1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà

150 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp cho doanh nghiệp đánh giá được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, xác định nguyên nhân, nguồn gốc của vấn đề phá

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lạm phát, những biến động giá cả thị trường và điều kiện kinh tế chính trị trong nước và quốc tế thay đổi đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các tập đoàn kinh

tế và các doanh nghiệp Để tồn tại và tiếp tục phát triển trong môi trường mở cửa, cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp cần phải tạo được một chỗ đứng trên thương trường Một trong những yếu tố để xác định vị thế đó là hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Muốn đạt được hiệu quả kinh doanh cao, các doanh nghiệp phải xác định được phương hướng, mục tiêu, phương pháp sử dụng nguồn lực và xác định được các yếu tố ảnh hưởng cũng như xu hướng tác động của từng nhân tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu vô cùng quan trọng

và cần thiết đối với mọi doanh nghiệp Thông qua việc phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp cho doanh nghiệp đánh giá được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, xác định nguyên nhân, nguồn gốc của vấn đề phát sinh, tìm kiếm nguồn lực tiềm năng của doanh nghiệp, đồng thời có biện pháp để khắc phục những khó khăn Từ đó đề ra chiến lược kinh doanh phù hợp giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tóm lại, muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải luôn tìm các giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, coi việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu của doanh nghiệp Thực tế

đã chỉ ra rằng: Nếu các doanh nghiệp không chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tất yếu sẽ dẫn đến sự thất bại của các doanh nghiệp, bất kể đó là doanh nghiệp vừa, nhỏ hay các Tập đoàn lớn

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và qua quá trình làm việc tại công ty TNHH

Trang 2

MTV than Khánh Hoà Em quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao

hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà” làm luận văn Thạc sĩ.

2 Tình hình nghiên cứu

*Ở trong nước

Công ty TNHH MTV Than Khánh Hoà là một thành viên của Tổng Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc thuộc Tập đoàn than Khoáng sản Việt Nam Trải qua hơn 60 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, công ty đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu cao quí Do đó công ty thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia kinh tế và các nhà lãnh đạo trong nước Trong số những bài viết về họat động của Công ty TNHH MTV Than Khánh Hòa, điển hình có

bài “ Hiệu quả kinh tế từ một sáng kiến ” của tác giả Vũ Tiến Nhật năm

2010 Trong bài viết của mình, tác giả đã phân tích tính hiệu quả của sáng kiến áp dụng hệ thống tụ bù cos – phi của trạm biến áp 1.000 KVA -35/0,66KV, nhờ đó nâng hiệu quả của máy biến áp từ 0,73-0,75 lên 0,80-0,83 và giảm tiền mua công suất phản kháng tới 70% - 80% so với khi chưa

có tụ bù không tải Bài viết “Xây dựng thương hiệu từ chất lượng và niềm

tin” của tác giả Hồng Thủy năm 2010 Trong quá trình sản xuất kinh doanh,

niềm tin của người tiêu dùng là sự sống còn của doanh nghiệp Vì vậy công ty cần có chiến lược phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường và đảm bảo

an sinh xã hội Trong bài, tác giả đã đề cập phân tích những giải pháp để xử lý

chất thải trong quá trình khai thác than Công trình “Công ty TNHH MTV

than Khánh Hoà phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường” của tác

giả Diệu Huyền đăng trên Báo Công nghiệp mỏ Việt Bắc năm 2010 Trong công trình của mình, tác giả phân tích các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao năng suất xúc bốc, vận chuyển than đảm bảo kỹ thuật, tiến độ đào lò Nhờ đưa ra được 12 giải pháp thực hiện, năng suất và doanh thu của công

Trang 3

ty đạt hơn 720 tỉ đồng (năm 2011) mà vẫn đảm bảo thân thiện với môi trường xung quanh.

*Ở nước ngoài

Hầu như chưa có chuyên gia nước ngoài đề cập đến vấn đề này Trong khi các tác giả trong nước chỉ có những bài phân tích, bài viết ngắn đề cập đến một khía cạnh nào đó chứ chưa nhìn một cách tổng quan vấn đề Luận văn của em hy vọng sẽ làm nổi bật một cách toàn diện các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH MTV than Khánh Hoà giai đoạn 2009 - 2011

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ thiết bị máy móc và chất lượng sản phẩm của công ty TNHH MTV Than Khánh Hoà Thông qua việc nắm bắt tình hình và đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm mục đích nâng cao hiệu sản xuất kinh doanh của công ty TNHH MTV than Khánh Hoà

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động kinh doanh của công ty TNHH MTV Than Khánh Hoà Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2009 – 2011

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng đan xen các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích thông tin (phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp phân tích chi tiết)

6 Những đóng góp của đề tài

Luận văn có những đóng góp cơ bản sau:

Trang 4

Thứ nhất: Hệ thống hoá lý luận về việc sử dụng nguồn vốn hiệu quả, sử dụng

nguồn nhân lực phù hợp, đầu tư công nghệ thiết bị hiện đại nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp

Thứ hai: Đánh giá một cách tổng quát thực trạng hoạt động sản xuất kinh

doanh của công ty TNHH MTV Than Khánh Hoà

Thứ ba: Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản

xuất kinh doanh tại Công ty Than Khánh Hoà nói riêng và của các doanh nghiệp khác nói chung trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương chính:

Chương 1: Một số vấn đề về hiệu quả sản xuất kinh doanh

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH

MTV Than Khánh Hoà – VVMI

Chương 4: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại

Công ty TNHH MTV Than Khánh Hoà – VVMI

Trang 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT

và cung ứng tiêu thụ Mức độ hợp lý hoá của quá trình đó được phản ánh qua một phạm trù kinh tế cơ bản gọi là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh trong đó doanh nghiệp nhằm thu hút được kết quả cao nhất với một chi phí thấp nhất Hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà hiệu quả kinh doanh là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải cạnh tranh rất gay gắt trong việc sử dụng các nguồn lực để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của

xã hội Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường muốn dành chiến thắng trong cạnh tranh thì phải đặt hiệu quả kinh tế lên hàng đầu muốn vậy cần tận dụng khai thác và tiết kiệm tối đa các nguồn lực

Thực chất của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là việc nâng cao năng xuất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Điều đó sẽ đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào có hiệu quả kinh doanh thấp sẽ bị loại khỏi thị trường, doanh nghiệp nào có hiệu quả kinh tế cao sẽ tồn tại và phát triển

Trang 6

Tóm lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh là việc phản ánh mặt chất

lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ tận dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động của từng nhân tố

1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ áp dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động sản xuất Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết

của vấn đề hiệu quả kinh doanh Chính việc khan hiếm các nguồn lực và sử dụng nguồn lực cũng có tính chất cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu

tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí

Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phân biệt giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh

doanh Kết quả sản xuất kinh doanh là số tuyệt đối phản ánh quy mô của hoạt

động đầu tư Nó có thể là những đại lượng cân đo đong đếm được như doanh

thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm làm ra,… Hiệu quả sản xuất kinh doanh là số

tương đối phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được kết quả cao nhất với chi phí nguồn lực bỏ ra là thấp nhất

