1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình

105 469 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 4,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ thuật trường quay trong truyền hình file slide thuyết trình, luận văn bảo vệ đồ án tốt nghiệp trường truyền hình. Đồ án tốt nghiệp của sinh viên được hướng dẫn khoa học. Tham khảo thêm xin liên hệ với chủ tài khoản sdt 0868408806 Nhận làm slide thuyết trình bài tập lớn, đồ án tốt nghiệp theo yêu cầu giá cả thỏa thuận

Trang 2

BẢNG DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang 3

ACN Architecture for Control

Network

Kiến trúc điều khiển mạng

AES Audio Engineering Society Hiệp hội kỹ thuật âm thanh

CCD Charge Coupled Divice Thiết bị ghép điện tích

CMOS Complemetory Metal Oxide

Semiconductor

Chất bán dẫn kim loại ôxit bù

CPU Central Processing Unit Bộ xử lý trung tâm

DVD Digital Versatile Disk Đĩa đa năng kỹ thuật số

EBU European Broadcasting Union Hiệp hội phát thanh Châu Âu

EFP camera Electric Field Production

camera

Camera sản xuất hiện trường

ENG camera Electronic News Gathering

camera

Camera thu thập tin tức điện tử

ESS system Electronic Still Store (ESS)

system

Hệ thống lưu trữ điện tử tĩnh

HDTV High-Definition Television Truyền hình độ phân giải cao

Trang 4

HDTV

camera

Camera truyền hình độ phân giải cao

HID lamps High Intensity Dischange lamps Đèn phóng điện mật độ cao

cao

LCD Liquid Crystal Display Màn hình tinh thể lỏng

MPEG Moving Picture Experts Group Nhóm chuyên gia nén ảnh động

ND filter Neutral Density filter Bộ lọc mật độ trung tính

PCR Production Control Room Phòng điều khiển sản xuất

RDM Remote Device Managemant Quản lý thiết bị từ xa

SDI Serial Digital Interface Giao diện số

SDTV Standard Definition TV Truyền hình độ phân giải tiêu

chuẩnS/N Signal to Noise ratio Tỷ số tín hiệu trên nhiễu

Trang 5

SV: Bùi Mạnh Đức 5 Trường: ĐHBK Hà Nội

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cuộc cách mạng truyền hình quả thật đã chiếm được tình cảm của công chúng Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng đem lại hiệu quả tuyên truyền hết sức to lớn, là người bạn gần gũi, thân thiết của mọi gia đình

Truyền hình có sức hấp dẫn hơn hẳn các loại hình báo chí khác vì truyền hình có một đặc thù đó là hình ảnh Đây là điểm mạnh mà không một loại hình truyền thông nào có được

Sản phẩm của truyền hình là các chương trình truyền hình phong phú, đa dạng luôn phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người xem nên ngay từ khâu sáng tác kịch bản, đạo diễn chương trình đã phải cân nhắc, lựa chọn các yêu cầu về nghệ thuật để có thể tạo ra được các chương trình truyền hình mới mẻ, hấp dẫn, hình ảnh phong phú đồng thời phải cập nhật nhanh nhất các thông tin trong nước và quốc tế

Để đạt được điều này, ngoài vấn đề về nội dung, kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng Trong đó việc sử dụng kỹ thuật để sản xuất các chương trình truyền hình là một công đoạn không thể thiếu được trong các trung tâm truyền hình Kỹ thuật được sử dụng để sản xuất ra các chương trình truyền hình thì chủ yếu nằm trong trường quay

Vì vậy, việc nghiên cứu về “Kỹ thuật trường quay trong truyền hình” là rất

cần thiết và cấp bách để giúp cho những người tham ra sản xuất truyền hình có thể vận hành, khai thác, bảo dưỡng, nâng cấp và thiết kế trường quay tốt nhất nhằm tạo

ra những sản phẩm truyền hình có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của xã hội

Hiện nay khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình đang phát triển rất mạnh Chúng ta đang tiến dần tới thế giới của sự số hoá Xử lý số tín hiệu

Trang 7

truyền hình cho ra các sản phẩm truyền hình đạt tới chất lượng đỉnh cao Mặt khác, các kỹ thuật viên truyền hình thường không được đào tạo chuyên sâu về trường quay trong truyền hình nên khi vận hành, khai thác, bảo dưỡng trường quay gặp rất nhiều khó khăn

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Trang bị kiến thức cơ bản và nâng cao trong lĩnh vực truyền hình Giúp những người công tác trong ngành truyền hình có thể làm việc độc lập được, đồng thời tiếp cận được công nghệ mới trong ngành

Nâng cao khả năng nghiên cứu, ứng dụng cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong

ngành phát thanh - truyền hình về lĩnh vực “ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình”.

Trang bị cho sinh viên ngành phát thanh - truyền hình những kiến thức cơ bản về hệ thống trường quay: các thiết bị trường quay; thiết kế, lắp đặt hệ thống trường quay; vận hành, khai thác hệ thống trường quay; bảo trì, bảo dưỡng nâng cấp, sủa chữa hệ thống trường quay

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Các thiết bị trường quay

- Thiết kế, lắp đặt trường quay trong truyền hình

- Vận hành hệ thống trường quay trong truyền hình

- Bảo dưỡng hệ thống truyền quay trong truyền hình

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Thu thập tài liệu liên quan đến trường quay

- Khảo sát thực tế trường

- Phân tích - tổng hợp kiến thức

- Biên soạn

- Hoàn thành đề tài “Kỹ thuật trường quay trong truyền hình”

Trang 8

5 BỐ CỤC ĐỒ ÁN

Toàn bộ nội dung của Đồ án được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về trường quay.

Chương 2: Thiết bị trường quay trong truyền hình.

Chương 3: Thiết kế, lắp đặt, vận hành, khai thác và bảo dưỡng trường quay

trong truyền hình

Trang 9

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG QUAY

1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Vai trò của trường quay

Trường quay là một sự kết hợp các hệ thống trang thiết bị để sản xuất ra các sản phẩm truyền hình hay phim ảnh với mục đích: hoặc là cho truyền hình trực tiếp, để ghi trực tiếp vào băng hoặc cho việc mua bán cảnh phim để sản xuất hậu kỳ Quá trình thiết kế của các studio là giống nhau và có nguồn gốc từ các hãng phim với một vài sửa đổi cho các yêu cầu đặc biệt của sản xuất truyền hình Một studio truyền hình chuyên nghiệp thường có nhiều phòng, được lưu giữ riêng biệt vì lý do tiếng ồn và lý do thiết thực Các phòng đều được kết nối thông qua hệ thống liên lạc

và nhân viên sẽ được phân chia giữa các nơi làm việc

Hệ thống trường quay là hệ thống không thể thiếu trong Truyền hình cũng như trong điện ảnh Một chương trình Truyền hình hoặc một bộ phim chất lượng thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan trọng nhất chính là hệ thống trường quay Một trường quay tinh vi, phức tạp sẽ đáp ứng được tất cả các ý tưởng và sự sáng tạo của đạo diễn và nó tạo ra được chất lượng hình ảnh, âm thanh cao

Mục đích sử dụng của trường quay

Mục đích chính của trường quay là: sản xuất các chương trình truyền hình như: news (tin tức, thời sự); talk show (đàm thoại); games show (trò chơi); live show (biểu diễn) vv và sản xuất phim ảnh như: phim tài liệu; phim truyền hình vv

Trang 10

2 MÔ HÌNH TỔNG QUÁT CỦA HỆ THỐNG TRƯỜNG QUAY:

Phòng kỹ thuật đường hình

Phòng biên tập (Phòng dựng)

