Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Hoạt động lựa chọn, xây dựng DMT trong bệnh viện Hoạt động lựa chọn thuốc là một quá trình mà trong đó các nhân viên y tế của một tổ chức làm việc thông qua Hội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỒNG VĂN,
TỈNH HÀ GIANG NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỒNG VĂN,
TỈNH HÀ GIANG NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI - 2016
Trang 3Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS Nguyễn Thị Thanh Hương người thầy đã tận tình hướng dẫn, dìu
dắt, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân thành cảm ơn Ban Giám đốc, khoa Dược Bệnh viện đa khoa huyện Đồng văn, tỉnh Hà Giang đã tạo điều kiện cho tôi học tập và thu thập số liệu hoàn thành luận văn
Tôi luôn ghi nhớ đến sự chia sẻ của mọi thành viên trong gia đình, của bạn bè tôi đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên tôi yên tâm học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Hoạt động lựa chọn xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 3
1.1.1 Mô hình bệnh tật 4
1.1.2 Phác đồ điều trị 5
1.1.3 Danh mục thuốc thiết yếu 5
1.1.4 Tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu của tổ chức y tế thế giới 6
1.1.5 Danh mục thuốc thiết yếu ở Việt Nam 7
1.1.6 Danh mục thuốc chủ yếu tại cơ sở khám chữa bệnh 9
1.2 Thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện 13
1.2.1 Thực trạng sử dunhj thuốc tại một số bệnh viện 14
1.2.2 Thực trạng cơ cấu danh mục thuốc tại một số bệnh viện 17
1.3 Vài nét về bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 187
1.3.1 Vị trí, chức năng nhiệm vụ của bệnh viện 187
1.3.2 Tổ chức bộ máy của BVĐK huyện Đồng Văn 199
1.3.3 Khoa Dược BVĐK huyện Đồng Văn 20
1.3.4 HĐT&ĐT BVĐK huyện Đồng Văn 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 255
2.1 Đối tượng nghiên cứu 255
2.2 Phương pháp nghiên cứu 255
2.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu 255
2.2.2.Các biến số nghiên cứu 266
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 299
3.1 Danh mục thuốc xây dựng tại bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn năm 2014 299
3.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc Error! Bookmark not defined.9 3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc.Error! Bookmark not
defined
Trang 53.1.3 Cơ cấu thuốc đơn thành phần đa thành phần:Error! Bookmark not
defined.1
1.1.4 Phân loại thuốc theo tên biệt dược gốc/tên thương mại 32
1.1.5 Tỷ lệ thuốc tiêm/ viên 32
1.1.6 Cơ cấu các nhóm thuốc lớn trong danh mục 33
3.2 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Đồng Văn- Hà Giang năm 2014 344
3.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý 344
3.2.2 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ trong danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2014 36
3.2.3 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo thành phần 37
3.2.4 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo tên gốc và tên thương mại 38
3.2.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đường dùng 39
3.2.6 Cơ cấu thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC 39
3.2.7 So sánh DMT xây dựng và DMT sử dụng tại bệnh viện 40
3.2.8 Chênh lệch hoạt chất giữa DMT xây dựng và DMT sử dụng 40
Chương 4: BÀN LUẬN 43
4.1 Hoạt độnglựa chọn xây dựng DMT năm 2014 43
4.2 Cơ cấu thuốc sử dụng tại BVĐK Đồng Văn năm 2014 45
4.3 So sánh DMT sử dụng với DMT xây dựng năm 2014 47 KẾT LUẬN
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực của BVĐK huyện Đồng văn 20
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lưc khoa Dược 21
Bảng 2.3 Các biến số nghiên cứu Error! Bookmark not defined.6 Bảng 3.4 Phân loại nhóm thuốc trong DMT xây dựng theo tác dụng dược lý 269 Bảng 3.5 So sánh phân bố theo nguồn gốc xuất xứ 31
Bảng 3.6 Cơ cấu thuốc đơn thành phần đa thành phần 31
Bảng 3.7 Cơ cấu theo tên biệt dược/tên generic 32
Bảng 3.8 Tỷ lệ thuốc tiêm/Viên trong DMT 32
Bảng 3.9 Cơ cấu các nhóm thuốc lớn trong DMT 33
Bảng 3.10 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nhóm tác dụng dược lý 34
Bảng 3.11 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nguồn gốc, xuất xứ 37
Bảng 3.12 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo thành phần 37
Bảng 3.13 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo tên gốc và tên thương mại 38
Bảng 3.14 Cơ cấu thuốc sử dụng theo đường dùngError! Bookmark not defined.9 Bảng 3.15: Cơ cấu thuốc sử dụng theo phân tích ABC 34
Bảng 3.16: So sánh DMT sử dụng và DMT tiêu thụ 370
Bảng 3.17 Chênh lệch vè hoạt chất giữa DMT xây dựng và DMT sử dụng 370
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của BVĐK Đồng Văn 199
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viêt tắt Tiêng Anh Tiêng Việt
MHBT Mô hình bệnh tật
KCB Khám chữa bệnh
Trang 9xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, là bộ mặt của ngành y tế, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia Vì vậy, để đảm bảo đáp ứng tốt hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, thuốc đóng một vai trò rất quan trọng và là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm đảm bảo mục tiêu sức khỏe cho mọi người
