Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4 1.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước về thể thao thành tích cao 41.1.1 Những định hướng chung về công tác Thể dục thể thao 41.1.2 Định hướng của Đảng và
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Trang 3LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trìnhnghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảtrình bày trong luận án là trung thực và chưatừng được ai công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác.
Tác giả luận án
Vũ Thị Hồng Thu
Trang 4Danh mục ký hiệu viết tắt
Danh mục các biểu bảng, hình, sơ đồ trong luận án
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4
1.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước về thể thao thành tích cao 41.1.1 Những định hướng chung về công tác Thể dục thể thao 41.1.2 Định hướng của Đảng và Nhà nước về thể thao thành tích cao 5
1.3.1 Quy trình đào tạo và sự phân chia quá trình huấn luyện nhiều năm
thành các giai đoạn huấn luyện với các mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau
29
1.4 Đặc điểm huấn luyện vận động viên Karatedo 35
1.4.2 Sự phân chia giai đoạn huấn luyện trong môn Karatedo 421.4.3 Công tác đào tạo vận động viên Karatedo Hà Nội 44
Chương 2 Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu 50
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận 56
3.1 Đánh giá thực trạng đào tạo vận động viên Karatedo Hà Nội
giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
56
3.1.1 Xác định các cơ sở đào tạo vận động viên Karatedo Hà Nội giai 56
Trang 5chuyên môn hóa ban đầu.
3.1.2 Phân nhóm khảo sát thực trạng môn Karatedo Hà Nội 573.1.3 Đánh giá các cơ sở đào tạo vận động viên Karatedo trên địa bàn Hà
Nội
60
3.1.4 Thực trạng quy trình đào tạo VĐV Karatedo giai đoạn huấn luyện
chuyên môn hóa ban đầu của Hà Nội
63
3.2 Đánh giá những yếu tố đảm bảo cho công tác đào tạo VĐV
Karatedo Hà Nội trong giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu.
90
3.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ tập luyện môn karatedo Hà Nội 98
3.2.5 Bàn luận về một số yếu tố đảm bảo cho công tác đào tạo vận động
viên Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
104
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
đào tạo VĐV Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban
đầu và bước đầu đánh giá sự đồng thuận đối với các nhóm giải
pháp đã đề xuất.
108
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỀU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Thể
Bảng 1.1 Phân chia giai đoạn theo quy trình đào tạo vận động
viên
30
3.1 Kết quả phỏng vấn phân nhóm đối tượng khảo sát thực
trạng môn Karatedo Hà Nội
3.4 Nội dung đánh giá thực trạng tuyển chọn VĐV
Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
3.9 Tiêu chí đánh giá thực trạng quy trình đào tạo VĐV
Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
71
3.10 Thực trạng kế hoạch huấn luyện VĐV Karatedo Hà
Nội
72
3.11 Thực trạng thời gian đào tạo VĐV Karatedo Hà Nội
giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu
77
3.12 Thực trạng kiểm tra đánh giá trình độ và thải loại VĐV
Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
78
3.13 Thực trạng phân chia chuyên sâu và tiêu chí phân chia
chuyên sâu của VĐV Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyênmôn hóa ban đầu
Sautrg.80
3.14 Thực trạng lực lượng VĐV Karatedo ở Trung tâm đào
tạo VĐV cấp cao Hà Nội
82
3.15 Thực trạng đào tạo VĐV Karatedo Hà Nội giai đoạn
chuyên môn hoá ban đầu
84
Trang 93.16 So sánh HLV Karatedo so với một số môn thể thao
khác ở Sở văn hóa, thể thao và du lịch Hà Nội
2005 - 2012
Sautrg.943.20 Thực trạng phụ cấp cho VĐV Karatedo Hà Nội giai
đoạn chuyên môn hóa ban đầu
96
3.21 Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng cho VĐV Karatedo
Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
98
3.22 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện môn
Karatedo Hà Nội
99
3.23 Kết quả phỏng vấn công tác tổ chức quản lý VĐV
Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
100
3.24 Thực trạng giáo dục đạo đức cho VĐV Karatedo Hà
Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
101
Bảng
3.25 Phản ánh của VĐV Karatedo thuộc Trung tâm đào tạo
VĐV cấp cao Hà Nội (giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu)
về nhận thức và thực hành nội dung giáo dục đạo đức
102
3.26 Mức độ đồng thuận đối với 03 nhóm giải pháp đã đề
xuất
112
3.27 Phỏng vấn lựa chọn chỉ tiêu tuyển chọn VĐV Karatedo
Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Sautr.115
Biểu
đồ
3.1 So sánh VĐV Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn
hóa ban đầu với các giai đoạn đào tạo khác
3.4 Thâm niên tập luyện của VĐV Karatedo Hà Nội giai
đoạn chuyên môn hóa ban đầu
86
3.5 Thâm niên công tác của HLV môn Karatedo so với 3
môn thể thao khác thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
92
Trang 10Hà Nội3.6 Trình độ và đẳng cấp HLV môn Karatedo với một số
môn thể thao khác thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Sơ đồ
1.2 Hệ thống tổ chức Nhà nước trong quản lý đào tạo VĐV 261.3 Hệ thống tổ chức xã hội trong quản lý đào tạo VĐV 271.4 Hệ thống tổ chức của trung tâm TDTT quận, huyện 273.1 Tổ chức quản lý của các cơ sở đào tạo môn Karatedo
Hà Nội
63
3.2 Hình thức tuyển chọn VĐV Karatedo Hà Nội 67
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
Chiến lược phát triển thể thao thành tích cao đã xác định: “Phát triểnthể thao thành tích cao là một trong ba nhiệm vụ xuyên suốt của ngành, từ đóxác định các biện pháp, hoàn chỉnh từng bước hệ thống đào tạo tài năng thểthao quốc gia, mà điểm khởi đầu là công tác đào tạo tài năng trẻ quốc gia”[59]
Để thực hiện được mục tiêu đó, cần phải nghiên cứu lựa chọn nhữnggiải pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo tài năng thểthao, theo đó trước hết cần tập trung vào một số môn thể thao mũi nhọn
Trong những năm gần đây, thể thao Việt Nam đã có những bước tiếnvượt bậc qua các giải thi đấu thể thao ở khu vực và Châu lục Để đạt đượcmục đích thể thao VĐV cần được quản lý hợp lý, đào tạo một cách hệ thống
và lâu dài qua các giai đoạn huấn luyện khác nhau Công tác TDTT nói chung
và đào tạo VĐV trẻ nói riêng chỉ thực sự có hiệu quả khi có một hệ thốngquản lý phù hợp, chặt chẽ từ trung ương đến địa phương Hệ thống quản lýchặt chẽ sẽ thúc đẩy sự nghiệp TDTT của một địa phương phát triển mạnh mẽ,tạo cơ hội đào tạo nhiều VĐV trẻ có thành tích cao cả ở những môn thể thaotruyền thống và thể thao hiện đại, từ đó nâng cao thành tích thể thao của ViệtNam trên đấu trường khu vực, châu lục và thế giới Công việc này trước tiênphải nói đến yếu tố con người trong bộ máy tổ chức thực hiện các hoạt độngTDTT, các cán bộ TDTT có năng lực, nhiệt tình trong công tác ở địa phương,
cơ sở góp phần rất lớn trong việc tổ chức, hướng dẫn nhân dân tập luyện,tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành TDTTđến từng cơ sở, từng người dân, thúc đẩy phong trào TDTT phát triển rộngkhắp, góp phần đẩy mạnh xã hội hoá TDTT ở nước ta
Karatedo là một môn thể thao mũi nhọn của Việt Nam Tuy hình thànhmuộn hơn so với các môn thể thao khác, song Karatedo đã nhanh chóng phát
Trang 12triển rộng rãi khắp cả nước Đặc biệt Karatedo ngày càng chứng tỏ được tiềmnăng của môn thể thao thế mạnh Các vận động viên Karatedo đã giành đượcnhiều thành tích trong các cuộc thi đấu lớn như: đoạt 2 huy chương vàng(HCV) tại Asiad 14; 12 HCV tại SEAGames 22; 6 HCV SEAGames 23; 4HCV SEAGames 24; 6 HCV SEAGames 25 , từng bước khẳng định vị thếcủa một môn thể thao mũi nhọn Tuy nhiên, để môn Karatedo tiếp tục vươn xahơn nữa cần có chủ trương, định hướng khoa học, cần có một qui trình đào tạoVĐV hoàn chỉnh và toàn diện Toàn diện tức là phải có lực lượng VĐV, có sựchuẩn bị cho VĐV đầy đủ các phẩm chất chuyên môn và những điều kiện đảmbảo cho công tác đào tạo VĐV.