Phòng truyền dẫn

Phòng đồ họa

Trang 11

Hình 1.1: Mô hình tổng quát của hệ thống trường quay

Trong trường quay nói chung, thường tối thiểu có các phòng: Trường quay hay còn gọi là phòng thu hình; Phòng kỹ thuật đường hình; phòng thu âm; phòng kỹ thuật đường tiếng; phòng biên tập; phòng đồ họa và phòng truyền dẫn

+ Trường quay: Còn được gọi là phòng thu hình thường là phòng có diện tích lớn nhất Phòng này được xây dựng sân khấu, ghế ngồi khán giả vv và được trang

bị các hệ thống: hệ thống chiếu sáng; hệ thống camera; hệ thống micro thu lời và phỏng vấn; hệ thống trang âm; hệ thống nhắc lời vv để thực hiện các chương trình + Phòng kỹ thuật đường hình: Còn được gọi là phòng PCR (Program Control Room) hay phòng điều khiển phòng thu (SCR: studio control room) hau phòng máy Trong một số trường hợp, phòng này còn được gọi là phòng tổng khống chế Phòng này được trang bị các hệ thống: hệ thống điều khiển camera phòng ghi (CCU); bộ trộn Video (Video mixer); bộ trộn Audio (Audio mixer); hệ thống ghi (Recorder); các bộ chuyển đổi tín hiệu (Convertor); các bộ phân chia tín hiệu (Distributor) và các thiết bị phụ trợ (máy tạo chữ; máy đồng bộ; monitor và loa; hệ thống liên lạc Intercom ) để thực hiện xử lý và thu các chương trình

+ Phòng thu âm: Các hệ thống trường quay trong phát thanh, truyền hình, điện ảnh, sản xuất băng đĩa nhạc thường có phòng thu âm chuyên dụng để tạo ra nguồn

Trang 12

âm thanh chất lượng cao Phòng thu âm thường được trang bị hệ thống micro thu

âm chuyên dụng và hệ thống trang âm

+ Phòng kỹ thuật đường tiếng: Để xử lý và thu âm thanh, thường được trang bị:

Bộ trộn âm thanh chuyên dụng (Audio mixer); bộ ghi (Recorder); bộ chia audio; bộ tạo âm thanh điện tử và hệ thống kiểm thính

+ Phòng biên tập: Còn được gọi là phòng sản xuất hậu kỳ Dùng để sản xuất ra những chương trình hoàn chỉnh Phòng này được trang bị: máy dựng hình; bộ chia tín hiệu video và audio; hệ thống monitor và loa kiểm tra

+ Phòng đồ họa: Để tạo ra các chữ và đồ họa cho chương trình Phòng này thường được trang bị: máy làm đồ họa (thường là máy tính cấu hình mạnh); thiết bị thiết kế đồ họa; hệ thống lưu trữ truy suất; hệ thống lưu trữ tập chung; các bộ chuyển đổi và các phần mềm đồ họa chuyên dụng

Trong thực tế, tùy theo mục đích sử dụng và nhu cầu thực tế mà mỗi đài phát thanh

và truyền hình sẽ sử dụng những mô hình trường quay khác nhau Nhưng tối thiểu vẫn phải đảm bảo đủ số phòng như trên Trong thực tế, mỗi một hệ thống trường quay thường phải có thêm các phòng: phòng điều khiển ánh sáng; phòng hóa trang; phòng đạo cụ; phòng khai thác; phòng quảng cáo; phòng lưu trữ; phòng họp vv

3 PHÂN LOẠI TRƯỜNG QUAY

Trong thực tế, trường quay có rất nhiều chủng loại với các kích cỡ, hình dáng và mục đích sử dụng khác nhau Chúng ta có thể phân loại trường quay truyền hình ra các chủng loại sau:

Trang 13

- Phân loại theo kích cỡ: có 3 loại

CHƯƠNG II: THIẾT BỊ TRƯỜNG QUAY TRONG TRUYỀN HÌNH

Trang 14

1 HỆ THỐNG ĐÈN CHIẾU SÁNG

Cũng giống như mắt người, máy ảnh không thể nhìn thấy mà không có một lượng ánh sáng nhất định Bởi vì nó không phải là đối tượng mà chúng ta nhìn thấy thực nhưng ánh sáng phản xạ của chúng thì quan sát được, điều khiển ánh sáng chiếu trên các đối tượng ảnh hưởng đến cách chúng ta cảm nhận được chúng trên màn hình Thao tác như vậy được gọi là chiếu sáng

khoảng cách từ khu vực được thắp sáng và chùm sáng hay vùng góc của các vật cố định, màu sắc và chất được thắp sáng và quang học nơtron của tổng cảnh (có nghĩa

là tương phản tương đối với các vùng khác của ánh sáng)

- Màu sắc

Nhiệt độ màu được đo bằng kelvin và gel màu được tổ chức bởi một số hệ thống khác nhau được duy trì bởi các công ty sản xuất màu Các màu sắc rõ ràng của ánh sáng được xác định chủ yếu bởi các gel màu cho nó, nhưng cũng một phần bởi mức công suất các bóng đèn đang được chạy và màu sắc của vật liệu phát ánh sáng Khi tỷ lệ phần trăm của toàn bộ công suất đèn đang được chạy bị giảm xuống thì dây tóc vonfram trong bóng đèn sẽ phát sáng gần như màu cam thay vì màu trắng Điều này được gọi là trôi hổ phách hoặc thay đổi màu hổ phách Vì vậy một đèn 1000W chạy ở mức 50% sẽ xuất hiện màu cam nhiều hơn so với một đèn 500W chạy hết công suất

Trang 15

Phụ kiện ghép LED tạo ra màu sắc thông qua các phụ gia pha trộn màu với đèn LED màu đỏ, xanh lá cây, và màu xanh dương ở những cường độ khác nhau Đây là loại pha màu cũng được sử dụng thường xuyên với ánh sáng viền và đèn màn vây

để tạo ra màu sắc khác nhau trên sân khấu và trên màn vây

+ Thứ hai, các chi tiết cụ thể về cách đèn được hội tụ ảnh hưởng đến dạng mẫu của nó Trong đèn chiếu phản xạ hình elip (ERS) hay đèn biên dạng thì có hai chùm ánh sáng phát ra từ đèn

+ Cuối cùng, một màn chắn hoặc gỡ bỏ hình mẫu có thể được áp dụng cho các ERS và dụng cụ tương tự Màn chắn thường là một tấm kim loại mỏng cắt thành hình dạng của nó Nó được đưa vào dụng cụ gần khẩu độ của nó Màn chắn có nhiều hình dạng nhưng thường bao gồm: lá, sóng, các ngôi sao và các mẫu tương tự

Trang 16

1.2 Hội tụ, định vị và treo

Hình 2.1: Nhiều đèn sân khấu treo trên một thanh để hội tụ vào

một số hướng

- Hội tụ là một thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả một nơi nào đó sẽ

được tập trung tới Sự tập trung cuối cùng nên đặt là "điểm nóng" của chùm tia ở mức đầu của diễn viên khi đứng ở trung tâm của chỉ định dụng cụ "khu vực hội tụ" trên sân khấu

- Định vị đề cập đến vị trí của một công cụ trong hệ thống khoang trên đầu

sân khấu hoặc trên đường ống cố định tại các vị trí mặt trước của nhà

- Treo là việc đặt các dụng cụ ở vị trí được chỉ định.