Hoạt động cung ứng thuốc là một trong những hoạt động thường xuyên của bệnh viện Cung ứng thuốc không đảm bảo kịp thời, đầy đủ và có chất lượng không những gây lãng phí tiền của, mà còn gây nên những tác hại đến sức khỏe, thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện
Trong những năm qua, ngành dược Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận Đặc biệt đã đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng cho phòng bệnh và chữa bệnh, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực công tác cung ứng thuốc còn nhiều mặt hạn chế, việc bảo quản và tồn trữ thuốc cũng gặp nhiều khó khăn Mặt khác, theo báo cáo của Cục Quản lý khám chữa bệnh, phần lớn các bệnh viện của tỉnh, thành phố trong cung ứng thuốc còn lúng túng về việc triển khai đấu thầu mua thuốc
Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn là bệnh viện hạng III trực thuộc Sở Y
tế Hà Giang Bệnh viện có 17 khoa phòng chức năng, trong công tác khám chữa
Trang 10bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bệnh viện luôn tiếp nhận lưu lượng bệnh nhân đến khám, điều trị ngày càng tăng với mô hình bệnh tật rất đa dạng nên nhu cầu thuốc của bệnh viện rất lớn Vì vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động tồn trữ, cấp phát và sử dụng thuốc, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện là hết sức cần thiết
Với ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích danh mục thuốc sử
dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang năm 2014” với
Trang 11Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 Hoạt động lựa chọn, xây dựng DMT trong bệnh viện
Hoạt động lựa chọn thuốc là một quá trình mà trong đó các nhân viên y
tế của một tổ chức làm việc thông qua Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT), đánh giá và lựa chọn từ rất nhiều các sản phẩm thuốc có sẵn những thuốc được coi là hiệu quả nhất, an toàn nhất và chi phí hợp lý nhất, kết quả của quá trình lựa chọn thuốc là một danh mục thuốc (DMT), Danh mục thuốc có chứa tất cả các loại thuốc đã được phê duyệt cho mua sắm và sử dụng trong các cơ
sở y tế nhất định
Hiện nay có đến 70% dược phẩm trên thị trường thế giới là bắt chước hoặc không thiết yếu, nhiều thuốc là biến thể nhỏ của một loại thuốc thử nghiệm và không có lợi thế điều trị hơn các thuốc đó đã có sẵn, nhiều loại thuốc cho thấy độc tính cao so với lợi ích điều trị của nó, nhiều sản phẩm mới
có chỉ định điều trị không liên quan đến các nhu cầu cơ bản của người dân, chúng gần như luôn luôn đắt hơn các loại thuốc hiện có Việc lựa chọn thuốc cho phép cán bộ và nhân viên y tế có thể giải quyết vấn đề này, và một số vấn
đề khác còn tồn tại trong hầu hết các hệ thống dược phẩm
Sự lựa chọn thuốc sử dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật, phác đồ điều trị, DMT thiết yếu, DMT chủ yếu, nguồn kinh phí của bệnh viện, DMT sử dụng kỳ trước (Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng DMT sử dụng trong bệnh viện) [21]
Căn cứ để lựa chọn thuốc đưa vào DMT bệnh viện:
* Mô hình bệnh tật
* Phác đồ điều trị
* DMT thiết yếu, chủ yếu
* Nguồn kinh phí của bệnh viện
* Đóng góp ý kiến của các khoa phòng trong bệnh viện
Trang 12* DMT sử dụng thuốc kỳ trước
* Trình độ khám chữa bệnh (KCB) của Bệnh viện
* Thông tin về thuốc và các căn cứ khác
1.1.1 Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật (MHBT) của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó sẽ là tập hợp tất cả những tình trạng mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác động của những yếu tố khác nhau xuất hiện trong cộng đồng đó, xã
hội đó trong một khoảng thời gian nhất định [2]
bệnh cho người mắc bệnh trong cộng đồng, mỗi bệnh viện có tổ chức, nhiệm
vụ khác nhau, đặt trên các địa bàn khác nhau với đặc điểm dân cư địa lý khác nhau và đặc biệt là sự phân công chức năng nhiệm vụ trong tuyến y tế khác nhau, từ đó dẫn tới MHBT ở mỗi bệnh viện khác nhau Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có 2 loại MHBT bệnh viện: một là MHBT bệnh viện đa khoa và một là MHBT của bệnh viện chuyên khoa, trong đó MHBT của bệnh viện chuyên khoa gồm MHBT của bệnh viện chuyên khoa và MHBT của viện có giường bệnh Một bệnh nhân có thể mắc nhiều bệnh hoặc một bệnh liên quan đến nhiều cơ quan trong cơ thể, do đó một bệnh viện chuyên khoa thường có bệnh tật của chuyên khoa đó và một số bệnh thông thường kèm theo [2]
Trên thế giới: Trong số 57 triệu ca tử vong trên toàn cầu năm 2008, có
36 triệu người (63%) chết vì bệnh không lây nhiễm, chủ yếu là bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh đường hô hấp mãn tính, khoảng 80% trong số đó xảy ra ở nước phát triển thấp và trung bình Do ở các nước kém phát triển, chi phí khám chữa bệnh do người dân tự trả, nên tiền chữa bệnh là
vấn đề căng thẳng với các gia đình đặc biệt là gia đình có thu nhập thấp
Ở Việt Nam, có sự thay đổi rõ rệt về mô hình bệnh từ năm 1976đến năm
2012, theo số liệu về cơ cấu số lượt khám chữa bệnh (KCB) tại cơ sở y tế nhà nước trong Niên giám thống kê năm 2012, xu hướng tỷ trọng các bệnh không lây nhiễm gia tăng liên tục ở mức cao, nếu tỷ trọng này năm 1976 chỉ là 42,65%