Về bản chất, hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh khác nhau ở chỗ kết quả sản xuất kinh doanh phản ánh mức độ, quy mô, mà doanh nghiệp đạt được sau mỗi kỳ kinh doanh, có kết quả mới tính được hiệu quả sản xuất kinh

Trang 7

doanh, còn hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả (đầu ra) với chi phí (các nguồn lực đầu vào) Nếu kết quả sản xuất kinh doanh tốt thì hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ cao và ngược lại kết quả sản xuất kinh doanh mà kém thì hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ thấp Tuy nhiên, kết quả chỉ phản ánh quy mô đầu tư nên người ta không thể so sánh kết quả sản xuất được với nhau nếu suất đầu

tư khác nhau Chính vì vậy, để so sánh kết quả được tạo ra trên cùng một suất đầu tư thì phải sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, nói cách khác là tốc độ sinh lời chứ không phải quy mô sinh lời

Vì vậy, yêu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí

sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội

là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thật sự Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn

1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh doanh

1.1.3.1 Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội

Hiệu quả tài chính ( hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả doanh

nghiệp) là hiệu quả xem xét trong phạm vi doanh nghiệp Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí

mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thu được lợi ích kinh tế đó Hiệu quả tài chính

là mối quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp, các nhà đầu tư Biểu hiện chung của hiệu quả doanh nghiệp là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả này là đạt lợi nhuận cao và ổn định

Trang 8

Hiệu quả kinh tế xã hội ( hiệu quả kinh tế tổng hợp ) xét trong phạm vi

toàn bộ nền kinh tế Hiệu quả kinh tế xã hội mà doanh nghiệp mang lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải tiến đời sống cho người lao động

Hiệu quả tài chính là mối quan tâm của các doanh nghiệp hoặc nhà đầu

tư còn hiệu quả kinh tế xã hội là mối quan tâm của toàn xã hội mà đại diện là nhà nước Hiệu quả tài chính được xem xét theo quan điểm của doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế xã hội xem xét theo quan điểm của toàn xã hội Quan hệ giữa hiệu quả tài chính với hiệu quả kinh tế xã hội là mối quan hệ giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thể, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và toàn xã hội Đó

là quan hệ thống nhất có mâu thuẫn, trong quản lý kinh tế không những cần tính hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp mà còn phải tính đến hiệu quả kinh

tế xã hội của doanh nghiệp đem lại cho nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh tế

xã hội chỉ đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp đem lại cho toàn xã hội Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế

xã hội đó chính là tiền đề cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Để doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội nhà nước phải có chính sách đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích xã hội và lợi ích doanh nghiệp và lợi ích

cá nhân

1.1.3.2 Hiệu quả kinh doanh bộ phận và hiệu quả kinh doanh tổng hợp

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là hiệu quả kinh doanh tính chung cho

toàn doanh nghiệp cho tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho

từng bộ phận hoặc tính riêng cho từng yếu tố sản xuất

Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn với môi trường và thị trường kinh doanh của nó Doanh nghiệp nào cũng căn cứ vào thị trường để giải quyết các vấn đề: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?

Trang 9

Mỗi doanh nghiệp đều tiến hành sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện cụ thể về tài nguyên, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức quản lý lao động, quản lý kinh doanh Họ đưa ra thị trường sản phẩm với chi phí cá biệt nhất định và người nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình với giá cao nhất Tuy vậy khi đưa hàng hoá của mình ra thị trường, họ chỉ có thể bán sản phẩm của mình theo giá thị trường nếu chất lượng sản phẩm của họ là tương đương Bởi vì thị trường chỉ chấp nhận mức hao phí xã hội thấp nhất

để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá Quy luật giá trị đặt các doanh nghiệp với một mức chi phí khác nhau trên cùng một loại hàng hóa, thông qua mức giá

cả thị trường

Suy cho cùng chi phí bỏ ra là chi phí xã hội, nhưng tại mỗi doanh nghiệp chúng ta cần đánh giá hiệu quả kinh doanh, thì hao phí lao động xã hội thể hiện dưới dạng cụ thể: Giá thành sản xuất, chi phí sản xuất

Bản thân mỗi loại chi phí lại được phân chia chi tiết hơn Đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá tổng hợp các chi phí trên đây và cần thiết đánh giá hiệu quả của từng chi phí

1.1.3.3 Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và hiệu quả kinh doanh tương đối

Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương

án kinh doanh cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được và chi phí bỏ ra

Hiệu quả tương đối được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu

quả tuyệt đối của các phương án kinh doanh khác nhau Đó chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án

Như vậy hiệu quản kinh doanh tuyệt đối và hiệu quả kinh doanh tương đối là hai hình thức biểu hiện mỗi quan hệ giữa kết quả và chi phí Trong hoạt động quản lý kinh doanh thì việc xác định hiệu quả nhằm hai mục tiêu

cơ bản sau:

Thứ nhất: Để thực hiện và đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực

trong hoạt động kinh doanh

Trang 10

Thứ hai: Phân tích luận chứng kinh tế của các phương án kinh doanh

khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể để lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, tối ưu nhất

Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối được xác định để xem mức chi phí thực hiện một phương án nào đó Để biết rõ chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể là gì, từ đó quyết định có bỏ tiền ra thực hiện một phương án hay quyết định kinh doanh phương án đó hay không Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất cứ việc gì đòi hỏi chi phí dù là một phương án lớn hay phương án nhỏ đều cần phải tính hiệu quả kinh doanh tuyệt đối

1.1.3.4 Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài

Hiệu quả trước mắt có ngay trước mắt, tức là thu được hiệu quả ngay

Tóm lại, doanh nghiệp nhất thiết phải quan tâm đến cả hiệu quả trước

mắt và hiệu quả lâu dài Doanh nghiệp muốn nhanh chóng tăng doanh thu, thu được lợi nhuận thì quan tâm đến lợi ích trước mắt của doanh nghiệp nhưng để tồn tại và phát triển lâu dài bền vững thì lại cần đến hiệu quả lâu dài cho doanh nghiệp.

Trang 11

1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện các chức năng của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp

Ngoài ra, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là sự biểu hiện của việc lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp phải tự lựa chọn phương

án sản xuất kinh doanh cho mình phù hợp với trình độ của doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp buộc phải sử dụng tối

ưu nguồn lực sẵn có Nhưng việc sử dụng nguồn lực đó như thế nào để có hiệu quả lại là một bài toán mà nhà quản trị phải lựa chọn Chính vì vậy, có thể nói rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình mà còn là thước đo trình độ của nhà quản trị

Ngoài chức năng trên, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn đóng vai trò quan trọng trong cơ chế thị trường, thể hiện:

Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như toàn xã hội.

Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải hoạt động có hiệu quả mà hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tiền vốn…) để đạt được mục tiêu xác định của doanh

Trang 12

nghiệp Mục tiêu sau cùng của hầu hết các doanh nghiệp là lợi nhuận Khi kinh doanh có lợi nhuận, doanh nghiệp có thể đảm bảo cho quá trình tái đầu

tư mở rộng sản xuất và cũng đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của xã hội, vì vậy khi doanh nghiệp phát triển cũng góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Do đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như toàn xã hội

Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để tạo ra ưu thế

trong cạnh tranh và mở rộng thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự tạo cho mình

ưu thế để cạnh tranh Ưu thế đó có thể là chất lượng sản phẩm, giá bán, cơ cấu hoặc mẫu mã sản phẩm,… Trong giới hạn về khả năng các nguồn lực, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện điều này bằng cách tăng khả năng khai thác các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh Ví dụ; doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao trình độ sử dụng máy móc thiết bị để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá cả phù hợp nhằm thu hút khách hàng Từ đó doanh nghiệp có thể chủ động trong cạnh tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Như vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp các doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường Ngược lại, mở rộng thị trường góp phần tăng khả năng tiêu thụ và khả năng sử dụng các nguồn lực sản xuất, gián tiếp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đảm bảo đời sống

cho người lao động trong doanh nghiệp.

Đối với mỗi người lao động, tiền lương là phần thu nhập chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống của họ Do đó, phấn đấu để tăng thêm thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp luôn là mục tiêu quan trọng của mỗi doanh

Trang 13

nghiệp Vì doanh nghiệp có thể sử dụng tiền lương như một công cụ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Thu nhập ngày càng cao, càng ổn định cùng với các khoản tiền thưởng sẽ tạo nên sự tin tưởng và tinh thần hăng say lao động trong toàn doanh nghiệp, đồng thời việc áp dụng các biện pháp xử lý

vi phạm lao động bằng cách trừ vào lương sẽ góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm cho mọi người Từ đó nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tóm lại, mục tiêu quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa

lợi nhuận Các doanh nghiệp hoạt động phải có lợi nhuận và đạt lợi nhuận càng cao càng tốt, đồng nghĩa với việc đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh Đây là vấn đề trọng tâm của mỗi doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thương trường.

1.2 Phân tích tình hình và hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh

Để đánh giá cụ thể về mặt chất lượng hoặc số lượng của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chúng ta cần xác định đúng đắn các tiêu chuẩn

và chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh Khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phải coi các tiêu chuẩn là mục tiêu phấn đấu Tiêu chuẩn sẽ quy định rõ bản chất và chất lượng của một quá trình hay một mặt nào đó của hoạt động sản xuất kinh doanh Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cho chúng ta khả năng đánh giá trình độ tiến bộ về kinh tế xã hội của nền kinh tế, của từng ngành và từng xí nghiệp Tiêu chuẩn hiệu quả phải phù hợp với mục đích của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa Tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng phải bảo đảm thỏa mãn nhu cầu xã hội và các thành viên ngày một đầy đủ hơn với chi phí lao động ít nhất hay nói cách khác thì tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa phản ánh mục tiêu của nền sản xuất xã hội, vừa là

Trang 14

phương tiện để đạt được mục đích đó và vừa phải bảo đảm sự thống nhất trong một hệ thống.

Tính thống nhất trong hệ thống chưa cao thì điều này chứng tỏ có sự khác nhau trong một mức độ cần thiết về tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế quốc đân, trong ngành, trong doanh nghiệp Sự khác nhau này do thực tế tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần cho nên tiêu chuẩn là phải thỏa mãn được những nhu cầu cơ bản và tối thiểu của xã hội và những thành viên đặc biệt là người lao động trong xã hội đó

Nhận thức được vấn đề này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn

có giá trị chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong doanh nghiệp Hệ thống tiêu chuẩn

đó bao gồm:

Một là: Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường có sự quản lý

của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tuân thủ hệ thống pháp luật Nhà nước

Hai là: Phải kết hợp hài hòa ba lợi ích: Cá nhân, tập thể và Nhà nước

Tuyệt đối không vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích tập thể và xã hội

Ba là: Lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được phải dựa trên cơ sở vận

dụng linh hoạt, sáng tạo các quy luật của nền sản xuất hàng hóa

Bốn là: Mức độ thu nhập thuần túy của người lao động phải thường

xuyên tăng lên Tiêu chuẩn này phản ánh chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả lao động – một yếu tố quyết định đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

1.2.2.1 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp

Đây là chỉ tiêu phản ánh một cách khái quát nhất về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ, nêu được ý nghĩa của các yếu tố nguồn lực khi tham gia trong quá trình hoạt động kinh

Trang 15

doanh Việc tính toán các chỉ tiêu này dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau và so sánh trong ngành qua các thời kỳ để đánh giá xem doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả không.

Chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được xác định theo công thức:

Kết quả đầu raHiệu quả kinh doanh = ———————

Chi phí đầu vàoChỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng chi phí đầu vào trong kỳ phân tích thì thu được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng lớn Ngoài ra hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn được đánh giá theo các chỉ tiêu sau:

* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên chi phí

Lợi nhuận ròng

Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí = ——————— X 100

Tổng chi phíChỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp bỏ ra một đồng chi phí cho hoạt động kinh doanh sẽ thu lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả

* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

Lợi nhuận sau thuếROA = ——————————— X 100

Tổng tài sản bình quânChỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư một đồng tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao Thông qua chỉ tiêu này, ta sẽ thấy được

Trang 16

chất lượng quản lý vốn sản xuất kinh doanh, vạch ra khả năng để nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh.

* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Lợi nhuận sau thuếROS = X 100

Doanh thu thuầnChỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích cứ một đồng doanh thu thì trong đó có bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao thì chi phí càng thấp và hiệu quả kinh doanh càng tốt Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phí nhưng điều kiện để có hiệu quả là tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng doanh thu

* Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Lợi nhuận sau thuếROE = ——————————— X 100

Vốn chủ sở hữu bình quânChỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đầu tư một đồng vốn chủ sở hữu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Khi phân tích chỉ tiêu này cần liên hệ với chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận so với tài sản để thấy được hiệu quả sản xuất kinh doanh thực của doanh nghiệp Chỉ tiêu này mà cao quá có thể hiệu quả kinh doanh chung thấp vì quy mô nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ và do đó tính chủ động về tài chính của doanh nghiệp là thấp

1.2.2.2 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất

* Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động: Có 2 nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động:

Một là: Chỉ tiêu năng suất lao động

Năng suất lao động tính theo hiện vật

W = Q1 / TTrong đó: W: năng suất lao động

Trang 17

Q1: giá trị sản lượng T: tổng số công nhân (công nhân viên)Năng suất lao động tính theo giá trị

W = Q2 / TTrong đó: Q2: giá trị tổng sản lượng

T: tổng số công nhân (công nhân viên)Năng suất lao động tính theo thời gian

W = T / Q1Trong đó: T: thời gian lao động (giờ, ngày, năm)

Hai là:Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân một lao động

Tổng lợi nhuậnLợi nhuận bình quân một lao động = ———————————

Tổng lao động BQ trong kỳChỉ tiêu này cho biết mỗi lao động trong doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng lao động của công ty càng có hiệu quả

* Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn: Có 6 nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn:

