1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một vài suy nghĩ về giá trị và hạn chế trong triết lý nhân sinh của phật giáo thời kỳ ấn độ cổ đại đối với xã hội việt nam hiện nay tiểu luận cao học

10 641 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới trong gần ba mươi năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Bên cạnh những thành tựu về kinh tế văn hoá, xã hội mà chúng ta đã đạt được, mặt trái của nền kinh tế từ trường cũng phát sinh ngày càng nhiều tiêu cực gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội nước ta. Chủ nghĩa cá nhân, lối sống vì đồng tiền, danh lợi, hưởng thụ, sa đọa làm băng hoại đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Con người trở nên dễ bị tổn thương hơn và dễ có những hành động cực đoan hơn. Hơn nữa, vì tin rằng đời người là kiếp luân hồi, là nhân quả mà hiện nay không ít người mê muội tin vào những điều mê tín dị đoan không có thật làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần xã hội. Vì vậy, việc đánh những giá trị và hạn chế trong triết lý nhân sinh Phật giáo để áp dụng vào điều chỉnh hành vi, lối sống của con người hiện nay là rất cần thiết. Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, em xin mạnh dạn đưa ra “Một vài suy nghĩ về giá trị và hạn chế trong triết lý nhân sinh của Phật giáo thời kỳ Ấn Độ cổ đại đối với xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận môn Lịch sử triết học.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới trong gần ba mươi năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Bên cạnh những thành tựu về kinh tế văn hoá, xã hội mà chúng ta đã đạt được, mặt trái của nền kinh tế

từ trường cũng phát sinh ngày càng nhiều tiêu cực gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội nước ta Chủ nghĩa cá nhân, lối sống vì đồng tiền, danh lợi, hưởng thụ, sa đọa làm băng hoại đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Con người trở nên dễ bị tổn thương hơn và dễ

có những hành động cực đoan hơn Hơn nữa, vì tin rằng đời người là kiếp luân hồi, là nhân quả mà hiện nay không ít người mê muội tin vào những điều mê tín dị đoan không có thật làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần xã hội Vì vậy, việc đánh những giá trị và hạn chế trong triết lý nhân sinh Phật giáo để áp dụng vào điều chỉnh hành vi, lối sống của con người hiện nay là rất cần thiết

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, em xin mạnh dạn đưa ra

“Một vài suy nghĩ về giá trị và hạn chế trong triết lý nhân sinh của Phật giáo thời kỳ Ấn Độ cổ đại đối với xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận môn Lịch sử triết học

Trang 2

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA PHẬT GIÁO THỜI KỲ ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

1.1.Sự ra đời của Phật giáo

Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện hoảng cuối TK VI TCN ở miền Bắc Ấn Độ “Phật” theo tiếng Phạn là Budhha có nghĩa là

“Giác ngộ”, sáng suốt Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bà – la – môn và chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt, đòi tự

do tư tưởng, bình đẳng xã hội, lý giải căn nguyên nỗi khổ trầm luân trong

xã hội Ấn Độ cổ đại

Người sáng lập ra Phật Giáo là Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa (Siddhattha), họ là Cù Đàm ( Goutama ), thuộc bộ tộc Sakya Tất Đạt Đa sinh ngày 08 tháng 4 năm 563 trước CN mất năm 483 trước CN Ngài là thái tử của vua Tịnh Phạn, một nước nhỏ nằm ở Bắc Ấn Độ ( nay thuộc vùng đất Nepan )

Mặc dù sống trong cảnh cao sang quyền quý, dòng dõi Đế Vương,

vợ đẹp con ngoan Nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước khó khăn của cuộc đời Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ con đường Vương giả xuất gia tu đạo Sau 6 năm tu hành, năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác ngộ tìm ra chân lý “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh Từ đó Người đã đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình

và trở thành người sáng lập ra tôn giáo mới là Đạo Phật Về sau ông được suy tôn với nhiều danh hiệu khác nha: Đức Phật, Thích Ca Mâu Ni, Thánh Thích Ca…

Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lý khắp nước Ấn

Độ, năm ông 80 tuổi ông đã qua đời, để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật Giáo vô cùng quý báu trong đó triết lý nhân sinh là một trong những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo

Trang 3

1.2 Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo

Phật giáo với tư cách là một hệ thống triết lý đạo đức nhân sinh, nhằm mang lại một cuộc sống hòa bình, an lạc, hạnh phúc cho mỗi chúng sinh hiện hữu trên cuộc đời này, giúp con người đoạn trừ những khổ đau

và tìm ra con đường giải thoát khỏi tất cả những khổ đau của cuộc đời

Phật giáo được xây dựng trên cơ sở tư tưởng triết lý của Thích Ca Mâu Ni với chủ đích giải thoát chúng sinh khỏi bề trầm luân khổ ải của cuộc đời bằng sự tu luyện đạo đức, tu luyện trí tuệ, thiền định