1.3 Thiết bị chiếu sáng

Có bốn loại ánh sáng cơ bản được sử dụng trong truyền hình Đó là ánh sáng điểm, ánh sáng rộng, ánh sáng chiếu và tán xạ

Ánh sáng điểm có một chùm hẹp để khuôn bóng dễ phân biệt

Trang 17

Ánh sáng rộng là một ánh sáng hình chữ nhật có một chùm hơi rộng hơn và khuôn bóng nhẹ nhàng hơn

Ánh sáng chiếu sẽ chiếu sáng một khoảng rộng, thậm chí chiếu sáng rộng trong một mẫu hình tròn với các bóng khuếch tán

Ánh sáng mềm (còn được gọi là một "bathtub") là một mảng ánh sáng phản xạ màu trắng bên trong của một chiếc hộp lớn Được sử dụng để chiếu sáng nền chung, bathtub tạo ra bóng hầu như không đáng kể

Trang 18

Cường độ và độ rộng chùm sáng điểm và một số ánh sáng khác có thể được điều chỉnh bằng cách di chuyển đèn về phía trước hoặc phía sau ở trong vỏ bọc đèn Khi chùm tia hẹp thì cường độ đèn bị chụm vào Khi chùm tia rộng và khuếch tán nhiều hơn thì đèn được trải ra Không phải tất cả các đèn có điều chỉnh này.

Hầu hết các đèn đều có thể được trang bị "cửa ", đó là nắp kim loại màu đen gắn chặt vào mặt trước của nhà đèn Những nắp này được sử dụng để giữ cho ánh sáng không lọt qua những nơi không mong muốn Sử dụng cửa là quan trọng nhất trong chiếu sáng nền vì nó có thể gây ra ánh sáng lóe ở ống kính gây khó chịu nếu chúng chiếu trực tiếp lên ống kính máy ảnh

Lưới chặn là các đĩa đặc biệt của dây màn che, có thể được sử dụng để làm mềm ánh sáng và giảm nhỏ cường độ của ánh sáng Có thể hai hoặc nhiều lưới chặn được

sử dụng trong cùng một đèn để tăng hiệu quả, nhưng lưới chặn một nửa hoặc lưới chặn mật độ thay đổi được cũng có thể được sử dụng để làm mềm chọn lọc ánh sáng Lưới chặn cũng có thể được sử dụng trong các đèn không có nắp đậy bảo vệ hoặc ống kính để chặn các mảnh vụn trong trường hợp bóng đèn phát nổ; các vụ nổ

Đèn và hộp chứa trở nên cực kỳ nóng khi chúng đang được sử dụng Đèn nóng nên chỉ được xử lý với găng tay bảo vệ để phòng ngừa bỏng

Ánh sáng truyền hình mạnh hơn rất nhiều so với ánh sáng đèn sợi đốt bình thường Chúng nằm trong khoảng từ 25 watt đối với đèn máy ảnh dùng điện một chiều lên đến cao nhất là 5.000 watt Đèn chiếu sáng sử dụng để thu thập tin tức

Trang 19

điện tử (ENG) hoặc sản xuất trường điện tử (EFP) bình thường nằm trong khoảng

từ 500 đến 1000 watt cho mỗi loại

Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể sử dụng hệ thống đèn chiếu di động có thể được cắm vào các ổ cắm điện gia dụng thông thường

Hình 2.2: Hệ thống đèn chiếu sáng di động

Trong thực tế hiện nay, có rất nhiều trường quay cũ vẫn đang sử dụng đèn chiếu ánh sáng nóng còn các trường quay mới thường chuyển sang đèn chiếu ánh sáng lạnh

1.4 Điều khiển ánh sáng

Công cụ điều khiển ánh sáng tốt nhất có thể được mô tả như là bất cứ những thay đổi gì về chất lượng của ánh sáng Trong lịch sử, công cụ này đã được thực hiện bằng cách điều khiển cường độ ánh sáng Tiến bộ công nghệ đã thực hiện điều khiển cường độ tương đối đơn giản - các bộ dimmer trạng thái rắn được điều khiển bởi một hoặc nhiều bộ điều khiển ánh sáng Các bộ điều khiển thường có bảng điều khiển chiếu sáng được thiết kế để điều khiển tinh vi rất nhiều các bộ dimmer hoặc

bộ đèn Bảng điều khiển cũng được gọi là bàn làm việc ánh sáng hay ban ánh sáng

Trang 20

Đối với các chương trình hoặc cài đặt lớn hơn thì nhiều bàn điều khiển thường được sử dụng chung với nhau và trong một số trường hợp thì các bộ điều khiển chiếu sáng được kết hợp hoặc phối hợp với bộ điều khiển âm thanh để tạo cảnh quan tự động, pháo hoa và các hiệu ứng khác để cung cấp tự động hóa cho toàn bộ chương trình.

Các bộ điều khiển chiếu sáng được kết nối với các dimmer (hoặc trực tiếp đến bộ đèn tự động) bằng cách sử dụng một dây cáp điều khiển hoặc liên kết không dây (ví

dụ như DMX512) hoặc mạng để cho phép các dimmer cồng kềnh, nóng và đôi khi

ồn ào được bố trí đi từ sân khấu đến khán giả và cho phép các bộ đèn tự động được đặt ở bất cứ nơi nào cần thiết Ngoài ra, DMX512 có các kết nối điều khiển mới bao gồm: RDM (thiết bị quản lý từ xa); quản lý thông tin phản hồi và tình trạng các thiết

bị sử dụng nó trong khi vẫn duy trì khả năng tương thích với DMX512; Kiến trúc điều khiển mạng (ACN) có đầy đủ tính năng nhiều bộ điều khiển giao thức mạng Điều này cho phép khả năng thông tin phản hồi vị trí, trạng thái hoặc nguyên nhân lỗi từ các bộ phận trong khi vẫn cho phép điều khiển nhiều chi tiết về chúng

Dimmer là một thiết bị được sử dụng để thay đổi năng lượng điện cung cấp cho đèn chiếu sáng Khi công suất của đèn giảm thì ánh sáng sẽ mờ dần hoặc tối dần Điều quan trọng cần lưu ý là một số thay đổi màu sắc cũng xảy ra khi đèn mờ đi, khi đó sẽ có một số hạn chế nhất định khi điều khiển màu sắc thông qua dimmer

Mờ dần có thể là UP hoặc DOWN tức là tăng hoặc giảm cường độ Ngày nay, hầu hết các dimmer đều ở trạng thái rắn, mặc dù còn nhiều bộ dimmer cơ khí vẫn còn tồn tại

Hình 2.3: Một cặp dimmer hiện đại 2,4 kW

Trang 21

Các bộ Dimmer thường được đặt trong kệ lớn, tiêu thụ một lượng lớn năng lượng điện ba pha Các dimmer chính thường là các mô-đun có thể tháo rời Mỗi bộ từ 20 ampe, 2,4 kilowatt đến 50 ampe hoặc thậm chí 100 ampe Chúng thường có thể được thay thế bằng một mô-đun điện không đổi (CPM) 20 hoặc 50 ampe ngắt trong một vỏ bọc mô-đun mờ

Với sự phát triển của công nghệ số, các thiết bị chiếu sáng hiện đại đều có sẵn chức năng điều khiển từ xa không chỉ cường độ mà còn màu sắc, hướng, hình dạng, hình ảnh được trình chiếu, góc chùm tia và vô số các hiệu ứng khác Khả năng di chuyển một công cụ nhanh hơn và êm hơn đã trở thành mục tiêu công nghiệp Chiếu sáng tự động thường xuyên được xây dựng để làm mờ và cũng được kết nối trực tiếp tới cáp điều khiển hoặc mạng và độc lập với các bộ dimmer bên ngoài