Nhóm thứ nhất: Mức doanh lợi theo vốn sản xuất

Lợi nhuận trước thuếMức doanh lợi vốn tài sản sản xuất = ————————————

Tổng số vốn tài sản, sản xuất bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng vốn sản xuất bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn sản xuất càng cao

Nhóm thứ hai: Mức doanh lợi theo vốn ngắn hạn

Trang 18

Lợi nhuận trước thuế

Tỷ suất lợi nhuận theo vốn ngắn hạn = ————————————

Vốn tài sản ngắn hạn bình quânChỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng vốn ngắn hạn bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng cao

Nhóm thứ ba: Mức doanh lợi theo vốn tài sản dài hạn

Lợi nhuận trước thuế

Tỷ suất lợi nhuận theo vốn dài hạn = ———————————

Vốn tài sản dài hạn bình quânChỉ tiêu này phản ánh, cứ một đồng vốn dài hạn bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn dài hạn càng cao

Nhóm thứ tư: Số vòng luân chuyển vốn ngắn hạn (Vòng quay vốn ngắn hạn)

VNH - Vốn ngắn hạn bình quân trong chu kỳ sản xuất kinh doanh

Chỉ tiêu này phản ánh, vốn ngắn hạn của doanh nghiệp quay được bao nhiêu lần trong chu kỳ phân tích Hoặc cứ một đồng vốn ngắn hạn bình quân trong chu kỳ sản xuất kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần

Nhóm thứ năm: Thời gian của một vòng luân chuyển (N)

Trang 19

Chỉ tiêu này phản ánh, mỗi vòng quay của vốn ngắn hạn trong kỳ phân tích hết bao nhiêu ngày Chỉ tiêu này càng thấp, số ngày của một vòng quay vốn ngắn hạn càng ít, hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn càng cao.

Nhóm thứ sáu: Hệ số đảm nhiệm vốn ngắn hạn (K)

VNH

K =

GChỉ tiêu này phản ánh mức doanh thu thuần trong kỳ phân tích cần bao nhiêu đồng vốn ngắn hạn bình quân trong chu kỳ sản xuất kinh doanh

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đó chính là việc nâng cao hiệu quả của tất cả các hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng khác nhau Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thấy được tác động (tích cực và tiêu cực) của các nhân tố đó, xây dựng các chiến lược cho doanh nghiệp nhằm tận dụng những thuận lợi và khắc phục những khó khăn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.3.1 Các nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Cách thức tổ chức quản lý doanh nghiệp

Trong kinh doanh nhân tố quản trị kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng: quản trị doanh nghiệp có vai trò định hướng đúng cho doanh nghiệp trong kinh doanh, xác định chiến lược kinh doanh phát triển doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là cơ sở đạt được hiệu quả của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường

Trang 20

Mọi nhân tố phân tích ở trên đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua hoạt động của bộ máy quản trị doanh nghiệp.

Bộ máy tổ chức: Đó là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống

cá nhân công nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện một hành động

Để quản lý tập trung và thống nhất, phải sử dụng phương pháp hành chính, nếu cấp lãnh đạo không sử dụng phương pháp hành chính sẽ dẫn đến những hậu quả không mong muốn Do đó vấn đề quản lý con người là rất quan trọng trong việc quản lý kinh doanh Vì vậy các cấp lãnh đạo phải có bộ máy quản

lý phù hợp với từng ngành kinh doanh của mình, bộ máy lãnh đạo hoàn chỉnh không thừa không thiếu và tổ chức phân cấp hợp lý, phân công lao động cho mỗi thành viên phù hợp

Nếu bộ máy quá cồng kềnh không cần thiết sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả và đồng thời nếu bộ máy quá nhỏ không đủ để quản lý cũng sẽ dẫn đến tình trạng hiệu quả kém

Với phẩm chất và tài năng của mình các lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò quan trọng nhất và có ý nghĩa duy trì thành đạt cho một tổ chức kinh doanh Cán bộ doanh nghiệp phải chú ý hai nhiệm vụ chính là:

Thứ nhất: Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động chất

Trang 21

1.3.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn nhân lực tác động trực tiếp lên hiệu quả kinh doanh theo các hướng sau:

Trình độ lao động: Nếu lực lượng lao động của doanh nghiệp có trình

độ tương ứng sẽ góp phần quan trọng trong vận hành có hiệu quả yếu tố vật chất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Cơ cấu lao động: Doanh nghiệp có cơ cấu lao động hợp lý, phù hợp

trước hết góp phần vào sử dụng có hiệu quả các yếu tố lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần tạo lập và thường xuyên điều chỉnh mối quan hệ thích hợp giữa các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh

Ý thức, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật của người lao động: Đây là yếu

tố cơ bản quan trọng để phát huy nguồn lao động trong kinh doanh Vì vậy chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp chừng nào tạo được đội ngũ lao động có kỷ luật có kỹ thuật cao

Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến các hoạt động của công ty Chính con người với những năng lực thực sự của mình mới lựa chọn đúng được cơ hội và sử dụng các sức mạnh khác mà mình đã và sẽ có: Vốn, tài sản, kỹ thuật, công nghệ,… một cách có hiệu quả để khai thác nắm bắt cơ hội Để củng cố năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công ty cần tổ chức hoặc gửi đi đào tạo chuyên môn nâng cao trình độ tay nghề và năng lực quản lý

1.3.1.3 Tình hình tài chính của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ và

áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm giảm chi phí, nâng cao năng suất

và chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp yếu kém thì doanh nghiệp sẽ không đảm bảo được các hoạt động kinh doanh

Trang 22

của doanh nghiệp một cách bình thường và không có khả năng đầu tư đổi mới máy móc công nghệ mới, do đó không nâng cao được chất lượng và năng suất sản phẩm.

1.3.1.4 Trình độ công nghệ sản xuất

Công nghệ sản xuất tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo hướng sau:

Thứ nhất: Sự phát triển của cơ sở vật chất tạo cơ hội để nắm bắt thông

tin trong quá trình hoạch định kinh doanh cũng như trong quá trình điều chỉnh, định hướng lại hoặc chuyển hướng kinh doanh

Thứ hai: Kỹ thuật và công nghệ sẽ tác động đến việc tiết kiệm chi phí

vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh, giúp sử dụng một cách hợp lý tiết kiệm chi phí vật chất trong quá trình kinh doanh

Thứ ba: Cơ cấu vật chất và ứng dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ

tạo ra ngành nghề kinh doanh mới

Tóm lại, quá trình phát triển sản xuất gắn liền với sự phát triển của tư

liệu lao động Sự phát triển của tư liệu lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng xuất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm từ đó hạ giá thành sản phẩm Vì thế, cơ sở vật chất kỹ thuật là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng năng xuất hiệu quả sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất hiện đại là một trong những lợi thế lớn của mỗi doanh nghiệp trong qúa trình kinh doanh.