Phật giáo quan niệm con người chỉ là sự hợp nhất của năm thành phần gọi là ngũ uẩn:

- Địa (đất, các chất khoáng)

- Thuỷ (nước, các chất lỏng)

- Hoả (lửa, nhiệt độ)

- Phong (gió, không khí, thở)

- Thức (Ý thức, tư duy)

Bốn thành phần đầu là yếu tố vật chất (gọi là sắc) và thành phần thứ năm gọi là tinh thần (gọi là danh) Ngũ uẩn do nhân duyên mà hợp thành mỗi người Duyên hợp ngũ uẩn thì thành ta, duyên tan ngũ uẩn thì không còn là ta, nhưng không mất đi mà về với ngũ uẩn Do người ta không nhận thức được rằng cái “tôi” có mà không, không mà có, nên làm tưởng rằng ta tồn tại mãi mãi là ta, cái gì cũng của ta do ta, cho nên sinh

ra lòng khát ái, tham dục và hành động nhằm chiếm đoạt thoả nãm những ham muốn dục vọng, tạo nên kết quả là mắc vào bể khổ, chịu sự chi phối của nghiệp báo và kiếp luân hồi Vì vậy, triết lý nhân sinh của Phật giáo cho rằng: cuộc đời con người chỉ là bể khổ và mục đích của cuộc đời phải hướng tới sự “giải thoát”

Toàn bộ cốt tuỷ của triết lý nhân sinh Phật giáo được trình bày trong thuyết “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên” và “Bát chính đạo” với

ý nghĩa là để giải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp

Trang 4

báo, luân hồi Trong đó Khổ đế và Tập đế vạch rõ nguồn gốc nỗi khổ – điểm xuất phát của tư tưởng giải thoát Diệt đế là mục đích và nhiệm vụ của sự giải thoát Đạo đế chỉ ra con đường, cách thức giải thoát cho con

người Triết lý Thập nhị nhân duyên của Phật giáo chỉ ra nguồn gốc của

mọi sự đau khổ và nhằm mục đích giúp chúng sinh thoát khỏi phiền não

của cuộc sống Triết lý Thập nhị nhân duyên bắt đầu từ Vô minh Vô minh

như lớp mây mù bao phủ che lấp mọi sự hiểu biết chân chính từ đó khiến

tâm con người ham muốn và hành động để thỏa mãn những ham muốn.

Trong 12 nhân duyên, ba thời quá khứ, hiện tại, tương lai trở thành mối quan hệ nhân quả cho nhau

Từ thế giới quan Nhân duyên sinh, triết lý Phật giáo đã vạch ra

nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường dẫn đến sự diệt khổ nhằm

giải thoát chúng sinh khỏi bể khổ cuộc đời bằng Tứ diệu đế và Bát chính đạo

Tứ diệu đế là 4 chân lý cao thượng, vĩ đại, gồm:

- Khổ đế Nhân sinh quan và thế giới quan Phật giáo cho rằng cuộc

đời là bể khổ, là thung lũng nước mắt: sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ, ái biệt ly khổ (yêu nhau mà phải xa nhau là khổ), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải chung sống với nhau là khổ), sở cầu bất đắc khổ (cầu mà không được là khổ) và thủ ngũ uẩn khổ(khổ vì sự tồn tại

của thân xác

- Tập đế Lý giải về nguyên nhân dẫn đến những nỗi khổ đau phiền

não trong đời người Theo triết lý Phật giáo, nguyên nhân của những nỗi khổ đau đó là do con người ta có lòng tham lam, sân hận, si mê và tham dục, khát ái Dục vọng của con người lại có nguyên nhân sâu xa từ sự vô minh, không hiểu được do nhân duyên chi phối khiến vạn vật vạn pháp đều không thường hằng, biến ảo khôn lường mà cứ bám víu, chấp ngã, nên ra sức hành động để chiếm đoạt cái mà chính tâm trí con người phóng chiếu lên trên bức màn vô minh, từ đó sinh ra khổ não muôn kiếp không dứt

Trang 5

- Diệt đế Phương pháp diệt trừ nỗi khổ, giải thoát con người khỏi

nghiệp chướng, luân hồi Phật giáo cho rằng chỉ có tận diệt ái dục, xóa bỏ

vô minh mới mong thoát khỏi khổ đau, mới mong đạt tới tình trạng Niết bàn Nhưng Niết bàn, theo Phật giáo, không phải là cõi riêng biệt tồn tại độc lập khách quan với con người, mà nằm chính trong tâm trí con người, ngay trên thế gian này và nhờ vào sự nỗ lực tu luyện nghiêm túc Trong

kinh Pháp cú, Đức Phật dạy: “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gột rửa cho ta Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta Không ai có thể làm người khác trở nên trong sạch”.