2 HỆ THỐNG THIẾT BỊ TRƯỜNG QUAY

2.1 Máy quay (camera)

Một máy quay video chuyên nghiệp (thường được gọi là một máy quay truyền hình) là một thiết bị cao cấp dành cho việc tạo ra hình ảnh động điện tử (nhưng trái ngược với một máy quay phim mà ghi lại hình ảnh trên phim) Ban đầu, nó được phát triển để sử dụng trong các trường quay truyền hình, ngày nay nó thường được

sử dụng cho video công ty và giáo dục, video âm nhạc và trực tiếp đến phim ảnh

Có hai loại máy quay video chuyên nghiệp: camera xách tay cao cấp là các camera có chức năng ghi (chủ yếu là máy quay cao cấp) sử dụng cho việc thu thập hình ảnh ENG và EFP, và camera trường quay mà không có khả năng ghi âm của một máy quay, loại này thường cố định trên bệ studio Camera xách tay chuyên nghiệp nói chung là lớn hơn nhiều so với camera dân dụng và được thiết kế để mang trên vai

a

Lịch sử

Trang 22

Camera trường quay truyền hình lúc ban đầu: Là hộp màu xám, bên phải là các ống kính, trên đầu là Kính ngắm, hai bên được hạ xuống để quan sát các mạch điện

tử bên trong

Hình 2.4: Camera trường quay truyền hình đầu tiên

Lịch sử camera truyền hình chuyên dụng có hai dòng chính: sự giảm dần kích thước của camera làm cho nó trở nên linh hoạt và khép kín hơn Sự phát triển bộ cảm biến từ ống lớn trở thành nhỏ hơn, rất nhiều bộ cảm biến nhạy cảm hơn và cuối cùng là rất nhỏ, trạng thái rắn rất nhạy cảm được tích hợp vào chip thu hình Camera có tích hợp các cơ chế ghi âm đã không xuất hiện cho đến đầu những năm 1980

Các camera màu đầu tiên (năm 1950 tại Mỹ, đầu năm 1960 ở châu Âu), đặc biệt

là xê ri RCA TK-40/41 được phức hợp tới ba (và trong một số mô hình là bốn) đèn phân tích ảnh, kích thước và trọng lượng tăng lên đáng kể

Vào cuối những năm 90, khi bắt đầu phát sóng HDTV, camera HDTV thích ứng với công việc làm tin và với mục đích công việc chung đã được giới thiệu Mặc dù

nó cung cấp chất lượng hình ảnh tốt hơn nhưng hoạt động tổng thể của nó giống với

họ tiền nhiệm định nghĩa chuẩn của nó Các phương pháp ghi mới cho các camera ENG đã được giới thiệu để thay thế băng từ

Trang 23

b

Kỹ thuật

Hầu hết các camera chuyên dụng đều sử dụng một khối lăng kính quang học trực tiếp phía sau ống kính Khối lăng kính này (một bộ tam hướng sắc bao gồm hai lăng kính lưỡng sắc) lọc hình ảnh thành ba màu cơ bản: đỏ, xanh lá cây và xanh lam đưa trực tiếp mỗi màu vào một thiết bị ghép điện tích (CCD) riêng hoặc bộ cảm biến điểm ảnh hoạt tính (CMOS cảm biến hình ảnh) gắn trên mặt của mỗi lăng kính Một

số camera dân dụng cao cấp cũng cấu tạo giống thế này để tạo ra một hình ảnh có

độ phân giải cao hơn với độ trung thực màu sắc tốt hơn so với bình thường có thể chỉ với một thiết bị cảm biến video đơn

Trong thiết kế, cả hai cảm biến đơn và cảm biến ba thì các tín hiệu yếu được tạo

ra bởi các cảm biến đều được khuếch đại trước khi được mã hóa thành tín hiệu tương tự để sử dụng cho kính ngắm và đưa ra màn hình, nó cũng có thể mã hóa thành tín hiệu số để truyền và ghi Các đầu ra tương tự thường ở dạng: hoặc là một tín hiệu video tổng hợp là sự kết hợp các thông tin màu sắc và độ sáng cho một đầu

ra duy nhất hoặc là tín hiệu video thành phần R – Y, B - Y và Y đưa ra qua ba giắc nối riêng biệt

c.

Camera trường quay

Hầu hết các camera studio đặt trên sàn, thường là với các cơ chế khí nén hoặc thuỷ lực được gọi là bệ để điều chỉnh chiều cao và thường trên bộ bánh răng Bất kỳ một máy quay video nào khi sử dụng cùng với các máy quay video khác trong một thiết lập trường quay đều được điều khiển bởi một thiết bị được gọi là CCU (bộ điều khiển camera), chúng được kết nối thông qua một cáp ba trục Triax, sợi quang hoặc cáp nhiều lõi (gần như đã lỗi thời) Bộ điều khiển camera cùng với các thiết bị khác được thiết lập trong các phòng điều khiển sản xuất thường được gọi là Thư viện ảnh của studio truyền hình Khi được sử dụng bên ngoài phòng thu, chúng thường đặt trên giá đỡ ba chân có thể có hoặc không có bánh xe (tùy thuộc vào mô hình của chân máy này) Mô hình ban đầu sử dụng công nghệ tương tự nhưng bây giờ đã lỗi thời, được thay thế bởi các mô hình kỹ thuật số Những camera trường

Trang 24

quay mà dễ sử dụng và đủ nhỏ để được đưa ra khỏi bệ và ống kính thay đổi đến một kích thước nhỏ hơn sẽ được sử dụng trên vai của nhà quay phim, nhưng chúng vẫn chưa có máy ghi được tích hợp và bị cáp ràng buộc Camera có thể được đặt trên một giàn máy, một bệ quay hoặc một cần cẩu do đó làm cho các camera linh hoạt hơn nhiều so với thế hệ trước của các camera trường quay.

d Camera ENG

Hình 2.5: Đầu camera Sony được tích hợp máy ghi Betacam SP

Mặc dù theo định nghĩa, các camera video ENG (Electronic News Gathering: thu thập tin tức điện tử) ban đầu được thiết kế để sử dụng bởi các nhà khai thác camera tin tức nhưng sau đó đã trở thành mô hình nổi trội của máy quay video chuyên nghiệp cho hầu hết các sản phẩm: từ sân khấu kịch đến phim tài liệu; từ các video âm nhạc đến chương trình đào tạo của công ty Trong khi chúng có một số điểm tương đồng với các máy quay dân dụng nhỏ hơn nhưng chúng khác nhau một

Trang 25

chức năng điều khiển zoom ống kính Trọng lượng của máy cũng giúp làm giảm các rung động nhỏ.