1.3.1.5 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin của doanh nghiệp

Thông tin ngày nay được gọi là đối tượng lao động của các nhà kinh doanh và nền kinh tế thị trường, là kinh tế thông tin hàng hoá Để kinh doanh thành công trong điều kiện cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng phát triển, các doanh nghiệp cần có thông tin chính xác về thị trường, người mua, người bán, đối thủ cạnh tranh, tình hình cung cầu thị trường hàng hoá và giá cả… Không những thế doanh nghiệp rất cần hiểu biết thành công và thất bại

Trang 23

của doanh nghiệp trong nước và quốc tế, các chính sách kinh tế của quốc gia khác có liên quan đến thị trường của doanh nghiệp.

Thông tin chính xác kịp thời là cơ sở vững chắc cho doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định chương trình kinh doanh ngắn hạn Nếu doanh nghiệp không quan tâm đến thông tin thường xuyên, nắm bắt thông tin kịp thời thì doanh nghiệp sẽ bị thất bại do không hiểu chính xác thông tin

Trong kinh doanh nếu biết mình biết người, nắm bắt được thông tin về đối thủ cạnh tranh… thì doanh nghiệp mới có những biện pháp thích hợp để giành thắng lợi trong kinh doanh và thu lợi nhuận cao, bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Một nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản trị doanh nghiệp hiện nay thực hiện tổ chức được hệ thống thông tin của doanh nghiệp một cách hợp lý đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin

1.3.2 Các nhân tố khách quan

Doanh nghiệp luôn hoạt động trong mối liên hệ qua lại với các doanh nghiệp khác Vì vậy, phân tích tài chính cũng như các hoạt động khác doanh nghiệp đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanh doanh nghiệp

là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động Có thể kể đến một số yếu tố khách quan và chủ quan tác động trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp:

1.3.2.1 Môi trường kinh doanh vi mô

Là những lực lượng tác động bên ngoài có quan hệ trực tiếp với bản thân doanh nghiệp Môi trường vi mô của doanh nghiệp thường được giới hạn bởi ngành kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia, nó bao gồm các yếu tố như:

Nhà cung ứng là những doanh nghiệp và những cá thể cung cấp cho

doanh nghiệp các nguồn nguyên liệu và vật tư cần thiết để tạo ra những sản phẩm của doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải mua sức lao động

Trang 24

thiết bị, điện năng… Tất cả những tổ chức kinh doanh hay cá thể cung cấp những yếu tố này cho doanh nghiệp đều được gọi là người cung ứng Người cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Khách hàng: là cá nhân, nhóm người hoặc doanh nghiệp có nhu cầu và

có khả năng thanh toán về hàng hoá của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng

và mong được thoả mãn Trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh Khách hàng luôn đua tranh với doanh nghiệp thông qua sự bắt ép giảm giá hoặc yêu cầu chất lượng hàng tốt hơn vì vậy doanh nghiệp phải lựa chọn được loại khách hàng có ít quyền lợi nhất đối với họ theo các đoạn thị trường Có như vậy thì ảnh hưởng của khách hàng sẽ được hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiêp cần tìm hiểu kỹ để tìm khách hàng tương lai (tiềm năng) cho doanh nghiêp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp

- Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp: Mọi doanh nghiêp đều có

rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau ở mọi nơi, mọi lúc Vì vậy, doanh nghiệp phải luôn nắm bắt thông tin về đối thủ cạnh tranh của mình để tìm ra điểm mạnh cũng như điểm yếu của họ từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp

- Các sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế có tác động rất lớn đến

một ngành kinh doanh và từ đó trực tiếp ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong ngành Sự ảnh hưởng của sản phẩm thay thế tác động đến toàn ngành, hạn chế mức lợi nhuận của doanh nghiệp trong ngành do quy định giá bán của các doanh nghiêp không được vượt qua mức giá mà sản phẩm thay thế qui định, nếu không người tiêu dùng sẽ quay sang sử dụng sản phẩm thay thế Để chống lại các sản phẩm thay thế này thì các doanh nghiệp trong ngành phải có hành động, chương trình thống nhất cùng chống lại các sản phẩm thay thế một cáh liên tục, đồng thời doanh nghiêp cần chú ý vận dụng công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Trang 25

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ năng lực lượng thị trường

Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Trong môi trường đó, phân tích tài chính doanh nghiệp trở nên rất phong phú và phức tạp đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải quan tâm đúng mức và thực hiện một cách khoa học

1.3.2.2 Môi trường kinh doanh vĩ mô

Là những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn có ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, tác nghiệp của doanh nghiệp như:

- Môi trường chính trị - pháp lý: Bao gồm luật, các văn bản dưới luật,

các quy chế, chính sách, định chế, chế độ, thủ tục quy định của Nhà nước… Tất cả các quy định pháp luật về sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiến hành thuận

Mối đe dọa từ các đối thủ cạnh tranh trong tương

lai

Tính khốc liệt cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành

Khả năng thương lượng của khách hàng

Trang 26

lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vi mô theo hướng không chỉ chú ý đến kết quả, hiệu quả kinh doanh của riêng mình mà còn phải đảm bảo lợi ích kinh tế của mọi thành viên trong

xã hội Với tư cách là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có nghĩa vụ chấp hành mọi quy định của pháp luật

- Môi trường kinh tế: Sự tăng trưởng kinh tế quốc dân, các chính sách

kinh tế chính phủ, lạm phát, biến động tiền tệ, cán cân thanh toán… Luôn là các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu trên thị trường và

từ đó tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp trong nền kinh tế đó

- Môi trường văn hóa - xã hội: Trình độ giáo dục, phong tục tập quán,

tâm lý xã hội,… đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Do đó, doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố đó nhằm nhận biết các cơ hội và nguy

cơ có thể xảy ra Khi một yếu tố hay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến các doanh nghiệp và ảnh hưởng tới nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ: Tình hình phát triển khoa

học công nghệ, ứng dụng của khoa học công nghệ vào sản xuất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ

và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của mỗi doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm dịch vụ, nghĩa là ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Môi trường tự nhiên: Các loại khoáng sản, vị trí địa lý, thời tiết khí

hậu,…ảnh hưởng tới điều kiện kinh doanh, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm

do đó ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng Một môi trường trong sạch sẽ trực tiếp làm giảm chi phí kinh doanh, nâng cao

Trang 27

năng suất và chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Tóm lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh là việc phản ánh mặt chất

lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ tận dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động của từng nhân tố Doanh nghiệp nhất thiết phải quan tâm đến cả hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài Doanh nghiệp muốn nhanh chóng tăng doanh thu, thu được lợi nhuận thì quan tâm đến lợi ích trước mắt của doanh nghiệp nhưng để tồn tại và phát triển lâu dài bền vững thì lại cần đến hiệu quả lâu dài cho doanh nghiệp.Mục tiêu quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Các doanh nghiệp hoạt động phải có lợi nhuận và đạt lợi nhuận càng cao càng tốt, đồng nghĩa với việc đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh Đây là vấn đề trọng tâm của mỗi doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thương trường.