Trang 13thì năm 1996 tăng lên 50,02%, năm 2006 là 62,4%, năm 2012 có xu hướng giảm cỏn 61,91% Ngược lại với xu hướng này là sự giảm đi nhanh chóng của tỷ trọng số đợt KCB đối với người mắc bệnh truyền nhiễm năm 1976 là 55,5%, năm 1996 là 37,63% và năm 2012 còn là 27,25%, tỷ trọng số lượt KCB liên quan đến tai nạn, chấn thương, ngộ độc có xu hướng chững lại năm 1996 là 12.35%, năm 2006 là 12.66%, năm 2012 giảm xuống còn 10,84%[7] Như vậy, gánh nặng bệnh tật chuyển dịch mạnh sang các bệnh không lây nhiễm
1.1.2 Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị hay hướng dẫn điều trị chuẩn là văn bản có tính chất pháp lý, nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị học mỗi loại bệnh, một hướng dẫn thực hành điều trị
có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau [3]
Ngay cả với một DMT lý tưởng thì việc sử dụng không đúng thuốc vẫn có thể xảy ra, hướng dẫn điều trị chuẩn là một chiến lược hiệu quả đã được chứng minh để đẩy mạnh việc kê đơn hợp lý, tối thiểu người kê đơn cần có các thông tin về đặc điểm lâm sàng, tiêu chuẩn chẩn đoán, bệnh không dùng thuốc và bệnh cần điều trị bằng thuốc
Tại Việt Nam hiện nay đã ban hành nhiều phác đồ điều trị chuẩn như: Phác đồ cấp cứu sốc phản vệ [4], phác đồ điều trị sốt rét, phác đồ điều trị tiêu chảy ở trẻ em
Năm 2012 Bệnh viện Bạch Mai đã tái xuất bản lần thứ nhất có sửa chữa cuốn: Cẩm nang nghiệp vụ của bác sỹ lâm sàng về Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội khoa, cuốn sách đã đưa ra hướng dẫn chẩn đoán và điều trị về công tác cấp cứu, hồi sức tích cực, chống độc, tim mạch, hô hấp, nội tiết - đái tháo đường, tiêu hóa, thận – tiết niệu, cơ – xương – khớp, truyền nhiễm, dị ứng – miễn dịch lâm sàng, gồm 11 chương, 198 trang[1]
Đây là cuốn sách rất cần thiết cho công tác lựa chọn, xây dựng DMT cho các đơn vị y tế có thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân
1.1.3 Danh mục thuốc thiết yếu
Trang 14Danh mục thuốc thiết yếu là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn có sẵn với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý
Danh mục thuốc thiết yếu có đủ các chủng loại đáp ứng nhu cầu điều trị các bệnh thông thường, tên thuốc trong danh mục đơn giản là tên gốc, tên Gerneric dễ nhớ, dễ biết, dễ lựa chọn, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và dễ quản lý
Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo và đưa ra DMTTY đầu tiên vào năm
1977 với danh mục gồm 208 thuốc để điều trị một cách an toàn và hiệu quả cho các bệnh chủ yếu, vào tháng 3 năm 2007 DMTTY lần thứ 15 đã được ban hành bởi ủy ban chuyên gia của Tổ chức y tế thế giới
1.1.4 Tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu của Tổ chức y tế thế giới
Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật tại chỗ, trang thiết bị điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường, địa lý và di truyền Tổ chức Y tế thế giới năm 1999 đã xây dựng một số tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu như sau [22]:
- Chỉ chọn những thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, độ
an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại các cơ sở khám chữa bệnh
- Thuốc được chọn phải sẵn có ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng, cũng như sự ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng nhất định
- Khi có 2 hoặc nhiều hơn 2 thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng
- Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần phải so sánh tổng chi phí cho toàn bộ quá trình điều trị chứ không phải chỉ tính theo đơn vị của từng thuốc Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi lựa chọn cần phải tiến hành phân tích hiệu quả - chi phí
Trang 15- Trong một số trường hợp sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số các yếu
tố khác như các đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng
- Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất, những thuốc ở dạng
đa chất phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị của một nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt trội về hiệu quả,
độ an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất
- Thuốc ghi tên gốc hoặc tên chung quốc tế, tránh đề cập đến tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
Hội đồng thuốc và điều trị cần phải thống nhất một cách rõ ràng tất cả các tiêu chí, dựa trên những tiêu chí có sẵn của Tổ chức y tế thế giới để chọn thuốc làm sao đảm bảo được quy trình lựa chọn khách quan và có cơ sở Nếu thiếu cơ
sở bằng chứng thì các quyết định đưa ra rất có thể mang tính cá nhân hoặc thiếu khách quan, và điều này cũng sẽ gây khó khăn khi thuyết phục các thầy thuốc kê đơn thực hiện danh mục thuốc, các tiêu chí lựa chọn thuốc cũng như toàn bộ thủ tục đề xuất đưa thuốc vào danh mục thuốc phải được công khai, không phải tất
cả các bằng chứng đều có sức thuyết phục như nhau Mức độ tin cậy của bằng chứng cần phải được xác nhận khi công khai các tiêu chí lựa chọn và đưa ra quyết định [22]
1.1.5 Danh mục thuốc thiết yếu ở Việt Nam
Để đảm bảo có đầy đủ thuốc đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức y
