý cho
bai viết Sau đẻ cá nhóm cùng viết bải,
- Biên tập: Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh viết bải, sau đẻ trao đôi bài
viết của mình cho các bạn trong nhóm nhận xét, đánh giá theo tiêu chí chưng
- Sửa chữa: Giáo viên cho miột bải tập sai, yêu cầu các nhóm phát hiện lỗi
và để xuất cách sửa
* Các dạng bài tập tháo luận cuối giờ học, hoặc sau giờ học (bải tập
cùng có, én tập kiến thức):
Đề giúp hoc sinh củng có kiến thức vào cuối giờ học hoặc ôn lại kiến thức
trong giờ ôn tập, giáo viên có thê sử đụng một số bải tập sau:
- Tóm tất bài học: Giáo viên yêu cảu nhóm hai hoặc ba học sinh nhớ lại
và tóm tắt những điểm chính của bải học, chương bảng hình thức viết, về sơ đẻ
Đẳng thời giáo viên cùng có thé cho các nhóm dạng biểu đỏ, sơ đề hoản chỉnh hoặc không hoản chỉnh (còn gọi là biểu đỏ, sơ đỏ khuyếo, học sinh phải tim ra
các thông tin thích hợp đề điền vào chế khuyết
- Hói - đáp: Giáo viên cha nhóm 2 học sinh, hoe sinh A néu những câu
hỏi về bài học, học sinh B trả lời, sau đó đáo lại vị trí: B nêu câu hỏi, Á trả lời
- Tạo lập sản phẩm: Giáo viên yêu cầu học sinh tự mình tạo nên (bằng lời nói hoặc bằng chữ viết) sản phẩm ngôn ngữ theo một yêu cầu nảo đó Hoặc Nhóm 2 bọc sinh hợp tác viết bải thụ hoạch ngắn trong thời gian 1-2 phút vẺ
những điểm quan trọng của bải học vả nêu cảu hỏi về những gì nhóm chưa hiểu
ro,
- Ghép đôi cật thông tin: Giáo viên yêu cầu học sinh nói kết hai thông tín
Trang 40cho sẵn A và B tương tự hình thức trắc nghiệm ghép đôi
- Điện khuyết: Giáo viên cho sơ đỏ, biêu bảng khuyết vả yêu cảu học sinh
điền những thông tin vào
- Phiếu ôn tập: Cuỗi học kì hoặc cuối năm học giáo viên cho những cảu hỏi vẻ những kiến thức trọng tảm mà học sinh đã học Các cảu hỏi này được viết lên những tắm phiếu và được xếp thành từng bộ, các câu hỏi trong mỗi bộ cảu hởi hoàn toàn giêng nhau Số lượng câu hỏi trong mỗi bộ phụ thuộc vào số thành
viên trong nhóm Sau đó, giáo viên phát cho các nhóm, thành viên thứ nhất rút
một câu hỏi hắt kỷ, trả lời xong câu hỏi này đến thành viên thứ hai rút câu hỏi số
hai, thành viên thứ ba Nếu giáo viên sử dụng 10 câu hỏi thi chia nhóm Š học
sinh, mỗi học sinh có nhiệm vụ trả lời một câu hỏi, nêu sử dụng 12 câu hỏi thi
chia nhém 6 hoc sinh
Sự phản chia các bải tập trên chỉ có tính tương đối, Tùy theo loại giờ: Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt, Làm văn; tuỳ theo thời điểm sử dụng: định hướng nội
dung bài học, học hài mới, giờ ên tập; hoặc tuỳ theo mục tiếu là giúp hge sinh
khám phá kiến thức hay giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học mà giáo viên có thể cho hải tận thao luận phù hợp
Trong quá trình xây đựng hệ thếng bài tập cho đề tài Bài (ốp nhóm cho phân môn Tiếng Việt I0 (SGK Ngữ văn bộ cơ bản) chúng tôi vận dụng kiến thức
này đê xây dựng hệ thông bải tập thật hợp lí, khoa học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh
1.2 Thực trạng của bài tập và sử dụng bài tập Tiếng Việt 10 theo hình thức
tháo luận nhóm ở trường THPT 1.2.1 Mục đích khiio sat
Chúng tôi tiến hành điều tra khảo sắt thực trạng của bài tập và sử dung bai
tập Tiếng Việt 10 theo hình thức thảo luận nhóm ở các trưởng thuộc địa bàn huyện Binh Tản gom: THPT Tan Quới: THPT Tân Lược; THPT Mỹ Thuận,
nhằm tìm hiệu thực tế vấn để thiết kể bải tập Tiếng Việt 10 và vắn để vận dung
bai tập Tiếng Việt 10 theo hinh thức tháo luận nhóm Từ đó chúng tôi sẽ có những định hướng vả cơ sở thực tế trong quá trình thực nghiệm
1.2.3, Đối tượng điều tra kháo sát