Trang 28

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở phương pháp luận văn của đề tài

Phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác – Lê Nin,

2.2 Phương pháp thu thập thông tin

Đề tài sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu được thu thập thông qua việc thống kê, khảo sát các văn bản pháp quy của Nhà nước, các ấn phẩm, các tài liệu, báo cáo, luận văn, website viết về hiệu quả sản xuất kinh doanh và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp sản xuất

2.3 Phương pháp phân tích thông tin

Có rất nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính Chẳng hạn, theo tác giả Nguyễn Tấn Bình, các phương pháp áp dụng trong phân tích báo cáo tài chính là: Phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp hồi quy Theo PGS TS Phạm Văn Dược, khi phân tích báo cáo tài chính, kế toán quản trị có thể sử dụng các phương pháp: Phân tích theo chiều ngang; Phân tích theo chiều dọc; Phân tích các tỷ số chủ yếu và so sánh với chỉ tiêu bình quân chung của ngành Theo PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, trong phân tích báo cáo tài chính có thể vận dụng các phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, mô hình Dupont Còn theo PGS TS Nguyễn Văn Công, để tiền hành phân tích báo cáo tài chính, có thể sử dụng phương pháp

so sánh, phương pháp chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp Dupont, phương pháp xác định theo giá trị thời gian của tiền,

Trang 29

Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng nhiều phương

pháp khác nhau Trên quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng, tuỳ vào điều kiện

và mục đích phân tích, có thể vận dụng các phương pháp phân tích một cách phù hợp

Một số phương pháp chủ yếu được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính là:

Để tiến hành so sánh được, cần phải đảm bảo các điều kiện sau: Các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh phải cùng phản ánh một nội dung kinh tế, phải có cùng phương pháp tính toán và phải được tính theo cùng một đơn vị đo lường Các chỉ tiêu phải được thu thập ở cùng một phạm vi thời gian và cùng một qui

mô không gian

Nếu không đảm bảo được các điều kiện trên thì việc so sánh trở nên khập khiễng, không có giá trị và đôi khi còn phản ánh sai lệch thông tin

Ngoài việc đảm bảo về điều kiện so sánh, tuỳ vào mục đích phân tích

và điều kiện phân tích cụ thể mà gốc so sánh được chọn khác nhau: gốc so sánh về mặt thời gian hoặc gốc so sánh về mặt không gian

Về mặt thời gian, các nhà phân tích thường so sánh kết quả đạt được với số liệu kế hoạch, số liệu dự toán, số liệu định mức để đánh giá kết quả đạt được, mức độ và xu hướng tăng trưởng của các chỉ tiêu Ngoài ra, để đánh giá

xu hướng hay nhịp điệu tăng trưởng của các chỉ tiêu: gốc so sánh có thể được

cố định tại một thời điểm cụ thể (so sánh định gốc) hay thay đổi liên tục (so sánh liên hoàn)

Trang 30

Về mặt không gian, các nhà phân tích thường so sánh từng bộ phận với tổng thể, giữa các bộ phận trong đơn vị với nhau hoặc so sánh với trị số của các đơn vị có điều kiện tương đương, so với số trung bình ngành,

Nội dung so sánh, bao gồm:

+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính của doanh nghiệp

+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đầu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt của hoạt động tài chính của doanh nghiệp

+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình tiên tiến của ngành, của doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan

Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng 3 hình thức:

+ So sánh theo chiều ngang trên các báo cáo tài chính: là việc so sánh,

đối chiều tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từng báo cáo tài chính

+ So sánh theo chiều dọc trên các báo cáo tài chính: là việc sử dụng

các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp

+ So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu.

Từ những lý giải trên đây, tác giả cho rằng, có rất nhiều quan điểm và cách phân chia các phương pháp sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính khác nhau Như tác giả Phạm Văn Dược, khi phân tích báo cáo tài chính, kế toán quản trị có thể sử dụng các phương pháp: Phân tích theo chiều ngang;

Trang 31

Phân tích theo chiều dọc; Phân tích các tỷ số chủ yếu và so sánh với chỉ tiêu bình quân chung của ngành

Theo tác giả cho rằng, phân tích theo chiều ngang hay phân tích theo chiều dọc đều nằm trong phương pháp so sánh, chỉ là lựa chọn hình thức phân tích khác nhau Hay phân tích các tỷ số chủ yếu và so sánh với chỉ tiêu bình quân ngành, đều là phương pháp so sánh, chỉ có tiêu chuẩn so sánh (hay còn gọi là gốc so sánh) được chọn là khác nhau

2.3.2 Phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích

Mọi quá trình kinh doanh và kết quả kinh doanh đều có thể và cần thiết chi tiết theo nhiều hướng khác nhau nhằm đánh giá chính xác kết quả đạt được Bởi vậy, để nắm bắt được bản chất và đánh giá chính xác kết quả đạt được của các chỉ tiêu này, khi tiến hành phân tích, có thể chi tiết các chỉ tiêu này theo yếu tố cấu thành, theo thời gian, theo không gian

Chi tiết các chỉ tiêu theo yếu tố cấu thành sẽ giúp đánh giá được mức

độ đạt được của từng yếu tố ở kỳ phân tích so với kỳ gốc, đánh giá được vai trò mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với tổng thể

Chi tiết các chỉ tiêu theo thời gian sẽ giúp đánh giá được tiến độ thực

hiện, kết quả đạt được, nhịp độ phát triển, tính thời vụ trong từng khoảng thời gian nhất định Tùy theo đặc điểm của hoạt động kinh doanh, mục đích của việc phân tích, nội dung kinh tế của chỉ tiêu mà có thể chi tiết các chỉ tiêu nghiên cứu theo tháng, quý, năm

Chi tiết các chỉ tiêu theo không gian, sẽ giúp đánh giá được kết quả

thực hiện của từng đơn vị, từng bộ phận, mức độ đóng góp của từng đơn vị, từng bộ phận vào kết quả chung

Bằng cách xem xét các chỉ tiêu phân tích dưới các góc độ khác nhau, nhà phân tích sẽ nắm được tác động của các giải pháp mà doanh nghiệp đã áp dụng trong từng thời gian, từng địa điểm, là cơ sở để cải tiến các giải pháp cũng như điều kiện vận dụng từng giải pháp một cách phù hợp, hiệu quả

Trang 32

2.2.3 Phương pháp loại trừ

Phương pháp loại trừ là phương pháp được các nhà phân tích sử dụng phổ biến để đánh giá xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố độc lập đến các chỉ tiêu phân tích Theo phương pháp này, để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố độc lập đối với chỉ tiêu phân tích, nhà phân tích phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại Phương pháp loại trừ có thể được thực hiện bằng hai cách:

Cách 1: Thay thế sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố và được gọi là:

“Phương pháp thay thế liên hoàn”

Cách 2: Dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp của từng nhân tố và được gọi

là “Phương pháp số chênh lệch”

Cả hai phương pháp trên đều có điều kiện vận dụng và quy trình vận dụng giống nhau Điểm khác biệt giữa hai phương pháp này là cách thức xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và phạm vi áp dụng của từng phương pháp Cụ thể, điều kiện vận dùng và quy trình vận dụng của phương pháp loại trừ gồm các bước sau:

Bước 1: Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu

Bước 2: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối

tượng nghiên cứu, các nhân tố này đòi hỏi phải có quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu nghiên cứu dưới dạng tích số hoặc thương số

Bước 3: Xây dựng phương trình kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các

nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu

Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động

giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu

Bước 5: Tổng hợp kết quả tính toán, rút ra nhận xét, kiến nghị.