- 3 bộ CCD được sử dụng thay vì một, mỗi một CCD cho một màu chính

- Chúng có các ống kính hoán đổi cho nhau được

- Tất cả các thiết lập: cân bằng trắng, hội tụ và điều sáng có thể được điều chỉnh bằng tay còn tự động hoá hoàn toàn có thể không được thực hiện

- Các ống kính được chỉnh hội tụ trực tiếp bằng tay mà không cần điều khiển servo trung gian Tuy nhiên, ống kính zoom và hội tụ có thể được vận hành bằng các điều khiển từ xa trong một cấu hình trường quay cụ thể

- Các bộ nối BNC chuyên dụng dùng cho video và ít nhất hai bộ nối đầu vào XLR dùng cho âm thanh

- Một đoạn mã thời gian đầy đủ có sẵn, cho phép cài đặt trước mã thời gian và nhiều camera có thể được mã hóa thời gian - đồng bộ với dây cáp

- Các điều khiển được truy cập nhanh trên thiết bị chuyển mạch vật lý cứng chứ không phải trong các lựa chọn ở menu

- Lựa chọn hệ số khuếch đại, cân bằng trắng / đen, lựa chọn thanh màu và các điều khiển bắt đầu ghi thì được bố trí chung giống nhau trên các camera mà không phụ thuộc vào nhà sản xuất camera

- Audio được điều chỉnh bằng tay với các nút bấm vật lý dễ dàng truy cập

e

Camera EFP

Các Camera EFP (Electronic Field Production: Sản xuất hiện trường điện tử) tương tự như các camera studio ở đó chúng được sử dụng chủ yếu trong các cấu hình chuyển mạch nhiều camera nhưng bên ngoài môi trường studio cho: buổi hòa nhạc, thể thao và tin tức trực tiếp của sự kiện đặc biệt Những camera đa năng này

có thể được mang trên vai hoặc đặt trên bệ máy và cần cẩu, với ống kính zoom rất

Trang 26

dài và nặng dùng gắn cho camera studio Những camera này không có khả năng ghi lại trên máy mà nó truyền tín hiệu của nó trở lại chiếc xe tải phát sóng thông qua cáp ba trục triax, cáp quang hoặc cáp đa lõi (hầu như đã lỗi thời).

f Camera Dock

Một số nhà sản xuất xây dựng đầu camera mà chỉ có: các khối quang, cảm biến CCD và bộ mã hóa video và có thể được sử dụng với một bộ điều hợp studio để kết nối đến một CCU trong chế độ EFP hoặc các máy ghi tập trung khác nhau để ghi trực tiếp các định dạng ưu tiên làm cho chúng rất linh hoạt Tuy nhiên, tính linh hoạt này dẫn đến kích thước và trọng lượng lớn hơn Dòng được ưa thích là EFP với sử dụng ngân sách phòng thu thấp bởi vì dòng này có xu hướng nhỏ hơn, nhẹ hơn và ít tốn kém hơn so với hầu hết các camera studio khác

Trang 27

2.2 CCU (Camera Control Unit)

Mỗi camera trường quay đều có một bộ điều khiển camera (CCU: camera control unit) riêng CCU thực hiện hai chức năng chính: thiết lập và kiểm soát Trong quá trình thiết lập mỗi camera được điều chỉnh để tái tạo màu chính xác, cân bằng trắng (thao tác ba tín hiệu màu để chúng tạo ra màu trắng chính xác dưới nhiều điều kiện chiếu sáng khác nhau), dải tương phản phù hợp giữa vùng sáng nhất và tối nhất của một cảnh và bước độ sáng trong phạm vi này

Trang 28

Hình 2.7: Bộ CCU (CCU điều chỉnh camera cho màu sắc và độ sáng tối ưu và nó cũng có thể điều chỉnh trong các điều kiện chiếu sáng khác nhau)

Đôi khi, khi kiểm soát hoạt động thực tế được tách ra từ CCU, chúng được biết đến như một bộ điều khiển từ xa (RCU: remote control unit) hoặc chính xác hơn đó

là một bảng điều khiển (OCP: operation control panel) Ví dụ, các CCU thực tế có thể được đặt trong phòng tổng khống chế nhưng các OCP đặt trong phòng điều khiển trường quay Sự sắp xếp này cho phép nhà điều hành video thiết lập camera ban đầu trong phòng tổng khống chế và sau đó ngồi trong phòng điều khiển với đoàn sản xuất và "đánh bóng" hình ảnh (duy trì chất lượng hình ảnh tối ưu) theo các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như các yêu cầu thẩm mỹ của sản xuất

Trong thực tế phải chọn các CCU phù hợp với camera trường quay

2.3 Thiết bị hiển thị tín hiệu hình (Monitor)

Một màn giám kiểm video:còn được gọi là một màn giám kiểm phát sóng, phát

sóng tham chiếu qua màn hình hoặc chỉ để tham khảo qua màn hình Nó là một thiết

bị tương tự như máy thu hình, được sử dụng để giám sát đầu ra của một thiết bị tạo video, chẳng hạn như: một máy chủ chơi lại truyền thông, IRD, video camera, VC, hoặc đầu DVD Nó có thể có hoặc không có khả năng giám sát âm thanh Không giống như một máy thu hình, một màn giám kiểm video không có hộp kênh và như vậy nó không thể độc lập thu được một chương trình phát sóng quảng bá Một sử dụng phổ biến của màn giám kiểm video trong các đài truyền hình và trong xe phát sóng ngoài trời là các kỹ sư phát sóng sử dụng chúng để kiểm tra sự tin cậy của các tín hiệu trên toàn hệ thống Màn giám kiểm video được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp bảo mật với các camera truyền hình mạch kín và các thiết bị ghi

Trang 29

Hình 2.8: Giá gắn màn giám kiểm video được sử dụng trong phát sóng

Màn giám kiểm tham chiếu phát sóng:

Màn giám kiểm tham chiếu phát sóng phải được sử dụng cho video thuận trong truyền hình hoặc cơ sở sản xuất, bởi vì chúng không thực hiện bất kỳ cải tiến video nào mà cố gắng để sản xuất một hình ảnh chính xác nhất có thể Đối với mục đích kiểm soát chất lượng thì nó là cần thiết cho một màn giám kiểm phát sóng để sản xuất (hợp lý) hình ảnh phù hợp từ cơ sở đến cơ sở, nó hiện ra bất kỳ sai sót nào trong nguyên liệu và cũng không giới thiệu bất kỳ thành phần lạ hình ảnh (chẳng hạn như răng cưa) không phải là nguồn nguyên liệu Màn giám kiểm phát sóng sẽ

cố gắng để tránh hậu xử lý như là đếm gộp video, khử đan xen dòng và cải tiến bất

kỳ hình ảnh nào như độ tương phản động Tuy nhiên, công nghệ hiển thị với các cấu trúc điểm ảnh cố định (ví dụ như LCD, plasma) phải thực hiện nhân rộng hình ảnh khi hiển thị tín hiệu SD là tín hiệu có chứa các điểm ảnh không vuông trong khi màn hình có điểm ảnh vuông Các màn hình LCD và plasma vốn đã hiển thị liên tục

và có thể cần phải thực hiện khử xen dòng trên tín hiệu xen dòng

Các màn giám kiểm phát sóng video chuyên nghiệp cũng hiển thị trên màn hình dạng tín hiệu video hiện tại, chúng có thể nhận các định dạng độ nét tiêu chuẩn như:

Trang 30

576i, định dạng độ nét cao như: 480i, 720p hoặc 1080p Chúng cũng có các nút cơ khí để chuyển đổi ra tỷ lệ khuôn hình thông thường như (tỉ lệ 4:3 hay 16:9) và quét quá một hình ảnh để xem những dòng trong khoảng thời gian xóa dọc (VBI: vertical blanking interval) của video và kiểm tra nếu phụ đề trong VBI đã được đưa vào đúng cách hay không Màn giám kiểm phát sóng hiện đại cấp chuyên nghiệp cũng

có các bộ tạo lưới khu vực an toàn giúp định vị đồ họa truyền hình, phần ba thấp hơn, trong phạm vi các khu vực tương ứng của chúng tức là đồ họa an toàn, tiêu đề

an toàn hoặc hành động an toàn

Các định dạng giám kiểm chung cho các đài phát:

- Giao diện số nối tiếp (SDI, SD - SDI hoặc HD - SDI)