- Đạo đế Là cách thức, con đường để được giải thoát khỏi nỗi khổ.

Đây là con đường “trung đạo”, không phải là cách tu luyện khổ hạnh ép xác, cũng không phải là chìm đắm trong dục lạc, thấp hèn, thô bỉ Con đường để tận diệt vô minh, giải thoát, theo Đức Phật là con đường ở giữa hai thái cực kia, là con đường tu luyện đạo đức theo giới luật, là con đường tu luyện tri thức, trí tuệ bằng “thực nghiệm tâm linh”, “trực giác”

Và đó là Bát chính đạo, gồm:

+ Chính kiến: Nhận thức đúng, nhìn nhận rõ phải trái, không để những điều sai trái che lấp sự sáng suốt của mình

+ Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn để đạt tới chân lý và giác ngộ + Chính nghiệp: Hành động làm việc đúng đắn, không làm điều gian ác, tàn bạo giả dối

+ Chính ngữ: Nói những điều đúng đắn, điều phải, điều tốt, không được nói những điều gian dối, điều ác, điều xấu

+ Chính mệnh: Sống đúng đắn, trung thực, nhân nghĩa, không tham lam, gian tà, vụ lợi

+ Chính tinh tiến: Nỗ lực, sáng suốt, nâng lên một cách đúng đắn + Chính niệm: Phải luôn tâm niệm và suy nghĩ đến đạo lý chân chính, đến điều tốt, không được nghĩ đến điều xấu xa, bạo ngược

Trang 6

+ Chính định: Kiên định, tập trung tư tưởng tâm trí vào con đường, đạo lý chân chính, không để bất cứ điều gì làm lay chuyển tâm trí, đạt tới giác ngộ

Trong tám biện pháp tu luyện để đạt tới giác ngộ và giải thoát

thì Chính kiến, Chính tư duy thuộc về môn tu luyện trí tuệ; Chính ngữ, Chính nghiệp và Chính mệnh thuộc về môn tu luyện đạo đức theo giới luật; còn Chính tinh tiến, Chính niệm và Chính định thuộc về môn tu thiền định Cùng với Bát chính đạo, Phật giáo còn đưa ra phép tu tổng quát cho tất cả các hạng phật tử, đó là Ngũ giới, tức là 5 điều răn, gồm: cấm sát

sinh; cấm làm điều ác, xấu xa, gian dối, phi nghĩa; cấm tà dâm; cấm nói

dối, bịa đặt; cấm uống rượu; Và Lục độ, tức là 6 phép tu, gồm: bố thí, tự

đem công sức tài trí của cải của mình ra cứu người; trì giới, giữ nghiêm giới luật; nhẫn nhục, sự kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng trong hành động, lời nói, không phục thù…; tinh tiến, sự cố gắng, nỗ lực vươn lên, học tập tu luyện đạo pháp ngày một tốt hơn; thiền định, sự tập trung cao

độ tâm trí vào một chỗ để tâm được an trí; bát nhã là trí tuệ do thiền định phát sinh mà hiểu rõ được thực tướng vạn pháp Về sau những phương pháp tu luyện của Phật giáo còn được bổ sung khá phong phú, song phương pháp chủ yếu vẫn là Bát chính đạo, Ngũ giới và Lục độ Trong đó Ngũ giới là phép tu bước đầu của người xuất gia tu hành; Lục độ là phép

tu của các bậc tu hành đắc đạo

Với triết lý nhân sinh, Phật giáo xuất hiện như một nỗ lực góp phần cải biến con người và xã hội trong chế độ phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã của Ấn Độ, giáo hóa đạo đức tinh thần con người, răn dạy con người sống

từ, bi, hỉ, xả, bác ái…

Đối với nước ta trong thời đại kinh tế thị trường như hiện nay, sự băng hoại về các giá trị đạo đức ngày càng trở nên nghiêm trọng

Tuy nhiên, những phương cách giải thoát ấy có thật sự mang lại hạnh phúc cho con người và nhân quần xã hội không, đặc biệt là trong bối cảnh của xã hội kim tiền hôm nay, khi mà chính con người đang thấy

Trang 7

những phát kiến khoa học giúp nối dài cánh tay sản xuất, thật sự đưa ra những giải đáp tích cực và thức thời cho họ về vô vàn các vấn nạn mà trong làn sương mù hư ảo của thời mông muội ban sơ người ta không thể

lý giải được, và mở rộng những chân trời hưởng thụ của họ…

Trang 8

Chương 2 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA

PHẬT GIÁO THỜI KẾT LUẬN

Như vậy có thể thấy Phật giáo và học thuyết Bà la môn giáo vẫn là hai trào lưu tư tưởng với hai phương tiện khác nhau, nhưng lại giống nhau