Karatedo Hà Nội luôn là đơn vị đóng góp nhiều VĐV cho đội tuyểnKaratedo quốc gia, mang lại nhiều huy chương cho đoàn thể thao Việt Nam tạiĐại hội thể thao khu vực và cũng là đơn vị luôn dẫn đầu tại các giải thi đấuKaratedo toàn quốc Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua thành tích của cácVĐV Karatedo Hà Nội bắt đầu giảm sút, đánh mất dần vị thế “nhất toàn đoàn”tại các giải trẻ toàn quốc, vô địch quốc gia và mới nhất, VĐV Karatedo HàNội đã không giành được huy chương vàng nào tại SEAGames 26 Đây đang
là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với các nhà quản lý và các huấn luyệnviên Karatedo Hà Nội Từ trước tới nay, Karatedo Hà Nội tuy có hệ thống đàotạo VĐV nhưng công tác đào tạo VĐV Karatedo trẻ của Hà Nội chưa đượccoi trọng nhiều Hầu hết chỉ chú trọng về trình độ chuyên môn của VĐV màchưa có ai quan tâm tới đội ngũ huấn luyện viên, những khó khăn và thuận lợicủa VĐV trong quá trình tập luyện, chế độ chính sách cho VĐV hay một sốđiều kiện đảm bảo cho việc tập luyện và thi đấu của các VĐV
Xác định tầm quan trọng của công tác đào tạo VĐV Karatedo trẻ của
Hà Nội đối với thành tích của Karatedo Hà Nội và của Việt Nam trong thờigian sắp tới, đồng thời với yêu cầu cấp bách cần thiết phải nâng cao công tácđào tạo VĐV và trình độ của VĐV Karatedo, nhất là với các VĐV đang trong
Trang 13giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu, giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển
thành tích và trình độ thể thao, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đánh giá công tác đào tạo vận động viên Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu”.
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu đánh giá công tác đào tạo VĐV Karatedo Hà Nộinhằm tìm ra những ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để khắc phục, góp phầnđưa công tác đào tạo VĐV Karatedo Hà Nội vào nền nếp, mang tính hệ thống
và khoa học cao, xứng đáng đúng vị thế của nó trong toàn quốc
Mục tiêu nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1 Đánh giá thực trạng đào tạo VĐV Karatedo Hà Nội giai
đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Mục tiêu 2 Đánh giá những yếu tố đảm bảo cho công tác đào tạo VĐV
Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Mục tiêu 3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công
tác đào tạo VĐV Karatedo Hà Nội giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu và bướcđầu đánh giá sự đồng thuận đối với các nhóm giải pháp đã đề xuất
Giả thuyết khoa học của đề tài.
Nếu đánh giá được thực trạng công tác đào tạo VĐV Karatedo giai đoạnchuyên môn hóa ban đầu của Hà Nội về những ưu điểm và hạn chế, bước đầu
có thể đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạovận động viên Karatedo, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của mônthể thao này trong tương lai
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước về thể thao thành tích cao.
1.1.1 Những định hướng chung về công tác Thể dục thể thao.
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận quan trọng không thể thiếuđược trong công cuộc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới Đảng vàNhà nước phải chăm lo phát triển TDTT nhằm góp phần tăng cường sức khoẻcủa nhân dân, xây dựng những phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hộichủ nghĩa như: lòng dũng cảm, nghị lực, sự khéo léo, trí thông minh và ócthẩm mỹ, tinh thần tập thể và lòng trung thực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc [13]
Để đảm bảo cho sự nghiệp TDTT của nước ta phát triển vững chắc, đemlại những hiệu quả thiết thực, từng bước xây dựng nền TDTT xã hội chủ nghĩaphát triển cân đối, có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, cần mở rộng và nângcao chất lượng các hoạt động TDTT quần chúng trước hết là trong học sinh,thanh niên và các lực lượng vũ trang
Về công tác thể thao thành tích cao, văn kiện của các kỳ Đại hội Đảngluôn luôn đề cập và định hướng cho sự phát triển của nó Văn kiện Đại hộiĐảng VI khẳng định: Củng cố và mở rộng hệ thống trường, lớp năng khiếu thểthao, phát triển lực lượng VĐV trẻ, lựa chọn và tập trung sức nâng cao thànhtích một số môn thể thao Coi trọng việc giáo dục đạo đức, phong cách thểthao xã hội chủ nghĩa Cố gắng bảo đảm các điều kiện về cán bộ, về khoa học,
kỹ thuật, cơ sở vật chất và nhất là về tổ chức, quản lý cho công tác TDTT [13]
Đại hội Đảng VII đã định hướng đào tạo VĐV thể thao thành tíchcao: “Nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vận động viên,nâng cao thành tích một số môn thể thao Cải tiến tổ chức, quản lý các hoạtđộng TDTT theo hướng kết hợp chặt chẽ các tổ chức Nhà nước và các tổ
Trang 15chức xã hội Tạo các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất và khoa học kỹthuật để phát triển nhanh một số môn thể thao Việt Nam có truyền thống và
có triển vọng” [14]
Chỉ thị 36CT/TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉrõ: Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triểnkinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tốcon người, công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực,giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống vănhoá, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiếnđấu của các lực lượng vũ trang… Phát triển TDTT là trách nhiệm của các cấp
uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, là nhiệm vụcủa toàn xã hội, trong đó ngành thể dục thể thao giữ vai trò nòng cốt Xã hộihóa tổ chức các hoạt động thể dục thể thao dưới sự quản lý thống nhất củaNhà nước [3]
Trong thời kỳ phát triển mới của nước ta, Đảng và Nhà nước tiếp tụckhẳng định vị trí quan trọng của TDTT trong việc bồi dưỡng và phát huynhân tố con người, tạo nên sức mạnh và động lực phát triển đất nước Nghịquyết số 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Bộ Chính trị (khóaXI) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ vềthể dục thể thao đến năm 2020”, đã chỉ rõ: “Phát triển thể dục thể thao làmột yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thểlực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáodục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hoá lành mạnh,góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng quan hệ hữu nghị vàhợp tác quốc tế; đồng thời là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chínhquyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân, đảm bảo cho sựnghiệp thể dục thể thao ngày càng phát triển” [6]
Trang 161.1.2 Định hướng của Đảng và Nhà nước về thể thao thành tích cao.