tế thế giới và điều kiện thực tế ở Việt Nam, danh mục TTY Quốc gia được ban hành lần đầu tiên năm 1985 gồm 225 TTY sử dụng chung cho các tuyến Sau bốn năm, vào năm 1989 ban hành danh mục thuốc tối cần gồm 27 thuốc và thuốc thiết yếu cho tuyến y tế cơ sở gồm 31 loại Danh mục lần thứ ba được ban hành năm 1995, gồm 255 thuốc thiết yếu, phân chia theo trình độ chuyên môn của cán bộ y tế: Cơ sở có bác sỹ; Cơ sở có y sỹ; cơ sở không có cả bác sỹ lẫn y
sỹ thì được sử dụng danh mục TTY gồm 83 loại [8]
Trang 16Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ IV được ban hành năm 1999, gồm 346 thuốc phân chia theo các tuyến: Bệnh viện tuyến TW, tuyến tỉnh; bệnh viện tuyến huyện; TYTX, trong đó tuyến y tế không có y, bác sỹ chỉ được sử dụng
116 loại thuốc [9]
Danh mục TTY Việt Nam lần thứ V được ban hành kèm theo quyết định
số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ Y tế bao gồm 325 tên thuốc tân dược; 94 DMT chế phẩm y học cổ truyền; danh mục cây thuốc nam và 215 danh mục vị thuốc, danh mục TTY tây y được phân chia theo tuyến nhưng thêm tuyến
D và phân theo bệnh viện hạng 1, 2, 3, cơ sở có bác sỹ và cơ sở không có bác sỹ Tuyến C cho cơ sở y tế có bác sỹ gồm 194 loại TTY, tuyến D cho cơ sở y tế không có bác sĩ gồm 128 loại TTY, danh mục TTY có kèm theo bản hướng dẫn
sử dụng danh mục [10]
Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần VI được ban hành kèm theo Thông
tư số 45/2013/TT-BYT ngày 26 tháng 12 năm 2013, của Bộ trưởng Bộ Y tế Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần VI với 466 tên thuốc trên 29 nhóm thuốc, được xây dựng theo các nguyên tắc và các tiêu chí sau:
- Kế thừa Danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V, đồng thời tham khảo Danh mục thuốc thiết yếu hiện hành của Tổ chức Y tế thế giới, các hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế Việt Nam và căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn thuốc cụ thể;
- Phù hợp với chính sách, pháp luật về dược, thực tế sử dụng và khả năng bảo đảm cung ứng thuốc của Việt Nam;
- Danh mục thuốc thiết yếu tân dược được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm an toàn cho người sử dụng, một số loại thuốc có thể bị loại bỏ khỏi danh mục nếu
có những tác dụng có hại nghiêm trọng được phát hiện;
- Các thuốc đưa vào Danh mục thuốc thiết yếu tân dược dưới tên chung quốc tế, không đưa tên riêng chế phẩm
- Bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng;
- Sẵn có với số lượng đầy đủ, có dạng bào chế phù hợp với điều kiện bảo quản, cung ứng và sử dụng;
Trang 17- Phù hợp với mô hình bệnh tật, phương tiện kỹ thuật, trình độ của thầy thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Giá cả hợp lý;
- Đa số là đơn chất, nếu là đa chất phải chứng minh được sự kết hợp đó có lợi hơn khi dùng từng thành phần riêng rẽ về tác dụng và độ an toàn Trường hợp có hai hay nhiều thuốc tương tự nhau phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá đầy
đủ về hiệu lực, độ an toàn, chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng
Thông tư cũng đưa ra Hướng dẫn thực hiện Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần VI phù hợp với điều kiện, chính sách của Việt Nam
Danh mục TTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và chữa bệnh cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong danh mục TTY Cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chủ trương, chính sách trong việc tạo điều kiện cấp số đăng ký lưu hành thuốc, xuất nhập khẩu thuốc, các đơn vị ngành y tế tập trung các hoạt động của mình trong các khâu: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất, phân phối, tồn trữ, sử dụng TTY, an toàn hợp lý phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân Các cơ sở kinh doanh thuốc của nhà nước và tư nhân phải đảm bảo danh mục TTY với giá cả thích hợp, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý và hiệu quả
Danh mục TTY là cơ sở để xây dựng DMT chủ yếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam [11]
Danh mục thuốc dùng cho y tế tuyến cơ sở do Bộ Y tế ban hành mang tính chất hướng dẫn Từng tỉnh, từng huyện sẽ căn cứ vào đó và vào mô hình bệnh tật của địa phương mà xây dựng danh mục một cách thích hợp Các thuốc được chọn là những thuốc mang tên gốc, tên gerneric luôn sẵn có, có hiệu lực, ít tác dụng phụ, không độc và rẻ tiền, Mục tiêu của chính sách thuốc thiết yếu là thực hiện việc cung cấp thuốc đúng danh mục đề ra, tức là đúng nhu cầu, sử dụng an toàn, hợp lý, với giá thấp, ai cũng có thể mua để dùng, nhất là người
nghèo trong cộng đồng
1.1.6 Danh mục thuốc chủ yếu tại cơ sở khám, chữa bệnh
Trang 18Danh mục thuốc có vai trò quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện, vì thế nên bệnh viện có một danh mục các thuốc đảm bảo chất lượng,
an toàn, hợp lý, hiệu quả, và kinh tế Danh mục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc thuốc thiết yếu Việt Nam và danh mục thuốc thiết yếu của Tố chức y tế thế giới hiện hành với các mục tiêu sau:
- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả
- Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh
- Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia Bảo hiểm y tế
- Phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế
Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán áp dụng tại Việt Nam đến hết 31/12/2014 là danh mục được ban hành kèm theo Thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế Hệ thống Danh mục thuốc bao gồm 900 hoạt chất, 1143 tên thuốc với 27 nhóm thuốc được sắp xếp theo mã ATC (giải phẫu, điều trị, hóa học), được ghi theo tên chung quốc tế và theo quy định của Dược thư Quốc gia Việt Nam Đối với hoạt chất có nhiều mã ATC hoặc có nhiều chỉ định khác nhau sẽ được sắp xếp vào một nhóm phù hợp nhất
để hạn chế sự trùng lặp; DMT còn có 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu
và kèm theo phần hướng dẫn sử dụng danh mục thuốc
Các cơ sở khám chữa bệnh khi xây dựng DMT căn cứ vào cấu trúc danh mục, phân tuyến kỹ thuật, mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện HĐT&ĐT xây dựng DMT sử dụng tại đơn vị và lập kế hoạch tổ chức cung ứng thuốc Việc lựa chọn thuốc thành phẩm theo nguyên tắc ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước, thuốc của các doanh nghiệp dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc[12]
Hiện nay Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 40/2014/TT-BYT, ngày 17 tháng 11 năm 2014, của Bộ Y tế Thông tư Ban hành và hướng dẫn thực hiện DMT tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ Bảo hiểm y tế gồm: 845 hoạt
Trang 19chất, 1060 thuốc tân dược; 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu DMT ban hành kèm theo thông tư này là cơ sở để quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán chi phí thuốc sử dụng cho người bệnh có thẻ Bảo hiểm y tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [13]
- Các cơ sở khám chữa bệnh thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT khi xây dựng DMT sử dụng tại đơn vị căn cứ vào DMT chủ yếu, phân hạng bệnh viện, nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của quỹ BHYT, quá trình mua sắm theo quy định của pháp luật về đấu thầu
- Việc lựa chọn thuốc thành phẩm để mua sắm, sử dụng cho người bệnh
theo nguyên tắc: Ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc
sản xuất trong nước
Danh mục thuốc bệnh viện
Căn cứ vào DMTTY, DMTCY và các quy định về sử dụng DMT do Bộ Y
tế ban hành, đồng thời căn cứ vào MHBT và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, thu một phần viện phí và BHYT) HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc: Ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, thuốc của các doanh nghiệp đạt được tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc tốt
Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục những thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện phù hợp MHBT, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện
và khả năng chi trả của người bệnh Những loại thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn có sẵn bất cứ lúc nào với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cảhợp lý
Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động
có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả DMT bệnh viện được xây dựng hàng năm theo định kỳ và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong DMT bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT bệnh viện
Trang 20 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Theo Thông tư số 18/2013/TT-BYT, ngày 08 tháng 08 năm 2013 của Bộ
Y tế ban hành, Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc
và điều trị trong bệnh viện, với nguyên tắc xây dựng DMT bệnh viện như sau:
- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện
- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do
Bộ Y tế ban hành
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [14]
Tiêu chí lựa chọn thuốc vào danh mục thuốc bệnh viện
Theo Thông tư số 18/2013/TT-BYT, ngày 08 tháng 08 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc
và điều trị trong bệnh viện, với các tiêu chí lựa chọn thuốc như sau:
- Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng
- Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định
về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định;
- Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng;
- Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế,
cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc
Trang 21- Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc
Quy trình lựa chọn một số thuốc mới vào DMT bệnh viện
Theo Thông tư số 18/2013/TT-BYT, ngày 08/08/2013 của Bộ trưởng Bộ
Y tế, Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện, với quy trình lựa chọn thuốc mới như sau:
- Chỉ có bác sỹ, dược sỹ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ một dược phẩm ra khỏi danh mục, phải có bản yêu cầu bằng văn bản gửi cho thư ký của hội đồng thuốc và điều trị
- Thành viên HĐT&ĐT đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong tài liệu và chuẩn bị một bản báo cáo bằng văn bản
- Đưa ra những đề xuất cho danh mục
- Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của HĐT&ĐT
- Hội đồng thuốc và điều trị chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ dược phẩm trên
- Phổ biến quyết định của hội đồng thuốc và điều trị đến tất cả các cá nhân
có liên quan
Duy trì một DMT bệnh viện
Định kỳ đánh giá những yêu cầu bổ sung thuốc mới và loại bỏ thuốc hiện
có trong danh mục, đánh giá hệ thống theo nhóm, phân nhóm điều trị
1.2 Thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện
Tình hình sử dụng thuốc ở nước ta đang còn nhiều vấn đề bất cập, tình
Trang 22trạng sử dụng thuốc chưa hợp lý thiếu an toàn và hiệu quả vẫn đang tồn tại Muốn tăng cường sử dụng thuốc hợp lý an toàn cần phải xem xét toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc để can thiệp vào những vấn đề chưa hợp lý Vấn đề sử dụng thuốc, có rất nhiều yếu tố tác động, trong đó vấn đề nổi cộm là các cán bộ y tế chưa thường xuyên cập nhật thông tin dược, dùng thuốc theo thói quen, lựa chọn thuốc chưa dựa trên y học bằng chứng và hướng dẫn điều trị chuẩn Ngoài ra các yếu tố kinh tế trong kê đơn, áp lực công việc, nhân lực và quản lý giám sát cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng thuốc
Sử dụng thuốc đã và đang là vấn đề rất được quan tâm trong công tác dược bệnh viện Sử dụng thuốc không hợp lý tất yếu sẽ gây hậu quả nghiêm trọng như làm tăng chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe, giảm chất lượng điều trị, tăng nguy cơ xảy ra phản ứng có hại và sự lệ thuốc vào thuốc của bệnh nhân WHO cho rằng: “ Sử dụng thuốc hợp lý là phải đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh (đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc) Thuốc đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng”
Thông tư số 23/TT-BYT, hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh đã quy định:
Dược sĩ khoa dược chịu trách nhiệm cập nhật thông tin về thuốc và hướng dẫn sử dụng thuốc cho thầy thuốc, dược sĩ, điều dưỡng viên và người bệnh
Thầy thuốc hướng dẫn người bệnh (hoặc người nhà người bệnh) cách dùng thuốc
Điều dưỡng viên, hộ sinh chịu trách nhiệm cho người bệnh dùng thuốc hoặc hướng dẫn người bệnh dùng thuốc để đảm bảo thuốc được dùng đúng cách, đúng thời gian, đủ liều theo y lệnh
Người bệnh phải tuân thủ điều trị, không tự ý bỏ thuốc hoặc tự ý dùng thuốc không đúng chỉ định của thầy thuốc Người bệnh hoặc người nhà người bệnh chịu trách nhiệm về mọi sự cố do tự ý dùng thuốc không đúng chỉ định của thầy thuốc.[8]
Trang 231.2.1 Thực trạng sử dụng và quản lý sử dụng thuốc trong một số bệnh viện ở Việt Nam
1.2.1.1 Tình hình sử dụng thuốc
Trong thời gian gần đây, mô hình bệnh tật của Việt Nam đang thay đổi với gánh nặng bệnh tật kép của các bệnh truyền nhiễm cùng với các bệnh mãn tính và các bệnh không lây truyền ngày một gia tăng, thực trạng đó đã kéo theo hàng loạt các vấn đề về sử dụng thuốc như thuốc kháng sinh được sử dụng với lượng lớn, tình trạng kháng kháng sinh, lạm dụng thuốc vitamin và các loại thuốc bổ khác Các số liệu thống kê cho thấy thuốc kháng sinh nhập khẩu chiếm khoảng 30 – 40% số ngoại tệ dùng để nhập thuốc, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền sử dụng thuốc chiếm 32,7%, tuy nhiên trong năm 2008 tỷ lệ
sử dụng vitamin giảm 3,1% [17] Hiện nay chất lượng sống của người Việt Nam đang ngày càng được cải thiện làm tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kéo theo đó là làm tăng nhu cầu sử dụng thuốc Nhu cầu tiêu dùng thuốc bình quân đầu người tăng từ 11,23 USD/người năm 2006 lên 13,34 USD vào năm 2007, 16,45 USD/người năm 2008 và dự kiến đạt 25 USD/người vào năm 2015 [17] Vì vậy, ngành Dược phải tăng cường đẩy mạnh việc cung ứng thuốc có chất lượng tốt, góp phần đảm bảo cho việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả
Ngành Dược Việt Nam trong những năm qua đã có sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực công nghiệp Dược, giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2007 đạt 600,63 triệu USD tăng 26,34 % so với năm 2006, năm 2008 đạt 715,435 triệu USD đáp ứng 50,18% nhu cầu thuốc sử dụng.Thuốc sản xuất trong nước đang cố gắng thoát ra khỏi những danh mục hoạt chất generic, hướng tới những nhóm thuốc đang tăng tỷ lệ sử dụng, thuốc chuyên khoa (như : thuốc tim mạch, tiểu đường, thần kinh, nội tiết ) [17]
Ở Việt Nam, hệ thống bệnh viện công lập là bộ xương của hệ thống y tế, chi tiêu cho bệnh viện công lập chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi tiêu y tế, trong năm
2008, tổng giá trị mua thuốc sử dụng tại các bệnh viện trên toàn quốc là 12.322 tỷ VNĐ chiếm khoảng 50% tổng giá trị thuốc sử dụng [17] Theo báo cáo của Cục quản lý Dược, trong cuộc khảo sát năm 2006, 2007 ở 565 bệnh viện trong cả
Trang 24nước cho thấy: tỷ trọng thuốc sản xuất tại Việt Nam sử dụng tại bệnh viện chiếm gần 50% giá trị tiền thuốc sử dụng, các số liệu thống kê cho thấy lượng thuốc sản xuất trong nước chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong nước còn lượng thuốc xuất khẩu chiếm tỷ lệ rất ít, trị giá tiền thuốc xuất khẩu năm 2008 là 33,32 triệu USD [17] Như vậy ta thấy đã có xu hướng sử dụng thuốc trong nước sản xuất tại thị trường Việt Nam Tỷ lệ thuốc kháng sinh trong tổng số tiền sử dụng thuốc chiếm 32,7%, một phần cho thấy tại Việt Nam các bệnh nhiễm khuẩn chiếm đang rất phổ biến Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc kháng sinh chưa được kiểm soát chặt chẽ, theo điều tra của Bộ Y tế về tình hình sử dụng thuốc tại một số bệnh viện tuyến TW, có 41% bệnh án sử dụng kháng sinh kết hợp chủ yếu là kết hợp hai kháng sinh, có 8% bệnh án chỉ định kết hợp ba kháng sinh
1.2.1.2 Tình hình quản lý sử dụng thuốc