ở mục đích Đó là việc đem đến sự giải thoát cho con người khỏi mọi khổ đau ràng buộc, nhưng để đạt được mục đích đó thì mỗi trào lưu dựa trên tưởng và giải pháp luận của riêng mình để đưa ra những phương cách rất khác nhau như đã phân tích ở trên

Tư tưởng về giải thoát quan của Bà La Môn thì phong phú và đa dạng Nhưng cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề về thế giới và con người lại không hiệu quả, bởi triết lý của họ mang nặng tính chất thần

quyền, lễ nghi cúng bái và xuyên suốt tư tưởng Bà La Môn là thuyết “ Phạm ngã đồng nhất”, Phạm chuyển biến sinh ra vạn vật Bên cạnh đó

cũng có những khuynh hướng triết học có phần giống với Phật Giáo như phái Samkhya, Mimamsa, Vedanta, Yoga… nhưng những triết lý này vẫn chưa thoát khỏi tận gốc học thuyết Phạm thiên

Trong khi đó tư tưởng về giải thoát của Đạo Phật lại trái ngược hẳn những gì Bà La Môn từng tuyên bố Đức Phật cho rằng vạn vật do duyên sinh nên tất cả là vô thường, vô ngã Lời tuyên bố ấy đã đánh dấu một bước ngoặc vô cùng trọng đại, giải thoát nhân sinh ra khỏi các triết lý

Đối với xã hội, Đạo Phật đã làm một cuộc cách mạng xóa bỏ tư tưởng giai cấp đầy bất công, về phương diện tu tập thì đạo Phật chủ trương thực hành giáo lý Trung Đạo đả phá con đường khổ hạnh Chính vì giá trị thiết thực ấy đã làm cho Đạo Phật tồn tại mãi với thời gian như lịch sử đã ghi

nhận : “Tại các nước Á Đông, mọi nền đạo học, thần học hết sức phong phú, nhưng cho đến nay dần dần tan biến đi để chỉ còn lại một Đạo Phật tồn tại và đại diện cho Đông Phương trong thực tại sinh hoạt thế giới

Trang 9

hiện nay” Tất cả những điều này minh chứng Đạo Phật có một bản sắc

độc đáo riêng mà các triết phái khác không có được

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ama Kuki Sessan (1988), Bạch Ẩn Thiền Định Ca, Việt dịch

Bạch Hạc, Viên Chiếu

2 Dore M Ludwig (2000), Những con đường tâm linh phương Đông, phần I: “Các tôn giáo khởi nguyên từ Ấn độ”, Dương

Ngọc Dũng, Hà Hữu Nga, Nguyễn Chí Hoan dịch, Nxb: Văn Hóa Thông Tin

3 Doãn Chính (1997), Tư tưởng giải thóat trong triết học Ấn Độ,

H.: Nxb Chính trị Quốc gia

4 Doãn Chính (2002), Lịch sử Tríết học Ấn Độ - Kinh Văn của các trường phái Triết học Ấn Độ, Nxb: Đại học Quốc gia Hà

Nội

5 Long Thọ Bồ Tát (2003), Hán dịch: Cưu Ma La Thập - Việt

dịch TN Chân Hiền, Trung Luận, H.: Nxb: Tôn Giáo

6 Long Thọ Bồ Tát, Na Tiên Tỳ Kheo Kinh, Cư sĩ Đoàn Trung

Còn dịch

7 Lương Duy Thứ [chủ biên] (2000), Đại cương văn hóa phương đông, Nxb: Đại Học Quốc Gia Tp HCM.

8 Phạm Công Thiện (1998) Hố Thẳm Tư Tưởng, An Tiêm Saigon

tái bản lần 2

9 Thích Minh Châu (1967), “Tôn giáo Phải Là Con Đường Giải Thoát Cho Việt Nam và Thế Giới”, trong Tư Tưởng Vạn Hạnh,

Số I (8-67)

10.Thích Minh Châu, trong Tăng Chi Bộ, chương 10 Pháp, kinh số

92, Đức Phật giảng cho ông Cấp Cô Độc & Kinh Phật Tự Thuyết, Tiểu Bộ Kinh I

Trang 10

11.Thích Tâm Thiện (1999), Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh không, Nxb: Tp HCM.

12 Will Durant (1971), Lịch sử văn minh Ấn Độ, Sài Gòn.: Nxb Lá Bối.

Ngày đăng: 29/06/2016, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w