Thể thao thành tích cao là hoạt động tập luyện và thi đấu của vận độngviên; trong đó, thành tích cao, kỷ lục thể thao được coi là giá trị văn hóa, làsức mạnh và năng lực của con người; Nhà nước phát triển TTTTC nhằm pháthuy tối đa năng lực kỹ thuật, thể lực, chiến thuật và ý chí của VĐV để đạtđược thành tích cao trong thi đấu thể thao Phát triển TTTTC là một nhiệm vụchính trị nhằm phát huy truyền thống của dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóatinh thần của nhân dân, đề cao sức mạnh ý chí tinh thần, tự hào dân tộc, gópphần nâng cao uy tín và vị thế của dân tộc Việt Nam TTTTC có vị trí quantrọng trong việc phát triển TDTT, nâng cao sức khỏe và năng lực con người,
có tác dụng to lớn trong việc tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa các quốcgia, dân tộc và góp phần nâng cao uy tín của địa phương, đất nước
Sinh thời Bác Hồ rất quan tâm đến TTTTC Nhưng theo Người, TTTTCphát triển trên cơ sở TDTT quần chúng Hồ Chí Minh từng lưu ý rằng, pháttriển TTTTC vừa phấn đấu giành “vinh quang của dân tộc về mặt thể thao” vừathúc đẩy TDTT quần chúng vì sức khoẻ cho mọi người dân [38]
Theo Bác, TDTT quần chúng phải được phát triển phong phú đó là
sự đa dạng các loại hình, sâu rộng các địa bàn và hầu hết các đối tượng tậpluyện Tính phóng phú đó là nền tảng của thể thao thành tích cao Đồng thờithể thao thành tích cao phát triển mạnh cũng thể hiện tính phong phú của nó
về cả loại hình, đối tượng, địa bàn Trong thư chúc mừng Đại hội thể thaoGANEFO châu Á lần thứ nhất, tổ chức vào cuối năm 1966 ở Campuchia, HồChí Minh viết: “Đây là cuộc gặp gỡ lớn để các lực lượng mới trỗi dậy ở châu
Á, tỏ rõ cho toàn thế giới thấy khả năng phong phú của mình trong lĩnh vựcthể thao” Quan điểm này còn có nghĩa rằng, thể thao của các lực lượng mớitrỗi dậy ở châu Á với khả năng phát triển mạnh mẽ cả về TDTT quần chúng
và thể thao thành tích cao [38]
Trang 17Vì vậy ở nước ta, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác TDTT,trong đó có TTTTC được thể hiện qua các hệ thống quan điểm, luật pháp, chủtrương chính sách cụ thể: Nhà nước có chính sách phát triển thể TTTTC, đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đào tạo bồi dưỡng VĐV,HLV đạt trình độ quốc gia, quốc tế; tổ chức thi đấu TTTTC; tham gia các giảithể thao quốc tế; khuyến khích tổ chức cá nhân tham gia phát triển TTTTC
Ngày 01/12/2011, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng banhành Nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bướcphát triển mạnh mẽ vể thể dục, thể thao, trong đó quan điểm "Tăng tỷ lệ chingân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao
và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao " Về nhiệm vụ và giải phápnâng cao hiệu quả đào tạo tài năng thể thao: "Dành nguồn lực thích đáng đểhình thành hệ thống đào tạo tài năng thể thao với đội ngũ kế cận dồi dào và cóchất lượng, làm tiền đề cho bước phát triển đột phá về thành tích trong một sốmôn thể thao [6]
Đầu tư, nâng cấp các trung tâm huấn luyện thể thao của quốc gia, cácngành, các địa phương, đáp ứng yêu cầu huấn luyện thể thao hiện đại Củng cố
và phát triển các trường, lớp năng khiếu thể thao ở các tỉnh, thành phố với quy
mô phù hợp, có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển mạng lưới hoạt động thể thao thanh,thiếu niên, học sinh, sinh viên các trường học và phát hiện, bồi dưỡng các năngkhiếu và tài năng thể thao Khuyến khích phát triển câu lạc bộ về các môn thểthao hoạt động theo phương thức tự quản, có sự hỗ trợ của Nhà nước Mở rộngquy mô và hiện đại hóa các trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia
Đổi mới tổ chức, quản lý TTTTC theo hướng chuyên nghiệp phù hợpvới đặc điểm của từng môn và từng địa phương Ưu tiên đầu tư của Nhà nước
và huy động các nguồn lực xã hội hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo VĐV các mônthể thao trọng điểm; tích cực chuẩn bị lực lượng vận động viên và các điều
Trang 18kiện cơ sở vật, chất kỹ thuật cần thiết, để sẵn sàng đăng cai tổ chức Đại hội thểthao Châu Á, bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Coi trọng giáo dục đạo đức, ý chí, lòng tự hào dân tộc cho vận độngviên Tôn vinh và đãi ngộ xứng đáng các VĐV xuất sắc và phát huy vai trònêu gương của họ đối với lớp VĐV kế cận và với thanh, thiếu niên nói chung.Kiên quyết đấu tranh khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong thể thao, nhất
là trong bóng đá và các môn TTTTC
1.2 Công tác đào tạo vận động viên.
1.2.1 Một vài khái niệm có liên quan.
Đề tài nghiên cứu về công tác đào tạo VĐV Karatedo giai đoạn chuyênmôn hóa ban đầu, do vậy phải hiểu rõ và hiểu đúng về khái niệm đào tạo VĐV
và một số khái niệm khác có liên quan đến vấn đề đào tạo VĐV như: đào tạo;VĐV, đào tạo VĐV…
Khái niệm đào tạo.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì đào tạo là quá trình tác động đến
một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghivới cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, gópphần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minhcủa loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường,gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm
cả các khái niệm đào tạo [68]
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệphay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắmvững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bịcho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một côngviệc nhất định Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo
Trang 19dục, đào tạo thường đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một
độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo
cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạolại, đào tạo từ xa, tự đào tạo [80]
Đào tạo là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lựctheo những tiêu chuẩn nhất định Là quá trình học tập để làm cho người laođộng có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của
Vận động viên: Vận động viên hiểu theo một cách đơn giản nhất là
chỉ người chuyên luyện tập, thi đấu, biểu diễn một môn thể thao nhất định[68], [77]
Đào tạo vận động viên:
Là một quá trình bao gồm nhiều mặt, sử dụng có mục đích tổng thể cácnhân tố (phương tiện, phương pháp và điều kiện) cho phép tác động có chủđịnh tới sự phát triển VĐV và đảm bảo cho họ có trình độ sẵn sàng cần thiết
để đạt thành tích thể thao [62],[66]
Các nhà khoa học nghiên cứu về TDTT cho rằng: huấn luyện thể thaođược xem là thành phần cơ bản hoặc hình thức cơ bản (cách thức thực hiện)của đào tạo VĐV theo đó,huấn luyện thể thao được hiểulà hình thức cơ bảncủa đào tạo VĐV, là quá trình đào tạo VĐV có hệ thống mà chủ yếu bằng cácphương pháp bài tập Về thực chất, đó cũng là một quá trình sư phạm có tổchức chặt chẽ, nhằm làm cho thành tích thể thao của VĐV không ngừng pháttriển [62], [63]
Trang 20Đào tạo VĐV là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện thể thao, đượctiến hành thông qua các tri thức khoa học tự nhiên và xã hội để từ đó tác độngmột cách có hệ thống tới chức năng, chức phận cơ thể, phát triển hết mức vàtoàn diện cơ thể VĐV hay nói cách khác, việc hoàn thiện, đào tạo VĐV (haytài năng thể thao) được tiến hành thông qua quá trình huấn luyện thể thao,dưới nhiều hình thức và với các phương tiện khác nhau Tuy nhiên, có mộthình thức chính là thông qua quá trình huấn luyện thể thao Bên cạnh đó còn
có các hình thức và phương tiện quan trọng khác giúp cho việc đào tạo thểthao đạt hiệu quả cao, đó là: sự trang bị về lý luận, các kiến thức về kỹ-chiếnthuật, phương pháp tập luyện và các kiến thức khác, cũng như việc phát triểnkhả năng trí tuệ Cuối cùng phải kể đến các phương pháp y học thể thao và cácphương pháp điều hòa tâm lý [9]
Đào tạo VĐV là lĩnh vực đào tạo tài năng chuyên ngành, có những đặcđiểm, quy luật riêng cần được tiến hành theo hướng chuyên môn hóa trongmột hệ thống chuyên biệt, theo một quy trình chặt chẽ với các chương trìnhhuấn luyện khoa học và có sự điều khiển thống nhất để có các tuyến VĐV kếtiếp nhau và đạt thành tích cao ở các lứa tuổi phù hợp với đặc điểm từng mônthể thao [64]
Đào tạo VĐV phải hình thành và tiến hành theo một hệ thống, gồmnhiều nhân tố phức tạp, bao gồm: mục đích, nhiệm vụ, phương tiện, phươngpháp, hình thức tổ chức, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đảm bảo choviệc huấn luyện VĐV đạt tới thành tích thể thao cao nhất
1.2.2 Công tác đào tạo vận động viên.
Công tác đào tạo VĐV được cấu thành từ rất nhiều yếu tố: từ quản lýtới đào tạo, huấn luyện và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo VĐV(ngoài huấn luyện, tập luyện, thi đấu…) Có thể nói, đào tạo VĐV là mộtnghề, và để trở thành một nghề thể thao trước hết phải nói đến đối tượng là
Trang 21sản phẩm của nghề bao gồm: những vấn đề liên quan chặt chẽ đến đào tạo nênmột VĐV đó là: Yếu tố con người (nhà quản lý, VĐV, HLV, bác sĩ thể thao,nhà khoa học ,) đến các yếu tố bên ngoài như sân bãi dụng cụ, trang thiết bị,yếu tố kinh phí đầu tư….