- Video tổng hợp

- Video thành phần

Các đặc điểm của các màn giám kiểm video: Màn giam kiểm video chuyên nghiệp có các tính năng khác mà màn hình tiêu giám kiểm dân dụng thiếu như:

- Tuân thủ các tiêu chuẩn đo màu như SMPTE C, Rec 709 hoặc EBU sơ cấp

- Các đầu vào/ra SDI

- Giải mã audio ASE/EBU

- Đầu vào Genlock

- Giao diện GPI - Để nhận được kích hoạt bên ngoài

- Các khe cắm thẻ nhớ môđun mở rộng hỗ trợ SD-SDI liên kết đơn hoặc thẻ HD-SDI liên kết đôi

- Khung an toàn

- Giá gắn được

Trang 31

2.4 Máy ghi hình (Recoder)

Hầu hết các chương trình truyền hình được ghi lại trên băng video hoặc ổ đĩa cứng máy tính trước khi chúng phát sóng Ngay cả chương trình phát sóng bóng đá trực tiếp bao gồm nhiều nguồn tín hiệu thu nhận được Băng thu hình hoặc một đĩa cứng máy tính được sử dụng cho phát lại của quảng cáo, thậm chí cả ngay khi bắt đầu sản xuất phim

Một trong những tính năng độc đáo của truyền hình là khả năng truyền tải một chương trình truyền hình trực tiếp, có nghĩa là chụp những hình ảnh và âm thanh của một sự kiện đang diễn ra và phân phối ngay lập tức cho khán thính giả trên toàn thế giới Băng thâu hình vẫn là một phương tiện không thể thiếu cho sản xuất, lập trình và để phân phối

Bởi vì băng video vẫn được sử dụng cho hầu hết các trường quay nên việc phải làm quen với những điều cơ bản về ghi băng video là cần thiết Tất cả các máy ghi băng video dù là tương tự hay số đều làm việc trên cùng một nguyên tắc: chúng ghi lại video và các tín hiệu âm thanh trên một dải băng nhựa và sau đó chuyển đổi lại thành tín hiệu có thể xem được như hình ảnh và nghe được âm thanh trên một máy thu hình Hầu hết các VTR sử dụng băng cassette video, tương tự như những băng

mà chúng ta sử dụng trong máy quay của mình hoặc VCR (video cassette recorder) gia đình Các máy ghi băng video chuyên dụng tương tự như một máy chủ, ngoại trừ chúng có điều khiển hoạt động, ổ đĩa băng khỏe hơn và các thiết bị điện tử phức tạp hơn để đảm bảo chất lượng hình ảnh và âm thanh cao hơn

Trang 32

Hình 2.9: Máy ghi băng video

Các máy ghi băng video được phân loại bằng việc ghi được thực hiện dưới hình thức số hoặc tương tự; bằng hệ thống điện tử được sử dụng cho việc ghi (DVCAM, DVCPRO, S-VHS, Hi8, hoặc VHS) và đôi khi bằng các định dạng Nhiều hệ thống VTR sử dụng băng video 1/2-inch (Betacam SR, Betacam SX số, Digital-S, S-VHS, VHS) nhưng cũng có những hệ thống sử dụng băng cassette 8mm nhỏ (Hi8) hoặc thậm chí băng cassette 1/4-inch số hẹp (6,35mm DVCAM và DVCPRO)

Hình 2.10: Các dạng băng cassette khác nhau

Công nghệ ghi băng video bao gồm:

- Cuộn sang cuộn tương tự:

+ VERA (BBC)

Trang 33

+ 2" Quadruplex (Ampex, RCA and Bosch's Fernseh)

+ 1" Type A (Ampex)

+ 1" Type B (Bosch's Fernseh - BTS Philips)

+ IVC 2 inch Helical scan (International Video Corporation's IVC 9000 Format)+ 1" Type C (Sony, Ampex, NEC and Hitachi)

- Băng cassette / hộp băng từ chuyên nghiệp dựa trên hệ thống:

+ U-matic (3/4")

+ Betacam (Sony)

+ M-II (Panasonic)

+ Betacam SP (Sony)

- Các định dạng băng video số độ phân giải tiêu chuẩn:

+ D1 (Sony) and Broadcast Television Systems Inc

+ D2 (Sony and Ampex)

+ D3 (Panasonic)

+ DCT (Ampex)

+ Digital Betacam (Sony)

+ Betacam IMX (Sony)

Trang 34

- DV (miniDV là kích thước của cassette)

Hệ thống ghi không băng: Tiến bộ lớn và nhanh chóng được thực hiện đối với

một môi trường không băng trong đó tất cả các đoạn ghi video, lưu trữ và phát lại được thực hiện với hệ thống không dựa trên băng Một hệ thống không băng như vậy làm cho việc sử dụng thẻ nhớ, đĩa quang học như các đĩa CD, DVD và ổ đĩa máy tính công suất lớn hơn làm băng video Các loại ghi không băng là:

- Gậy nhớ và thẻ nhớ: Những thiết bị bộ nhớ nhỏ nhưng mạnh mẽ được sử dụng trong một số camera để ghi lại các chuỗi video ngắn

- Ổ đĩa quang và ổ đĩa cứng: Đĩa quang như CD-ROM (đĩa compact - bộ nhớ chỉ đọc) và DVD-ROM (đĩa đa năng số - bộ nhớ chỉ đọc) là những loại chỉ đọc, có nghĩa là chúng ta có thể chơi lại thông tin trên đĩa nhưng không thể ghi lại thông tin lên nó

- Ổ đĩa cứng: Một số máy quay sử dụng ổ đĩa cứng nhỏ nhưng dung lượng cao thay vì các băng video để thu thập và phát lại video và thông tin âm thanh Ổ đĩa cứng dung lượng cao được sử dụng rộng rãi cho việc lưu trữ, thao tác và tìm kiếm thông tin video và âm thanh của máy tính để bàn trong sản xuất hậu kỳ

Trang 35

2.5 Bàn kỹ xảo hình (Video Mixer)

Bộ trộn hình (còn gọi là vision mixer, video switcher, video mixer, production switcher) là một thiết bị được sử dụng để lựa chọn giữa một số nguồn video khác nhau và trong một số trường hợp thì giữa các nguồn video tổng hợp với nhau và thêm các hiệu ứng đặc biệt Bộ này tương tự như công việc của một bàn điều khiển pha trộn âm thanh

a Sử dụng

Thông thường một máy video mixer sẽ được tìm thấy trong một môi trường sản xuất truyền hình chuyên nghiệp như: một studio truyền hình, thiết bị truyền hình cáp, cơ sở sản xuất thương mại, xe truyền hình lưu động OB VAN hay phòng dựng video tuyến tính

Bộ trộn video gần như độc quyền ở châu Âu là thuật ngữ để mô tả cả thiết bị và các nhà điều hành Tại Hoa Kỳ, thiết bị được gọi là một bộ chuyển mạch sản xuất (video) và điều hành được biết đến như một TD hoặc giám đốc kỹ thuật

b Khả năng và cách sử dụng trong sản xuất truyền hình.