* Phương pháp thay thế liên hoàn:

Thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu bằng cách thay thế lần lượt

Trang 33

(mỗi lần thay thế một nhân tố) các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu nghiên cứu khi trị số của nhân tố thay đổi Chênh lệch giữa kết quả thay thế nhân tố lần sau với kết quả thay thế lần trước chính là ảnh hưởng của nhân tố vừa thay thế đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu

Có thể minh họa các bước trên như sau:

Giả sử có đối tượng nghiên cứu là Q, gọi Q1 là chỉ tiêu kỳ phân tích,

Q0 là chỉ tiêu kỳ gốc Đối tượng Q chịu ảnh hưởng của bốn nhân tố: a, b, c, d

và các nhân tố này có quan hệ chặt chẽ với Q dưới dạng tích số, thể hiện qua công thức: Q = a.b.c.d Trong bốn nhân tố trên, nhân tố a phản ánh số lượng lần lượt đến nhân tố d phản ánh chất lượng

Ta có: Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ phân tích: Q1 = a1.b1.c1.d1

Chỉ tiêu nghiên cứu kỳ gốc: Q0 = a0.b0.c0.d0 Thay thế lần 1 (thay thế nhân tố a), ta có mức độ ảnh hưởng của nhân

Trang 34

Giả sử với đối tượng nghiên cứu Q và các nhân tố ảnh hưởng: a, b, c, d như phần phương pháp thay thế liên hoàn, ta có:

2.3.4 Phương pháp liên hệ cân đối

Mọi kết quả đều có liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các bộ phận dẫn đến việc hình thành nhiều mối quan hệ cân đối về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh như: quan hệ cân đối giữa tổng tài sản và tổng nguồn hình thành tài sản; giữa thu, chi và kết quả; giữa nhu cầu sử dụng vốn với khả năng thanh toán, giữa số dư đầu kỳ và số phát sinh tăng trong

kỳ với số dư cuối kỳ và số phát sinh giảm trong kỳ của các đối tượng Điều này dẫn đến sự cân bằng về mức biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc Đấy chính là cơ sở của phương pháp liên hệ cân đối

Nếu trong phương pháp loại trừ, đòi hỏi giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu nghiên cứu phải có quan hệ tích số hoặc thương số thì trong phương pháp liên hệ cân đối mối quan hệ giữa các nhân tố này thể hiện dưới dạng tổng số hoặc hiệu số Các nhân tố này đứng độc lập, tách biệt với nhau, tác động đồng thời đến sự biến động của các chỉ tiêu phân tích Một sự biến đổi của từng nhân tố độc lập giữa kỳ phân tích và kỳ gốc sẽ làm cho chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu thay đổi một lượng tương ứng mà không cần phải đặt nhân tố đó trong những điều kiện giả định khác nhau Do đó, trong

Trang 35

phương pháp liên hệ cân đối, không cần thiết phải qui định trật tự sắp xếp của các nhân tố ảnh hưởng.

2.3.5 Phương pháp Dupont

Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont

để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu mà người ta phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ

Phương pháp Dupont nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa các tỷ

số tài chính bằng cách biến một chỉ tiêu tổng hợp thành hàm số của một loạt các biến số Ví dụ như tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như hiệu suất sinh lợi của tài sản (là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản – ROA – Return on total Assets), hiệu suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (là tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu – ROE- Return on common Equyty) thành tích số của chuỗi tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều

đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số tổng hợp

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sinh lời theo

phương pháp phân tích Dupont

Suất sinh lời của Vốn chủ sở hữu (ROE)

Hệ số tài sản trên Vốn chủ sở hữu

Suất sinh lời của Tổng tài sản (ROA)

Số vòng quay của tài sản

Suất sinh lời của doanh thu (ROS)

Doanh thu Tổng tài sản

bình quân

Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu

X

X

Trang 36

Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng nhiều phương

pháp khác nhau Trên quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng, tuỳ vào điều kiện

và mục đích phân tích, có thể vận dụng các phương pháp phân tích một cách phù hợp Một số phương pháp chủ yếu được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính là: Phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích, phương pháp loại trừ, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp Dupont, trong đoa phân tích báo cáo tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị doanh nghiệp Giúp doanh nghiệp có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc, toàn diện Đồng thời, đánh giá đầy đủ và khách quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Trang 37

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

THAN KHÁNH HÒA – VVMI

3.1 Những nét khái quát về Công ty

3.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH )một thành viên than Khánh Hòa - VVMI gọi tắt là Công ty than Khánh Hòa, có tên giao dịch quốc tế là Khanh Hoa Coal Company Limited

Số đăng ký kinh doanh: 0104000342 do Phòng đăng ký kinh doanh - Sở

kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp ngày 23/01/2006

Công ty than Khánh Hòa là một doanh nghiệp Nhà nước, là đơn vị hạch toán độc lập, là công ty con của Công ty than Nội Địa, nay là Công ty TNHH

1 thành viên công nghiệp mỏ Việt Bắc - TKV

Công ty có trụ sở nằm tại thành phố Thái Nguyên, ở vị trí tiếp giáp giữa

3 huyện, thành phố: Đại Từ, Phú Lương, Thái Nguyên Vị trí cụ thể tại Sơn Cẩm - Phú Lương - Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 4km về phía Tây, cách Hà Nội 85km Giới hạn bởi toạ độ địa lý:

21037’55” - 21036’03” vĩ độ Bắc

105044’38” - 105047’21” kinh độ Đông

 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty

Công ty than Khánh Hòa nằm trong khu vực khoáng sàng than Quan Triều Làng Cẩm, được thành lập từ năm 1949 Nhiệm vụ chính của công ty là khai thác than và sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ công nghiệp và đời sống dân sinh trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), công ty than Khánh Hòa được chuyển giao cho Tổng Liên đoàn lao động quản lý khai thác Năm 1954, tiếp tục giao cho công ty thương

Trang 38

nghiệp Thái Nguyên Năm 1967, chuyển giao cho Bộ công nghiệp nặng quản

lý Trong thời gian này, tỉnh Thái Nguyên kết nghĩa với tỉnh Khánh Hòa do vậy công ty vinh dự được mang tên mỏ than Khánh Hòa Đây là mỏ khai thác than

lộ thiên và cách đây hơn một năm mới khai thác thêm mỏ than hầm lò, vận tải

ô tô đổ bãi thải ngoài với công suất thiết kế là 600.000 tấn/ năm

Năm 1974, Bộ điện và than tổ chức lại hợp nhất các mỏ Khánh Hòa, Phấn Mễ, nhà máy cơ khí mỏ Việt Bắc thành mỏ than Bắc Thái nhằm giảm quản lý và khai thác than phục vụ cho công nghiệp luyện kim, cung cấp than cho nhà máy điện Cao Ngạn và phục vụ dân sinh Tháng 7 năm 1980 Bộ điện và than lại sát nhập mỏ than với công ty than III nay là công ty TNHH một thành viên Công nghiệp Mỏ Việt Bắc