Qua nghiên cứu các tài liệu cho thấy, có rất nhiều các yếu tố có liênquan và ảnh hưởng đến công tác đào tạo VĐV Trong phạm vi luận án nàychúng tôi xác định 4 yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn tới công tác đào tạoVĐV, đó là: vấn đề con người, cơ sở vật chất, công tác tổ chức quản lý, kinhphí đầu tư Sau đây chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các nhóm yếu tố có ảnhhưởng như thế nào tới công tác đào tạo VĐV
1 2.2.1.Vấn đề con người: gồm 3 nhóm chính.
Đội ngũ huấn luyện viên:
Trong tất cả các ngành, nghề vai trò của người thầy luôn được nêu cao
và là một trong những yếu tố quan trọng quyết định về chất lượng đào tạo.Ngành TDTT cũng không ngoại trừ, yếu tố người thầy, người HLV đóng vaitrò tiên quyết trong công tác đào tạo VĐV Người HLV không chỉ là thầy màvừa làm cha mẹ, là anh chị và còn là bạn của VĐV Bởi trong quá trình đàotạo tập trung người HLV luôn phải sát cánh cùng các VĐV của mình từ giờhuấn luyện, đến giờ ăn, giờ ngủ và quan tâm đến những nhu cầu sinh hoạtthường ngày của VĐV
Trong Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 có đánhgiá “Việt Nam chưa có chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho thể dục,thể thao, thiếu chính sách và các quy định về đào tạo nguồn nhân lực chothể dục, thể thao,nhất là đối với thể thao thành tích cao” [59] Ở đây ta cóthể thấy nguồn nhân lực cho TDTT trong đó có lực lượng HLV vẫn chưađược đào tạo bài bản và hệ thống, chưa có chính sách đầy đủ để sử dụnghiệu quả lực lượng này
Trang 22Đối tượng đào tạo: Để có VĐV tốt trước hết phải tuyển chọn đượcngười có năng lực, có tố chất nổi trội, đáp ứng yêu cầu thành tích của môn thểthao chuyên sâu Và để có được VĐV ưu tú ở môn thể thao đó thì cần phảithực hiện tốt các nhân tố: tuyển chọn đối tượng đào tạo, quá trình huấn luyện
và thi đấu, khoa học công nghệ, đặc biệt là tâm lý, sinh lý, chế độ dinh dưỡng,chế độ đãi ngộ Đi sâu phân tích các nhân tố này để thấy mức độ ảnh hưởngcủa nó tới chất lượng đào tạo VĐV hiện nay
Về tuyển chọn đối tượng đào tạo:
Bất kỳ môn thể thao nào cũng phải có tuyển chọn ban đầu đối tượng
đào tạo Mỗi môn thể thao khác nhau có những yêu cầu và tiêu chí tuyển chọnkhác nhau
Tuyển chọn VĐV không phải là việc làm chỉ tiến hành kiểm tra một lần
mà là cả một quá trình bao gồm kiểm tra lần đầu và theo dõi, bồi dưỡng trongsuốt một quá trình huấn luyện có hệ thống Sau đó, qua các cuộc kiểm tra hoặcthi đấu mới có sự lựa chọn và đào thải Những VĐV nào đạt tiêu chuẩn và đápứng yêu cầu của môn thể thao mới tiếp tục bồi dưỡng và huấn luyện để thiđấu
Về đào tạo, huấn luyện và thi đấu:
Trong cơ sở lý luận và phương pháp đào tạo VĐV, Nguyễn Toán cóphân tích về đào tạo VĐV như sau:
Trong cấu trúc của hệ thống đào tạo VĐV có huấn luyện thi đấu vànhững nhân tố ngoài huấn luyện và ngoài thi đấu nhằm góp phần nâng caohiệu quả huấn luyện và thi đấu [62]
Huấn luyện thể thao (phần quan trọng nhất của hệ thống đào tạo VĐV)
là một quá trình giáo dục chuyên môn, chủ yếu bằng các bài tập, nhằm hoànthiện các phẩm chất, năng lực, các mặt của trình độ chuẩn bị, nhằm đảm bảocho VĐV đạt thành tích cao nhất trong môn thể thao đã chọn hoặc một nội
Trang 23dung nào đó (như Kumite hay Kata trong Karatedo) Trong quá trình huấnluyện thể thao, phải thực hiện những nhiệm vụ chung và riêng nhằm làm choVĐV khỏe mạnh, có đạo đức, tư tưởng, trí tuệ tốt; phát triển thể chất cân đối,nâng cao kỹ - chiến thuật, đạt trình độ cao về các phẩm chất chuyên môn nhưthể lực, tâm lý, đạo đức, ý chí và cả những hiểu biết nhất định về lý luận vàphương pháp thể thao [62].
Thi đấu thể thao là cách thức để thể hiện những thành tích thể thao,cũng như đánh giá và so sánh những thành tích của từng VĐV hoặc đội Đócòn là biện pháp để chọn và đào tạo VĐV, tìm hiểu và phát huy những tiềmnăng của con người, hình thành nhân cách [62]
Các chức năng của thi đấu trong hệ thống đào tạo thể thao rất lớn và đadạng.Những cuộc thi đấu chính thức đòi hỏi quá trình đào tạo VĐV phải lâudài Chính nhu cầu nhằm đạt những thành tích thể thao cao nhất đã quyết địnhphần lớn cấu trúc và nội dung của toàn bộ hệ thống đào tạo
Thực tiễn hệ thống đào tạo tài năng thể thao hiện đại gồm hệ thống huấnluyện đào tạo khoa học theo quy trình công nghệ với các tính chất hệ thống,tính tiêu chuẩn, tính thời gian, tính cá thể sinh học Huấn luyện thể thao là một
hệ thống giáo dục, khống chế toàn bộ quá trình phát triển của VĐV và quátrình vận hành cả về hình thức và nội dung Đặc trưng lớn nhất là VĐV phải
có đầy đủ các mặt kể cả cá tính, tư duy đều phải qua hoạt động trực tiếp củađào tạo tài năng thể thao [18]
Tính hệ thống trong công tác quản lý thường tuân theo hình thức cơ bản
về quy luật, nguyên tắc, cấu trúc, phương pháp riêng cho từng đối tượng đàotạo mà khi vận dụng những khoa học khác vào thì phải tính toán, xem xét tínhhiệu quả và tính phù hợp [33]
Diên Phong và Philin V.P cho rằng: Quy luật TTTTC đang được hìnhthành và vận hành theo ba hóa: Hệ thống hóa - Khoa học hóa - Thương mại
Trang 24hóa, hiện đã trở thành một ngành chuyên môn mang tính nghề Để trở thànhngười tài thể thao có giá trị xã hội phải qua đào tạo hệ thống lâu dài và chuyênsâu [45], [46].