Bên cạnh việc chuyển mạch cứng, các bộ trộn cũng có thể tạo ra một loạt các quá trình chuyển tiếp từ dissolve (hòa tan từ từ) đơn giản tới wipe mẫu Ngoài ra, hầu hết các bộ trộn hình đều có thể thực hiện các hoạt động key và tạo ra các tín hiệu màu Hầu hết các bộ trộn video được nhắm mục tiêu vào thị trường chuyên nghiệp với mô hình tương tự mới hơn có các kết nối video thành phần và số sử dụng SDI

Hình 2.11: Một bộ trộn hình Sony BVS-3200CP

c Vận hành

Trang 36

Khái niệm chính của một bộ trộn hình chuyên nghiệp là bus, về cơ bản một hàng phím bấm với mỗi phím đại diện cho một nguồn video Nhấn một phím như vậy sẽ lựa chọn một video ra khỏi bus Các bộ trộn video cũ hơn có hai bus tương đương (gọi là bus A và B, một bộ trộn như vậy được gọi là một bộ trộn A / B) Một trong những bus này có thể được lựa chọn làm bus ra chính (hoặc bus chương trình) Các

bộ trộn hiện đại nhất chỉ có một bus luôn luôn là bus chương trình, bus chính thứ hai chính là bus xem trước (đôi khi được gọi là bus thiết lập trước)

Tính năng chính khác của một bộ trộn hình chính là cần gạt chuyển tiếp, còn được gọi là T-bar hoặc Fader Bar Cần gạt này tương tự như một chiết áp âm thanh,

nó tạo ra một chuyển tiếp trơn giữa hai bus Lưu ý rằng trong một bộ trộn flip-flop thì vị trí của các cần gạt chuyển tiếp chính không chỉ thị bus hoạt động, khi bus chương trình luôn luôn là bus hoạt động hoặc bus nóng Thay vì di chuyển các cần gạt bằng tay thì một phím ấn (thường có nhãn "mix", "auto" hoặc "auto trans") có thể được sử dụng, nó thực hiện quá trình chuyển tiếp trong khoảng thời gian người dùng định nghĩa Một phím khác thường được dán nhãn "cut" hay "take" sẽ trực tiếp hoán đổi giữa các bus mà không cần bất kỳ quá trình chuyển tiếp nào Các loại chuyển tiếp được sử dụng có thể được lựa chọn trong phần lựa chộn chuyển tiếp Quá trình chuyển tiếp thông thường bao gồm dissolve (hòa tan) (tương tự như một crossfade âm thanh) và wipe mẫu

Bus thứ ba trên một bộ trộn hình chính là bus key Một bộ trộn thực sự có thể có nhiều hơn một bus key nhưng chúng thường chỉ chia sẻ một tập các phím Ở đây, một tín hiệu có thể được lựa chọn để keying (chèn) vào chương trình Hình ảnh sẽ được nhìn thấy trong chương trình được gọi là điền, trong khi mặt nạ được sử dụng

để tạo ra sự mờ của key được gọi là nguồn Nguồn gồm: sắc độ, độ chói, mẫu (bộ tạo mẫu nội bộ được sử dụng) hoặc chia tách và có thể được lựa chọn trong phần key của bộ trộn

Các bộ trộn ảnh hiện đại cũng có thể có các chức năng bổ sung, chẳng hạn như điều khiển máy, các kênh phụ để định tuyến các tín hiệu tới các nguồn khác hơn so

Trang 37

với đầu ra chương trình, lập trình macro và các khả năng DVE (Digital Video Effects) Các bộ trộn thường được trang bị với các thanh ghi bộ nhớ hiệu ứng, có thể lưu trữ một bản chụp bất kỳ phần nào của một cấu hình bộ trộn phức tạp và sau

đó gọi lại những thiết lập với một nút nhấn

d Thiết lập

Từ khi các bộ trộn ảnh kết hợp các tín hiệu video khác nhau như VTR và máy quay video thì nó trở lên rất quan trọng vì tất cả các nguồn đều được đồng bộ Tại các cơ sở chuyên nghiệp, một bộ tạo tín hiệu đồng bộ sẽ cấp phát cho tất cả các thiết

bị Đồng bộ cũng có thể đạt được bằng cách gửi một tín hiệu burst đen từ bộ chuyển mạch (phương pháp này được gọi là "Genlock") Các tín hiệu đó không thể được đồng bộ phải đi qua một bộ đồng bộ lưu giữ khung Một số bộ trộn ảnh có "đồng bộ khung" bên trong hoặc chúng có thể là một bộ phận riêng biệt của thiết bị, chẳng hạn như một "bộ hiệu chỉnh cơ sở thời gian" Nếu bộ trộn được sử dụng để biên tập video thì bàn điều khiển dựng cũng phải được đồng bộ

2.6 Bàn kỹ xảo tiếng (Audio Mixer).

Trong âm thanh chuyên nghiệp, một bàn điều khiển trộn hoặc bộ trộn âm thanh cũng được gọi là một board âm thanh, bàn trộn hoặc bộ trộn là một thiết bị điện tử

để kết hợp (còn được gọi là "pha trộn"), định tuyến và thay đổi mức, âm sắc hoặc tín hiệu âm thanh Bộ trộn có thể kết hợp các tín hiệu tương tự hoặc số tùy thuộc vào loại của máy trộn

Bàn điều khiển trộn được sử dụng trong nhiều ứng dụng, bao gồm các hãng ghi

âm, hệ thống địa chỉ công cộng, hệ thống âm thanh tăng cường, phát sóng, truyền hình và sản xuất hậu kỳ phim

a Cấu trúc

Các đầu vào kênh được nhân rộng các kênh đầu vào mono hoặc stereo với các điều khiển tiền khuếch đại, fader và pan kênh, phân nhóm phụ, cân bằng và điều khiển mức bus trộn phụ trợ Phần kiểm soát tổng có các fader nhóm phụ, các fader

Trang 38

chủ, các điều khiển mức bus trộn phụ chủ và các điều khiển mức quay lại phụ trợ Ngoài ra, nó có thể có điều khiển giám sát solo, điều khiển một microphone đàm thoại trên sân khấu, điều khiển tắt tiếng và một bộ trộn ma trận đầu ra Các bộ trộn nhỏ hơn các yếu tố đầu vào bên trái của hội đồng quản trị trộn và điều khiển tổng thể ở bên phải.

b Dải đầu vào kênh

Dải đầu vào thường được chia thành các phần sau:

+ Các giắc đầu vào / Các bộ tiền khuếch đại micro

+ Kiểm soát đầu vào cơ bản

+ EQ kênh (Cao, trung bình và thấp)

+ Phần định tuyến bao gồm: Các đầu ra trực tiếp; phát phụ; điều khiển quay quét và gán nhóm phụ

+ Các bộ chỉnh âm lượng đầu vào

Ở trên Yamaha Console, những phần này là màu sắc được mã hóa để nhận dạng nhanh bởi nhà điều hành Mỗi tín hiệu được nhập vào bộ trộn có kênh riêng của mình Tùy thuộc vào bộ trộn cụ thể, mỗi kênh là âm thanh stereo hoặc mono Trên hầu hết các bộ trộn, mỗi kênh có một đầu vào XLR và nhiều đường vào jack RCA hoặc các đường vào Jack 1/3 inch

Các núm điều khiển cơ bản: Mỗi đầu vào dưới đây, thường có điều khiển quay

(nút bấm, biến trở) Đầu tiên thường là một vi chỉnh hoặc điều khiển hệ số khuếch đại Các đầu vào đệm tín hiệu từ thiết bị bên ngoài và kiểm soát số lượng khuếch đại hoặc suy giảm cần thiết để mang lại những tín hiệu đến một mức độ danh định

để xử lý Tầng này là nơi mà hầu hết nhiễu giao thoa được sinh ra do độ lợi cao (khoảng 50 dB cho một microphone) Các đầu vào các bộ nối được cân bằng, chẳng hạn như các bộ nối XLR hoặc TRS ¼ inch làm giảm các giao thoa