Quản lý ngân sách thuốc theo phương pháp phân tích ABC
Trong hệ thống bệnh viện công lập hiện nay xảy ra tình trạng tồn trữ quá nhiều những thuốc mà bệnh viện không có nhu cầu sử dụng Tình trạng này là
do ngân sách thuốc mất cân đối: nhiều loại thuốc cần thiết cho điều trị bị thiếu hụt, trong khi đó nhiều loại thuốc hiệu quả điều trị không rõ ràng, thậm chí không có tác dụng điều trị được sử dụng hay tồn trữ quá nhiều Để hạn chế tình trạng này một số bệnh viện đã áp dụng phương pháp phân tích ABC của cơ quan Khoa học quản lý sức khỏe (MSH) của Mỹ, trong đó các khoản mục thuốc cung ứng trong bệnh viện được phân tích thành 3 nhóm (hạng) (A,B,C) theo giá trị sử dụng với mục đích là để phân tích tình hình tiêu thụ và sử dụng thuốc, so sánh thực tế mua thuốc với kế hoạch Từ kết quả của phương pháp phân tích này sẽ
áp dụng các biện pháp để cải thiện vấn đề cung ứng thuốc trong bệnh viện [18], [19], [13]
Tại Bệnh viện Hữu Nghị: chỉ có 79 mặt hàng thuộc nhóm sản phẩm nhóm
A (chiếm 15,74% tổng số mặt hàng) trong tổng số 502 mặt hàng được tiêu thụ trong năm 2008, chiếm 74,95% tổng giá trị tiêu thụ (GTTT) Số lượng tiêu thụ (SLTT) các sản phẩm nhóm A chiếm trên 50% tổng SLTT Có 16 trên tổng số
28 nhóm tác dụng dược lý có mặt trong các thuốc nhóm A được tiêu thụ tại BV
Trang 25Hữu nghị trong năm 2008 Trong nhóm A, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ GTTT lớn nhất (27,8%), nhóm thuốc tim mạch
có tỷ lệ GTTT xếp thứ 2 (18,8%), nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch có tỷ lệ GTTT xếp thứ 3 Về SLTT: nhóm khoáng chất và vitamin chiếm tỷ
lệ SLTT lớn nhất (38,3%) Nhóm thuốc tim mạch có tỷ lệ SLTT lớn thứ hai (29,2%), nhóm thuốc hormon và các thuốc tác dụng vào hệ thống nội tiết có tỷ
lệ SLTT xếp thứ ba (17,1%) Trong nhóm A, với các thuốc không chuyên khoa,
BV Hữu Nghị đã chú trọng đến việc lựa chọn các thuốc sản xuất trong nước có giá thấp để giảm thiểu chi phí điều trị đồng thời đáp ứng đủ nhu cầu về thuốc cho bệnh nhân [18]
Tại Bệnh viện Nhi TW: GTTT nhóm sản phẩm nhóm A chiếm 75,0%
,chiếm 9,57% tổng số mặt hàng được tiêu thụ tại BV trong năm 2008 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn có tỷ lệ cao nhất cả về GTTT (44,6%)
và SLTT (48,7%) Trong nhóm A, thuốc tác dụng lên đường hô hấp chỉ có 4 sản phẩm song đứng thứ hai cả về GTTT (18,7%) và SLTT (25,7%) Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác đứng thứ ba (20,9%) về SLTT song về giá trị chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ (4,4%) Như vậy, với các dung dịch điện giải, BV ưu tiên sử dụng các sản phẩm có giá thấp để giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân [17]
1.2.2 Thực trạng cơ cấu danh mục thuốc tại một số bệnh viện
Tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Ninh Hòa năm 2012 Các thuốc sử dụng tại bệnh viện nằm trong 17 nhóm thuốc của DMTBV năm 2012 Nhóm thuốc ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn kinh phí sử dụng nhiều chiếm tỷ lệ 57,8%, nhóm thuốc tim mạch sử dụng nhiều thứ hai chiếm tỷ lệ 12,4%, nhóm thuốc tiêu hóa
sử dụng nhiều thứ ba chiếm tỷ lệ 6,1%, các nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm đứng thứ tư chiếm tỷ lệ 3,9% Các nhóm khác còn lại chiếm 19,7%, nhóm thuốc chẩn đoán có kinh phí sử dụng ít nhất chiếm tỷ lệ 0,2%.[15]
Theo một nghiên cứu khác tại bệnh viện đa khoa tỉnh An Giang năm 2013, khi
Trang 26phân thích danh mục thuốc sử dụng theo ABC, VEN, có 576 thuốc được sử dụng trong bệnh viện Tổng chi phí thuốc là 135.714.421.26 đồng trong đó có 66 loại thuốc (11,46%) được xếp hạng A nhưng chiếm đến 70,95% chi phí sử dụng,
112 loại thuốc (19,44%) thuộc nhóm B chiếm 19,96% chi phí sử dụng thuốc, còn lại 398 loại thuốc chiếm (69,10%) thuộc nhóm C chỉ chiếm 9,09% chi phí sử dụng thuốc trong bệnh viện.[20]
1.3 Vài nét về bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
1.3.1 Vị trí, chức năng nhiệm vụ của bệnh viện
BVĐK Đồng văn là bệnh viện hạng III, trực thuộc Sở y tế Hà Giang với 100 giường bệnh, là trung tâm chuyên môn kỹ thuật về y tế với các nhiệm vụ chính là :
Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh: Bệnh viện có nhiệm vụ khám, cấp cứu
điều trị bệnh nhân tại huyện và các vùng lân cận, khám sức khỏe cho tất cả các đối tượng
Đào tạo cán bộ y tế Bệnh viện là nơi thực thành cho học sinh, sinh viên
của các trường nằm trên địa bàn của tỉnh và các tỉnh khác như: Trường trung cấp
y tế Hà Giang, Trường cao đẳng Dược Phú Thọ ngoài ra bệnh viện cũn thường xuyên tổ chức đào tạo lại và bổ xung kiến thức cho cán bộ viên chức trong toàn bệnh viện
Nghiên cứu khoa học Bệnh viện có nhiệm vụ nghiên cứu ,áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật để phục vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh
Chỉ đạo tuyến Bệnh viện có kế hoạch và tổ chức thực hiện chỉ đạo tuyến y tế cơ
sở nâng cao chất lượng cấp cứu chẩn đoán và điều tri bệnh nhân
Phòng bệnh Bệnh viện còn phối hợp với các cơ sở y tế trên địa bàn để phát hiện
phòng và dập tắt các dịch bệnh
Hợp tác quốc tế Bệnh viện rất chú trọng đào tạo cán bộ và tạo điều
kiện cho cơ sở có thêm sự đầu tư phát triển và xây dựng các dự án đầu tư liên doanh với các tổ chức quốc tế kể cả tổ chức phi chính phủ