Theo nhiều nhà khoa học thể thao, nếu tìm chọn được VĐV trẻ có năngkhiếu thì coi như đã thành công một nửa trong đào tạo VĐV đó Do đó côngviệc này rất quan trọng trọng thể thao hiện đại Đào tạo từ sớm là một yêu cầubắt buộc trong huấn luyện hệ thống, nhiều năm để có được VĐV có trình độcao Cách thức huấn luyện VĐV ở từng nước có khác biệt nhưng đều giốngnhau ở chỗ bắt đầu từ sớm Nói chung, thời hạn đào tạo thành tài cho VĐVcác môn thể thao khoảng 10 năm, tuy có số ít VĐV đạt đến đỉnh cao sớm hoặcmuộn hơn một chút, hoặc cũng có sự khác biệt nhất định giữa một số môn thểthao
Về đội ngũ bác sĩ thể thao và dinh dưỡng cho VĐV.
Có thể khẳng định rằng, hiện nay ở các đội tuyển thể thao nói chungquá thiếu đội ngũ bác sĩ thể thao, hầu như chỉ có vài bác sĩ cho cả đoàn thểthao, và chủ yếu là bác sĩ của đội bóng đá
Về đào tạo bác sĩ thể thao, ở nước ta hiện chưa có trường đào tạo chínhthức và bài bản Chủ yếu là các bác sĩ học thêm chuyên khoa và học về đặcđiểm môn thể thao để trở thành bác sĩ thể thao
Một vấn đề quan trọng nữa để tạo nên chất lượng đào tạo VĐV đó làchế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng được đánh giá là 1 trong 4 yếu tố cơ bản đểtạo nên thành tích thể thao đó là: Tố chất tốt, tập luyện khoa học, thái độ thểthao đúng đắn và dinh dưỡng hợp lý [72]
Dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng để nâng cao thành tích thể thao, vànếu không được quan tâm đúng mức sẽ rất khó để đạt được thành tích thể thaomong muốn Một VĐV cần phải ăn hay uống những gì, khi nào và bao nhiêu
để có thể tác động tới tốc độ, sức mạnh, kỹ năng và thành tích nói chung Đối
Trang 25với người bình thường, vai trò của dinh dưỡng là để duy trì sức khoẻ Đối vớiVĐV họ còn cần những lợi ích khác của dinh dưỡng bao gồm nhiên liệu để trìhoãn sự mệt mỏi, cơ chế để thay đổi trọng lượng và cấu thành cơ thể, thúc đẩyquá trình hồi phục, giảm bệnh tật, ngăn ngừa giảm sút kỹ năng vận động [73].
Yêu cầu dinh dưỡng đầu tiên đối với VĐV đó là một chế độ ăn uốngcân bằng với các loại thực phẩm đa dạng và đảm bảo năng lượng tiêu thụ hàngngày Nó đòi hỏi chế độ ăn uống giầu carbohydrate và ít chất béo Nguyên tắcdinh dưỡng cho người bình thường đòi hỏi được cung cấp trên tổng lượng calolà: carbohydrates 45-65%, protein 10-35%, chất béo 20-35% Tuy nhiên, đốivới VĐV, chế độ dinh dưỡng tốt nhất đòi hỏi cung cấp 60-65% calo từcarbohydrates, 10-15% từ protein, và 20-30% từ chất béo
Trong dinh dưỡng thể thao, việc bảo đảm dinh dưỡng trong giai đoạnhồi phục đóng vai trò quan trọng thể thao đối với thành tích của một VĐV.Nếu tập luyện hay thi đấu trong một vài ngày, một chế độ ăn uống bìnhthường đủ để thay thế glycogen dự trữ Tuy nhiên, tập luyện hay thi đấu hàngngày cần chú ý yêu cầu dự trữ glycogen của cơ thể Carbohydrate đã luônđược coi là chất dinh dưỡng quan trọng nhất để hồi phục sau tập luyện, mặc
dù những nghiên cứu gần đây đã cho thấy vai trò quan trọng của protein đốivới quá trình hồi phục sau tập luyện Tầm quan trọng của năng lượng nóichung và carbohydrate đưa vào cơ thể trong chế độ ăn uống hồi phục đã đượcchỉ ra trong những nghiên cứu về hồi phục trong tập luyện sức bền, khả năngchịu đựng và trong những bài tập cường độ lớn ngắt quãng thời gian dài nhưtrong các môn thể thao đồng đội Một số tác giả khuyến cáo lượngcarbohydrate đưa vào trong cơ thể nên đảm bảo vào khoảng 1,5g/kg trọnglượng cơ thể ở các thời điểm 30 phút, 2h, 4h và 6h sau luyện tập Đối vớinhững VĐV chỉ có khoảng thời gian hồi phục vài giờ giữa các cuộc thi đấuhoặc giữa các buổi tập nên lựa chọn cách tiêu thụ một lượng carbohydrate nhỏhơn (0,4g/kg trọng lượng) Tổng lượng carbohydrate hàng ngày nên đạt tới
Trang 26khoảng 10g/kg trọng lượng Những carbohydrates có chỉ số đường huyếtcao nên được tiêu thụ trong giai đoạn hồi phục bởi chúng có tác dụng làmcho quá trình tổng hợp lại glycogen nhanh hơn trong suốt 24h đầu tiên củaquá trình hồi phục Những thực phẩm có chỉ số đường huyết cao bao gồmcác loại bánh mì, hỗn hợp ngũ cốc điểm tâm, khoai tây và nước uống thểthao
Trong những năm gần đây, các cấp lãnh đạo đặc biệt coi trọng vấn đềdinh dưỡng cho VĐV trong thời gian tập luyện cũng như trong thời gian thiđấu, từng bước cải tiến chế độ dinh dưỡng cho VĐV ngày càng bài bản vàkhoa học
Về sinh lý
Các giải pháp sinh học cũng có vai trò quan trọng trong đào tạoVĐV Ngày nay các giải pháp sinh học đạt hiệu quả rất cao, các giải phápnày đã hỗ trợ trong quy trình đào tạo và hỗ trợ HLV từ nhiều khâu như:
Tuyển chọn VĐV theo góc độ sinh học
Đánh giá trình độ tập luyện của VĐV theo các chỉ số sinh học
Đánh giá sự mệt mỏi và hồi phục trong huấn luyện và thi đấu theocác chỉ số sinh học
Vận dụng các biện pháp vật lý và sinh hóa giúp VĐV tăng nhanh hồiphục
Bổ sung dinh dưỡng cho VĐV
Về tâm lý
Trong thể thao, khái niệm huấn luyện tâm lý từ lâu đã được xem nhưmột mảng quan trọng thuộc công tác đào tạo, huấn luyện những VĐV từcấp năng khiếu tới đỉnh cao, có ý nghĩa quan trọng không kém so với huấnluyện về chuyên môn
Trang 27Thành tích thể thao đòi hỏi năng lực chịu đựng của VĐV ở mức caonhất về LVĐ LVĐ càng lớn, kích thích tác động lên cơ thể càng sâu Phảnứng với tác động càng mạnh, sự thay đổi các chức năng cơ thể càng rõ, sựthích nghi của VĐV sẽ đạt tới mức lớn nhất theo khả năng của từng người.