Định tuyến gửi phụ: Các định tuyến gửi phụ là sự phân chia các tín hiệu đến

một bus phụ mà sau đó có thể được sử dụng với các thiết bị bên ngoài Gửi phụ có

Trang 39

thể được thực hiện trước fader hoặc sau fader, trong đó mức độ của một gửi trước fader được thiết lập bởi sự điều khiển gửi phụ, trong khi gửi sau fader phụ thuộc vào vị trí của các fader kênh Gửi phụ có thể được sử dụng để gửi tín hiệu đến một

bộ xử lý bên ngoài như một phòng vang mà sau đó có thể được định tuyến trở lại thông qua một kênh khác hoặc được chỉ định trả về phụ trên bộ trộn Thông thường hay sử dụng kiểu định tuyến sau fader

Cân bằng kênh: Điều khiển kênh tiếp tục ảnh hưởng đến cân bằng (EQ) của tín

hiệu bằng cách riêng giảm nhẹ hoặc tăng cường một loạt các tần số, ví dụ: bass, trung bình và treble Bàn trộn lớn nhất (24 kênh và nhiều hơn nữa) thường có cân bằng quét trong một hoặc nhiều dải tần của bộ cân bằng tham số trên mỗi kênh, tần

số và băng thông bị ảnh hưởng của cân bằng có thể được lựa chọn

c Điều khiển xuất tổng

Các nhóm nhỏ và điều khiển fader xuất tổng thường được tìm thấy ở phía bên tay phải của bộ trộn hoặc trên các bàn điều khiển lớn hơn thì nó nằm trong một phần trung tâm hai bên bờ kênh đầu vào

d Định lượng

Cuối cùng, thường có một hoặc nhiều bộ âm lượng kế để chỉ mức cho mỗi kênh hoặc cho các đầu ra chính và chỉ ra các mức giao tiếp bị biến điệu quá mức hoặc hạn chế tín hiệu Hầu hết các bộ trộn đều có ít nhất một đầu xuất bổ sung bên cạnh trộn chính Đây là những đầu ra bus riêng lẻ hoặc các đầu ra phụ được sử dụng, ví dụ: để xuất ra một hỗn hợp khác tới màn giám sát trên sân khấu Nhà điều hành có thể thay đổi sự pha trộn (hay mức của mỗi kênh) cho mỗi đầu ra

Trang 40

+ Thêm các hiệu ứng nội bộ.

+ Đọc và ghi bàn giao tiếp một cách tự động

+ Được giao tiếp với máy tính hoặc thiết bị ghi âm khác

+ Điều khiển hoặc được điều khiển bởi một máy trạm âm thanh số thông qua Midi hoặc các lệnh riêng

+ Được cấp năng lượng bằng pin

g Bàn trộn số so với tương tự

Bộ trộn số linh hoạt hơn so với những máy tương tự và cung cấp nhiều tính năng mới, chẳng hạn như khả năng nhớ nhiều nhóm câm, nhiều nhóm VCA và các thiết lập kênh tín hiệu vào một cảnh và tái cấu hình định tuyến tín hiệu bằng cách nhấn một nút Faders có thể được "trao đổi" hoặc "lật" để hiển thị các mức gửi phụ; một tính năng rất hữu ích trong việc theo dõi giám sát của các nghệ sĩ trộn Ngoài ra, bảng điều khiển số thường bao gồm một loạt các hiệu ứng đặc biệt chẳng hạn như tham số EQ, nén, xén ngược, phòng vang, giảm phản hồi tự động, trễ nhánh và trễ thẳng

Các bộ trộn số có thể được thiết kế để đạt được độ êm hơn so với hầu hết các bộ trộn tương tự, như các bộ trộn kỹ thuật số thường kết hợp các cửa ngưỡng tiếng ồn rất thấp để ngăn chặn tạp âm nền bus trộn từ tổng hợp các tín hiệu hoạt động

Ngày đăng: 30/06/2016, 10:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đỗ Hoàng Tiến - Vũ Đức Lý, Truyền hình số, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình số
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
[2] Nguyễn Tiên, Hệ truyền hình màu NTSC, PAL, SECAM, NXB Khoa học kỹ thuật.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ truyền hình màu NTSC, PAL, SECAM
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật.Tiếng Anh
[5] Gerald Millerson, Jim Owens (2008), Video Production Hanbook . [6] Gerald Millerson, Jim Owens (2009), Television Production Sách, tạp chí
Tiêu đề: Video Production Hanbook ."[6] Gerald Millerson, Jim Owens (2009)
Tác giả: Gerald Millerson, Jim Owens (2008), Video Production Hanbook . [6] Gerald Millerson, Jim Owens
Năm: 2009
[1] Andrew utterback (2007), Studio - based television production and directing Khác
[2] Gerald Millerson (2004), Lighting for video Khác
[3] Gerald Millerson (1997), TV Scenic Design Khác
[4] Gerald Millerson (2003), Video camera techniques Khác
[7] Gerald.W, Collins.PE (2001), Fundamentals of Digital Television Transmission Khác
[8] Ivan Cury, Directing and Production for Television Khác
[9] Keith Kyker, Christopher Curchy, Television Production Khác
[10] Raiph Donald - Thomas Spann, Fundamentals of Television Production Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Hệ thống đèn chiếu sáng di động - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 2.2 Hệ thống đèn chiếu sáng di động (Trang 19)
Hình 2.3: Một cặp dimmer hiện đại 2,4 kW - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 2.3 Một cặp dimmer hiện đại 2,4 kW (Trang 20)
Hình 2.4: Camera trường quay truyền hình đầu tiên - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 2.4 Camera trường quay truyền hình đầu tiên (Trang 22)
Hình 2.5: Đầu camera Sony được tích hợp máy ghi Betacam SP - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 2.5 Đầu camera Sony được tích hợp máy ghi Betacam SP (Trang 24)
Hình 2.6: Camera điều khiển từ xa gắn trên một cáp treo thu nhỏ cho mục đích di  động. - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 2.6 Camera điều khiển từ xa gắn trên một cáp treo thu nhỏ cho mục đích di động (Trang 26)
Hình 2.9: Máy ghi băng video - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 2.9 Máy ghi băng video (Trang 32)
Hình 2.15: Microphone tụ màng rung nhỏ AKG C451B - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 2.15 Microphone tụ màng rung nhỏ AKG C451B (Trang 47)
Hình 3.2: Sự phản xạ và hấp thụ âm của kết cấu trong phòng - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 3.2 Sự phản xạ và hấp thụ âm của kết cấu trong phòng (Trang 60)
Bảng 3.3:  Bảng tính thời gian vang T(f)/s. - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Bảng 3.3 Bảng tính thời gian vang T(f)/s (Trang 62)
Hình 3.3: Tường cách âm - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 3.3 Tường cách âm (Trang 63)
Hình 3.5: Trần cách âm - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 3.5 Trần cách âm (Trang 64)
Hình 3.6: Minh họa cách âm hình răng lược - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 3.6 Minh họa cách âm hình răng lược (Trang 65)
Hình 3.8: Sơ đồ phòng cháy, báo cháy và chữa cháy tự động - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 3.8 Sơ đồ phòng cháy, báo cháy và chữa cháy tự động (Trang 70)
Hình 3.9: Hệ thống chiếu sáng tối thiểu cho 1 phát thanh viên - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Hình 3.9 Hệ thống chiếu sáng tối thiểu cho 1 phát thanh viên (Trang 75)
Sơ đồ lắp đặt (đấu nối) phòng điều khiển phòng thu, công nghệ HD: - Luận Văn_ Kỹ thuật trường quay trong truyền hình
Sơ đồ l ắp đặt (đấu nối) phòng điều khiển phòng thu, công nghệ HD: (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w