Công ty than Khánh Hòa có lịch sử lâu đời nhưng trong thời gian dài công ty không được thiết kế quy hoạch tổng thể, công suất hoạt động thấp, do thiết bị đầu tư vào lẻ tẻ chắp vá

Từ năm 1984 công ty mới được thiết kế quy hoạch lại theo QĐ 622 MTXDCB ngày 6/11/1984 về việc duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật cải tạo

mở rộng công ty than Khánh Hòa do Bộ trưởng Bộ Mỏ và Than phê duyệt

Từ năm 1999 trở lại đây công ty được đầu tư và hoạt động tương đối căn bản Công ty có đầy đủ tư cách pháp nhân để ký kết hợp đồng trong và ngoài ngành dưới sự giám sát của cơ quan quản lý cấp trên là Công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc

Xí nghiệp than Khánh Hòa chính thức được đổi tên thành Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hòa theo quyết định số : 1371/QĐ-BCN ngày 26 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (Nay là Bộ Công Thương)

Trải qua 60 năm (tháng 9 năm 1949 - tháng 9 năm 2010) xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành, công ty than Khánh Hòa đã tự khẳng định mình đứng vững trong cơ chế thị trường, dần dần sản xuất có lãi, ổn định

Trang 39

công ăn việc làm cho hơn 1000 cán bộ công nhân viên chức và doanh thu hàng năm gần đây đều đạt hơn 500 tỷ đồng.

Trong những năm qua, do điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu (hiện nay là - 180m) công ty đã đầu tư mới hàng loạt các thiết bị tiên tiến như máy xúc CAT 385, 365, 330B của Mỹ, máy khoan TITON-500 của Áo, Ô tô tải hạng nặng như xe CAT 769, 773E, xe HD Komasu của Nhật Bản và một số máy móc thiết bị hiện đại của các nước phát triển khác

Ngoài sản phẩm chủ yếu là than, công ty còn tăng cường mở rộng các sản phẩm phụ như : Sản xuất vôi cục, sản xuất Clinke, tận dụng đất đá thải

để tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhằm đa dạng hoá sản phẩm tăng thu nhập cho công nhân Hiện nay mức lương bình quân cho CBCNV trong công ty là trên 5.000.000 đ/người/tháng

Với những nỗ lực trong sản xuất và kinh doanh công ty đã được Chủ tịch nước trao tặng:

Huân chương Lao động hạng nhì tháng 5 năm 1995

Huân chương Lao động hạng nhất tháng 5 năm 2004

Huân chương độc lập hạng ba năm 2008

Tháng 7 năm 2005 công ty đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất và bảo vệ Tổ quốc

Năm 2007 Phân xưởng Khoan - Xúc - Vận tải đã đạt huân chương lao động hạng Ba do Nhà nước trao tặng

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của Công ty

Trang 40

cực để đưa ra sản lượng hàng năm tăng lên không ngừng, đồng thời năng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập, ổn định và từng bước nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên chức và hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao cho.

3.1.2.2 Nhiệm vụ

Thực hiện nghiêm túc pháp luật của Nhà nước, nghĩa vụ đối với Nhà

nước, bảo vệ tài sản, bảo vệ sản xuất; giữ gìn an ninh, trật tự và an toàn xã hội trong nội bộ Công ty; làm nghĩa vụ quốc phòng và có các biện pháp bảo vệ

môi trường xung quanh Công ty.

Chủ động thiết lập các mối quan hệ với các đối tác kinh tế Thiết lập các mối liên doanh, liên kết nhằm tăng cường hiệu ứng sản xuất kinh doanh

Tìm hiểu, nghiên cứu thị trường, khai thác tốt hơn thị trường hiện có, tìm kiếm và thiết lập thị trường mới

Tạo công ăn việc làm cũng như thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên, chăm lo đời sống vật chất tinh thần, không ngừng đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn hóa, khoa học kỹ thuật cho người lao động

3.1.2.3 Ngành nghề kinh doanh

- Đầu tư, xây dựng, khai thác, sàng tuyển, chế biến, kinh doanh các sản

phẩm than

- Đầu tư xây dựng, sản xuất, mua bán vật liệu xây dựng

- Dịch vụ sửa chữa thiết bị mỏ và các phương tiện vận tải

- Đầu tư và xây dựng các công trình công nghiệp dân dụng

3.1.3 Công nghệ sản xuất của Công ty than Khánh Hòa

Công ty than Khánh Hoà thực hiện khai thác theo một dây chuyền công nghệ chung cho cả hai quá trình khai thác than và bốc xúc đất đá Dây chuyền công nghệ bao gồm các khâu theo sơ đồ hình sau:

Ngày đăng: 29/06/2016, 22:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ năng lực lượng thị trường - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ năng lực lượng thị trường (Trang 25)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ công nghệ khai thác than Công ty than Khánh Hoà - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ công nghệ khai thác than Công ty than Khánh Hoà (Trang 41)
Bảng 3.1: Máy móc thiết bị đang sử dụng - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.1 Máy móc thiết bị đang sử dụng (Trang 43)
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà (Trang 45)
Sơ đồ 3.3: Sơ đồ quản lý hành chính phân xưởng (Nguồn: Phòng TCLĐ) - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ quản lý hành chính phân xưởng (Nguồn: Phòng TCLĐ) (Trang 46)
Sơ đồ 3.4: Sơ đồ đảo ca ở công ty than Khánh Hòa (Nguồn: phòng TCLĐ) - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Sơ đồ 3.4 Sơ đồ đảo ca ở công ty than Khánh Hòa (Nguồn: phòng TCLĐ) (Trang 51)
Bảng 3.3 : Cơ cấu tài sản của Công ty từ năm 2009 – 2011 - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.3 Cơ cấu tài sản của Công ty từ năm 2009 – 2011 (Trang 56)
Bảng 3.6: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức  Strengths, Weaknesses, Opportunities and Threats (SWOT) - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.6 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức Strengths, Weaknesses, Opportunities and Threats (SWOT) (Trang 61)
Bảng 3.7: Một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh của Công ty - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh của Công ty (Trang 62)
Bảng 3.8 : Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.8 Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn (Trang 64)
Bảng 3.9: Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.9 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn (Trang 68)
Bảng 3.10 : Bảng phân tích hiệu quả vốn chủ sở hữu - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.10 Bảng phân tích hiệu quả vốn chủ sở hữu (Trang 72)
Bảng 3.12: Hiệu quả sử dụng lao động - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 3.12 Hiệu quả sử dụng lao động (Trang 78)
Bảng 4.1: Kế hoạch kinh doanh của Công ty giai đoạn 2012 - 2015 - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 4.1 Kế hoạch kinh doanh của Công ty giai đoạn 2012 - 2015 (Trang 85)
Bảng 4.2: Tiềm năng nguồn nhân lực của Công ty giai đoạn 2012 – 2013 STT Phân loại lao động theo trình độ đào - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên than Khánh Hoà
Bảng 4.2 Tiềm năng nguồn nhân lực của Công ty giai đoạn 2012 – 2013 STT Phân loại lao động theo trình độ đào (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w