Do đó, VĐV phải cố gắng vượt qua chính mình, chịu đựng LVĐ cao tớigiới hạn có thể về thể chất và tâm lý
Thành tích thể thao càng được nâng cao, việc huấn luyện VĐV bêncạnh sự chuẩn bị về kỹ thuật, thể lực, chiến thuật thì việc chuẩn bị về tâm lýngày càng đóng vai trò quan trọng Khoa học thể thao hiện đại cũng nhưthực tế chứng minh ngày nay các VĐV trên thế giới có sự đồng đều về mặtthể lực, kỹ chiến thuật, hơn kém nhau, chênh lệch không bao nhiêu, yếu tốtâm lý trở thành quyết định thắng thua trong thi đấu
Các VĐV có cùng trình độ, điều kiện, chế độ tập luyện thì tâm lýcủa VĐV là yếu tố quyết định thắng thua trong thi đấu – có khi đạt tới 90%[20]
Công trình nghiên cứu của V.V.Medvedep (1983) cũng như của nhiềunhà tâm lý học đã khẳng định rằng, muốn có thành tích cao trong thi đấu thểthao ở các môn: Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, quyền Anh, vật tự do, thểdục dụng cụ, bắn súng… trong đại đa số các trường hợp VĐV phải có khíchất linh hoạt, mạnh và thăng bằng [36]
Tâm lý trong TDTT nói chung và tâm lý trong đào tạo VĐV nói riêng
có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu trong đó
có Lê Văn Xem Theo ông, giáo dục huấn luyện đào tạo phẩm chất năng lựctâm lý cho VĐV là một mắt xích quan trọng của quá trình huấn luyện đàotạo tài năng thể thao Có ba hình thức để huấn luyện tâm lý cho VĐV, đó là:chuẩn bị tâm lý chung cho VĐV, chuẩn bị tâm lý chuyên môn, chuẩn bị tâm
lý thi đấu [76], [79]
Trang 28Chuẩn bị tâm lý chung cho VĐV: là quá trình phát triển và hoàn thiệnnhững biểu hiện tâm lý đặc thù có ý nghĩa đối với hoạt động thể thao chongười VĐV nói chung Trong quá trình tập luyện tất cả những biểu hiệntâm lý chung sẽ tạo ra và củng cố các cơ chế mới trong hoạt động phản ánhcủa VĐV đó như thay đổi ngưỡng cảm giác trong các loại cảm giác, củng
cố tính ổn định của tri giác vận động, phản ứng vận động tinh tế, khôngngừng tăng lượng dự trữ năng lực tâm lý cho VĐV Chuẩn bị tâm lý chungcho VĐV mang tính chất tổng hợp Nó cần thiết cho VĐV có trình độ huấnluyện khác nhau Đặc biệt nó có ý nghĩa đối với VĐV có trình độ huấnluyện cao [76]
Chuẩn bị tâm lý chuyên môn: Huấn luyện tâm lý chuyên môn là một
hệ thống các biện pháp nhằm duy trì ở mức độ cao năng lực tâm lý củaVĐV trong giai đoạn huấn luyện thi đấu chuẩn bị cho cuộc thi đấu quantrọng Huấn luyện tâm lý chuyên môn nhằm duy trì sự hưng phấn tâm lýthần kinh, duy trì năng lực hoạt động tâm lý ở mức độ cần thiết, đặc biệt làlượng dự trữ về mọi mặt để giành chiến thắng [76]
Chuẩn bị tâm lý thi đấu: là một quá trình hình thành các phẩm chất cánhân tốt của VĐV và tạo ra trạng thái tự tin, sẵn sàng thi đấu nhằm giànhđược thành tích xuất sắc trong các cuộc thi đấu thế thao Huấn luyện tâm lýthi đấu được tổ chức và thực hiện trong suốt quán trình tập luyện, đồng thời
cả trong khi chuẩn bị trực tiếp cho một cuộc thi đấu cụ thể [76]
Huấn luyện tâm lý thi đấu có mối quan hệ hữu cơ với quá trình huấnluyện tâm lý chung và huấn luyện tâm lý chuyên môn Nếu trong quá trìnhhuấn luyện tâm lý chung những biểu hiện tâm lý chuyên môn có ý nghĩađược phát triển và hoàn thiện thì trong quá trình tâm lý thi đấu những biểuhiện tâm lý đó được bổ sung thêm chức năng phấn đấu giành thành tích thểthao cao nhất trong thi đấu [76]
Trang 29Khoa học công nghệ TDTT:
Trên thế giới các quốc gia có sự phát triển về TDTT đều xác địnhkhoa học công nghệ là động lực quan trọng để phát triển TDTT, nâng caothể chất và sức khỏe nhân dân, đưa trình độ TTTTC lên một bước phát triểnmới Những bước tiến của khoa học công nghệ TDTT trong những năm gầnđây thể hiện như sau:
Hệ thống tổ chức các cơ sở khoa học công nghệ thể dục thể thao hìnhthành và phát triển ở rất nhiều quốc gia, thường gắn liền với các Viện,trường Đại học, các TTHLTT quốc gia, các tỉnh thành lớn
Thành quả KHCN TDTT hiện đại là lý luận, giải pháp, phương phápphát triển TDTT đều có căn cứ khoa học Rất nhiều thành tựu mới về khoahọc công nghệ được ứng dụng nhanh chóng vào TDTT, không bị chậm trễnhư thế kỷ trước
Sự hợp tác về KHCN và y học thể thao phát triển mạnh hơn nhữngnăm trước đây Hội đồng khoa học và giáo dục thể dục thể thao quốc tế(International council of sport science and physical education), Hội đồng yhọc Ủy ban Olimpic quốc tế, Liên hiệp Hội y học thể thao quốc tế ngàycàng mở rộng và phát huy tác dụng quan trọng để phát triển khoa học côngnghệ và y học thể thao quốc tế Khoa học công nghệ và y học thể thao ngàycàng có tính ứng dụng cao để góp phần phát triển TDTT
Năm 1998, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục thể thao đã banhành Chỉ thị số 61/1998- CT- UBTDTT ngày 18/4/1998 về việc tăng cườngchỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình phát triển khoa học công nghệNgành Thể dục thể thao đến năm 2000
Trong Chỉ thị đã nêu lên những vấn đề sau đây:
Những việc cần giải quyết ngay trong năm 1998, chủ yếu hình thành
và ổn định hệ thống tổ chức khoa học công nghệ, định hướng nghiên cứu
Trang 30ứng dụng và tổ chức Hội nghị toàn ngành bàn về phát triển khoa học côngnghệ thể dục thể thao Trong đó đáng chú ý là quyết định thành lập Trungtâm Y học thể dục thể thao thuộc Viện Khoa học Thể dục thể thao [71].
Chương trình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ khoa học thể dục thểthao đến năm 2000, trong đó nêu lên 7 loại chuyên đề khoa học công nghệcần thực hiện Đáng chú ý có một số chuyên đề sau đây:
Nghiên cứu phương pháp tuyển chọn năng khiếu thể thao ở một sốmôn
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyên nghiệp hóa bóng đá.Xây dựng đề cương điều tra thể chất của người Việt Nam để trình phêduyệt và thực hiện
Tăng cường tiềm lực KHCN TDTT Trong đó đáng chú ý là Ủy banThể dục thể thao sớm trình Chính phủ phê duyệt kinh phí chi cho KHCNTDTT (nhưng chưa thực hiện được)
Mở rộng quan hệ quốc tế về khoa học thể dục thể thao
Khoa học công nghệ TDTT đang tích cực góp phần vào công táchoạch định chiến lược, thể chế, chính sách phát triển TDTT nước ta và đây
là nhiệm vụ quan trọng nhất của khoa học TDTT Khoa học công nghệ đã
hỗ trợ công tác quản lý ngành TDTT chuyển đổi đúng hướng từ cơ chế baocấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực thực hiệnchủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và Nhà nước ta [71]
Khoa học công nghệ TDTT đã góp phần nâng cao chất lượng TDTTquần chúng, TDTT trường học
Khoa học công nghệ TDTT và y học thể thao đã góp phần nâng caothành tích thể thao
Trang 31Cũng quan tâm đến vấn đề KHCN đối với TDTT, trong Chiến lượcphát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 có nêu “Khoa học công nghệ thểdục thể thao đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới côngtác quản lý TDTT, xây dựng đề án xã hội hóa TDTT; góp phần chăm sócdinh dưỡng, chăm sóc y học cho các VĐV quốc gia, góp phần phòng chốngDoping trong thể thao Các Đại hội thể thao quốc tế tổ chức tại Việt Namđều có sự đóng góp của y học thể thao, của công nghệ IT, kiểm tra Doping”[59].
Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ chính trị đã nhấn mạnh “ Đẩy mạnhnghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ, y học thể thao phục vụ tuyểnchọn, đào tạo vận động viên và tập luyện thể dục, thể thao vì sức khỏe củanhân dân Quan tâm công tác thông tin khoa học và chuyển giao công nghệthể dục, thể thao” [6]
Dương Nghiệp Chí và cộng sự tại Hội nghị Khoa học quốc tế phát triểnthể thao – Tầm nhìn Olympic (2012) đã đánh giá: Khoa học – công nghệthể thao và tầm nhìn đến Đại hội thể thao Olympic là hoàn toàn mới Vì từkhi thành lập ngành đến này, KHCN thể thao, y học thể thao chỉ có tầmnhìn mang tính chất chung: góp phần nâng cao thành tích thể thao Trongnhững năm qua đã làm được một số việc như: Nghiên cứu về chiến lượcphát triển ngành; Nghiên cứu về xã hội học, kinh tế học TDTT; Sử dụngcông nghệ cao nghiên cứu số ít vấn đề về sinh lý học, sinh cơ thể thao; Điềutra đánh giá thể chất từ 6 – 60 tuổi; Đề xuất đề án tổng thể phát triển thể lựcngười Việt Nam; Nghiên cứu số trình độ tập luyện của số ít vận động viên;Nghiên cứu về chấn thương, dinh dưỡng và bổ sung dinh dưỡng; Thực hiệncác giải pháp công nghệ thông tin phục vụ Sea Games 22 và AIG III; Đàotạo nghiên cứu sinh; Xuất bản tạp chí “Khoa học thể thao” Một khốilượng công việc không nhỏ của khoa học công nghệ và y học thể thao đãgóp phần phát triển ngành TDTT [7]
Trang 32đã đặt ra điều lệ mỗi 1 VĐV nếu giành huy chương ở Thế vận hội Olympic
sẽ được cấp nhà ở Đây là một trong những chính sách khích lệ rất lớn đếntinh thần thi đấu của các VĐV
1.2.2.2 Cơ sở vật chất.
Trong sự nghiệp phát triển chung của lĩnh vực TDTT, CSVC là mộtđiều kiện đảm bảo hết sức quan trọng, thậm chí đóng vai trò quyết địnhtrong phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo VĐV Không có CSVChoặc CSCV lạc hậu yếu kém thì VĐV không có điều kiện để bộc lộ hếtnăng lực khả năng của mình.Vì vậy không có CSVC thì không thể pháttriển TTTTC
CSVC, các trang thiết bị là phương tiện phục vụ đắc lực cho sự pháttriển TDTT Có CSVC đầy đủ là yếu tố thuận lợi tạo điều kiện tốt cho cáchoạt động TDTT nói chung và các đối tượng tham gia hoạt động TDTT nóiriêng Khi CSVC không có hoặc xuống cấp, thì chất lượng hoạt động củaTDTT cũng giảm theo dù cho người tham gia tập luyện rất cố gắng và khắcphục
Bởi luyện tập TDTT mà thiếu địa điểm và dụng cụ luyện tập là khôngthiết thực Muốn thực hiện được các hoạt động TDTT thì bắt buộc phải giảiquyết được vấn đề về cơ sở chất chất kỹ thuật cho TDTT Có CSVC tốt,chúng ta sẽ có điều kiện để phát hiện, tuyển chọn, đào tạo các VĐV tàinăng Đồng thời có CSVC hiện đại mới có thể tổ chức và đáp ứng được các
Trang 33cuộc thi đấu lớn của quốc gia và quốc tế Vì vậy, CSVC kỹ thuật TDTTluôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của lĩnh vực TDTT.
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng làm cơ
sở chính trị và pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sự nghiệpTDTT nói chung và xây dựng CSVC nói riêng, như Chỉ thị 133-TTg ngày7/3/1995, Chỉ thị 274/TTg ngày 27/4/1996, Quyết định 57/2002/ QĐ-TTgngày 26/4/2003, Quyết định 100/2005/QĐ-TTg ngày 10/5/ 2005…, Chỉ thị17/CT-TW ngày 23/10/2003 của Ban Bí thư trung ương Đảng, cùng nhiềucác văn bản khác của ngành và các ngành có liên quan khác
Trong Nghị quyết 08/2011/NQ-TW, Bộ Chính trị đã nhấn mạnh
“ ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vậnđộng viên thể thao thành tích cao” [6] Điều 31, Luật Thể dục, thể thao quyđịnh “ Nhà nước có chính sách phát triển thể thao thành tích cao, đầu tưtập trung xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại ” [50] Quyếtđịnh 2198/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: “Tiến hànhchuẩn hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ thi đấu thể thaoquốc gia và quốc tế, tập huấn đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia, đào tạo vậnđộng viên cấp cao, vận động viên trẻ cấp tỉnh và ngành” [59]
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Ngành TDTT, TDTT Thủ đô
Hà Nội đang sở hữu một hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, đó là Trung tâmđào tạo VĐV cấp cao Hà Nội Trung tâm được xây dựng tại xã Mỹ Đình(huyện Từ Liêm) trên diện tích 55 hécta với tổng kinh phí xây dựng ước1.200 tỷ đồng Trung tâm được trang bị đồng bộ, hiện đại với chu trìnhkhép kín: ăn - ở - tập luyện - học tập thực sự chuyên nghiệp, có 7 khu tậpluyện đạt tiêu chuẩn quốc tế Các cơ sở vật chất của trung tâm có thể phục
vụ cho khoảng 1.200 VĐV cấp cao của Hà Nội và các tỉnh thành trong cảnước đến tập huấn, tập luyện
Trang 34Hệ thống các công trình của Trung tâm gồm: các nhà luyện tập chuyênmôn của các môn thể thao như: Judo, Bóng ném, Bóng chuyền, Vật, Bóng rổ,Karate, Wushu - Kiếm nhà ăn 1.500 chỗ; hội trường lớn; câu lạc bộ 500 chỗ;trung tâm y học phục hồi sức khỏe với 50 giường; khu nhà ở 5 tầng cho huấnluyện viên, vận động viên; khu nhà điều hành và trụ sở 30 liên đoàn thể thao
và 30 câu lạc bộ thể thao của thành phố Hà Nội [18]
1.2.2.3 Công tác tổ chức quản lý.
TDTT là một hệ thống, là một bộ phận hợp thành của một “hệ thống
xã hội” thống nhất, nên hệ thống tổ chức quản lý đào tạo VĐV phải phảnánh những đặc trưng của hệ thống xã hội, bao gồm các mục tiêu, chức năng,cấu trúc và cơ chế quản lý Hệ thống tổ chức quản lý đào tạo VĐV hìnhthành dựa trên cơ sở của quy luật phát triển thành tích thể thao, là quá trìnhhuấn luyện nhiều năm được chia thành các giai đoạn có đặc trưng hệ thốngliên tục và kế thừa Quản lý quá trình đào tạo dài hạn VĐV được xem xétnhư tổng thể các phương tiện, phương pháp lãnh đạo toàn bộ quá trình vàcác bộ phận hợp thành của nó [56]
Hệ thống tổ chức quản lý đào tạo VĐV được xây dựng trên cơ sở sau:
Đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Mục tiêu phát triển TDTT của quốc gia và của địa phương
Tiềm năng kinh tế - xã hội và thực trạng công tác đào tạo VĐV cảnước nói chung và địa phương nói riêng
Tiếp thu chọn lọc những kết quả của công tác đào tạo VĐV thời giantrước đồng thời định hướng cách làm nhằm khai thác tiềm năng để pháttriển thể thao thành tích cao ở các địa phương
Kết hợp giữa phản ánh thực tại, mang tính khả thi với tính dự báo và
xu hướng phát triển
Trang 35Quy trình quản lý đào tạo VĐV
Hình thức các loại tổ chức
đào tạo
Theo Hoàng Vĩnh Giang, hệ thống tổ chức quản lý đào tạo VĐVđược chia theo 2 hệ thống, đó là “Hệ thống trong” và “Hệ thống ngoài” Hệthống trong là một hệ thống gồm tất cả các bộ phận cùng kiểu quan hệ đồngnhất nằm trong một cơ cấu và cùng hướng tới giải quyết một mục tiêuchung là đào tạo tài năng thể thao Hệ thống ngoài, được xét theo góc độcủa hệ thống tổ chức quản lý đào tạo cả nước Nghiên cứu lý luận và thựctiễn cho thấy, hệ thống tổ chức quản lý đào tạo VĐV là một tổng thể baogồm các thành tố quan hệ lẫn nhau nhằm thực hiện chức năng tổ chức quản
lý đào tạo VĐV [18]
Các thành tố của hệ thống tổ chức quản lý đào tạo VĐV và mối quan
hệ giữa chúng được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống quản lý đào tạo VĐV [18]
Cơ sở lý thuyết về quản lý đã xác định bất kỳ hệ thống quản lý nàocũng đều phải có mục tiêu cần hướng tới và trong công tác quản lý đào tạocũng vậy
Mục tiêu chung:
Trang 36Hệ thống tổ chức nhà nước trong hệ thống quản lý, đào tạo
VĐV.