Quản lý kinh tế trong bệnh viện Đây là nhiệm vụ nặng nề nhất của
bệnh viện, bệnh viện có nhiệm vụ quản lý và sử có hiệu quả các nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất , các trang thiết bị y tế Bệnh viện cũng thực hiện các quy chế ,chế độ chuyên môn cũng như các quy định của nhà nước về thu chi ngân sách một cách nghiêm chỉnh theo đúng chế độ hiện hành Đồng thời phải
Trang 27tạo thêm nguồn kinh phí cho bệnh viện từ các dịch vụ y tế : viện phí ,bảo hiểm y
tế và các tổ chức kinh tế khác
1.3.2 Tổ chức bộ máy của BVĐK huyện Đồng Văn
Sơ đồ tổ chức BVĐK huyện Đồng Văn được trình bày tại hình sau:
Hình 1.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của BVĐK Đồng Văn
Tổ chức bộ máy của BVĐK Đồng văn: Gồm 10 khoa lâm sàng, 3 khoa
GIÁM ĐỐC
Các khoa cận lâm sàng
Các phòng chức năng
Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn
Phòng Kế hoạch tổng hợp
Phòng Tài chính
kế toán Phòng Điều dưỡng
Khoa Dược
Khoa nhi
Phòng Tổ chức hành
chính Khoa khám
bệnh
Trang 28cận lâm sàng và 4 phòng chức năng Ban lãnh đạo bệnh viện gồm 1 giám đốc và
2 phó giám đốc phụ trách các lĩnh vực chuyên môn được phân công
Cơ cấu nhân lực Bệnh viện ĐK huyện Đồng văn – Hà Giang
Bảng 1.1 Cơ cấu nhân lực của BVĐK huyện Đồng văn
STT Trình độ chuyên môn Số lượng Tỷ lệ (%)
Từ số liệu bảng trên cho thấy cơ cấu nhân lực của bệnh viện khá đông so
với một bệnh viện tuyến 3 Bệnh viện có 1 bác sĩ CKII và 7 bác sĩ CKI, bác sĩ là
29 Dược sĩ ĐH là 02 Bệnh viện có chính sách thu hút các cán bộ có trình độ đại
học và sau đại học về công tác, hàng năm bệnh viện đã cử nhiều bác sĩ đi đào tạo
nâng cao trình độ chuyên môn kĩ thuật tại các bệnh viện tuyến trên và các trường
Đại học về phục vụ công tác khám và chữa bệnh
1.3.3 Khoa Dược BVĐK huyện Đồng Văn
Khoa Dược là một chuyên khoa thuộc quản lý, điều hành trực tiếp của
Giám đốc bệnh viện Là một tổ chức chuyên môn, kỹ thuật, kinh tế tham gia vào
quá trình điều trị, góp phần trách nhiệm với bệnh viện về hiệu quả điều trị Khoa
Trang 29Dược thuộc khối cận lâm sàng, là nơi thực thi các chính sách quốc gia về thuốc
Bảng 1.2 Cơ cấu nhân lực khoa Dược
STT Trình độ Số lượng Tỷ lệ (%)
Khoa Dược có 2 DSĐH chiếm 33,33 % số cán bộ trong khoa đó là một thế
mạnh để thực hiện công tác chuyên môn trong khoa
* Chức năng, nhiệm vụ của khoa Dược: [12]
Nhiệm vụ trọng tâm của khoa Dược là lập kế hoạch cung ứng thuốc đủ
số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng kịp thời nhằm
đáp ứng yêu cầu chẩn đoán điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống
thiên tai dịch bệnh thảm hoạ) đáp ứng nhu cầu điều trị hợp lý
Quản lý theo dõi việc nhập thuốc cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và
các nhu cầu đột xuất khác khi có nhu cầu
Là một đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của HĐT&ĐT, các quyết
sách của HĐT&ĐT được thực hiện thông qua các hoạt động của khoa Dược
Khoa Dược cung cấp các dữ liệu, số liệu cần thiết khi HĐT&ĐT yêu cầu
Khoa Dược bảo quản thuốc theo đúng các quy chế hiện hành bảo quản
Khoa dược có nhiệm vụ đưa thuốc và vật tư tiêu hao đến tận các khoa
lâm sàng và cận lâm sàng từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần theo quy định của ban
giám đốc bệnh viện
Phải kiểm tra đối chiếu khi cấp phát thuốc
+ 3 Kiểm tra:
- Kiểm tra thể thức phiếu lĩnh thuốc hoặc đơn thuốc
- Kiểm tra tên thuốc, chất lượng thuốc
Trang 30+ 3 Đối chiếu:
- Đối chiếu Tên thuốc trên ống/ lọ với phiếu lĩnh
- Đối chiếu Nồng độ, hàm lượng của thuốc phát với phiếu lĩnh
- Đối chiếu số khoản, số lượng mỗi khoản với phiếu lĩnh
* Tổ chức nhân lực khoa Dược :
Khoa dược BVĐK Đồng Văn gồm có: 06 cán bộ nhân viên trong đó có
01 Trưởng khoa và các bộ phận giúp việc được chia thành 4 tổ
- Trưởng khoa: Là Dược sĩ Đại học, chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc
bệnh viện về các hoạt động của khoa và tham gia các hoạt động khác của bệnh viện
Các bộ phận của khoa dược:
- Tổ kho và cấp phát, cung ứng: Gồm 3 DSTH và 1 DSĐH có nhiệm vụ tổ
chức quản lý, cấp phát và tồn trữ bảo quản thuốc theo đúng quy chế, tham gia lập dự trù thuốc
- Tổ thống kê, kế hoạch: Gồm 1 DSTH có nhiệm vụ tập hợp và theo dõi
xuất, nhập, tồn, tiền thuốc hàng tháng Báo cáo định kỳ hàng tháng, quý, năm theo quy định, lập kế hoạch hoạt động của khoa về sản xuất, cung ứng, dự trù thuốc và chuẩn bị các điều kiện cung ứng
- Tổ dược chính, dược lâm sàng: do trưởng khoa và 1 Dược sĩ ĐH đảm
nhiệm, có nhiệm vụ kiểm tra, theo dõi việc thực hiện quy chế chuyên môn về dược tại các khoa, phòng và khoa dược, giám sát việc sử dụng và quản lý chất lượng thuốc trong bệnh viện, phát hiện và thu hồi thuốc kém chất lượng, thuốc quá hạn sử dụng, duyệt sổ lĩnh thuốc hàng ngày cho các khoa phòng, thông tin thuốc và theo dõi ADR
Tuy nhiên việc sắp xếp nhân lực vào các tổ chỉ mang tính chất tương đối Trên thực tế nhân viên của tổ này nhiều khi vẫn phải làm nhiệm vụ của nhân viên tổ khác khi cần thiết, dưới sự chỉ đạo của trưởng khoa dược Với việc sắp xếp bố trí nhân lực như trên, trong những năm qua khoa dược đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất Đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc - vật tư tiêu hao - hóa chất, cho công tác khám chữa bệnh cho nhân dân