Sở Văn hóa, Thể thao và
Hệ thống loại hình tổ chức đào tạo VĐV: Nằm trong hệ thống quản lý
tổ chức đào tạo VĐV, hệ thống các tổ chức quản lý đào tạo VĐV gồm 3 cấp
độ quản lý:
Hệ thống tổ chức nhà nước trong hệ thống quản lý, đào tạo VĐV
Hệ thống tổ chức xã hội trong hệ thống quản lý đào tạo VĐV
Hệ thống tổ chức quản lý đào tạo VĐV ở cơ sở (trung tâm TDTT)
Sơ đồ 1.2: Hệ thống tổ chức Nhà nước trong quản lý, đào tạo VĐV [18].
Trang 37Trung tâm TDTT quận, huyện
Các CLB TDTT trường học
Các CLB TDTT cơ sở
Các lớp năng khiếu thể thao Các đội trường học Các lớp thể thao ngoại khóa Các CLB TDTT trực thuộc Các CLB TDTT phối hợp Các CLB TDTT tư nhân
Liên đoàn các môn thể thao
Các CLB TDTT tư nhân
Các CLB TDTT liên doanh liên kết
Các CLB TDTT các
cơ sở tập luyện ở các khu vui chơi giải trí
Các CLB TDTT cơ
sở (cơ quan, công ty)
Các đội thể thao của ban ngành, đoàn thể
Sơ đồ 1.3: Hệ thống tổ chức xã hội trong quản lý đào tạo VĐV[18].
Sơ đồ 1.4: Tổ chức của trung tâm TDTT quận, huyện [18].
1.2.2.4 Kinh phí đầu tư: Kinh phí đầu tư có vai trò như là một trong
những yếu tố quyết định của hiệu quả đào tạo VĐV đó là nguồn kinh phí đầu
tư cho TDTT nói chung và thể thao thành tích cao nói riêng Nếu không cókinh phí sẽ không thể phát triển TDTT một cách toàn diện Với các nước pháttriển, thể thao là một ngành kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Trong khi
ở nước ta, thể thao gần như chỉ sống bằng “bầu sữa” ngân sách Sự khác biệt
Trang 38này cũng là nguyên nhân chính, là cái gốc dẫn đến sự khác biệt về thành tíchthể thao đỉnh cao
Điều 31 của Luật Ngân sách Nhà nước có quy định về chi thường xuyêncủa Trung ương như sau “Các hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế,
xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, TDTT, khoa học và công nghệ,môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơ quan trung ương quảnlý”; Điều 33 cũng quy định về chi thường xuyên của địa phương “Các hoạtđộng sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tinvăn học nghệ thuật, TDTT, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động
sự nghiệp khác do địa phương quản lý” [49]
Tại Điều 2 của Nghị định 112/2007/NĐ-CP của Chính phủ nhấn mạnh:
“Ngân sách nhà nước chi cho thể dục, thể thao được bố trí tăng dần hàngnăm; phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước và yêu cầu pháttriển sự nghiệp thể dục, thể thao Việc lập dự toán, phân bổ và quản lý Ngânsách nhà nước chi cho thể dục, thể thao được thực hiện theo quy định củaLuật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Ngânsách Nhà nước [58]
Quan điểm thứ 2 trong Nghị quyết 08/2011/NQ-TW của Bộ Chính trịnêu rõ “Đầu tư cho thể dục thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triểncủa đất nước Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất thể dục, thể thao và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao;đồng thời phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển thể dục, thể thao,phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành cáchoạt động thể dục, thể thao” [6]
Từ sự phân tích trên cho thấy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến côngtác đào tạo VĐV Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi tập trung vào
Trang 39bốn yếu tố chính mà nếu một trong số những yếu tố này không được quan tâmđầu tư đúng mức sẽ làm giảm và hạn chế hiệu quả của quá trình đào tạo VĐV.
1.3 Quy trình đào tạo vận động viên.
1.3.1 Quy trình đào tạo và sự phân chia quá trình huấn luyện nhiều năm thành các giai đoạn huấn luyện với các mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau.
Việc chuẩn bị lực lượng VĐV một cách có hệ thống, nhiều năm nhằmhướng tới thành tích thể thao cao nhất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Quá trìnhhuấn luyện dài hạn bao gồm việc đào tạo các VĐV từ lúc bắt đầu tham gia tậpluyện ở lứa tuổi thiếu niên, thanh niên tới khi trở thành các VĐV có trình độcao Sự phát triển trình độ thành tích thể thao hiện đại, đòi hỏi phải tổ chứcquá trình đào tạo VĐV theo kế hoạch dài hạn và có định hướng, trong đó phải
áp dụng những hình thức, phương tiện và phương pháp giảng dạy huấn luyện
có hiệu quả cao, phải luôn hoàn thiện cơ sở tổ chức - phương pháp cho hệthống đào tạo lực lượng hậu bị thể thao; phải nghiên cứu nghiêm túc và sửdụng một cách có hiệu quả các số liệu thu được trong quá trình đào tạo Những nhiệm vụ này tương đối phức tạp và khó khăn, trước yêu cầu đẩy mạnhtiến bộ khoa học trong lĩnh vực thể thao thanh - thiếu niên hiện nay
Sự phân chia giai đoạn trong quy trình huấn luyện nhiều năm:
Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối vì thực chất đặc điểmquan trọng nhất của hệ thống này là tính kế thừa và tính liên tục Căn cứ khoahọc chủ yếu của sự phân định trên là dựa vào sự phát triển sinh học tự nhiêncon người và quy luật hình thành và phát triển thành tích thể thao
Mặc dù có sự thống nhất cao về quan điểm huấn luyện nhiều năm, songcác nhà lý luận trong và ngoài nước đã có những cách phân chia giai đoạnhuấn luyện khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận vấn đề (bảng 1.1)
Bảng 1.1 Phân chia giai đoạn theo quy trình đào tạo vận động viên
Trang 40Tác giả Các giai đoạn đào tạo
L.P Matveep Giai đoạn chuẩnbị sơ bộ Giai đoạn chuẩn bị cơ sở Giai đoạn hoànthiện sâu
Giai đoạn tuổi thọ thể thao
D Harre
Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ
Giai đoạn huấn luyện vận động viên cấp cao
Giai đoạn huấn luyện ban đầu
Giai đoạn huấn luyện chuyên môn hóa
Giai đoạn đạt thành tích thể thao tột đỉnh
Giai đoạn duy trì thành tích thể thao
Giai đoạn duy trì trình độ tập luyện
Nguyễn Thế
Truyền
Giai đoạn phát hiện năng khiếu thể thao
Giai đoạn đào tạo tài năng
Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ thường bắt đầu từ tuổi học sinh cấp I
từ 6-11 tuổi (và sớm hơn nữa trong một số môn thể thao) và chuyển sang giaiđoạn tiếp theo khi nào lựa chọn được môn Chuyên sâu thể thao Mục tiêu củagiai đoạn chuyên môn hoá bước đầu là tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượngcho những thành tích tương lai Đảm bảo sự phát triển toàn diện và cân đốicủa cơ thể, nâng cao trình độ chung của những khả năng chức phận của cơ thể,làm phong phú thêm những kỹ năng và kỹ xảo vận động cho vận động viên,hình thành cơ sở của sự điêu luyện thể thao